TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ VƯƠNG HỮU TIẾN NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA, MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SAU CAN THIỆP ĐIỀU TRỊ Ở CÁN BỘ THUỘC DIỆN TỈNH ỦY CÀ
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Cán bộ được quản lý sức khỏe tại Ban Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh ủy Cà Mau
Cán bộ thuộc diện Tỉnh ủy tại Cà Mau, bao gồm cả những người đang đương chức và đã nghỉ hưu, được quản lý sức khỏe bởi Ban Bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh.
- Những người mắc bệnh nặng, các bệnh cấp tính đang điều trị trong thời gian nghiên cứu
Những người di chuyển khỏi địa phương để thực hiện nghiên cứu sẽ được khảo sát tại Ban Bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của cán bộ tỉnh ủy Cà Mau Thời gian nghiên cứu sẽ được xác định cụ thể để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong quá trình thu thập dữ liệu.
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 5/2017 đến tháng 5/2018.
Phương pháp nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu là xác định tỷ lệ và đặc điểm của hội chứng chuyển hóa, đồng thời tìm hiểu các yếu tố liên quan ở các cán bộ thuộc diện tỉnh ủy Cà Mau Nghiên cứu được thực hiện theo thiết kế mô tả cắt ngang có phân tích.
Mục tiêu 3: Áp dụng phương pháp nghiên cứu can thiệp không đối chứng trên bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa
Chúng tôi tiến hành chọn mẫu theo công thức tính ước lượng một tỷ lệ:
Trong đó: n: cỡ mẫu tối thiểu
Mức độ chính xác của nghiên cứu cần đạt dự kiến 95% với sai số cho phép d = 3,5% Tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Thành (2013) ở cán bộ diện Tỉnh ủy quản lý tại Bạc Liêu là 29,4% Tính toán q = (1 – p) để xác định tỷ lệ không mắc HCCH.
Thay vào công thức tính được ne1, cộng thêm 10% dự phòng mất mẫu, cỡ mẫu cần nghiên cứu là 716
Cỡ mẫu cho mục tiêu nghiên cứu can thiệp (mục tiêu 3):
Tất cả đối tượng cán bộ được chẩn đoán xác định mắc HCCH ở mục tiêu
1 đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu Áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ: Chọn tất cả đối tượng cán bộ được quản lý sức khỏe tại Ban Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ diện tỉnh ủy tỉnh Cà Mau Hiện tại có 750 cán bộ đủ tiêu chuẩn chọn mẫu
2.2.4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
- Giới: chia thành 2 nhóm nam và nữ
- Tuổi: tính theo tuổi dương lịch, chia thành 6 nhóm 1 điếu/ngày hoặc tiền sử hút thuốc nhưng đã ngưng 2 lít nước/ngày
+ Rèn luyện thể lực: có thói quen rèn luyện thể lực là khi có tập: Tối thiểu 30 phút, tập mỗi ngày và tập đều 5–6 lần/tuần
Nhẹ: đi bộ, thể dục buổi sáng, tập dưỡng sinh
Trung bình: lắc vòng, nhảy dây, đi xe đạp, thể dục thẩm mỹ, chạy, bóng chuyền, cầu lông, bóng bàn
Nặng: đá bóng, bơi, tennis, tập tạ, võ, thể hình
+ Cholesterol toàn phần: tăng khi >5,2mmol/L
+ HDL-C: giảm khi nam 150mg/dL) hoặc đã có điều trị các rối loạn lipid máu bằng thuốc
Hoặc đã có điều trị các rối loạn lipid máu bằng thuốc
+ HATT 130mmHg và hoặc HATTr 85mmHg hoặc đã điều trị các thuốc hạ áp
+ Glucose máu lúc đói 5,6mmol/L hoặc HbA1C > 6,0% hoặc đã được chẩn đoán và điều trị ĐTĐ týp 2 trước đó
Chẩn đoán HCCH khi có tiêu chí béo trung tâm cộng với ít nhất 2 tiêu chí của các tiêu chí khác [82]
Hội chứng chuyển hóa (HCCH) được xác định bởi các thành tố theo tiêu chuẩn IDF, bao gồm các trị số trung bình và tỷ lệ rối loạn của từng thành tố Các đặc điểm này giúp nhận diện và đánh giá mức độ nghiêm trọng của hội chứng, từ đó có biện pháp can thiệp kịp thời nhằm cải thiện sức khỏe.
