Hội thảo khoa học cấp quốc gia về Sư phạm kỹ thuật lần thứ 2, vớichủ đề “Vai trò và xu hướng của lĩnh vực Sư phạm kỹ thuật trong kỷnguyên số” đã nhận được sự ủng hộ nhiều trường, khoaviện thuộc lĩnhvực Sư phạm kỹ thuật và cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong cả nước, cùngsự quan tâm chỉ đạo nhiệt tình của lãnh đạo nhà trường và sự đồng hànhcủa các phòngkhoaban trong trường, đặc biệt là phối hợp đồng tổ chứccủa Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh. Hội thảo đã nhận được 46bài viết đến từ của các nhà khoa học, các tác giả trong toàn quốc. Nội dungcác bài viết tập trung vào các chủ đề chính sau đây:1. Sư phạm Kỹ thuật với xu hướng và đổi mới giáo dục2. Sư phạm Kỹ thuật với giáo dục nghề nghiệp3. Sư phạm Kỹ thuật với giáo dục STEM4. Sư phạm Kỹ thuật với phát triển nguồn nhân lựcThông qua nội dung các bài viết tham gia hội thảo cho thấy, lĩnh vựcSư phạm kỹ thuật có vai trò quan trọng trong việc phát triển giáo dục nghềnghiệp, giáo dục kỹ thuật, công nghệ và giáo dục STEM. Đặc biệt, trongkỷ nguyên số như hiện nay, lĩnh vực Sư phạm kỹ thuật có vai trò thúc đẩyquá trình chuyển đổi số trong giáo dục và đào nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của Công nghiệp 4.0.
Trang 2KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC
Trang 4LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Hội thảo khoa học cấp quốc gia về Sư phạm kỹ thuật lần thứ 2, với
chủ đề “Vai trò và xu hướng của lĩnh vực Sư phạm kỹ thuật trong kỷ
nguyên số” đã nhận được sự ủng hộ nhiều trường, khoa/viện thuộc lĩnh
vực Sư phạm kỹ thuật và cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong cả nước, cùng
sự quan tâm chỉ đạo nhiệt tình của lãnh đạo nhà trường và sự đồng hành của các phòng/khoa/ban trong trường, đặc biệt là phối hợp đồng tổ chức của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh Hội thảo đã nhận được 46 bài viết đến từ của các nhà khoa học, các tác giả trong toàn quốc Nội dung các bài viết tập trung vào các chủ đề chính sau đây:
1 Sư phạm Kỹ thuật với xu hướng và đổi mới giáo dục
2 Sư phạm Kỹ thuật với giáo dục nghề nghiệp
3 Sư phạm Kỹ thuật với giáo dục STEM
4 Sư phạm Kỹ thuật với phát triển nguồn nhân lực
Thông qua nội dung các bài viết tham gia hội thảo cho thấy, lĩnh vực
Sư phạm kỹ thuật có vai trò quan trọng trong việc phát triển giáo dục nghề nghiệp, giáo dục kỹ thuật, công nghệ và giáo dục STEM Đặc biệt, trong
kỷ nguyên số như hiện nay, lĩnh vực Sư phạm kỹ thuật có vai trò thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong giáo dục và đào nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của Công nghiệp 4.0
Chúng tôi hy vọng, Kỷ yếu Hội thảo cấp quốc gia về Sư phạm kỹ
thuật lần thứ 2 với chủ đề “Vai trò và xu hướng của lĩnh vực Sư phạm kỹ
thuật trong kỷ nguyên số” là một tài liệu hữu ích và sẽ được quan tâm bởi các nhà khoa học, giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh và các bạn sinh viên Trân trọng giới thiệu cuốn Kỷ yếu này với quý bạn đọc
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2022
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
Sư phạm kỹ thuật, một lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật, công nghệ và giáo viên rất lớn cho cả nước Trong giai đoạn đổi mới giáo dục hiện nay, lĩnh vực Sư phạm kỹ thuật có những đóng góp đáng cho cả
hệ thống giáo dục và giáo dục nghề nghiệp Dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và đại dịch Covid-19 đến giáo dục, cùng với nhiệm vụ đào tạo giáo viên và CBQL giáo dục đáp ứng yêu cầu triển khai chương trình Giáo dục phổ thông năm 2018, sách giáo khoa đổi mới và phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp trong kỷ nguyên số, vai trò của lĩnh vực Sư phạm kỹ thuật càng được nâng cao Trong bối cảnh đó, nhân dịp 60 năm thành lập Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố
Hồ Chí Minh, Nhà trường tổ chức Hội thảo khoa học cấp quốc gia về Sư
phạm kỹ thuật lần thứ 2 với chủ đề “Vai trò và xu hướng của lĩnh vực Sư
phạm kỹ thuật trong kỷ nguyên số”
Hội thảo đã nhận được 46 bài viết đến từ của các nhà khoa học, các tác giả trong toàn quốc Từ nội dung các bài viết, cùng với những chia sẻ
và thảo luận trực tiếp tại hội thảo cho thấy, lĩnh vực Sư phạm kỹ thuật gắn liền với nội dung chuyên môn kỹ thuật – công nghệ, khoa học sư phạm và ứng dụng công nghệ trong dạy học Với tính chất đó, trong bối cảnh đổi mới giáo dục như hiện nay, lĩnh vực Sư phạm kỹ thuật càng có vai trò quan trọng trong định hướng chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp, giáo dục kỹ thuật, công nghệ và giáo dục STEM, đặc biệt là vai trò thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong giáo dục và đào nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của Cách mạng công nghiệp 4.0 Từ đó cho thấy, lĩnh vực Sư phạm kỹ thuật cần phải mở rộng nội hàm, đồng thời tập trung vào công tác đào tạo, bồi dưỡng phát triển đội ngũ nhà giáo giáo dục nghề nghiệp, giáo viên dạy
kỹ thuật, công nghệ và giáo dục STEM; nghiên cứu, chia sẻ kết quả nghiên cứu về sư phạm số, dạy học trực tuyến, giáo dục STEM; đổi mới chương trình đào tạo, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học, kiểm tra đánh giá; chính sách và quản lý giáo dục
Kết quả đạt được của hội thảo này là cơ sở khoa học, có ý nghĩa tham khảo về vai trò và xu hướng phát triển của lĩnh vực Sư phạm kỹ thuật trong
hệ thống giáo dục nước ta, qua đó thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực Sư phạm kỹ thuật trong thời gian tới
Trân trọng cảm ơn!
