1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN Quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về bảo vệ động vật hoang dã

20 6 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về bảo vệ động vật hoang dã
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật môi trường quốc tế
Thể loại Tiểu luận kết thúc học phần
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 207,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC I. Khái quát chung về động vật hoang dã 3 1. Khái niệm động vật hoang dã 3 2. Phân loại động vật hoang dã 3 3. Vai trò của động vật hoang dã 5 4. Sự cần thiết của việc bảo vệ động vật hoang dã bằng pháp luật 5 II. Pháp luật quốc tế, pháp luật một số quốc gia về bảo vệ động vật hoang dã 6 1. Lịch sử hình thành pháp luật quốc tế và các điều ước quốc tế liên quan đến bảo vệ động vật hoang dã 6 2. Pháp luật một số quốc gia về bảo vệ động vật hoang dã 8 BI.Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam, các khuyến nghị và giải pháp 10 1.Thực tiễn thi hành các quy định trong pháp luật Việt Nam về bảo vệ động vật hoang dã 10 1.1. Pháp luật về quản lý việc bảo vệ động vật hoang dã 10 1.2. Các quy định về xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã 14 2. Khuyến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ động vật hoang dã 16 KẾT LUẬN 18 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 19 1 MỞ ĐẦU Động vật hoang dã (ĐVHD) là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, góp phần quan trọng trong việc tạo nên sự cân bằng sinh thái, bảo đảm môi trường sống trong lành cho con người1. Bảo tồn động vật hoang dã là hoạt động bảo vệ các loài hoang dã và môi trường sống của chúng nhằm duy trì các loài hoặc quần thể động vật hoang dã khỏe mạnh và khôi phục, bảo vệ hoặc tăng cường các hệ sinh thái tự nhiên. Các mối đe dọa chính đối với động vật hoang dã bao gồm phá hủy môi trường sống, suy thoái, phân mảnh, khai thác quá mức, săn trộm, ô nhiễm và biến đổi khí hậu. Các IUCN ước tính rằng 27.000 loài trong những người được đánh giá là có nguy cơ bị tuyệt chủng. Mở rộng đến tất cả các loài hiện có, một báo cáo năm 2019 của Liên hợp quốc về đa dạng sinh học ước tính này thậm chí còn cao hơn ở một triệu loài. Người ta cũng thừa nhận rằng ngày càng có nhiều hệ sinh thái trên Trái đất chứa các loài có nguy cơ tuyệt chủng đang biến mất. Để giải quyết những vấn đề này, đã có những nỗ lực của chính phủ trong nước và quốc tế nhằm bảo tồn động vật hoang dã trên Trái đất thông qua các tổ chức, hiệp định và công ước tuy nhiên hệ thống pháp luật còn lỏng lẻo, mâu thuẫn, chưa đủ tính răn đe, còn nhiều bất cập và chưa đáp ứng được hết những yêu cầu của thực tiễn vậy nên nguy cơ mất cân bằng sinh thái đang diễn ra ngày một nhiều, gây ảnh hưởng tiêu cực không những đến môi trường mà còn đến sự phát triển kinh tế xã hội. Xuất phát từ những vấn đề trên, em xin chọn đề tài “Quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về bảo vệ động vật hoang dã” làm đề tài tiểu luận kết thúc học phần “Luật môi trường quốc tế”. Ngoài Phần mở đầu và Kết luận, bài tiểu luận sẽ bao gồm có các nội dung chính như sau: Phần 1: Khái quát chung về động vật hoang dã Phần 2: Pháp luật quốc tế, pháp luật một số quốc gia về bảo vệ động vật hoang dã Phần 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam, các khuyến nghị và giải pháp 1Chu Thị Trinh,“Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ động vật hoang dã”, https:www.tapchicongthuong.vnbaivietquydinhcuaphapluatvietnamvebaovedongvathoangda84793.htm, ngày 17112021, truy cập ngày 15012022. 2 I.Khái quát chung về động vật hoang dã 1.Khái niệm động vật hoang dã Hiện nay, có khá nhiều định nghĩa về loài hoang dã được đưa ra vởi các viện nghiên cứu và tổ chức chuyên môn trên toàn thế giới. Theo từ điển “Oxford Advanced Leaner’s Dictionary”, ĐVHD được hiểu là các loài động vật, chim, côn trùng,…thường sống ở trong môi trường tự nhiên2. Trong từ điển Cambridge còn bổ sung thêm một ý đó là ĐVHD thì sinh trưởng không phụ thuộc vào con người3, cũng giống với khái niệm được Tổ chức bảo tồn loài Gorilla (The Gorilla Species Surviaval Plan SPP) của Hoa Kỳ đã đưa ra. Trong các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay thì chưa đưa ra một khái niệm cụ thể và chính xác về ĐVHD. Tại Khoản 13 Điều 3 Luật đa dạng sinh học của Việt Nam năm 2008 chỉ đưa ra định nghĩa về loài hoang dã đó là loài động vật, thực vật, vi sinh vật và nấm sinh sống và phát triển theo quy luật. Từ những khái niệm đã đưa ra, ta có thể hiểu ĐVHD là tất cả những loài động vật sinh trưởng trong môi trường tự nhiên mà nằm ngoài sự tác động trực tiếp của con người tức chưa chịu sự thuần hóa của con người 2.Phân loại động vật hoang dã Có rất nhiều các phân loại ĐVHD theo các tiêu chí khác nhau tùy vào mục đích nghiên cứu như dựa trên đặc điểm sinh học, địa điểm phân bố… Theo Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (International Union for Conservation of Nature and Natural Resources IUCN) đã phát hành Sách đỏ mà trong đó thường xuyên cập nhật danh sách thể hiện tình trạng bảo tồn và đa dạng của các loài động vật và thực vật trên