- Vòng bụng: chia 2 nhóm có và không có béo bụng
+ Triglycerid: chia 2 nhóm có tăng và không tăng
+ HDL-C: chia 2 nhóm có giảm và không giảm
- Tăng huyết áp: chia 2 nhóm có tăng và không tăng
- Tăng đường huyết: chia 2 nhóm có ĐTĐ/tăng đường huyết và không
Tỷ lệ số thành tố mắc phải của HCCH và các dạng kết hợp
2.2.4.3 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến hội chứng chuyển hóa
* Liên quan với một số đặc điểm chung:
- Giới: chia 2 nhóm nam và nữ
- Tuổi: chia 2 nhóm < 60 tuổi và ≥ 60 tuổi
- Các thói quen: chia thành 2 nhóm có và không
+ Thói quen uống rượu bia
+ Thói quen ăn mỡ động vật
+ Thói quen ăn đường hay thức ăn ngọt
+ Thói quen ăn rau và ngũ cốc
+ Thói quen rèn luyện thể lực
2.2.4.4 Đánh giá kết quả sau điều trị can thiệp
Các giải pháp can thiệp điều trị
- Mục tiêu can thiệp điều trị là để làm giảm nguy cơ của các yếu tố
HCCH cũng như các biến chứng tim mạch
- Giải pháp can thiệp bao gồm kết hợp biện pháp không dùng thuốc và dùng thuốc
- Thời gian can thiệp là 6 tháng, có đánh giá vào lúc 3 tháng và 6 tháng
- Biện pháp không dùng thuốc: Bệnh nhân sau khi được chẩn đoán
HCCH sẽ được tư vấn về chế độ ăn, tập luyện thể lực, giảm cân nặng
Bảng 2.2 Các biện pháp làm giảm các yếu tố nguy cơ của HCCH [23]
Yếu tố nguy cơ Hoạt động can thiệp Chỉ tiêu mong muốn
Béo bụng Giảm cân; tăng hoạt động cơ thể
- Giảm 5% trọng lượng cơ thể trong thời gian can thiệp, sau đó giảm cân tiếp để có BMI và vòng bụng lý tưởng;
- Giảm khẩu phần ăn nhiều năng lượng;
- Tăng cường tập thể dục thông thường từ 30-60 phút/ngày
- Giảm cân: tăng hoạt động cơ thể; sử dụng ít chất béo
- Ăn nhiều rau và hoa quả; thực hiện chế độ ăn nhạt; hạn chế uống rượu, bia
- Tập thể dục 30-60 phút/ngày;
- Ăn nhiều rau, hoa quả và dầu thực vật, ăn cá ít nhất 1 lần/tuần, ăn ít chất béo và ngọt;
- Giảm uống rượu, không hút thuốc lá và không uống nước có đường;
- Chỉ số Triglycerid 1,03 mmol/L ở nam và >1,29 mmol/L ở nữ
Giảm cân, tăng hoạt động cơ thể Hạn chế uống rượu và thuốc lá
- Tập thể dục hàng ngày từ 30-60 phút
- Ăn nhiều rau, hoa quả, ít chất béo Ăn muối < 6 gram/ngày; giảm uống rượu, bia
Giảm cân, tăng hoạt động cơ thể;
Giảm khẩu phần ăn nhiều carbonhydrate
- Tập thể dục hàng ngày 30-
- Ăn nhiều rau, hoa quả, nhiều chất xơ, ăn ít chất béo và ngọt; chọn sản phẩm từ ngũ cốc: đậu nành, khoai…
Đối với bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường (ĐTĐ), tăng huyết áp (THA) và rối loạn mỡ máu, việc sử dụng thuốc cần tuân theo khuyến cáo của Hội Tim mạch, Hội Tiểu đường và Nội tiết Việt Nam Thuốc phải được uống đúng, đủ và liên tục hàng ngày để đạt hiệu quả điều trị tốt nhất.