Trang 8MỤC LỤC
I SƯ PHẠM KỸ THUẬT VỚI XU HƯỚNG VÀ ĐỔI MỚI
1 TỔ CHỨC HỌC TẬP VÀ XÂY DỰNG HỆ SINH THÁI GIÁO DỤC SỐ ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM
Đỗ Văn Dũng 1 , Ngô Anh Tuấn 3 , Mai Anh Thơ 3
(1,2,3) Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh
17
2 CÔNG NGHỆ DẠY HỌC VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
SỐ TRONG HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHO ĐỘI NGŨ GIẢNG DẠY
Nguyễn Văn Tuấn
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh
42
4 CẤU TRÚC VIDEO BÀI GIẢNG TRONG DẠY HỌC TRỰC TUYẾN KHÔNG ĐỒNG BỘ
Hoàng Anh 1 , Nguyễn Thanh Thủy 2 , Võ Đình Dương 3
(1,2,3) Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh
56
Trang 95 HỆ SINH THÁI GIÁO DỤC TRỰC TUYẾN
Nguyễn Ngọc Phương 1 , Trần Văn Sỹ 2 , Phan Kim Thành 3
Trần Công Sang 4
(1,2,3) Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh
(4) Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp, Giáo dục thường xuyên
Q Tân Bình, TP Hồ Chí Minh
71
6 MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ DẠY HỌC QUA MẠNG TRONG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÁCH MẠNG 4.0
Nguyễn Hữu Năng 1 , Nguyễn Thanh Thủy 2
(1) Trường Đại học Văn Lang
(2) Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh
81
7 TỔNG HỢP VÀ PHÂN LOẠI CÁC DẠNG HỌC LIỆU SỐ SỬ DỤNG TRONG MÔI TRƯỜNG DẠY HỌC TRỰC TUYẾN
Nguyễn Minh Khánh 1 , Võ Đình Dương 2
(1,2) Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh
Bùi Văn Hồng 1 , Võ Thị Xuân 2 , Trương Minh Trí 3
(1,2,3) Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh
133
Trang 1011 NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG CỐT LÕI CHO SINH VIÊN CÁC NGÀNH KỸ THUẬT
Nguyễn Thanh Thủy 1 , Nguyễn Văn Tuấn 2 , Bùi Thị Bích 3
(1,2,3) Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh
Lưu Khánh Linh
Trường Đại học Tài chính – Marketing
191
15 TRÒ CHƠI HOÁ TRONG GIÁO DỤC
Nguyễn Lê Bảo Bảo 1 , Đoàn Như Hùng 2 , Nguyễn Lê Bảo Xuyên 3
(1,2) Trường Đại học Đồng Nai
(3) Trường Đại học Quốc gia Hà Nội
201
16 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC THEO DỰ ÁN CHO MÔN THỰC TẬP ĐIỆN TỬ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM
Vũ Thị Ngọc Thu
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh
213
17 THIẾT KẾ HỆ THỐNG ĐÁNH GIÁ MẠCH IN SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ XỬ LÝ ẢNH
Bùi Xuân Lực
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh
222
Trang 11II SƯ PHẠM KỸ THUẬT VỚI GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP 231
18 ĐỀ XUẤT KHUNG NĂNG LỰC SỐ CHO NHÀ GIÁO GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CHUYỂN ĐỔI SỐ
Nguyễn Hữu Hợp 1 , Nguyễn Thị Cúc 2 , Đoàn Thanh Hòa 3
(1,2,3) Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên
233
19 PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY HỌC TRỰC TUYẾN CHO NHÀ GIÁO ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP
12 THEO TIẾP CẬN ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP HIỆN NAY
Nguyễn Trần Nghĩa 1 , Đặng Thị Loan 2
(1,2) Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh
Trang 1224 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG QUẢN TRỊ TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP
Đỗ Quang Trung
Trường Cao đẳng nghề TP Hồ Chí Minh
303
25 HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TRONG MÔI TRƯỜNG
SỐ TẠI CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP
Phan Vũ Nguyên Khương
Trường Cao đẳng nghề TP Hồ Chí Minh
312
26 NHỮNG LỢI ÍCH KHI THỰC HIỆN MÔ HÌNH LIÊN KẾT ĐÀO TẠO GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP TRONG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP
Đào Thị Thanh Thủy
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh
321
27 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUẢN LÝ HỆ THỐNG BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG TRONG CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP
Nguyễn Ngọc Phương 1 , Nguyễn Thị Kim Bắc 2
(1) Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh
(2) Trường Trung cấp Đông Sài Gòn, TP Thủ Đức
Nguyễn Trí 1 , Võ Thị Ngọc Lan 2
(1,2) Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh
350
Trang 13III SƯ PHẠM KỸ THUẬT VỚI GIÁO DỤC STEM 363
30 PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY HỌC STEM CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC TẠI THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
Lê Thị Xinh 1 , Bùi Văn Hồng 2
(1) Phòng Giáo dục và Đào tạo TP Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh
(2) Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh.
Ngô Văn Tới
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
413
35 GIÁO DỤC STEM TRONG DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ
Bùi Văn Hồng 1 , Phan Nguyễn Trúc Phương 2 ,
Nguyễn Quốc Tiệp 3
(1,2,3) Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh
Đào Xuân Hường 5
(1,2,3,4) Trường Đại học Thủ Dầu Một
(5) Trường THPT Tân Phước Khánh
435
Trang 1437 THIẾT KẾ QUY TRÌNH TỔ CHỨC TRÒ CHƠI KHOA HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG GIÁO DỤC STEM CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI
Bùi Thị Giáng Hương
Trường Đại học Sài Gòn
445
38 VAI TRÒ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI GIÁO DỤC STEM TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Đặng Khánh Linh 1 , Nguyễn Huy Vị 2
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học
Quốc gia TP Hồ Chí Minh
Nguyễn Lộc 1 , Lâm Thị Hoàng Linh 2
(1) Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
(2) Trường Đại học Nguyễn Tất Thành
467
40 CHUẨN HÓA NĂNG LỰC CHUYÊN MÔN ĐỂ HƯỚNG DẪN ĐỒ ÁN, DỰ ÁN CHO GIẢNG VIÊN NGÀNH THIẾT
KẾ THỜI TRANG
Lê Thùy Trang
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh
Trang 16SƯ PHẠM KỸ THUẬT
VỚI XU HƯỚNG VÀ ĐỔI MỚI
GIÁO DỤC
Trang 18TỔ CHỨC HỌC TẬP VÀ XÂY DỰNG HỆ SINH THÁI GIÁO DỤC SỐ ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM
Đỗ Văn Dũng 1 , Ngô Anh Tuấn 2 , Mai Anh Thơ 3
(1, 2, 3) Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh
Email: (1) dodzung@hcmute.edu.vn
TÓM TẮT
Bài báo giới thiệu về khái niệm và đặc điểm của Tổ chức học tập Từ
đó, kết hợp với lý thuyết về tổ chức học tập của Peter Senge, bài viết đề xuất xây dựng đại học thành tổ chức học tập nhằm nâng cao chất lượng đào tạo Vận dụng kết quả đề xuất này, bài viết giới thiệu mô hình cải cách giáo dục đại học theo hướng nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc xây dựng
hệ sinh thái giáo dục số tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP HCM
Từ khóa: tổ chức học tập; hệ sinh thái; giáo dục số; chất lượng giáo
dục đại học
I GIỚI THIỆU
Khái niệm “tổ chức học tập (learning organization)” xuất hiện vào
năm 1990 khi Peter Senge cho ra đời quyển sách The Fifth Discipline
lúc ông đang nghiên cứu tại Học viện Công nghệ Massachusetts Massachusetts Institute of Technology) nói về cách làm thế nào để các trường học, công ty, xí nghiệp phát triển khả năng thích ứng với thị trường
(MIT-Từ lúc xuất bản đến nay, hơn hai triệu bản đã được bán ra Nó là sách gối đầu giường của nhiều doanh nhân và nhà nghiên cứu giáo dục, được coi là một trong những quyển sách nền tảng về quản lý và giáo dục trong vòng 75
năm qua (Harvard Business Review, 1997) Theo Peter Senge, tổ chức học
tập là một tập thể liên tục tăng cường kiến thức và khả năng để sáng tạo ra những gì họ muốn sáng tạo [1] Muốn làm được điều đó, lý thuyết học tập diễn ra ở các phương thức khác nhau trong tổ chức được đưa lên hàng đầu
Lý thuyết về tổ chức học tập của Senge kể từ đó đã mang lại một luồng gió mới, ảnh hưởng sâu sắc đến cấu trúc quản lý và tổ chức việc học của các tổ chức, xí nghiệp nhằm duy trì khả năng tồn tại và cạnh tranh cao trong bối cảnh của quá trình toàn cầu hoá
Peter Senge, sinh năm 1947, được tạp chí Chiến lược kinh doanh
số 9/1999 gọi là “nhà chiến lược của thế kỷ”, là một trong 24 người tạo
Trang 19ảnh hưởng sâu rộng nhất trong chính sách quản lý và kinh doanh toàn cầu thời gian qua Senge tốt nghiệp chuyên ngành kỹ thuật ở ĐH Stanford, ông chuyển sang MIT lấy bằng Thạc sĩ về mô hình các hệ thống xã hội, sau đó bảo vệ Tiến sĩ tại đây về đề tài quản lý Ông từng là giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về Học tập ở tổ chức (Center for Organizational Learning) thuộc Sloan School of Management, Massachusetts Institute of Technology.