thế giới. Cụ thể, theo quy định trong Sách đỏ phiên bản từ năm 2001, mức độ nguy cấp của các loài hoang dã được chia thành 03 mức với 09 cấp bậc như sau: Mức tuyệt chủng (Extinct) •Tuyệt chủng (Extinct EX) 2https:www.oxfordlearnersdictionaries.comdefinitionenglishwildlife?q=wildlife 3https:dictionary.cambridge.orgdictionaryenglishwildlife 3 •Tuyệt chủng trong tự nhiên (Extinct in the Wild EW) •Cực kỳ nguy cấp, có nguy cơ tuyệt chủng (Critically Endangered CR) •Nguy cấp cao (Endangered EN) •Bị đe dọa, sắp nguy cấp (Vulnerable V) •Sắp bị đe dọa hoặc nguy cơ nhẹ (Near Threatened N) •Ít quan tâm (Least Concern LC) •Thiếu dữ liệu (Data Deficent DD) •Không phân loại hoặc không đánh giá (Not Evaluated NE) Việc chính thức gia nhập IUCN vào năm 1993 và việc lần đầu tiên xuất bản Sách đỏ Việt Nam về phần động vật năm 1992 (365 loài) và phần thực vật năm 1996 (356 loài) đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong công cuộc bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống ở nước ta. Phiên bản mới nhất hiện nay là Sách đỏ Việt Nam 2007, được công bố vào ngày 26 tháng 6 năm 2008, theo số liệu này hiện nay tại Việt Nam có 855 loài (407 loài động vật và 448 loại thực vật)4 đang bị đe dọa ngoài thiên nhiên, tăng 134 loài so với thời điểm năm 1992. Bên cạnh đó, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam cũng đã hoàn thành cuốn Danh lục đỏ Việt Nam giới thiệu về các loài quý hiếm, loài có nguy cơ bị đe doạ ở nước ta. Theo đó, dựa trên sự phân loại về mức độ nguy cấp của loài cũng như danh mục các loài động vật hoang dã đi kèm trong Sách đỏ Việt Nam, các cơ quan thực thi pháp luật đã tham khảo, nghiên cứu và cho ra đời một số danh mục động thực vật rừng được ban hành kèm theo các văn bản quy phạm pháp luật như Nghị định số 1602013NĐCP về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (được sửa đổi bởi Nghị định 642019NĐCP); Nghị định 322006NĐCP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; Thông tư 472012TTBNNPTNT về quản lý khai thác từ tự nhiên và nuôi động vật rừng thông thường; Chỉ đạo 4Sách đỏ Việt Nam tâm huyết của những nhà khoa học, https:www.thiennhien.net20120125sachdovietnamtamhuyetcuanhungnhakhoahoc, ngày 25012012, truy cập ngày 15012022. 4 số 16315QLDMP của Cục quản lý dược về tăng cường bảo vệ động vật thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm… 3.Vai trò của động vật hoang dã ĐVHD có vai trò vô cùng quan trọng trong việc duy trì một hệ sinh thái tự nhiên bền vững, diễn thế theo con đường tự nhiên, qua đó có ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của nhân loại. ĐVHD là thành tố của nhiều quá trình trao đổi chất quan trọng trong tự nhiên, tạo lên các mắt xích trong chuỗi thức hay lưới thức ăn. Ngoài ra, nhiều loài ĐVHD còn có các đóng góp rất lớn về mặt y học bởi chúng sở hữu những loại gen quý chứa đựng những tính trạng tốt mà các loại khác không có. Từ đó, con người có thể nghiên cứu, khai thác và sử dụng các loại gen này một cách hợp lý để đạt hiệu quả cao nhất. Thêm vào đó, ĐVHD còn mạng lại nhiều giá trị khác về mặt kinh tế như là nguồn thức ăn, nguyên liệu công nghiệp, phân bón, dược liệu quý hoặc được sử dụng cho nghiên cứu khoa học và giáo dục… Tuy nhiên, bên cách những tác động tích cực trên, ĐVHD cũng là nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra những bệnh dịch nguy hiểm cho con người như SARS, EBOLA, MER,… và điển hình đó là đại dịch COVID19 hiện nay đang diễn ra toàn cầu mà nguồn gốc lây truyền là từ ĐVHD. Không những vậy, một số loài thú dữ cũng có thể gây hại, tấn công con người hoặc tàn phá lương thực, mùa màng… Có thể thấy, ĐHVD có các tác động tích cực là chủ yếu và những giá trị chúng mang lại cho hệ sinh thái cũng như cho sự phát triển của nhân loại là không thể phủ nhận. Vì vậy, bảo vệ ĐVHD cũng chính là bảo vệ sự tồn tại của xã hội loài người. 4.Sự cần thiết của việc bảo vệ động vật hoang dã bằng pháp luật Bảo vệ ĐVHD đóng vai trò vô cùng quan trọng trong công cuộc bảo tồn đa dạng sinh học bởi nó là một thành tố không thể mất đi của hệ sinh thái thế nhưng ĐVHD trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng hiện đang gặp phải nhiều mối đe dọa do hậu quả của nạn săn bắt, buôn bán trái phép. Mặc dù vậy, hiện nay nhận thức trong vấn đề bảo bệ ĐVHD vẫn chưa được chú trọng đúng mực. Tội phạm về ĐVHD đang là một vấn đề nóng được cả thế giới quan tâm bởi nó diễn ra ngày càng phổ biến với một mức lợi nhuận khổng lồ. Ở Việt Nam, tình hính buôn bán ĐVHD đang diễn ra hết sức phức tạp với nhiều 5 thủ đoạn tinh vi đang đẩy các loài ĐVHD của Việt Nam đến nguy cơ tuyệt chủng. Vì vậy, cần phải có sự tác động mạnh mẽ vào ý thức của con người và cụ thể đó là phải xây dựng khung pháp luật thật nghiêm khắc, đủ tính răn đe và phòng ngừa tội phạm trong lĩnh vực này. AI.Pháp luật quốc tế, pháp luật một số quốc gia về bảo vệ động vật hoang dã 1.Lịch sử hình thành pháp luật quốc tế và các điều ước quốc tế liên quan đến bảo vệ động vật hoang dã ĐVHD là một thành phần không thể thiếu trong hệ sinh thái là môi trường sống của mọi sinh vật, và con người không nằm ngoài phạm vi đó. Sớm nhận thức được tầm