THA là bệnh mạn tính nên cần theo dõi đều đặn, thuốc điều trị đúng và đủ hàng ngày, điều trị lâu dài
Đối với THA độ 1, người bệnh có thể lựa chọn một trong các loại thuốc sau: lợi tiểu nhóm thiazide với liều thấp, ức chế men chuyển, chẹn kênh calci loại tác dụng kéo dài, hoặc chẹn beta giao cảm nếu không có chống chỉ định.
Đối với bệnh nhân THA độ 2 trở lên, nên phối hợp hai loại thuốc như lợi tiểu, chẹn kênh calci, ức chế men chuyển, ức chế thụ thể AT1 của angiotensin II và chẹn bêta giao cảm Việc phối hợp các thuốc hạ huyết áp cơ bản nên được thực hiện từng bước, bắt đầu từ liều thấp, chẳng hạn như lợi tiểu thiazide (hydrochlorothiazide 12.5mg/ngày), chẹn kênh calci dạng phóng thích chậm (nifedipine retard 10mg/ngày), và ức chế men chuyển (enalapril 5mg/ngày, perindopril 5mg/ngày).
Nếu chưa đạt được huyết áp mục tiêu, cần chỉnh liều tối ưu hoặc bổ sung thêm một loại thuốc khác cho đến khi đạt huyết áp mục tiêu
Mục tiêu điều trị tăng huyết áp (THA) là giảm tỷ lệ biến chứng tim mạch, não và thận, cũng như giảm tỷ lệ tử vong Việc đánh giá bệnh nhân và xác định nhóm nguy cơ là cần thiết để quyết định phương pháp điều trị Kế hoạch điều trị bao gồm theo dõi huyết áp, điều chỉnh lối sống và sử dụng thuốc Mục tiêu là đạt huyết áp mục tiêu dưới 140/90 mmHg, hoặc thấp hơn nếu bệnh nhân có thể chịu đựng Đối với những bệnh nhân có nguy cơ tim mạch cao đến rất cao, huyết áp mục tiêu cần đạt dưới 130/80 mmHg Sau khi đạt được huyết áp mục tiêu, cần duy trì phác đồ điều trị lâu dài và theo dõi định kỳ để điều chỉnh kịp thời.
Nguyên tắc điều trị bệnh đái tháo đường bao gồm duy trì lượng glucose máu gần mức sinh lý sau ăn, đạt mức HbA1c lý tưởng để giảm biến chứng và tỷ lệ tử vong Cần giảm cân đối với người béo hoặc không tăng cân với người không béo, kết hợp thuốc với chế độ ăn uống và luyện tập Điều trị cần phối hợp hạ glucose máu, điều trị rối loạn lipid, duy trì huyết áp hợp lý và phòng ngừa rối loạn đông máu Trong các trường hợp cần thiết như đợt cấp của bệnh mạn tính, nhiễm trùng, nhồi máu cơ tim, ung thư hay phẫu thuật, có thể sử dụng insulin.
Để điều trị tiểu đường hiệu quả, người bệnh cần uống thuốc đúng và đủ hàng ngày Bắt đầu với liều thấp, có thể chọn Metformin (Glucophage) với liều khởi đầu 500mg hoặc 850mg, tối đa 2000mg/ngày chia làm 2 lần Ngoài ra, Sulfonylurea như Diamicron MR cũng là một lựa chọn phù hợp.
Liều dùng thuốc điều trị tiểu đường có thể từ 30mg đến 120mg mỗi ngày, uống một lần; Amaryl từ 1-6mg mỗi ngày chia làm hai lần; Gliptin (Sitagliptin) từ 50-100mg mỗi ngày uống một lần; insulin liều 0,1UI/1kg cân nặng, tiêm dưới da hai lần mỗi ngày Đối với điều trị rối loạn lipid máu, cần kết hợp thay đổi lối sống và sử dụng thuốc Thay đổi lối sống là bước đầu tiên, bao gồm tăng cường vận động thể lực, đặc biệt cho những người làm việc tĩnh tại, và điều chỉnh chế độ ăn uống hợp lý Để lựa chọn kế hoạch điều trị phù hợp, hiện nay thường dựa vào báo cáo của chương trình giáo dục quốc gia về cholesterol tại Mỹ (NCEP) và Ủy ban điều trị tăng cholesterol ở người trưởng thành (ATPIII), với hướng dẫn dựa trên điểm cắt lâm sàng liên quan đến nguy cơ bệnh lý mạch vành.