Ngoài The Fifth Discipline: The Art and Practice of The Learning Organization (1990), Peter Senge còn xuất rất nhiều đầu sách xoay quanh
đề tài tổ chức học tập như: The Fifth Discipline Fieldbook: Strategies and Tools for Building a Learning Organization (1994); The Dance of Change: The Challenges to Sustaining Momentum in Learning Organizations (1999) và Schools That Learn (2000) Peter Senge tự mô tả mình là một
nhà “thực dụng mộng mơ” (idealistic pragmatist) Chính khuynh hướng này giúp ông đề ra các ý tưởng có vẻ trừu tượng và không tưởng, đặc biệt
là trong lý thuyết hệ thống và sự cần thiết để mang các giá trị nhân bản vào nơi làm việc Đồng thời, cũng nhờ tư tưởng thực dụng, ông đã biến các
ý tưởng mà mình đưa ra để chúng có thể ứng dụng ở bất kỳ tổ chức nào Ông đã thành lập Society for Organizational Learning (SOL) đặt tại Đại học Cambridge - là tổ chức phi lợi nhuận Một trong những mục tiêu của
tổ chức này là vận động tài trợ cho các chương trình thử nghiệm thành lập các tổ chức học tập
Việc áp dụng lý thuyết tổ chức học tập của Peter Senge vào môi trường giáo dục đại học thông qua hệ sinh thái giáo dục số sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nhằm đáp ứng các thay đổi nhanh chóng trong
kỷ nguyên số
2 KHÁI NIỆM TỔ CHỨC HỌC TẬP
Theo Peter Senge (1990) tổ chức học tập là một tổ chức mà ở đó mọi
người liên tục mở rộng khả năng để sáng tạo ra những gì mà họ thật sự mong muốn, nơi mà các suy nghĩ và ý tưởng mới được nuôi dưỡng, nơi mà
các mong muốn của tập thể được để tự do phát triển, và nơi mà mọi người liên tục học hỏi và học cách học tập chung với nhau.
Lý do căn bản cho sự cần thiết phải chuyển đổi tổ chức của mình thành các tổ chức học tập là trong các tình huống biến đổi liên tục hiện nay chỉ những tổ chức nào thật sự linh hoạt, dễ thích nghi và làm việc hiệu quả mới có thể vượt lên phía trước Để thực hiện sự chuyển biến nêu trên, các
Trang 20tổ chức cần phải có giải pháp về mọi mặt để mọi người có thể học ở mọi
cấp Tuy nhiên, ở mọi tổ chức, cần phải thay đổi nhận thức cơ bản của tất
cả mọi thành viên
Theo Peter Senge, việc học thật sự đi vào con tim của nhân loại và chính nhờ việc học chúng ta đã tự tái tạo lại chúng ta Điều đó đúng cho
cả cá nhân và tổ chức Từng cá nhân và cả tổ chức đều phải học Học để
tồn tại – survival learning (trong môi trường cạnh tranh khắc nghiệt) hay học để thích ứng (adaptive learning) – thích ứng với những điều kiện luôn
thay đổi cả bên trong lẫn bên ngoài tổ chức Tuy nhiên, đối với một tổ
chức học tập, “học thích ứng” cần phải gắn liền với học để phát triển
(generative learning), một dạng học tập giúp tăng cường khả năng sáng
tạo [2]
Peter Senge cho rằng tổ chức học tập đòi hỏi thay đổi quan điểm,
tư duy của bộ phận lãnh đạo Trong tổ chức học tập, lãnh đạo phải vừa
là người thiết kế vừa là người phục vụ và đồng thời cũng là người thầy
nhưng không phải dạy mọi người học mà còn giúp mọi thành viên nắm
bắt tầm nhìn của lãnh đạo và chịu trách nhiệm tổ chức việc học trong tổ chức của mình
3 CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA TỔ CHỨC HỌC TẬP
Senge [1] lý luận rằng: sự khác biệt cơ bản giữa các tổ chức học tập
với các tổ chức kiểm soát độc đoán theo kiểu truyền thống chính là sự tinh thông một số nguyên tắc cơ bản nào đó Đây là lý do tại sao các nguyên tắc
về tổ chức học tập mang tính sống còn
Senge đặt tên sáu nguyên tắc quan trọng khác nhau, như một hình thái của tổ chức học tập Đó là:
3.1 Tư duy hệ thống liên quan đến một hệ thống khung nhận thức,
là bộ xương cho kiến thức và là công cụ đã được phát triển hơn 50 năm qua, nhằm làm cho các hệ thống trở nên rõ ràng hơn và giúp chúng ta thấy được bằng cách nào có thể thay đổi chúng khi cần Một ưu điểm lớn trong công trình của Peter Senge là ông đã thành công trong việc đưa lý thuyết
hệ thống vào việc xây dựng mô hình quản lý tổ chức Tư duy hệ thống là nền tảng trong lý thuyết của Senge Việc hiểu toàn cục và xác định mối quan hệ giữa các bộ phận trong cơ quan được đặt lên hàng đầu Chúng ta thường chỉ chú trọng đến từng bộ phận mà không có cái nhìn tổng thể, do vậy, ít người nhìn tổ chức trong một quá trình động Khi đụng phải một vấn
đề nào đó, giải pháp được đưa ra chỉ tập trung quanh vấn đề này và thường
Trang 21là các giải pháp nhất thời Tuy nhiên, điều đó sẽ làm tổ chức (tổ chức) phải trả giá đắt trong thời gian dài kế tiếp Ví dụ, việc cắt xén kinh phí nghiên cứu và thiết kế ở một tổ chức có thể làm giảm giá thành và tiết kiệm nhanh ngân sách trong một vài năm đầu nhưng sẽ ảnh hưởng mạnh đến khả năng tồn tại của tổ chức sau này Như vậy, chúng ta phải có cái nhìn toàn cục và lâu dài Quan điểm hệ thống thường hướng về tầm nhìn dài hạn Vì vậy, việc phản hồi rất quan trọng Senge cũng khuyên chúng ta nên lập “bản
đồ hệ thống” của tổ chức với các bộ phận liên kết với nhau và áp dụng lý thuyết hệ thống khi giải quyết vấn đề ở tổ chức
3.2 Làm chủ cá nhân là nguyên tắc luôn làm sáng tỏ và sâu sắc các
quan điểm của cá nhân, tập trung năng lượng, nhẫn nại và nhìn nhận thực
tế một cách khách quan Điều này áp dụng cho từng hoạt động của cả tổ chức Với ý nghĩa đó, nó là viên đá móng cần thiết cho một tổ chức không ngừng học tập – nền tảng tinh thần cho tổ chức học tập
Tổ chức học chỉ thông qua việc học của từng cá nhân trong tổ chức Nhưng việc học của từng cá nhân không đảm bảo việc học tập của tổ chức, nhưng nếu không có nó thì việc học ở tổ chức sẽ không thể xảy ra
[1] Con người với mức hoàn thiện cá nhân cao sẽ sống trong bối cảnh học liên tục (continuous learning) Họ không bao giờ đạt đến điểm dừng của việc học
3.3 Các mô hình trí tuệ là những suy nghĩ, giả định hoặc những
bức tranh, hình ảnh sẽ ảnh hưởng đến cách chúng ta hiểu thế giới và hành động Thường thì chúng ta không nhận biết được các mô hình tinh thần của mình và không biết chúng sẽ ảnh hưởng như thế nào đến lối ứng xử của chúng ta
3.4 Xây dựng tầm nhìn được chia sẻ là chìa khóa để đạt được sự
cam kết của tất cả mọi thành viên của tổ chức, khiến họ có thể phát huy tốt
và tự mình học tập
3.5 Học theo nhóm là nguyên tắc cơ bản của Tổ chức học tập Điều
này không chỉ hàm nghĩa là giao tiếp trong công việc mà còn là việc cùng nhau suy nghĩ Sự hợp tác theo nhóm là nền tảng để thành đạt trên mọi lĩnh vực điều hành Một nhóm thực chất là một lực lượng sinh động, luôn biến đổi, ở đó một số người tập hợp lại để làm việc Các hoạt động của nhóm bàn thảo các mục tiêu, đánh giá những ý tưởng, đi đến những quyết định,