quan trọng của sự cân bằng sinh thái đối với sự phát triển của xã hội, con người đã dần dần xây dựng các tập quán và các hiệp định đa phương nhằm duy sự cân bằng sinh thái đi đôi với phát triển bền vững. Năm 1865, dịch bệnh Phylloxera do một loài rệp tên là Phylloxera vastatrix có nguồn gốc từ Đông Bắc Mỹ đã bùng phát gây nên sự phá hoại trên diện rộng toàn bộ các vườn nho của Pháp và nhanh chóng lan ra các khu vực lân cận. Trong vòng gần hai thập kỷ từ năm 1865, hơn 70% diện tích trồng nho trên toàn châu Âu đã bị tàn phá nặng nề gây ảnh hưởng rất lớn tới cuộc sống của người dân5. Trong nỗ lực nhằm chống lại dịch bệnh, các quốc gia đã thống nhất cho ra đời Công ước quốc tế Phylloxera, được ký tại Berne ngày 3111881, đây là một điều ước quốc tế đa phương đầu tiên được xem là liên quan tới môi trường. Có thể thấy rằng, từ chính những vấn đề phát sinh trong môi trường thiên nhiên trên toàn cầu, luật môi trường quốc tế dần được hình thành từ những hiệp định đa phương về môi trường mà các quốc gia ký kết, từ các nguyên tắc chung của luật quốc tế, từ quyết định của cơ quan tài phán quốc tế và từ tập quán quốc tế. Bên cạnh đó, các tổ chức quốc tế liên quan tới bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn ĐVHD được thành lập ngày càng nhiều ở khắp các quốc gia và khu vực trên thế giới. Một trong những tổ chức về bảo vệ ĐVHD có 5Đỗ Lê Thùy Dương (2017), Luận văn thạc sĩ “Pháp luật quốc tế về bảo vệ động vật hoang dã và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam”, Khoa Luật ĐHQG Hà Nội 6 lịch sử lâu đời nhất là Hiệp hội bảo tồn động vật hoang dã (Wildlife Conservation Society WCS), Hiệp hội được thành lập năm 1895 tại New York dưới tên gọi Hiệp hội động vật học New York (New York Zoological Society NYZS) với nhiệm vụ bảo tồn các loài ĐVHD và sinh cảnh của chúng trên phạm vi toàn cầu bằng các hoạt động nghiên cứu khoa học về bảo tồn, giáo dục và truyền cảm hứng cho con người cần phải trân trọng thiên nhiên. Thế kỷ 20 là thời kỳ nở rộ của các tổ chức phi lợi nhuận hoạt động vì môi trường, có thể kể đến một số tổ chức lớn như Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (1945) (United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization UNESCO), Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (1948) (International Union for Conservation of nature and Natural Resources IUCN) được biết đến qua việc công bố Sách đỏ hàng năm, Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (1961) (World Wildlife Fund for Nature – WWF), Tổ chức Hòa bình xanh (1971) (Greenpeace International) nổi tiếng nhất trong chiến dịch chống lại nạn săn bắt cá voi, Chương trình môi trường Liên hợp quốc (1972) (United Nations Environment Programme – UNEP)... Trong quá trình hoạt động, các tổ chức đã phối hợp với nhau để xây dựng nên rất nhiều các đạo luật, các công ước quốc tế đa phương quan trọng liên quan tới lĩnh vực này, đã được ký kết giữa nhiều quốc gia trên thế giới và có tầm ảnh hưởng lớn như: Công ước Ramsar (1971) (Ramsar Convention on Wetlands of International Importance) hay còn được gọi là “Công ước về các vùng đất ngập nước” về bảo tồn và sử dụng một cách hợp lý các vùng đất ngập nước đặc biệt là nơi cư trú của các loài chim nước ra đời tại Ramsar. Hiện nay đã có 168 quốc gia và vùng lãnh thổ gia nhập Công ước. Tháng 8 năm 1989, Việt Nam là quốc gia đầu tiên trong khi vực ASEAN phê chuẩn Công ước Ramsar và thành viên thứ 50. Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (1973) (Convention on International Trade in Endangered Species of Wild Fauna and Flora CITES). Đây là hiệp định liên chính phủ được xem là có ảnh hưởng lớn nhất với sự tham 7 gia của 183 quốc gia với mục đích đảm các loài động thực vật hoang dã nguy cấp không bị tuyệt chủng do buôn bán thương mại. Công ước về các Loài Di cư năm 1979 (Convention on the Conservation of Migratory Species of Wild Animals Bonn Convention CMS) nhằm bảo tồn toàn bộ loài di cư trên cạn, dưới nước và các loài chim trên lãnh thổ của các nước ký công ước. Kẻ từ khi Công ước có hiệu lực, số thành viên ký kết đã tăng lên 124 quốc gia. Công ước về Đa dạng Sinh học (1992) (Convention on Biological Diversity CBD) với mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học, sử dụng bền vững các thành phần của đa dạng sinh học và chia sẻ công bằng và hợp lý những lợi ích thu được từ việc sử dụng tài nguyên sinh học. Ngoài ra còn có Hiến chương Thế giới về Thiên nhiên (World Charter for Nature) được Liên hợp quốc thông qua vào năm 1982 về năm nguyên tắc chung của bảo tồn thiên nhiên, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (United Nations Convention on the Law of the Sea UNCLOS)… Đứng trước tình hình suy thoái môi trường đang diễn ra ngày càng xấu, các tổ chức này hoạt động ngày càng mạnh mẽ trên khắp các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đã lôi kéo được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế, hướng tới tính cấp thiết của việc bảo vệ môi trường, bảo vệ các loài hoang dã. 2.Pháp luật một số quốc gia về bảo vệ động vật hoang dã •Australia Australia sở hữu nhiều sinh vật bản địa độc đáo như Kangaroo, thú