- Thuốc hạ lipid máu: Thuốc uống liên tục hàng ngày, chọn các thuốc sau: Statin (Rosuvasatin 10-20mg/ ngày uống 1 lần), Fibrate (Lipanthyl 200- 300mg/ngày uống 1 lần)
Các chỉ số đánh giá hiệu quả can thiệp gồm như trong bảng 2.2:
Để cải thiện sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật, cần thay đổi thói quen ăn uống bằng cách giảm muối, hạn chế mỡ động vật và giảm đường Bên cạnh đó, việc thay đổi lối sống cũng rất quan trọng, bao gồm giảm tiêu thụ rượu, bỏ thuốc lá và tăng cường vận động thể lực.
+ Thay đổi các chỉ số lâm sàng: giảm cân nặng, giảm vòng bụng, chỉ số huyết áp ổn định
Đạo đức trong nghiên cứu
- Khi triển khai thu thập thông tin có xin ý kiến chấp thuận của Lãnh đạo
Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh ủy Cà Mau
- Bệnh nhân chỉ được tham gia nghiên cứu khi ký phiếu đồng thuận tham gia nghiên cứu, mọi thông cá nhân được mã hóa để bảo mật thông tin
- Số liệu và kết quả nghiên cứu được sử dụng cho mục đích khoa học
* Sơ đồ thiết kế nghiên cứu:
Sơ đồ 2.3 Sơ đồ thiết kế nghiên cứu
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Đặc điểm tuổi của đối tượng nghiên cứu (nu0)
Nhóm tuổi Chung n (%) Nữ n (%) Nam n (%) p
Công việc hiện tại Đương chức 365 (48,7) 41 (54,7) 324 (48,0)
Nghiên cứu trên 750 cán bộ quản lý tại Ban Bảo vệ chăm sóc sức khỏe tỉnh ủy Cà Mau cho thấy độ tuổi trung bình là 61,25 ± 11,90 tuổi, với độ tuổi nhỏ nhất là 22 và lớn nhất là 96 Nhóm tuổi từ 50-59 chiếm tỷ lệ cao nhất (31,7%), trong khi nhóm dưới 40 tuổi chỉ chiếm 1,7% Sự khác biệt về độ tuổi giữa nam và nữ có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 Trong số các đối tượng nghiên cứu, 48,7% vẫn đang đương chức và 51,3% đã nghỉ hưu.
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ giới của đối tượng nghiên cứu
Nhận xét: Tỷ lệ nam giới là 90%, cao hơn nữ giới 10%
Bảng 3.2 Đặc điểm chỉ số khối cơ thể (BMI) của đối tượng nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu có chỉ số BMI trung bình là 24,81 ± 3,29 Trong đó, 24,8% đối tượng thừa cân (26,0% đối với người đang làm việc và 23,6% đối với người đã về hưu), 45,6% bị béo phì (49,0% cho nhóm đang làm việc và 42,3% cho nhóm về hưu), và chỉ có 1,2% là gầy (1,1% cho người đang làm việc và 1,3% cho người đã về hưu) Tổng số mẫu nghiên cứu là 675, trong đó 90% là 75 và 10%.
Bảng 3.3 Đặc điểm béo bụng của đối tượng nghiên cứu
Vòng bụng Chung n (%) Đương chức n (%)
Nghiên cứu cho thấy số đo vòng bụng trung bình của nhóm nghiên cứu là 89,11 ± 33,42 cm Trong đó, 45,3% nam giới có vòng bụng từ 90 cm trở lên (42,9% đối với nhóm đương chức và 47,6% đối với nhóm về hưu) Đối với nữ giới, 28% có vòng bụng từ 80 cm trở lên Sự khác biệt giữa nhóm đương chức và về hưu là có ý nghĩa thống kê với p