và cùng nhau hành động để đạt mục tiêu đã đề ra Con người sẽ có động lực làm việc hăng hái hơn khi họ cảm thấy có hướng cộng tác với người khác Khi đó, con người có cơ hội để giúp đỡ nhau thành công Và như
Trang 22Henry Ford đã nói: “Đến với nhau là sự bắt đầu, gắn bó với nhau là sự thành công” Henry Ford hiểu rõ tầm quan trọng của động lực và làm việc tập thể Ông đã chỉ ra rằng năng suất chỉ có thể cao khi công nhân cộng tác với nhau trong một nỗ lực chung [3]
Học tập theo nhóm là môi trường mà sự thông thái của cả nhóm vượt quá sự thông minh của từng cá nhân trong nhóm và là nơi mà nhóm phát triển được những khả năng vượt trội cho sự hợp tác Khi nhóm đã thực sự học tập thì không những họ gặt hái được những thành tích đáng kể mà các nhân viên cũng trưởng thành lên nhanh hơn bao giờ hết [1]
Làm việc và học tập theo nhóm rất cần thiết và thuận tiện cho việc học tập ở tổ chức trong các kế hoạch thông qua chức năng và thứ bậc bên trong tổ chức hoặc giữa những tổ chức khác nhau Làm việc và học tập theo nhóm không dựa vào các cách thức theo thứ bậc chính thức vì điều
đó thường làm chậm tiến trình học tập trong tổ chức và thường làm tiết
lộ các thông tin quan trọng của các kế hoạch “Học tập theo nhóm là điều
quan trọng cốt yếu vì chỉ có nhóm, chứ không phải cá nhân, là tổ chức học tập cơ bản trong các tổ chức hiện đại” [1] Làm việc và học tập theo nhóm
là những thành tố sống còn cho Tổ chức học tập, bởi vì học tập ở tổ chức,
đồng nghĩa với việc tiếp nhận và sáng tạo, lĩnh hội và phổ biến kiến thức, được thực hiện bởi các nhóm cùng hợp tác làm việc [4]
3.6 Học tập liên tục hay học tập suốt đời (Continuous or life long learning)
Đây là thành tố mới được đưa vào nhưng rất quan trọng của tổ chức học tập Đối với các tổ chức học tập là các cơ sở giáo dục đại học thì toàn
bộ cán bộ viên chức, giảng viên phải là các tấm gương cho việc học tập và sáng tạo liên tục Sinh viên thông qua chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo phải được tạo điều kiện để hình thành kỹ năng học tập suốt đời thông qua môi trường bên trong của tố chức học tập
4 XÂY DỰNG ĐẠI HỌC THÀNH TỔ CHỨC HỌC TẬP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
Hoạt động của một đại học thường liên quan chủ yếu đến việc dạy, học, nghiên cứu và phục vụ cộng đồng Tuy nhiên điều đó không đủ để coi
nó như một tổ chức học tập nếu xem xét về mặt lý thuyết [5] Nền tảng về
tổ chức học tập là trường đại học chủ yếu xuất phát từ lý thuyết quản lý sản xuất, trong đó phải xem sinh viên là sản phẩm đầu ra, coi trọng chất lượng sản phẩm với sự thích ứng nhanh trong cơ chế thị trường Từ đó các dạng
Trang 23học tập trong mô hình tổ chức học tập sẽ giúp trường đại học thích nghi với các sự thay đổi nhanh trong kỷ nguyên số.
Cambron-McCabe [6] định nghĩa, tổ chức học tập là một tổ chức tự cấu trúc, tái cấu trúc và phát triển theo hướng các thành viên của tổ chức liên tục học hỏi từ trải nghiệm, học lẫn nhau và học từ môi trường xung quanh Kết quả của việc học dẫn đến cải tiến cách giải quyết vấn đề và cơ cấu tổ chức Trường đại học phải tạo các điều kiện tốt nhất cho việc học của tất cả các thành viên kể cả sinh viên, tập trung vào sự kết nối giữa việc học cá nhân và việc học của tổ chức trong quá trình giải quyết các vấn đề nhằm thích ứng với sự thay đổi của môi trường làm việc
Như vậy, trường đại học là tổ chức học tập phải có các yếu tố nền tảng sau:
Trường đại học phải là một hệ thống mở (open system) [7], bao
gồm các hệ thống phụ (các tổ chức học tập phụ) là các khoa hoặc bộ môn Đặc điểm của hệ thống mở là các mối quan hệ giữa các tập con và tương tác với các hệ thống bên ngoài nhằm phát hiện sự thay đổi và nhanh chóng thích ứng với chúng thông qua việc học Hệ thống mở phải liên tục xác định khoảng hở (gap) giữa những gì nhà trường đang có và kỳ vọng sẽ đạt được trong tầm nhìn (vision) Trường đại học nhờ vậy học được nhiều từ thị trường đang biến đổi và ở một khía cạnh nào đó sẽ ảnh hưởng ngược lại đến thị trường Khả năng học tập của hệ thống mở không chỉ đến từ môi trường bên ngoài mà còn từ các mối quan hệ bên trong (học lẫn nhau), đặc biệt là trong bối cảnh đa ngành, đa lĩnh vực
Học tập cá nhân (Individual learning) Trong một tổ chức học tập
việc học diễn ra đồng thời ở nhiều cấp độ: học ở tổ chức (organizational learning), học nhóm (group learning) và học cá thể (individual learning) Động lực cho việc học tập cá nhân xuất phát từ áp lực của môi trường bên trong và bên ngoài nhằm thích ứng nhanh và đáp ứng yêu cầu thay đổi liên tục của thị trường lao động Việc học tập của từng cá nhân sẽ thúc đẩy việc học của nhóm và việc học của cả tổ chức theo hướng lan tỏa Các chương trình đào tạo trong giai đoạn hiện nay phải được xây dựng lại theo hướng cá nhân hóa việc học Một số trường đại học ngày nay
đã bắt đầu cho phép người học tự xây dựng chương trình học của mình (personalized curriculum) mà không cần học theo khuôn khổ đóng khung trong các chương trình đào tạo cứng nhắc trước đây Điều này giúp sinh viên phát huy khả năng sáng tạo tối đa cũng như khả năng rút ngắn thời gian đào tạo [7]
Trang 24Học nhóm (group or team learning) Thông qua việc trao đổi của
các cá nhân thông qua chia sẻ sẽ hình thành học nhóm Điều đáng chú ý là mâu thuẫn giữa các nhóm và tư duy phản biện cũng là động lực thúc đẩy việc học của các nhóm, dẫn đến các thay đổi về văn hóa làm việc của cả tổ chức Khuyến khích việc học theo nhóm góp phần hình thành kỹ năng làm việc theo nhóm (teamwork) và tư duy phản biện (critical thinking) – những
kỹ năng tối cần thiết của người lao động trong kỷ nguyên số
Văn hóa học tập trong tổ chức (organisational learning culture)
Việc học tập của cả tổ chức diễn ra theo nhiều hướng khác nhau và rất khó
để các trường đại học thay đổi quan điểm, tư duy về việc học do tính bảo thủ sẵn có Các tổ chức học tập thường diễn ra theo hướng học để phát triển
và hình thành văn hóa học tập Các thế lực chống lại sự thay đổi là yếu tố ngăn cản việc học của trong các trường đại học [7] Tổ chức học tập cần biến các mâu thuẫn và sự chống đối thành cơ hội học tập của trường đại học Việc đưa tinh thần doanh nghiệp (educational enterprise) vào quản trị nhà trường cũng giúp việc học tập của tổ chức hiệu quả
Cấu trúc hỗ trợ việc học các cấp (Supporting learning structure)