mỏ vịt, chó dingo, hải cẩu Úc cùng với quần thể rặng san hô lớn nhất thé giới. Do đó, pháp luật Austalia có xu hướng ưu tiên bảo vệ các loài sinh vật bản địa tuy nhiên cũng không lơ là việc bảo vệ các loài ĐVHD khác. Theo đó, các hoạt động xuất, nhập khẩu ĐVHD và các sản phẩm từ ĐVHD được quy định trong một đạo luật trong điểm về môi trường Đạo luật Bảo vệ Môi trường và Bảo tồn Đa dạng sinh học năm 1999 (Environment Protection and Biodiversity Conservation Act 1999 EPBC Act). Đạo luật đã thiết lập một chuỗi các quy trình để giúp 8 bảo vệ và thúc đẩy sự phục hồi của các loài bị đe dọa và quần xã sinh vật, đồng thời bảo tồn các địa điểm thiên nhiên trọng yếu. Năm 2000, dựa vào Đạo luật khung EPBC, Quốc hội Australia đã ban hành Bộ quy tắc Bảo vệ Môi trường và Bảo tồn Đa dạng sinh học để cụ thể hóa các quy định trong Đạo luật này. •Ấn Độ Ấn Độ là một trong số 10 quốc gia được đánh gia là có ĐVHD cao nhất trên thế giới, vậy nên các văn bản quy phạm pháp luật của Ấn Độ liên quan đến việc bảo vệ ĐVHD được quy định rất chặt chẽ và nghiêm ngặt bao gồm một số đạo luật như Đạo luật Bảo vệ Động vật hoang dã năm 1972 (sửa đổi năm 2006) (The Wildlife Protection Act 1972WLPA), Đạo luật Rừng Ấn Độ năm 1972 (The Indian Forest Act), Đạo luật Bảo tồn rừng năm 1980 (The Forest Conservation Act) (được sửa đổi năm 1988), Đạo luật Bảo vệ Môi trường năm 1986 (The Environment Protection Act), Đạo luật Đa dạng sinh học năm 2002 (The Biological Diversity Act), Kế hoạch Quốc gia Hành động vì Động vật Hoang dã năm 2000 2016 (National Wildlife Action Plan)… Có thể nói, Ấn Độ đã rất quan tâm và chú trọng đến các vấn đề bảo vệ ĐVHD. •Brazil Brazil sở hữu rừng mưa nhiệt đới Amazon và các vùng đất ngập nước Patanal với hệ sinh thái phong phú và đa dạng sinh học bậc nhất. Thuận theo xu hướng toàn cầu về bảo vệ môi trường, Hiến pháp Liên bang Brazil năm 1988 (Brazil Federal Constitution) đã dành riêng một chương cho các quy định về bảo vệ hệ động thực vật quốc gia. Đến năm 1998, Luật về Tội phạm Môi trường (Environment Crimes Law) đã được ban hành để bổ sung cho Hiến pháp và áp dụng xử lý hình sự đối với tội phạm về môi trường, cũng như quy định xử lý các hành vi tàn nhẫn đối với cả vật nuôi và ĐVHD. Hệ thống luật của Brazil có thể nói trải rộng khắp các luật của các cấp chính quyền, quy định với tính răn đe và nghiêm khắc nhằm chung tay bảo vệ ĐVHD, đẩy lùi ô nhiễm môi trường. •Nam Phi Do đặc thù địa hình và hải dương mà Nam Phi là môi trường sống của nhiều loài ĐVHD quý, hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cao như sư tử, báo, voi… và đặc biệt là tê giác. Hiện nay, Nam Phi là mái nhà của 80% tổng số tê giác trên thế giới. Nạn săn bắn tê giác ở 9 Nam Phi đã thổi bùng lên, báo động về nguy cơ tuyệt chủng của loài ĐVHD này. Trước vấn nạn trên, các chính sách pháp luật về bảo vệ ĐVHD trong nạn săn bắn và buôn lậu bất hợp pháp đã được quy định trong Đạo luật Quản lý Môi trường: Luật Đa dạng sinh học năm 2004 ( The National Environment Management: Biodiversity Act NEMBA). Mới đây, trong Công báo Vol 620Issue No. 40601, Chính phủ Nam Phi đã đưa ra dự luật cho phép buôn bán sừng tê giác và các sản phẩm từ sừng tê giác trong nội địa quốc gia. Tuy nhiên nếu được thông qua, nó sẽ tạo ra các lỗ hổng lớn, tạo điều kiện cho tội phạm dễ dàng hoạt động, gia tăng hoạt động xuất khẩu sừng tê giác để cung cấp cho các thị trường bất hợp pháp. Do đó, thay vì hợp pháp hóa, Nam Phi cần thắt chặt hơn các quy định về xử lý các vi phạm và tăng nặng các hình phạt liên quan đến ĐVHD. BI.Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam, các khuyến nghị và giải pháp 1.Thực tiễn thi hành các quy định trong pháp luật Việt Nam về bảo vệ động vật hoang dã 1.1. Pháp luật về quản lý việc bảo vệ động vật hoang dã Văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên phải kể tới đó là Luật Đa dạng sinh học (2008), năm 2018 ban hành văn bản hợp nhất số 32VBHNVPQH 2018 hợp nhất Luật Đa dạng sinh học. Trước thời điểm ban hành luật này, các vấn đề về đa dạng sinh học được quy định trong các văn bản liên quan đến Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Luật Đa dạng sinh học đưa ra các quy định về hoạt động bảo tồn và phát triển bền vững, xác định quyền và nghĩa vụ của các cơ quan, cá nhân, tổ chức, hộ gia đình và cộng đồng đối với việc bảo vệ và bảo tồn đa dạng sinh học. Luật dành riêng Chương IV với 18 điều quy định về bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật. Theo đó, các loài ĐVHD sẽ được xem xét đưa vào Danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ nhằm bảo vệ những vật nuôi đặc hữu hoặc có giá trị đang bị đe dọa tuyệt chủng, quy định loài hoang dã bị cấm khai thác và loài hoang dã được khai thác có điều kiện trong tự nhiên. Điều 7 của luật này nghiêm cấm các hành vi như săn bắt, đánh bắt và khai thác các loài hoang dã trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn, trừ việc khai thác vì mục đích nghiên cứu khoa học. Điều luật này cũng nghiêm cấm các hành vi săn bắt, đánh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KHOA LUẬT ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