Việc tạo ra một cấu trúc trong trường đại học để liên tục hỗ trợ việc học rất cần thiết Trường đại học ngày nay không cần xây những giảng đường to lớn mà cần tạo ra môi trường thuận lợi cho việc học nhóm và học cá nhân, trong đó các phòng nhỏ chưa 10-15 sinh viên có nhiều màn hình LED và wifi mạnh để giảng viên và sinh viên có thể làm việc theo nhóm Bên cạnh đó, hệ thống truyền thông và giao tiếp nội bộ đóng vai trò lớn trong việc học nhờ lan tỏa, hấp thụ các kiến thức, ý tưởng mới Tôn vinh các giá trị và triết lý giáo dục của nhà trường để tạo ra sự tự tin của từng cá nhân và cả tập thể cũng là yếu tố then chốt nhằm thúc đẩy việc học Hệ thống thông tin liên tục thu thập, phân tích và đánh giá dữ liệu về các quá trình cốt lõi đang diễn ra bên trong và bên ngoài thông qua dashboard Các chính sách thúc đẩy hình thành văn hóa học tập cũng rất quan trọng
Trong bối cảnh hiện nay, các trường đại học cần xây dựng trung tâm dữ liệu lớn – nơi tập hợp, lưu trữ tất cà các dữ liệu liên quan đến tất cả các hoạt động của nhà trường nhằm đặt nền tảng cho việc phân tích dữ liệu để đưa ra các quyết định, chính sách đúng đắn, giúp nâng cao việc học cũng như các chỉ số hoạt động của trường Trung tâm dữ liệu cũng lưu trữ các khóa học MOOC kết hợp với hệ thống quản lý học tập (LMS) giúp giảng viên và sinh viên có thể học mọi lúc mọi nơi Việc hình thành bản sao số
Trang 25(digital twin) cũng là vấn đề cần triển khai để trường đại học ảo (virtual university) tồn tại song song với trường đại học thực tế (physical)
5 MÔ HÌNH CẢI CÁCH GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM THEO ĐỊNH HƯỚNG HỆ SINH THÁI GIÁO DỤC SỐ
5.1 Định hướng xây dựng hệ sinh thái giáo dục UTE 4.0 tại
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
Trường đã thực hiện đề án xây dựng hệ thống giáo dục trực tuyến dựa trên các phân tích, triết lý giáo dục và đặc điểm của nhà trường để từng bước xây dựng hệ sinh thái giáo dục UTE 4.0 với thành phần mở rộng UTEx
- UTE - University of Technology and Education - là tên viết tắt
tiếng Anh của trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TPHCM
- X nghĩa là Extra, Extreme, Extraordinary, được hiểu là một bản sao
số, bổ sung và có thêm nhiều giá trị mới mang tính độc đáo của nhà trường
- UTEx – University Through Educational Technology to achieve
Excellence
- UTEx là sự kết hợp và chuyển đổi các giá trị, tài nguyên của UTE
truyền thống sang giao thức trực tuyến để kết hợp với các công nghệ giáo dục hiện đại và các tài nguyên tri thức số hiện có của nhân loại
- UTEx là môi trường để các giảng viên và sinh viên thoả sức
sáng tạo, đổi mới để kiến tạo, truyền bá, tìm kiếm và áp dụng các tri thức mới
- Hệ sinh thái giáo dục trực tuyến UTE 4.0 là sự kết hợp tổng thể của hệ sinh thái giáo dục xanh (môi trường, kiến trúc và văn hóa - con người) với mô hình quản trị tinh gọn trên nền tảng công nghệ trực tuyến; trở thành biểu tượng uy tín, tiên phong làm hình mẫu cho công cuộc đổi mới giáo dục đại học 4.0 đối với các đại học trong nước và quốc tế
- Thông qua UTEx để từng bước biến đổi UTE thành một hệ sinh thái giáo dục mở với khả năng kết nối thông minh giữa các bên liên quan trong tiến trình giáo dục của cá nhân người học đó là: gia đình – nhà trường – doanh nghiệp – quốc tế (cộng đồng)
- Thông qua UTEx để từng bước xây dựng mô hình quản trị tinh gọn để điều hành các hoạt động của nhà trường hiệu quả trên nền tảng công nghệ 4.0, trên nguyên tắc điều hành tinh gọn: 1% quản lý điều hành
và 99% nhân sự cộng tác, kết nối với các đại học trực tuyến và kho tàng
Trang 26tri thức của nhân loại Mô hình này cho phép tự động hóa các hoạt động nghiệp vụ quản trị nhà trường - gia tăng tính sáng tạo và cống hiến trong môi trường giáo dục mở hiện đại.
5.2 Giải pháp xây dựng hệ sinh thái giáo dục UTE 4.0
Giải pháp Nhà trường học số cần phải đáp ứng được xu thế giáo dục
và có đủ các phương diện để thực hiện được đồng bộ (hình bên dưới) phù hợp với mô hình chuyển đổi số của UNESCO (2015)
Hình 1 Mô hình hệ sinh thái giáo dục số [8]
Trang 27Từ mô hình này, khi kết nối được với hệ thống doanh nghiệp số - sẽ kiến tạo hệ sinh thái giáo dục số UTE gắn liền với doanh nghiệp, đảm bảo chất lượng đầu ra của đào tạo theo định hướng nghề nghiệp (xem hình bên dưới) Đó là sự kết nối giữa 2 hệ sinh thái giáo dục và doanh nghiệp nhằm mang lại giá trị bền vững cho nhà trường (cung cấp nguồn nhân lực chất lượng) và cho cả doanh nghiệp (sử dụng nguồn nhân lực của nhà trường)
để tạo ra các giá trị sản phẩm phục vụ xã hội
Hình 2 Mô hình giải pháp chuyển đổi Giáo dục số kết nối 3 nền tảng:
Giáo dục – Quản lý doanh nghiệp – Thương mại điện tử [8]
Trong đó, yếu tố “học tập tổ chức” được thực hiện cần đảm bảo kiến
tạo môi trường học tập cá nhân với khả năng kết nối, chia sẻ và kiến tạo tri thức qua lại giữa các cá nhân (giảng viên, nhà nghiên cứu, tổ chức,…); bên cạnh đó, cần xây dựng nguồn tài nguyên tri thức giáo dục mở để tổng hợp các nghiên cứu có giá trị thực tế giữa nhà trường – doanh nghiệp…
Trang 28Hình 3 Hệ cá nhân PLE với khả năng kết nối và tích hợp các công cụ,
các nguồn tài nguyên Giáo dục
Hình 4 Hệ sinh thái Giáo dục bao gồm các hệ con PLE
với khả năng tương tác và tạo dựng tri thức mới
Trang 29Ngoài môi trường học cá nhân tạo điều kiện cho “học tập tổ chức”, cũng cần áp dụng mô hình đào tạo 70:20:10 để thực hiện quy trình này gắn với trải nghiệm nghề nghiệp tại doanh nghiệp, tại trường học và môi trường học tập số [9]
Hình 5 Mô hình học tập 10:20:70
Mô hình này chỉ rõ tiến trình “học tập tổ chức (organisational learning)” nên diễn ra thế nào ở cả 3 môi trường đào tạo và nó có thể gọi sự đột phá trong công cuộc đào tạo và phát triển trong các doanh nghiệp lớn, mà theo Schmidt - cựu CEO của Google: “Đây là phương pháp tuyệt vời để thúc đẩy sự thay đổi về tư duy cho người lao động, tạo ra văn hóa sẵn sàng nói “có” thay vì nói “không” Đồng thời nó cũng khuyến khích những luồng ý tưởng mới thổi vào công ty và biến chúng trở thành sự thật”
5.3 UTEx với định hướng các khóa học đại trà (MOOC)
Xu thế giáo dục mở với sự đa dạng các khóa học đại trà MOOC hiện nay mang lại cơ hội giáo dục cho bất kể mọi người mà không bị giới hạn về thời gian và không gian cũng như không bị rào cản bởi chi phí đào tạo cao, ví dụ như trên hệ EDx có nhiều khóa học đại trà của các trường đại học hàng đầu như của Harvard, MIT,… thu hút hàng triệu người tham gia học tập
Không chỉ là nền tảng hệ sinh thái giáo dục UTE 4.0, UTEx đã triển
Trang 30khai huấn luyện giảng viên và xây dựng hơn 120 khoá dạy học số theo nền tảng chung của UTEx trong đó lưu ý đến sự kế thừa các khoá đã được xây dựng từ nhiều Platform khác nhau như Blackboard và đã xây dựng xong công cụ chuyển đổi các khoá học sang UTE MOOC.