Đề tài:

Quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về

bảo vệ động vật hoang dã

Trang 2

MỤC LỤC

I Khái quát chung về động vật hoang dã 3

1 Khái niệm động vật hoang dã 3

2 Phân loại động vật hoang dã 3

3 Vai trò của động vật hoang dã 5

4 Sự cần thiết của việc bảo vệ động vật hoang dã bằng pháp luật 5

II Pháp luật quốc tế, pháp luật một số quốc gia về bảo vệ động vật hoang dã 6

1 Lịch sử hình thành pháp luật quốc tế và các điều ước quốc tế liên quan đến bảo vệ động vật hoang dã 6

2 Pháp luật một số quốc gia về bảo vệ động vật hoang dã 8

III Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam, các khuyến nghị và giải pháp 10

1 Thực tiễn thi hành các quy định trong pháp luật Việt Nam về bảo vệ động vật hoang dã 10

1.1 Pháp luật về quản lý việc bảo vệ động vật hoang dã 10

1.2 Các quy định về xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã 14

2 Khuyến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ động vật hoang dã 16

KẾT LUẬN 18

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 19

Trang 3

MỞ ĐẦU

Động vật hoang dã (ĐVHD) là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, góp phần quan trọng trong việc tạo nên sự cân bằng sinh thái, bảo đảm môi trường sống trong lành cho con người1 Bảo tồn động vật hoang dã là hoạt động bảo vệ các loài hoang dã và môi trường sống của chúng nhằm duy trì các loài hoặc quần thể động vật hoang dã khỏe mạnh

và khôi phục, bảo vệ hoặc tăng cường các hệ sinh thái tự nhiên Các mối đe dọa chính đối với động vật hoang dã bao gồm phá hủy môi trường sống, suy thoái, phân mảnh, khai thác quá mức, săn trộm, ô nhiễm và biến đổi khí hậu Các IUCN ước tính rằng 27.000 loài trong những người được đánh giá là có nguy cơ bị tuyệt chủng Mở rộng đến tất cả các loài hiện có, một báo cáo năm 2019 của Liên hợp quốc về đa dạng sinh học ước tính này thậm chí còn cao hơn ở một triệu loài Người ta cũng thừa nhận rằng ngày càng có nhiều

hệ sinh thái trên Trái đất chứa các loài có nguy cơ tuyệt chủng đang biến mất Để giải quyết những vấn đề này, đã có những nỗ lực của chính phủ trong nước và quốc tế nhằm bảo tồn động vật hoang dã trên Trái đất thông qua các tổ chức, hiệp định và công ước tuy nhiên hệ thống pháp luật còn lỏng lẻo, mâu thuẫn, chưa đủ tính răn đe, còn nhiều bất cập

và chưa đáp ứng được hết những yêu cầu của thực tiễn vậy nên nguy cơ mất cân bằng sinh thái đang diễn ra ngày một nhiều, gây ảnh hưởng tiêu cực không những đến môi trường mà còn đến sự phát triển kinh tế- xã hội

Xuất phát từ những vấn đề trên, em xin chọn đề tài “Quy định của pháp luật quốc

tế và pháp luật Việt Nam về bảo vệ động vật hoang dã” làm đề tài tiểu luận kết thúc học

phần “Luật môi trường quốc tế”.

Ngoài Phần mở đầu và Kết luận, bài tiểu luận sẽ bao gồm có các nội dung chính

như sau:

Phần 1: Khái quát chung về động vật hoang dã

Phần 2: Pháp luật quốc tế, pháp luật một số quốc gia về bảo vệ động vật hoang dã

Phần 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ động vật hoang

dã ở Việt Nam, các khuyến nghị và giải pháp

1Chu Thị Trinh,“Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ động vật hoang dã”,

https://www.tapchicongthuong.vn/bai-viet/quy-dinh-cua-phap-luat-viet-nam-ve-bao-ve-dong-vat-hoang-da-84793.htm, ngày 17/11/2021, truy cập ngày 15/01/2022.

Trang 4

I Khái quát chung về động vật hoang dã

1 Khái niệm động vật hoang dã

Hiện nay, có khá nhiều định nghĩa về loài hoang dã được đưa ra vởi các viện nghiên cứu và tổ chức chuyên môn trên toàn thế giới

Theo từ điển “Oxford Advanced Leaner’s Dictionary”, ĐVHD được hiểu là các loài động vật, chim, côn trùng,…thường sống ở trong môi trường tự nhiên2 Trong từ điển Cambridge còn bổ sung thêm một ý đó là ĐVHD thì sinh trưởng không phụ thuộc vào con người3, cũng giống với khái niệm được Tổ chức bảo tồn loài Gorilla (The Gorilla Species Surviaval Plan- SPP) của Hoa Kỳ đã đưa ra

Trong các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay thì chưa đưa ra một khái niệm cụ thể và chính xác về ĐVHD Tại Khoản 13 Điều 3 Luật đa dạng sinh học của Việt Nam năm 2008 chỉ đưa ra định nghĩa về loài hoang dã đó là loài động vật, thực vật, vi sinh vật

và nấm sinh sống và phát triển theo quy luật

Từ những khái niệm đã đưa ra, ta có thể hiểu ĐVHD là tất cả những loài động vật sinh trưởng trong môi trường tự nhiên mà nằm ngoài sự tác động trực tiếp của con người tức chưa chịu sự thuần hóa của con người

2 Phân loại động vật hoang dã

Có rất nhiều các phân loại ĐVHD theo các tiêu chí khác nhau tùy vào mục đích nghiên cứu như dựa trên đặc điểm sinh học, địa điểm phân bố… Theo Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (International Union for Conservation of Nature and Natural Resources- IUCN) đã phát hành Sách đỏ mà trong đó thường xuyên cập nhật danh sách thể hiện tình trạng bảo tồn và đa dạng của các loài động vật và thực vật trên thế giới Cụ thể, theo quy định trong Sách đỏ phiên bản từ năm 2001, mức độ nguy cấp của các loài hoang dã được chia thành 03 mức với 09 cấp bậc như sau:

Mức tuyệt chủng (Extinct)

• Tuyệt chủng (Extinct- EX)

2 https://www.oxfordlearnersdictionaries.com/definition/english/wildlife?q=wildlife

3 https://dictionary.cambridge.org/dictionary/english/wildlife

Trang 5

• Tuyệt chủng trong tự nhiên (Extinct in the Wild- EW)

• Cực kỳ nguy cấp, có nguy cơ tuyệt chủng (Critically Endangered- CR)

• Nguy cấp cao (Endangered- EN)

• Bị đe dọa, sắp nguy cấp (Vulnerable- V)

• Sắp bị đe dọa hoặc nguy cơ nhẹ (Near Threatened- N)

• Ít quan tâm (Least Concern- LC)

• Thiếu dữ liệu (Data Deficent- DD)

• Không phân loại hoặc không đánh giá (Not Evaluated- NE)

Việc chính thức gia nhập IUCN vào năm 1993 và việc lần đầu tiên xuất bản Sách đỏ Việt Nam về phần động vật năm 1992 (365 loài) và phần thực vật năm 1996 (356 loài) đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong công cuộc bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống ở nước ta Phiên bản mới nhất hiện nay là Sách đỏ Việt Nam 2007, được công bố vào ngày 26 tháng 6 năm 2008, theo số liệu này hiện nay tại Việt Nam có 855 loài (407 loài động vật và 448 loại thực vật)4 đang bị đe dọa ngoài thiên nhiên, tăng 134 loài so với thời điểm năm 1992 Bên cạnh đó, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam cũng đã hoàn thành cuốn Danh lục đỏ Việt Nam giới thiệu về các loài quý hiếm, loài có nguy cơ bị đe doạ ở nước ta

Theo đó, dựa trên sự phân loại về mức độ nguy cấp của loài cũng như danh mục các loài động vật hoang dã đi kèm trong Sách đỏ Việt Nam, các cơ quan thực thi pháp luật đã tham khảo, nghiên cứu và cho ra đời một số danh mục động thực vật rừng được ban hành

kèm theo các văn bản quy phạm pháp luật như Nghị định số 160/2013/NĐ-CP về tiêu chí

xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu

tiên bảo vệ (được sửa đổi bởi Nghị định 64/2019/NĐ-CP); Nghị định 32/2006/NĐ-CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; Thông tư

47/2012/TT-BNNPTNT về quản lý khai thác từ tự nhiên và nuôi động vật rừng thông thường; Chỉ đạo

4Sách đỏ Việt Nam- tâm huyết của những nhà khoa học, https://www.thiennhien.net/2012/01/25/sach-do-viet-nam- tam-huyet-cua-nhung-nha-khoa-hoc/ , ngày 25/01/2012, truy cập ngày 15/01/2022.

Trang 6

số 16315/QLD-MP của Cục quản lý dược về tăng cường bảo vệ động vật thực vật hoang

dã nguy cấp, quý, hiếm…

3 Vai trò của động vật hoang dã

ĐVHD có vai trò vô cùng quan trọng trong việc duy trì một hệ sinh thái tự nhiên bền vững, diễn thế theo con đường tự nhiên, qua đó có ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của nhân loại ĐVHD là thành tố của nhiều quá trình trao đổi chất quan trọng trong tự nhiên, tạo lên các mắt xích trong chuỗi thức hay lưới thức ăn Ngoài

ra, nhiều loài ĐVHD còn có các đóng góp rất lớn về mặt y học bởi chúng sở hữu những loại gen quý chứa đựng những tính trạng tốt mà các loại khác không có Từ đó, con người

có thể nghiên cứu, khai thác và sử dụng các loại gen này một cách hợp lý để đạt hiệu quả cao nhất Thêm vào đó, ĐVHD còn mạng lại nhiều giá trị khác về mặt kinh tế như là nguồn thức ăn, nguyên liệu công nghiệp, phân bón, dược liệu quý hoặc được sử dụng cho nghiên cứu khoa học và giáo dục…

Tuy nhiên, bên cách những tác động tích cực trên, ĐVHD cũng là nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra những bệnh dịch nguy hiểm cho con người như SARS, EBOLA, MER,… và điển hình đó là đại dịch COVID-19 hiện nay đang diễn ra toàn cầu mà nguồn gốc lây truyền là từ ĐVHD Không những vậy, một số loài thú dữ cũng có thể gây hại, tấn công con người hoặc tàn phá lương thực, mùa màng…

Có thể thấy, ĐHVD có các tác động tích cực là chủ yếu và những giá trị chúng mang lại cho hệ sinh thái cũng như cho sự phát triển của nhân loại là không thể phủ nhận Vì vậy, bảo vệ ĐVHD cũng chính là bảo vệ sự tồn tại của xã hội loài người

4 Sự cần thiết của việc bảo vệ động vật hoang dã bằng pháp luật

Bảo vệ ĐVHD đóng vai trò vô cùng quan trọng trong công cuộc bảo tồn đa dạng sinh học bởi nó là một thành tố không thể mất đi của hệ sinh thái thế nhưng ĐVHD trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng hiện đang gặp phải nhiều mối đe dọa do hậu quả của nạn săn bắt, buôn bán trái phép Mặc dù vậy, hiện nay nhận thức trong vấn đề bảo bệ ĐVHD vẫn chưa được chú trọng đúng mực Tội phạm về ĐVHD đang là một vấn đề nóng được cả thế giới quan tâm bởi nó diễn ra ngày càng phổ biến với một mức lợi nhuận khổng lồ Ở Việt Nam, tình hính buôn bán ĐVHD đang diễn ra hết sức phức tạp với nhiều