Về lâu dài UTEx định hướng tập trung xây dựng các khóa học MOOC để mang lại ích lợi cho bản thân nhà trường, doanh nghiệp và cộng đồng… Và với định hướng này, có thể thấy “học tập tổ chức –organisational learning” càng được phát triển bởi nó tạo điều kiện để toàn bộ nhà trường từ giảng viên đến sinh viên có thể tiếp cận bất kỳ khóa học nào có giá trị thực tế và mang tính thời sự nhất Khi đó nó được xem là môi trường học tập suốt đời để mọi cá nhân có thể phát triển bản thân, cũng như chia sẻ tri thức của chính bản thân với cộng đồng thông qua các khóa học đại trà này
5.4 UTEx với định hướng kiến tạo không gian làm việc sáng tạo (Maker Innovation Space)
Ngoài yếu tố cá nhân hóa, “học tập tổ chức” cho phép kiến tạo không gian làm việc chung giúp các thành viên trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, giá trị hoặc cùng hợp tác thực hiện các dự án,… Không gian làm việc này bao gồm các công cụ hỗ trợ cá nhân thực hiện các hoạt động tương tác, cộng tác và kiến tạo tri thức; đồng thời liên kết được nguồn tài nguyên giáo dục mở trực tiếp từ UTEx Đây là xu thế tất yếu mà các hãng lớn như Google, Facebook,… đều đưa ra Workspace để hỗ trợ làm việc nhóm cộng tác hiệu quả
Với việc tích hợp các nguồn tài nguyên mở và các công cụ Webtools vào hệ thống, UTEx cho phép kiến tạo được không gian làm việc sáng tạo để cá nhân xây dựng tri thức cho bản thân và tạo dựng tri thức mới Chính vì vậy, hệ sinh thái giáo dục số UTEx là công cụ giúp trường Đại học SPKT TP HCM trở thành tổ chức học tập, góp phần đổi mới phương pháp dạy và học, hướng đến việc nâng cao chất lượng đào tạo và thích ứng nhanh với những thay đổi trong kỷ nguyên số
6 KẾT LUẬN
Bài báo mô tả về lý thuyết học tập của Peter Senge - người đi trước thời đại với những ý tưởng sáng suốt và mang tính cách mạng khi đưa ra
năm nguyên tắc cơ bản của tổ chức học tập Việc ứng dụng lý thuyết của
Peter Senge để xây dựng trường đại học thành tổ chức học tập với mô hình
Trang 31cải cách theo hướng nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc hệ sinh thái giáo dục số nhằm đáp ứng sự thay đổi nhanh về văn hóa làm việc và các kỹ năng cần thiết của người lao động trong kỷ nguyên số
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Senge, P et al (1994) The Fifth Discipline Fieldbook: Strategies and Tools for Building a Learning Organization.
2 Argyris, C and Schön, D (1996) Organizational learning II: Theory, method and practice, Reading, Mass: Addison Wesley.
3 Argyris, C., & Schön, D (1978) Organizational learning: A theory
of action perspective, Reading, Mass: Addison Wesley.
4 Finger, M and Brand, S B (1999) ‘The concept of the “learning organization” applied to the transformation of the public sector’ in
M Easterby-Smith, L Araujo and J Burgoyne (eds.) Organizational Learning and the Learning Organization, London: Sage.
5 O’Neill, J (1995) ‘On schools as learning organizations An interview
with Peter Senge’ Educational Leadership, 52(7).
6 Senge, P., Cambron-McCabe, N Lucas, T., Smith, B., Dutton, J and
Kleiner, A (2000) Schools That Learn A Fifth Discipline Fieldbook for Educators, Parents, and Everyone Who Cares About Education,
New York: Doubleday/Currency
7 Senge, P., Kleiner, A., Roberts, C., Ross, R., Roth, G and Smith,
B (1999) The Dance of Change: The Challenges of Sustaining Momentum in Learning Organizations, New York: Doubleday/
9 Trung, T., Thanh, P X., (2019) E-Class Education Model in
Modern Educational Technology-Based Approach International Conference on Information, Communication and Computing Technology, 405–416
10 Mai, A T., Ngô, A T Phát triển năng lực số cho sinh viên đại học:
Một số nghiên cứu và nhận định ban đầu Tạp chí Giáo dục, 7–13
2020
Trang 32Learning Organization and improving training quality through building a digital education ecosystem at
HCMUTEABSTRACT
The article introduces the concept and characteristics of Learning Organization From there, combined with Peter Senge’s theory of learning organization, the article has proposed to build universities into learning organizations to improve training quality Applying this proposed result, the article introduces a model of higher education reform towards improving training quality through building a digital education ecosystem at Ho Chi Minh City University of Technology and Education
Keywords: Peter Senge; Learning organization; Digital Educational
Ecosystem; Higher Education Quality
Trang 33CÔNG NGHỆ DẠY HỌC VÀ PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC SỐ TRONG HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
CHO ĐỘI NGŨ GIẢNG DẠY
Trần Khánh Đức
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
GS Thỉnh giảng Đại học Hiroshima-Nhật Bản
Từ khóa: giáo dục; công nghệ dạy học; năng lực số; đội ngũ giảng
dạy; hoạt động dạy học
MỞ ĐẦU
Trong lịch sử phát triển giáo dục, vấn đề công nghệ giáo dục nói chung và công nghệ dạy học nói riêng đã được nhiều tác giả đề cập đến
từ những thập kỷ đầu của thế kỷ XX đặc biệt là ở các nước phương Tây
có nền công nghiệp phát triển sớm (Đức, Mỹ, Pháp, ) Trong thời kỳ đầu (những năm 30 - 40 của thế kỷ XX), khái niệm công nghệ dạy học gắn liền với quá trình sử dụng các thiết bị dạy học (máy dạy học, phim giáo khoa, điện thoại và các thiết bị trợ giúp khác ) trong quá trình đào tạo, đặc biệt trong các khóa huấn luyện nhân lực lao động cho các
cơ sở công nghiệp Đến thập kỷ 50 – 80, công nghệ dạy học có những bước phát triển mới không chỉ bằng các phương tiện dạy học đa dạng, hiện đại (máy tính, đa phương tiện - multimedia) mà chuyển mạnh sang quá trình thiết kế các quy trình dạy học tối ưu (các kiểu dạy học chương trình hóa ra đời và phát triển các loại hình phòng học chuyên môn hóa) theo các quy trình Agorit hóa với việc ứng dụng rộng rãi các thành tựu mới trong các lĩnh vực tâm lý học (lý thuyết hành vi tích cực của Skinner, lý thuyết hành vi nhận thức của Tolman, ), của điều khiển
Trang 34học (Cybernetics) và đặc biệt là các thành tựu mới của lý thuyết thông tin (Information).
Trong những thập kỷ gần đây, công nghệ dạy học đã có những bước phát triển mới có tính nhảy vọt trên cơ sở các công nghệ thông tin-truyền thông (ICT), Mạng Internet kết nối vạn vật (IoT); Trí tuệ nhân tạo (AI); Thực tại ảo (VR); Metaverse; Các lý thuyết về phát triển chương trình hiện đại, tổ chức khoa học lao động sư phạm; về các hệ thống tích hợp với các mạng siêu lộ thông tin đa chiều, đa chức năng, v.v Ở các nước công nghiệp phát triển đã hình thành các cơ sở đào tạo tin học hoá, số hóa ở cấp
độ cao với các phần mềm dạy học hiện đại kết nối hệ thống máy vi tính, mạng Internet kết nối vạn vật (IoT) trong một mạng thông tin đa chiều,
đa kênh, Người dạy và người học hoàn toàn làm việc với máy tính và trong môi trường trực tuyến (online) ở mọi khâu đào tạo và quản lý đào tạo (LMS) với sự trợ giúp của trợ lý ảo (chatbot) trong nhiều hoạt động: đăng ký học tập, tổ chức, thực hiện bài giảng, nghe giảng và thảo luận, trao đổi, tham khảo tài liệu làm bài tập hoặc luận văn; kiểm tra - đánh giá; v.v theo các phương thức dạy học điện tử (E-Learning); dạy học trực tuyến (On-line) hoặc kết hợp (B-learning); với các mô hình nhà trường thông minh (SmartSchool), lớp học thông minh Có thể nói, quá trình hình thành và phát triển công nghệ dạy học gắn liền với quá trình ứng dụng các thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại trong lĩnh vực giáo dục nói chung và trong dạy học nói riêng, đặc biệt là trong bối cảnh
cách mạng công nghiệp 4.0 Trong tác phẩm Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (2018), tác giả Klaus Schwab - Chủ tịch Diễn đàn kinh tế thế giới
- khẳng định, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã “tái định hình chính phủ và các tổ chức cũng như các hệ thống giáo dục và y tế ” Qua
đó, công nghệ dạy học đã thực sự bước sang một giai đoạn phát triển mới với quá trình số hóa và chuyển đổi số mạnh mẽ
1 KHÁI NIỆM CÔNG NGHỆ VÀ CÔNG NGHỆ DẠY HỌC
Từ “công nghệ” theo gốc Latin được ghép từ Technic (kỹ thuật hay công cụ, vật liệu,…) và từ logic (trình tự, các cách tiếp cận khác nhau để giải quyết vấn đề)
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (Hà Nội, 1995, trang 583), khái
niệm “công nghệ” được hiểu là: “Là môn khoa học ứng dụng nhằm vận dụng các quy luật tự nhiên và các nguyên lý khoa học, đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người”; hoặc “Là tập hợp các cách thức, các
Trang 35phương pháp dựa trên cơ sở khoa học và được sử dụng vào sản xuất trong các ngành sản xuất khác nhau để tạo ra các sản phẩm vật chất và dịch vụ”.Theo Điều 2 - Luật Khoa học và công nghệ 2018 (sửa đổi), khái niệm công nghệ còn được hiểu: “Là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật
có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”
Tuy còn nhiều ý kiến khác nhau về mặt quan điểm và lý luận của công nghệ giáo dục, công nghệ dạy học do những khó khăn về đầu tư kinh phí và thói quen tâm lý trong thực tiễn ứng dụng công nghệ dạy học ở nhiều nước (thậm chí bị phản đối hoặc bác bỏ hoàn toàn) song công nghệ giáo dục nói chung và công nghệ dạy học nói riêng vẫn ngày càng được phát triển và hoàn thiện cho phù hợp với trình độ phát triển của xã hội, của khoa học - công nghệ và các thành tựu về khoa học giáo dục hiện đại Công nghệ dạy học có những thế mạnh vượt hẳn trong các hoạt động dạy học truyền thống, thông thường với các quy trình nhận thức logic khách quan chặt chẽ và các phương pháp, phương tiện đào tạo kỹ năng thừa hành chuẩn xác, hiệu quả, nhanh chóng Những hạn chế về tính đơn điệu, quy trình cứng, kém linh hoạt, sáng tạo của công nghệ dạy học được khắc phục đáng kể bằng các giải pháp công nghệ mềm (có thể điều chỉnh một phần quy trình theo mục tiêu và điều kiện cụ thể) đặc biệt là sử dụng triệt để các phương pháp dạy học tích cực (Active Learning) trong quá trình thực hiện các quy trình dạy học tối ưu theo quan điểm công nghệ dạy học Các thành
tố cơ bản của công nghệ dạy học được trình bày ở Hình 1:
Hình 1 Các thành tố cơ bản của công nghệ dạy học
Trang 362 ĐẶC ĐIỂM CỦA VIỆC TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH DẠY HỌC THEO QUAN ĐIỂM CÔNG NGHỆ DẠY HỌC
Quá trình dạy học diễn ra trong một môi trường nhất định (lớp học, xưởng thực hành, cơ sở sản xuất, v.v.) và được thực hiện trong sự kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động dạy (của người dạy) và hoạt động học (của người học) nhằm đạt được những mục tiêu dạy học dự kiến Trong quá trình dạy học, dù là dạy lý thuyết hay thực hành hoặc dạy tích hợp
lý thuyết và thực hành thì trong bất cứ loại hình nào thì người dạy bao giờ cũng đóng vai trò chủ đạo với nhiệm vụ cơ bản là tổ chức hướng dẫn, tư vấn và quản lý quá trình dạy học Đồng thời trong quá trình này, người học vừa là đối tượng vừa là chủ thể quá trình học tập, là trung tâm của quá trình dạy học với yêu cầu tích cực, chủ động và sáng tạo lĩnh hội và phát triển các kiến thức, kỹ năng chung và nghề nghiệp, hình thành thái độ đúng đắn trong nghề nghiệp và đời sống xã hội, qua
đó, hình thành và phát triển nhân cách Sự khác biệt giữa phương thức dạy học cổ truyền và phương thức dạy học theo công nghệ dạy học hiện đại cho ở Bảng 1
Bảng 1: So sánh các phương thức dạy học truyền thống và hiện đại
Nguồn: Trần Khánh Đức, 2020
THÀNH
TỐ
PHƯƠNG THỨC DẠY HỌC TRUYỀN THỐNG
PHƯƠNG THỨC DẠY HỌC THEO CÔNG NGHỆ DẠY HỌC HIỆN
+ Trên cơ sở khoa học (sư phạm, tự nhiên, xã hội, công nghệ) kết hợp với kinh nghiệm của từng cá nhân và tập thể các nhà sư phạm/giáo dục
* Mục tiêu
dạy học
+ Hướng vào mục tiêu cuối cùng, nặng về kết quả thu nhận khối lượng kiến thức, kỹ năng định sẵn, năng lực thừa hành máy móc
+ Xác định các mục tiêu cuối cùng và các mục tiêu trung gian Tăng khả năng định lượng kết quả Chú trọng năng lực thực hành (trí tuệ - chân tay) sáng tạo
Trang 37* Nội dung
dạy học