Trang 7

thủ đoạn tinh vi đang đẩy các loài ĐVHD của Việt Nam đến nguy cơ tuyệt chủng Vì vậy, cần phải có sự tác động mạnh mẽ vào ý thức của con người và cụ thể đó là phải xây dựng khung pháp luật thật nghiêm khắc, đủ tính răn đe và phòng ngừa tội phạm trong lĩnh vực này

II Pháp luật quốc tế, pháp luật một số quốc gia về bảo vệ động vật hoang dã

1 Lịch sử hình thành pháp luật quốc tế và các điều ước quốc tế liên quan đến bảo vệ động vật hoang dã

ĐVHD là một thành phần không thể thiếu trong hệ sinh thái là môi trường sống của mọi sinh vật, và con người không nằm ngoài phạm vi đó Sớm nhận thức được tầm quan trọng của sự cân bằng sinh thái đối với sự phát triển của xã hội, con người đã dần dần xây dựng các tập quán và các hiệp định đa phương nhằm duy sự cân bằng sinh thái đi đôi với phát triển bền vững

Năm 1865, dịch bệnh Phylloxera do một loài rệp tên là Phylloxera vastatrix có nguồn gốc từ Đông Bắc Mỹ đã bùng phát gây nên sự phá hoại trên diện rộng toàn bộ các vườn nho của Pháp và nhanh chóng lan ra các khu vực lân cận Trong vòng gần hai thập kỷ từ năm 1865, hơn 70% diện tích trồng nho trên toàn châu Âu đã bị tàn phá nặng nề gây ảnh hưởng rất lớn tới cuộc sống của người dân5 Trong nỗ lực nhằm chống lại dịch bệnh, các quốc gia đã thống nhất cho ra đời Công ước quốc tế Phylloxera, được ký tại Berne ngày 3/11/1881, đây là một điều ước quốc tế đa phương đầu tiên được xem là liên quan tới môi trường

Có thể thấy rằng, từ chính những vấn đề phát sinh trong môi trường thiên nhiên trên toàn cầu, luật môi trường quốc tế dần được hình thành từ những hiệp định đa phương về môi trường mà các quốc gia ký kết, từ các nguyên tắc chung của luật quốc tế, từ quyết định của cơ quan tài phán quốc tế và từ tập quán quốc tế Bên cạnh đó, các tổ chức quốc

tế liên quan tới bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn ĐVHD được thành lập ngày càng nhiều ở khắp các quốc gia và khu vực trên thế giới Một trong những tổ chức về bảo vệ ĐVHD có

5 Đỗ Lê Thùy Dương (2017), Luận văn thạc sĩ “Pháp luật quốc tế về bảo vệ động vật hoang dã và thực tiễn áp

dụng tại Việt Nam”, Khoa Luật ĐHQG Hà Nội

Trang 8

lịch sử lâu đời nhất là Hiệp hội bảo tồn động vật hoang dã (Wildlife Conservation Society

- WCS), Hiệp hội được thành lập năm 1895 tại New York dưới tên gọi Hiệp hội động vật học New York (New York Zoological Society - NYZS) với nhiệm vụ bảo tồn các loài ĐVHD và sinh cảnh của chúng trên phạm vi toàn cầu bằng các hoạt động nghiên cứu khoa học về bảo tồn, giáo dục và truyền cảm hứng cho con người cần phải trân trọng thiên nhiên

Thế kỷ 20 là thời kỳ nở rộ của các tổ chức phi lợi nhuận hoạt động vì môi trường, có thể kể đến một số tổ chức lớn như Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (1945) (United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization -UNESCO), Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (1948) (International Union for Conservation of nature and Natural Resources - IUCN) được biết đến qua việc công bố Sách đỏ hàng năm, Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (1961) (World Wildlife Fund for Nature – WWF), Tổ chức Hòa bình xanh (1971) (Greenpeace International) nổi tiếng nhất trong chiến dịch chống lại nạn săn bắt cá voi, Chương trình môi trường Liên hợp quốc (1972) (United Nations Environment Programme – UNEP) Trong quá trình hoạt động, các tổ chức đã phối hợp với nhau để xây dựng nên rất nhiều các đạo luật, các công ước quốc tế đa phương quan trọng liên quan tới lĩnh vực này, đã được ký kết giữa nhiều quốc gia trên thế giới và có tầm ảnh hưởng lớn như:

Công ước Ramsar (1971) (Ramsar Convention on Wetlands of International Importance) hay còn được gọi là “Công ước về các vùng đất ngập nước” về bảo tồn và sử dụng một cách hợp lý các vùng đất ngập nước đặc biệt là nơi cư trú của các loài chim nước ra đời tại Ramsar Hiện nay đã có 168 quốc gia và vùng lãnh thổ gia nhập Công ước Tháng 8 năm 1989, Việt Nam là quốc gia đầu tiên trong khi vực ASEAN phê chuẩn Công ước Ramsar và thành viên thứ 50

Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (1973) (Convention on International Trade in Endangered Species of Wild Fauna and Flora -CITES) Đây là hiệp định liên chính phủ được xem là có ảnh hưởng lớn nhất với sự tham

Trang 9

gia của 183 quốc gia với mục đích đảm các loài động thực vật hoang dã nguy cấp không

bị tuyệt chủng do buôn bán thương mại

Công ước về các Loài Di cư năm 1979 (Convention on the Conservation of Migratory Species of Wild Animals/ Bonn Convention- CMS) nhằm bảo tồn toàn bộ loài di cư trên cạn, dưới nước và các loài chim trên lãnh thổ của các nước ký công ước Kẻ từ khi Công ước có hiệu lực, số thành viên ký kết đã tăng lên 124 quốc gia

Công ước về Đa dạng Sinh học (1992) (Convention on Biological Diversity - CBD) với mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học, sử dụng bền vững các thành phần của đa dạng sinh học và chia sẻ công bằng và hợp lý những lợi ích thu được từ việc sử dụng tài nguyên sinh học

Ngoài ra còn có Hiến chương Thế giới về Thiên nhiên (World Charter for Nature) được Liên hợp quốc thông qua vào năm 1982 về năm nguyên tắc chung của bảo tồn thiên nhiên, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (United Nations Convention

on the Law of the Sea- UNCLOS)…

Đứng trước tình hình suy thoái môi trường đang diễn ra ngày càng xấu, các tổ chức này hoạt động ngày càng mạnh mẽ trên khắp các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới

đã lôi kéo được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế, hướng tới tính cấp thiết của việc bảo

vệ môi trường, bảo vệ các loài hoang dã

2 Pháp luật một số quốc gia về bảo vệ động vật hoang dã

• Australia

Australia sở hữu nhiều sinh vật bản địa độc đáo như Kangaroo, thú mỏ vịt, chó dingo, hải cẩu Úc cùng với quần thể rặng san hô lớn nhất thé giới Do đó, pháp luật Austalia có

xu hướng ưu tiên bảo vệ các loài sinh vật bản địa tuy nhiên cũng không lơ là việc bảo vệ các loài ĐVHD khác Theo đó, các hoạt động xuất, nhập khẩu ĐVHD và các sản phẩm từ ĐVHD được quy định trong một đạo luật trong điểm về môi trường- Đạo luật Bảo vệ Môi trường và Bảo tồn Đa dạng sinh học năm 1999 (Environment Protection and Biodiversity Conservation Act 1999- EPBC Act) Đạo luật đã thiết lập một chuỗi các quy trình để giúp

Trang 10

bảo vệ và thúc đẩy sự phục hồi của các loài bị đe dọa và quần xã sinh vật, đồng thời bảo tồn các địa điểm thiên nhiên trọng yếu Năm 2000, dựa vào Đạo luật khung EPBC, Quốc hội Australia đã ban hành Bộ quy tắc Bảo vệ Môi trường và Bảo tồn Đa dạng sinh học để

cụ thể hóa các quy định trong Đạo luật này

• Ấn Độ

Ấn Độ là một trong số 10 quốc gia được đánh gia là có ĐVHD cao nhất trên thế giới, vậy nên các văn bản quy phạm pháp luật của Ấn Độ liên quan đến việc bảo vệ ĐVHD được quy định rất chặt chẽ và nghiêm ngặt bao gồm một số đạo luật như Đạo luật Bảo vệ Động vật hoang dã năm 1972 (sửa đổi năm 2006) (The Wildlife Protection Act 1972-WLPA), Đạo luật Rừng Ấn Độ năm 1972 (The Indian Forest Act), Đạo luật Bảo tồn rừng năm 1980 (The Forest Conservation Act) (được sửa đổi năm 1988), Đạo luật Bảo vệ Môi trường năm 1986 (The Environment Protection Act), Đạo luật Đa dạng sinh học năm

2002 (The Biological Diversity Act), Kế hoạch Quốc gia Hành động vì Động vật Hoang

dã năm 2000- 2016 (National Wildlife Action Plan)… Có thể nói, Ấn Độ đã rất quan tâm

và chú trọng đến các vấn đề bảo vệ ĐVHD

• Brazil

Brazil sở hữu rừng mưa nhiệt đới Amazon và các vùng đất ngập nước Patanal với hệ sinh thái phong phú và đa dạng sinh học bậc nhất Thuận theo xu hướng toàn cầu về bảo

vệ môi trường, Hiến pháp Liên bang Brazil năm 1988 (Brazil Federal Constitution) đã dành riêng một chương cho các quy định về bảo vệ hệ động thực vật quốc gia Đến năm

1998, Luật về Tội phạm Môi trường (Environment Crimes Law) đã được ban hành để bổ sung cho Hiến pháp và áp dụng xử lý hình sự đối với tội phạm về môi trường, cũng như quy định xử lý các hành vi tàn nhẫn đối với cả vật nuôi và ĐVHD Hệ thống luật của Brazil có thể nói trải rộng khắp các luật của các cấp chính quyền, quy định với tính răn đe

và nghiêm khắc nhằm chung tay bảo vệ ĐVHD, đẩy lùi ô nhiễm môi trường

• Nam Phi

Do đặc thù địa hình và hải dương mà Nam Phi là môi trường sống của nhiều loài ĐVHD quý, hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cao như sư tử, báo, voi… và đặc biệt là tê giác Hiện nay, Nam Phi là mái nhà của 80% tổng số tê giác trên thế giới Nạn săn bắn tê giác ở

Ngày đăng: 21/04/2023, 01:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Chu Thị Trinh, “Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ động vật hoang dã”, https://www.tapchicongthuong.vn/bai-viet/quy-dinh-cua-phap-luat-viet-nam-ve-bao-ve-dong-vat-hoang-da-84793.htm, ngày 17/11/2021, truy cập ngày15/01/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ động vật hoang dã
10. Sách đỏ Việt Nam- tâm huyết của những nhà khoa học, https://www.thiennhien.net/2012/01/25/sach-do-viet-nam-tam-huyet-cua-nhung-nha-khoa-hoc/, ngày 25/01/2012, truy cập ngày 15/01/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách đỏ Việt Nam- tâm huyết của những nhà khoa học
11. Từ điển “Oxford Advanced Leaner’s Dictionary”, https://www.oxfordlearnersdictionaries.com/definition/english/wildlife?q=wildlife Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oxford Advanced Leaner’s Dictionary
1. Chính phủ (2013). Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ Khác
2. Chính phủ (2019). Nghị định số 06/2019/NĐ-CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w