+ Theo chương trình cứng (Bậc học/ Năm học/lớp) Chủ yếu định hướng theo mục tiêu cuối cùng Theo lôgic môn học, coi trọng số lượng kiến thức, hệ thống khái niệm lý thuyết đơn thuần,…
+ Được định lượng, chọn lọc chặt chẽ theo từng mục tiêu trung gian và cuối cùng Theo lôgic công việc, hệ thống thao tác tư duy - khái niệm, kỹ năng hành động Theo chương trình mềm, linh hoạt (Đào tạo theo Tín chỉ)
* Tổ chức
dạy học
+ Theo toàn lớp, ở nhà trường là chính Hệ thống Bài-lớp và mặt đối mặt trực tiếp (Face
to Face)
+ Theo cả lớp-nhóm và từng cá nhân ở nhiều nơi (lớp, trường, xưởng, cơ sở sản xuất, cơ sở văn hóa khoa học ) Nhiều phương thức online E-learning hoặc kết hợp (B-learning), M-Learning, )
về nghe và ghi nhớ Chỉ quan tâm phương pháp dạy Coi trọng kiến thức, coi nhẹ khả năng giải quyết vấn đề, xử lý tình huống
+ Đề cao tính tích cực, chủ động của người học, Coi trọng và chú ý vốn hiểu biết, kinh nghiệm và phương pháp học của HS (kể cả các PP tự học, tự nghiên cứu) Sử dụng nhiều các PP thuyết trình kết hợp trực quan, vấn đáp, thảo luận, tranh luận, xử lý tình huống, thử nghiệm trải nghiệm, v.v
* Phương
tiện dạy học + Đơn điệu, chủ yếu là phương tiện ngôn ngữ
và các công cụ dạy học thủ công (Phấn-bảng;
Hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng )
+ Phương tiện đa dạng: giáo
cụ trực quan (mô hình sơ đồ, bảng, biểu); mẫu vật thật, phương tiện nghe-nhìn; máy dạy học; Computer và mạng IoT; Trợ lý ảo (Chabot); Phần mềm dạy học; Mô phỏng thực tại ảo;
Trang 38+ Người học là trung tâm - Thầy có vai trò chủ đạo.
* Quá trình
dạy học
+ Đa dạng, không có mục tiêu trung gian, khó kiểm soát quá trình
Tùy thuộc vào trình độ, năng lực người dạy
+ Theo quy trình tối ưu bảo đảm chắc chắn đạt được các mục tiêu và kiểm soát được quy trình
+ Nặng về kiến thức và đánh giá định tính (hỏi-trả lời)
+ Nặng về năng lực và đánh giá định lượng, khách quan (test).+ Để điều chỉnh toàn bộ quá trình dạy - học và đánh giá kết quả học tập
+ Kết hợp chọn lọc các giá trị văn hóa giáo dục truyền thống
và các giá trị xã hội hiện đại, văn hóa công nghệ; văn hóa chất lượng
3 NĂNG LỰC NGHỀ NGHIỆP VÀ NĂNG LỰC SỐ TRONG DẠY HỌC CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG DẠY
3.1 Năng lực và năng lực nghề nghiệp
Hiện có rất nhiều quan niệm, định nghĩa về khái niệm “năng lực”
Theo Hoàng Phê trong Từ điển Tiếng Việt (NXB Đà Nẵng, 2000, trang
660-661), thuật ngữ năng lực được giải nghĩa như sau:
“1/ Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó 2/ Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao”
Theo Bùi Hiền trong Từ điển Giáo dục học (NXB Từ điển Bách
khoa, 2013, trang 272):
Trang 39Năng lực là “Khả năng được hình thành và phát triển, cho phép con người đạt được thành công trong một hoạt động thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp Năng lực được thể hiện vào khả năng thi hành một hoạt động, thực hiện một nhiệm vụ.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (Tập III, Hội đồng biên soạn Từ
điển Quốc gia), khái niệm năng lực được giải nghĩa là:
“Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo –tức
là có thể thực hiện một cách thuần thục và chắc chắn – một hay một số dạng hoạt động nào đó Năng lực gắn liền với những phẩm chất về trí nhớ, tính nhậy cảm, trí tuệ Tính cách của cá nhân…”
Có thể nói, năng lực là khả năng tiếp nhận và vận dụng tổng hợp, có hiệu quả mọi tiềm năng của con người (tri thức, kỹ năng, thái độ, thể lực, niềm tin, ) để thực hiện có chất lượng và hiệu quả công việc hoặc xử lý với một tình huống, trạng thái nào đó trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp
Có nhiều cách phân loại năng lực khác nhau trong đó có các cách phân loại chủ yếu sau (Trần Khánh Đức, 2020):
a/ Năng lực chung (General Competences): Là những năng lực cơ
bản, thiết yếu hoặc cốt lõi làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp như năng lực nhận thức, năng lực trí tuệ, năng lực về ngôn ngữ và tính toán; năng lực giao tiếp, năng lực vận động, v.v Các năng lực này được hình thành và phát triển dựa trên bản năng di truyền của con người, qua quá trình giáo dục & đào tạo và qua trải nghiệm trong lao động nghề nghiệp và cuộc sống Trong thời đại số, năng lực số có thể được coi là năng lực chung, nền tảng… cho mọi người và mọi ngành nghề theo nhiều cấp trình độ khác nhau (Chuyên gia-người ứng dụng-không chuyên- ) trong đó có đội ngũ giảng dạy
b/ Năng lực chuyên biệt (Specific Competences): Là những năng
lực riêng được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động nghề nghiệp, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù Ví dụ như năng lực nhận dạng các lỗi sản phẩm nhanh được hình thành trên cơ sở các năng lực chung về nhận thức, hiểu biết, của các giác quan,… và các phẩm chất, năng khiếu chuyên biệt cùng các kinh nghiệm, trải nghiệm thực tế; năng lực theo các ngành/nghề chuyên môn-nghiệp vụ;… với những đặc thù về đối tượng, sản phẩm, môi trường lao động, loại hình kỹ thuật và công nghệ Từ những năng lực số nền tảng, người dạy vận dụng trong quá trình dạy học để hình thành năng lực số trong hoạt động dạy học
Trang 40Với các thành tố chủ chốt của năng lực là kiến thức - kỹ năng và thái độ nhưng vai trò và vị trí của các thành tố trên chuyển hóa theo các loại hình, tính chất và trình độ nghề nghiệp khác nhau Nếu kỹ năng (bao gồm cả kỹ năng tư duy và kỹ năng hành động) là cốt lõi của năng lực thì thái độ (đặc biệt là trí tuệ cảm xúc) lại là bước khởi đầu và nền tảng bền vững của quá trình hình thành và phát triển năng lực nghề nghiệp ở mỗi
cá nhân Chiều sâu, tính linh hoạt và khả năng phát triển năng lực của mỗi
cá nhân lại phụ thuộc vào chiều sâu và tính linh hoạt của hệ thống tri thức (chuyên môn nghề nghiệp-văn hóa-xã hội- ) của cá nhân đó Năng lực nghề nghiệp còn có thể phân theo các giai đoạn định hướng-đào tạo-thích ứng-phát triển nghề nghiệp được thể hiện cụ thể ở hình Hình 2: