Các chuyên gia than ngày nay hoàn toàn không xa lạ với hệ thống thu và xử lý các tài liệu địa chấn; Phương pháp 3D để xác định cấu trúc mỏ; Công nghệ gia công chế tạo cấu kiện, thiết bị
Trang 1CộNG HOà X∙ HộI CHủ NGHĩA VIệT NAM
bộ Công THƯƠNG
Vụ Kế HOạCH
BáO CáO TổNG KếT Đề tài khoa học Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp phát triển hoạt động dịch vụ trong ngành công nghiệp
Trang 2CộNG HOà X∙ HộI CHủ NGHĩA VIệT NAM
bộ Công THƯƠNG
Vụ Kế HOạCH
BáO CáO TổNG KếT Đề tài khoa học Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp phát triển Hoạt động dịch vụ trong ngành công nghiệp
Khai khoáng đến năm 2020
Chủ nhiệm đề tài: Kỹ sư Huỳnh Đắc Thắng
Ngày thỏng năm 2008 Ngày thỏng năm 2008
THỦ TRƯỞNG CƠ QUAN CHỦ QUẢN THỦ TRƯỞNG CƠ QUAN CHỦ TRè
Trang 3NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN
TT Họ và tên Học vị, học hàm
chuyên môn
Cơ quan
1 Huỳnh Đắc Thắng Kỹ sư điện- CN kinh tế Vụ Kế hoạch
2 Mai Văn Cảnh Thạc sỹ kinh tế Vụ Kế hoạch
3 Trần Thị Bạch Tuyết Cử nhân kinh tế Vụ Kế hoạch
Trang 4Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của khu vực dịch vụ còn thấp so với tốc
độ tăng trưởng kinh tế chung; tỷ trọng dịch vụ trong GDP gần đây có xu hướng giảm dần, cơ cấu chuyển dịch chậm, nhiều dịch vụ chưa hình thành và chưa được khai thác có hiệu quả, trong đó có dịch vụ trong ngành công nghiệp
Chất lượng và hiệu quả kinh doanh dịch vụ công nghiệp còn thấp; giá trị gia tăng thấp; giá dịch vụ của một số ngành công nghiệp còn khá cao so với các nước trong khu vực và thế giới, một số loại dịch vụ có ý nghĩa quan trọng đối với năng lực cạnh tranh sản phẩm công nghiệp chưa được chú trọng như dịch vụ cung cấp nguyên liệu cho sản xuất ở một số ngành: dệt may, da giầy, nhựa Môi trường pháp lý, cơ chế, chính sách về phát triển dịch vụ nói chung và ngành công nghiệp còn thiếu và chưa đồng bộ; chưa có sự gắn kết dịch vụ giữa các ngành để hỗ trợ và bổ sung cho nhau phát triển
Lý do đề xuất nghiên cứu đề tài
- Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chị thị số 49/2004/CT-TTg ngày 24/12/2004 trong đó đề nghị các Bộ/ngành tiến hành đánh giá hoạt động dịch
vụ do ngành mình phụ trách, trên cơ sở đó đề xuất chính sách để đẩy mạnh phát triển dịch vụ và phải đưa nội dung dịch vụ vào kế hoạch phát triển ngành phụ trách trong kế hoạch 2006- 2010 và trong những kỳ kế hoạch tiếp theo
- Nhằm tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong phát triển dịch vụ, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đóng góp tỷ trọng tương xứng với tiềm năng vào tăng trưởng công nghiệp, gia tăng khả năng cạnh tranh của các sản phẩm dịch vụ trong trong ngành công nghiệp, thu hút mạnh mẽ hơn nữa
sự tham gia đầu tư của các thành phần kinh tế, các nhà đầu tư nước ngoài vào khu vực dịch vụ, gia tăng xuất khẩu, đáp ứng yêu cầu đổi mới kinh tế và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 1999/QĐ- BCT ngày 03 tháng 12 năm 2007 về việc giao kế hoạch khoa học và công nghệ năm 2008,
trong đó có giao Vụ Kế hoạch chủ trì thực hiện đề tài: “Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp phát triển hoạt động dịch vụ trong ngành công nghiệp đến năm 2020” Bước đầu nghiên cứu dịch vụ trong ngành công nghiệp khai khoáng, tiếp đến là dịch vụ trong ngành công nghiệp chế biến, chế tác và
Trang 5cuối cùng là nghiên cứu dịch vụ trong ngành công nghiệp điện, ga và nước Trong quá trình nghiên cứu dịch vụ trong ngành công nghiệp khai khoáng, Ban Chủ nhiệm đề tài tập trung nghiên cứu dịch vụ ngành khai thác than và khai thác dầu khí vì giá trị gia tăng của ngành công nghiệp khai thác than và khai thác dầu khí chiếm tỷ trọng 93- 96% trong giá trị gia tăng ngành công nghiệp khai khoáng (năm 2000 chiếm 96,2%; 2001 là 93,1%;
2002 là 95%; 2003 là 95,4% và năm 2007 là 95,1%)
Khả năng và dự kiến địa chỉ áp dụng kết quả nghiên cứu đề tài
- Cung cấp thông tin cho các nhà quản lý, nhà đầu tư trong và ngoài nước về tình hình phát triển các loại hình dịch vụ trong ngành công nghiệp khai thác than và khai thác dầu khí trong những năm qua
- Làm cơ sở cho các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đẩy mạnh hoạt động dịch vụ công nghiệp khai khoáng Các giải pháp để huy động mọi nguồn vốn, nguồn lực tập trung đầu
tư vào dịch vụ công nghiệp khai khoáng nhằm nâng cao khả cạnh tranh của
sản phẩm công nghiệp khai khoáng
Phương pháp thực hiện đề tài: Trong quá trình triển khai thực hiện đề
tài, nhóm tác giả đã tiến hành nghiên cứu, tổng hợp, phân tích và đánh giá các tài liệu về chiến lược phát triển của các đơn vị thực hiện dịch vụ trong ngành than và ngành dầu khí; khảo sát thực tế hiện trạng hoạt động dịch vụ của các đơn vị trong ngành khai thác than và khai thác dầu khí; dự báo nhu cầu thị trường dịch vụ trên cơ sở hướng phát triển của các lĩnh vực sản xuất kinh doanh của ngành công nghiệp khai thác than và khai thác dầu khí
Các phương pháp Ban Chủ nhiệm đã sử dụng để nghiên cứu lập đề tài gồm:
- Phương pháp tổng hợp phân tích tài liệu và khảo sát thực tế
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình thực hiện Đề tài, chúng tôi đã nhận được sự hỗ trợ tích
cực và hiệu quả của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tập đoàn Công nghiệp Than-
Khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, các vụ/ban chức năng thuộc Bộ Công Thương, Tổng cục Thống kê, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương
Xin chân thành cảm ơn!
BAN CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
Trang 6CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÀNH KHAI THÁC THAN VÀ KHAI THÁC DẦU KHÍ
I NGÀNH KHAI THÁC THAN
1 Phạm vi dịch vụ ngành khai thác than
Ngành công nghiệp khai thác than bao gồm các khâu cơ bản: tìm kiếm thăm dò, khai thác, chế biến (sàng tuyển) và các hoạt động dịch vụ hỗ trợ cho việc tìm kiếm thăm dò, khai thác và chế biến
Dịch vụ than là ngành là ngành kinh tế cộng sinh với công nghiệp khai thác thác than, góp phần tích cực vào hoạt động và sự phát triển bền vững của ngành khai thác than Hoạt động dịch vụ trong ngành khai thác than bao gồm:
+ Dịch vụ cung cấp vật liệu nổ công nghiệp;
+ Dịch vụ vận tải, cảng biển;
+ Dịch vụ cơ khí chế tạo, lắp ráp;
+ Dịch vụ cung cấp vật liệu xây dựng;
+ Dịch vụ cung cấp dịch vụ thiết kế/ tư vấn;
+ Dịch vụ cung cấp vật tư - thiết bị chuyên dụng ngành than;
+ Dịch vụ cung cấp lao động và phát triển nguồn nhân lực
Các hoạt động dịch vụ trong ngành than thường diễn ra trực tiếp tại khai trường và khu vực chế biến (sàng tuyển) than, một số hoạt động dịch vụ gián tiếp như như dịch vụ cung cấp vật liệu xây dựng, dịch vụ cung cấp lao động và phát triển nguồn nhân lực Các hoạt động dịch vụ với mục tiêu là hậu cần cho sản xuất chính (khai thác than), kinh doanh và phát triển trên nền sản xuất chính Về mặt xã hội có tác dụng thu hút lao động giải quyết công ăn việc làm, thu nhập cho gia đình thợ mỏ
2 Đặc điểm dịch vụ ngành khai thác than
- Phạm vi rộng và đa dạng: Xét ở góc độ địa lý có thể thấy một hoạt
động dịch vụ than không chỉ hoạt động ở khai trường mà phạm vi hoạt động ở nhiều nơi như cảng biển (hoạt động dịch vụ vận tải)
Xét từ góc độ ngành kinh tế: nhiều hoạt động dịch vụ than đòi hỏi liên kết nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế: chế tạo lắp đặt cột chống phụ vụ cho
Trang 7khai thác hầm lò, lắp ráp cơ khí, đào tạo cấp chứng chỉ, công nghiệp chế tạo, vật tư thiết bị, vận tải, xây dựng…
Xét về chủng loại dịch vụ ngành than rất đa dạng về loại hình và phong phú về thể loại Ví dụ: Các dịch vụ đời sống, dịch vụ kỹ thuật giếng khoan, dịch vụ xây lắp… Trong dịch vụ đời sống có rất nhiều thể loại dịch vụ khác như: ăn ở, đi lại, chăm sóc sức khoẻ… ; trong dịch vụ kỹ thuật giếng khoan, các dịch vụ cụ thể khác như: thiết kế giếng, bắn vỉa…
- Công nghệ cao: Có thể nói công nghiệp than là ngành sử dụng các
ứng dụng khoa học cao sau công nghiệp khai thác than Các chuyên gia than ngày nay hoàn toàn không xa lạ với hệ thống thu và xử lý các tài liệu địa chấn; Phương pháp 3D để xác định cấu trúc mỏ; Công nghệ gia công chế tạo cấu kiện, thiết bị phục vụ khoan khai thác; Công nghệ kiểm tra; Hệ thống các thiết bị đo lường và tự động hoá…;
- Chất lượng dịch vụ cao là tiền đề nâng cao hiệu quả hoạt động công
nghiệp khai thác than: Chất lượng dịch vụ than đem lại cho nhà sản xuất than các tiện ích rất quan trọng như: Các mỏ than được khai thác với phương án công nghệ hợp lý; Công trình được đưa vào hoạt động đúng thời gian; Chất lượng công trình/ hệ thống thiết bị cao; Chi phí đầu tư/ vận hành - bảo dưỡng sửa chữa hợp lý, đảm bảo an toàn trong khai thác nhất là trong khai thác hầm lò đây chính là những tiêu đề hết sức quan trọng cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động công nghiệp than
Yêu cầu chính xác về thời gian: Đây là một trong những đặc điểm quan
trọng trong hoạt động dịch vụ than Bất cứ một nhà sản xuất nào cũng đòi hỏi dịch vụ được cung cấp phải đúng thời gian Bất cứ một sự chậm trễ nào trong cung cấp dịch vụ đều gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả trong công tác khai thác than và đặc biệt là công tác an toàn lao động
II NGÀNH KHAI THÁC DẦU KHÍ
1 Phạm vi dịch vụ ngành dầu khí
Hoạt động của ngành công nghiệp dầu khí bao gồm bốn khâu cơ bản là: tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí; thu gom, vận chuyển; xử lý, chế biến phân phối và dịch vụ dầu khí Cùng với sự phát triển của công nghiệp dầu khí, dịch vụ dầu khí từ các hoạt động đơn giản như: cung ứng vật tư, cung ứng lao động… cho nhà sản xuất dầu khí, đã trở thành một ngành kinh tế khổng lồ, đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung và bao gồm nhiều lĩnh vực
Trang 8Dịch vụ dầu khí là một ngành kinh tế cộng sinh với công nghiệp dầu khí Dịch vụ dầu khí tồn tại phát triển góp phần làm tăng thêm giá trị cho các sản phẩm của Công nghiệp Dầu khí Nếu xét dưới góc độ cơ cấu, ngành dịch
vụ dầu khí bao gồm nhiều tổ chức được chuyên môn hoá sâu, công nghệ cao
+ Dịch vụ cung cấp dịch vụ khảo sát- địa chấn - điạ vật lý,
+ Dịch vụ cung cấp giàn khoan và các dịch vụ khoan,
+ Dịch vụ cơ khí chế tạo, lắp ráp,
+ Dịch vụ cung cấp dịch vụ thiết kế/ tư vấn,
+ Dịch vụ cung cấp dịch vụ lắp đặt công trình dầu khí biển,
+ Dịch vụ cung cấp dịch vụ lao động và phát triển nguồn nhân lực, + Dịch vụ cung cấp vật tư - thiết bị chuyên dụng dầu khí,
+ Dịch vụ cung cấp dịch vụ vật tư dầu khí (dầu thô và các sản phẩm dầu khí),
+ Dịch vụ cung cấp dịch vụ công nghệ tin học và tự động hoá,
+ Dịch vụ cung cấp bản quyền công nghệ,
+ Các dịch vụ nghiên cứu - phát triển/chiến lược phát triển,
+ Các tổ hợp Tài chính- Ngân hàng - Bảo hiểm
Một khía cạnh khác của ngành dịch vụ dầu khí dễ dàng nhận thấy là các hoạt động dịch vụ dầu khí diễn ra trực tiếp tại nơi sản xuất dầu khí, hoặc gián tiếp (nghiên cứu, tài chính, bảo hiểm….) Cho đến nay, mặc dù còn nhiều
cách hiểu khác nhau, song có thể khẳng định rằng: Dịch vụ dầu khí là toàn bộ
các hoạt động nhằm đáp ứng các yêu cầu của các nhà sản xuất dầu khí
2 Đặc điểm dịch vụ ngành dầu khí
- Phạm vi rộng lớn, hết sức đa dạng: Xét ở góc độ địa lý ta có thể thấy
một hoạt động dịch vụ dầu khí nhiều khi không chỉ diễn ra trên đất liền, hoặc trên biển, một quốc gia mà cả trên bờ, ngoài biển, qua nhiều quốc gia
Xét từ góc độ ngành kinh tế: nhiều hoạt động dịch vụ dầu khí đòi hỏi liên kết nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế: chế tạo lắp đặt chân đế, lắp ráp
cơ khí, đào tạo cấp chứng chỉ, công nghiệp chế tạo, vật tư thiết bị, vận tải, xây dựng…
Xét về chủng loại dịch vụ dầu khí rất đa dạng về loại hình và phong phú về thể loại Ví dụ: các dịch vụ đời sống, dịch vụ kỹ thuật giếng khoan,
Trang 9dịch vụ xây lắp… Trong dịch vụ đời sống có rất nhiều thể loại dịch vụ khác như: ăn ở, đi lại, chăm sóc sức khoẻ… ; trong dịch vụ kỹ thuật giếng khoan như: thiết kế giếng, đo karota; bắn vỉa…
- Công nghệ cao: có thể nói công nghiệp dầu khí là ngành sử dụng các
ứng dụng khoa học tiên tiến nhất, chỉ sau công nghiệp vũ trụ và quân sự Các chuyên gia dầu khí ngày nay hoàn toàn không xa lạ với hệ thống thu và xử lý các tài liệu địa chấn; Phương pháp 3D để xác định cấu trúc mỏ; Công nghệ gia công chế tạo cấu kiện, thiết bị phục vụ khoan khai thác; Công nghệ kiểm tra; Hệ thống các thiết bị đo lường và tự động hoá…; Các hệ thống mô phỏng; các tàu tự định vị… Công nghệ và các tiêu chuẩn sử dụng trong các hoạt động dầu khí tuyệt đại đa số là những công nghệ tiên tiến nhất và hết sức khắt khe
- Vốn đầu tư lớn và chi phí vận hành- bảo dưỡng, sửa chữa cao: Hầu
hết các hệ thống thiết bị dùng trong công nghiệp dịch vụ dầu khí đều đòi hỏi đầu tư lớn đến rất lớn Chẳng hạn, để mua một tàu dịch vụ đa năng cần: 50-80 triệu USD (công suất 5000- 6000 BHP), 90-120 triệu USD (công suất 8000 BHP); mua một tàu chở dầu thô loại Anframax (30.000 - 40.000 DWT) cần: 90- 100 triệu USD… Đặc biệt để có một chuyên gia chúng ta phải cần khoản chi phí khá lớn Chẳng hạn để có đủ kỹ năng và kiến thức cho một kỹ sư trở thành chuyên gia trong lĩnh vực vận hành khí, chúng ta sẽ phải cần khoảng: 80.000 - 120.000 USD
Chi phí vận hành - bảo dưỡng, sửa chữa: Theo thống kê của các nhà
cung cấp dịch vụ trên thế giới, khoản chi phí này thường chiếm 5-7% vốn đầu
tư của tài sản mới
- Chất lượng dịch vụ cao là tiền đề nâng cao hiệu quả hoạt động công
nghiệp dầu khí: Dịch vụ dầu khí là các hoạt động nhằm thoả mãn các yêu cầu của nhà sản xuất dầu khí Chất lượng dịch vụ dầu khí đem lại cho nhà sản xuất dầu khí các tiện ích rất quan trọng như: Mỏ dầu/ khí được khai thác với phương án công nghệ hợp lý; Công trình được đưa vào hoạt động đúng thời gian; Chất lượng công trình/ hệ thiết bị cao; Chi phí đầu tư/ vận hành - bảo dưỡng sửa chữa hợp lý, đây chính là những tiêu đề hết sức quan trọng cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động công nghiệp dầu khí
- Yêu cầu chính xác về thời gian: Đây là một trong những đặc điểm cơ
bản của hoạt động dịch vụ nói chung và hoạt động dịch vụ dầu khí nói riêng Bất cứ một nhà sản xuất nào cũng đòi hỏi dịch vụ được cung cấp phải đúng
Trang 10thời gian Bất cứ một sự chậm trễ nào trong cung cấp dịch vụ đều gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhà sản xuất
Những đặc điểm này cho phạm vi ảnh hưởng, chi phối của nó đến tổ chức các nhà cung cấp dịch vụ dầu khí như sau:
- Thời điểm cung cấp
- Khả năng tổ chức quản lý các
Nhà cung cấp DVDK
- Nhà cung cấp DVDK phải có
quyền chủ động cao
3 Phân loại dịch vụ ngành dầu khí
Căn cứ vào yêu cầu của hoạt động dầu khí, có thể xác định các loại hình dịch vụ dầu khí như sau:
Hoạt động dầu khí Loại dịch vụ liên quan
A- Khâu đầu
1- Nghiên cứu tài liệu KT,
chuẩn bị ký kết các hợp đồng
dầu khí
- Lập các báo cáo KT chuyên ngành
- Cung cấp tài liệu và các dịch vụ liên quan
- Chuẩn bị các HSMT
- Tư vấn, thẩm định các dự án khâu đầu
- TK các chương trình khảo sát địa chấn
- Thu nổ và xử lý tài liệu địa chấn
- Minh giải tài liệu địa chấn 2- Nghiên cứu G & G
- Khảo sát địa vật lý GK
Trang 11Hoạt động dầu khí Loại dịch vụ liên quan
- Địa chấn thẳng đứng GK
- Đo Karota khí
- Tầu bảo vệ, cung ứng
- Khảo sát ĐCCT
- Thiết kế, tổng kết giếng khoan
- Dịch vụ thuê giàn khoan
- Dịch vụ kỹ thuật giếng khoan
- Thuê thiết bị, dụng cụ khoan
- Dung dịch khoan
- Cung ứng VTTB- Hoá phẩm
- Bảo dưỡng, s/chữa TB khoan
- Kiểm định không phá huỷ
- Sửa chữa, bảo dưỡng giếng khoan
- Sửa chữa giàn khoan tự nâng
- Bảo hiểm
- Ứng cứu dầu tràn
- Phân tích mẫu
- Tầu cung ứng và bảo vệ
- Căn cứ hậu cần trên bờ 3- Khoan
- Dịch vụ sinh hoạt
- TK, chế tạo, lắp đặt các thiết bị khai thác (giàn đầu giếng, giàn khoan cố định, giàn CN trung tâm)
- Hoàn thiện, kết nối GK và các thiết bị khai thác
- Khảo sát lấy chứng chỉ hoặc duy trì chứng chỉ chân đế, hệ thống ống ngầm, tuyến cáp điện ngầm, thiết bị thượng tầng, hệ thống xích neo, phao các FSO
- Sửa chữa phần kết cấu kim loại chân đế (định
kỳ, đại tu), phần trên của các công trình biển
- Thuê thiết bị chuyên dụng phục vụ XD và s/chữa các công trình biển (búa đóng cọc, xà lan nhà ở, tầu rải ống, rải cáp ngầm, trạm lặn)
- Cung ứng VTTB
- Cung ứng nhiên liệu
- Cung ứng lao động, chuyên gia KT
- Kho chứa dầu trên biển (FPSO)
- D/vụ ứng dụng công nghệ tăng thu hồi dầu
- Ứng dụng công nghệ kiểm tra tình trạng khai thác mỏ bằng biện pháp đánh dấu, đồng vị phóng
Trang 12Hoạt động dầu khí Loại dịch vụ liên quan
- Vận hành, bảo dưỡng, s/chữa các thiết bị khai thác, T/bị tự động hoá trong khai thác
- Thuê/mua giàn nhẹ chuyên chở được để s/chữa giếng khai thác
- Cứu hộ, cứu nạn và ứng cứu sự cố dầu tràn
- Tầu bảo vệ, cung ứng
- Tầu phòng chống cháy, tầu lặn,
- Trực thăng
- Căn cứ hậu cần trên bờ
- Căn cứ dịch vụ hàng hải
- Dịch vụ sinh hoạt, đời sống
- Huỷ giếng, tháo dỡ các công trình biển
- Thu xếp tài chính, bảo hiểm
B- Khâu giữa
- Lập BCNCTKT, BCNCKT
- Khảo sát địa chất công trình
- Thiết kế đường ống dẫn khí, hệ thống kho, cảng
- Lắp đặt đường ống dẫn khí dưới biển và trên bờ (cả bọc ống)
- Sửa chữa, bảo dưỡng các động cơ turbin khí
- Khảo sát, sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống cung cấp LPG, CNG, LPG Air
- Kiểm tra không phá huỷ, căn chỉnh các máy đo đếm
- Nghiên cứu KHCN phục vụ sản xuất
2- Thu gom, vận chuyển, dự
trữ và phân khối khí và các
sản phẩm khí
Bảo hiểm, đào tạo, tài chính
Trang 13Hoạt động dầu khí Loại dịch vụ liên quan
- Thiết kế, chế tạo VTTB, công cụ phục vụ SX, sửa chữa hệ thống
- Đại lý hàng hải, cung ứng tầu biển
- Tổ chức quản lý điều hành hệ thống bán buôn, bán lẻ sản phẩm
- Nghiên cứu KHCN phục vụ SXKD
Hiện nay có rất nhiều cách hiểu và phân loại dịch vụ dầu khí Về nguyên tắc, việc phân loại này dựa trên tính chất và lĩnh vực liên quan của loại dịch vụ đó để tiến hành phân loại Trong đề tài này, chúng tôi phân loại dịch vụ dầu khí trên cơ sở các quy định thống kê của Việt Nam và cách phân loại đã được áp dụng trong ngành dầu khí Việt Nam và của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Với nguyên tắc trên, dịch vụ dầu khí tạm thời được chia thành các nhóm sau:
- Nhóm dịch vụ nghiên cứu khoa học - công nghệ, gồm: Dịch vụ lập
các báo cáo kỹ thuật chuyên ngành; Dịch vụ nghiên cứu địa chất - địa vật lý; Dịch vụ nghiên cứu công nghệ phục vụ sản xuất; Các dịch vụ phân tích, thí nghiệm khác
- Nhóm dịch vụ kỹ thuật, gồm: khoan và dịch vụ khoan; dịch vụ xây lắp; dịch vụ thông tin
Trang 14- Nhóm dịch vụ hỗ trợ, gồm: dịch vụ căn cứ; phương tiện: trực thăng, bảo vệ, cung ứng; dịch vụ sinh hoạt, đời sống
- Nhóm dịch vụ vận hành- bảo dưỡng, gồm: dịch vụ vận hành; dịch vụ
bảo dưỡng, sửa chữa
- Nhóm các dịch vụ chuyên ngành, gồm: dịch vụ thương mại; dịch vụ
vận chuyển; dịch vụ tài chính/ bảo hiểm; dịch vụ phân phối sản phẩm dầu khí
Trang 15CHƯƠNG II
HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÀNH KHAI THÁC THAN VÀ KHAI THÁC DẦU KHÍ
tu xe vận tải, toa kéo phục vụ cho công tác khai thác và phát triển mỏ Hiện nay các dịch vụ cơ khí thuộc Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam có 1 viện nghiên cứu, 9 công ty con và 2 công ty thành viên các Tổng công ty thuộc Tập đoàn cụ thể: Viện Nghiên cứu năng lượng và mỏ; Công ty chế tạo máy Than Việt Nam; Công ty công nghiệp ôtô Than Việt Nam; Công
ty Cổ phần thiết bị điện Cẩm Phả; Công ty Đóng tàu Than Việt Nam; Công ty
Cổ phần ôtô Uông Bí; Công ty Cổ phần Cơ khí Mạo Khê; Công ty Cổ phần
cơ điện Uông Bí; Công ty Cổ phần chế tạo máy và xây lắp công trình TKV; Công ty Cổ phần cơ khí Hòn Gai; Công ty Cơ khí mỏ Bắc Thái; Công ty Cơ khí và thiết bị áp lực
Doanh thu dịch vụ cơ khí năm 2006 đạt 1.121,6 tỷ đồng năm, tăng trưởng 28,2% so với năm 2005; năm 2007 đạt 1.427,6 tỷ đồng, tăng 27% so với năm 2006 và ước tính năm 2008 đạt 1.600 tỷ đồng, tăng trên 20% so với thực hiện năm 2007 Trong những năm qua các đơn vị dịch vụ cơ khí trong Tập đoàn CN Than- Khoáng sản Việt Nam không những đáp ứng nhu cầu phục vụ hoạt động khai thác than khoáng sản còn cung ứng cho thị trường ngoài ngành than và khoáng sản Doanh thu dịch vụ cơ khí cung cấp ngoài ngành than từ năm 2005- 2007 luôn chiếm tỷ trọng trên 20% tổng doanh thu dịch vụ cơ khí
1.2 Công nghiệp vật liệu nổ công nghiệp
Dịch vụ vật liệu nổ công nghiệp và cung ứng vật liệu nổ công nghiệp cho khai thác mỏ Sản phẩm chủ yếu là các loại thuốc nổ, dây nổ, kíp nổ Đảm nhiệm dịch vụ nổ mìn cho các công ty mỏ lộ thiên, các khách hàng khác
Trang 16Ngành dịch vụ vật liệu nổ thuộc Tập đoàn CN Than khoáng sản Việt Nam có 2 nhà máy chế tạo thuốc nổ, có các công ty, chi nhánh ở các tỉnh đảm bảo cung ứng đầy đủ vật liệu nổ và làm dịch vụ nổ mìn cho các công ty sản xuất và khách hàng trong ngành, ngoài ngành trên toàn quốc
Doanh thu vật liệu nổ đạt 712 tỷ đồng năm 2005 và 1047 tỷ đồng năm
2007 khối lượng sản phẩm thuốc nổ sản xuất năm 2005 đạt 35 730 tấn và
48 457 tấn năm 2007; cung ứng thuốc nổ 67 486 tấn năm 2005, và 81 754 tấn năm 2007 Nhiều sản phẩm thuốc nổ đáp ứng yêu cầu chịu nước, công phá khác nhau phục vụ khai thác than khoáng sản và quốc phòng
1.3 Dịch vụ công nghiệp vận tải, bốc xếp, cảng biển
Dịch vụ công nghiệp vận tải, bốc xếp, cảng biển là ngành dịch vụ cho
sản xuất chính bao gồm vận tải ôtô, đường sắt, sông biển, bốc xếp chuyển tải than Dịch vụ vận tải, bốc xếp thuộc TKV có 1 công ty vận tải xếp dỡ, 3 công ty kho vận và cảng, 1 công ty CP đưa đón thợ mỏ đảm nhiệm các khâu bốc xếp chuyển tải than, vận chuyển than đến cuối nguồn tiêu thụ cho khách hàng, dịch vụ đưa đón thợ mỏ đi làm và về, cung ứng xăng dầu cho xe máy mỏ
Doanh thu 3500 tỷ năm 2005, và 7000 tỷ năm 2007 Khối lượng bốc xếp, chuyển tải than ra tầu xuất khẩu bình quân 10 đến 12 triệu tấn than/năm Đưa đón trên 10 000 thợ mỏ/năm
1.4 Dịch vụ sản xuất vật liệu và xây dựng
Dịch vụ sản xuất vật liệu và xây dựng trong khai thác than là ngành dịch vụ sản xuất: xi măng, sắt xây dựng, gạch, đá, cát, sỏi và thực hiện xây dựng các công trình nhà xưởng, văn hoá đời sống sinh hoạt của công nhân mỏ phục vụ cho ngành khai thác thác than khoáng sản
Dịch vụ sản xuất vật liệu và xây dựng thuộc TKV hiện có; 1 công ty xây dựng mỏ, 1 nhà máy xi măng La Hiên, 1 Công ty cổ phần gạch ngói Hà Khẩu Các công ty sản xuất đều có phân xưởng xây dựng
Doanh thu sản xuất vật liệu xây dựng 260 tỷ, xây dựng cơ bản tự làm
815 tỷ năm 2007 Sản phẩm xi măng 368,7 nghìn tấn, gạch đỏ 20 200 triệu viên, đá các loại 252 044 m3, O xy 475 623 m3
Trang 171.5 Dịch vụ khách sạn nhà hàng, du lịch, nghỉ dưỡng, văn hoá thể
thao
Dịch vụ khách sạn nhà hàng, du lịch, nghỉ dưỡng, văn hoá thể thao là
hoạt động dịch vụ chăm lo sức khoẻ, vui chơi giải trí, thăm quan du lịch
nhằm phục hồi và tái sản xuất sức lao động cho thợ mỏ
Dịch vụ du lịch thuộc TKV hiện có: 1 công ty du lịch 2 khu điều
dưỡng: Sầm Sơn, Trà Cổ; 01 Trung tâm y tế TKV và có nhiều nhà hàng
khách sạn từ 3 đến 4 sao nằm đều khắp trên các tỉnh toàn quốc
Dịch vụ văn hoá thể thao có 1 Công ty CP Bóng đá với 2 đội bóng đá
nam và 01 đội bóng đá nữ Tại các công ty sản xuất đều có nhà tập luyện thể
thao và thi đấu, hình thành các làng công nhân văn hoá mới
1.6 Các hoạt động dịch vụ khác
Giáo dục đào tạo, dịch vụ khoa học kỹ thuật công nghệ, thăm dò khảo
sát thiết kế tư vấn, thương mại nhìn chung hoạt động ổn định và đáp ứng
khá tốt cho hoạt động khai thác than khoáng sản Doanh thu đạt trung bình
Tỷ lệ tăng
so 2006 (%)
- Về tổ chức quản lý: Bước đầu hình thành được những đơn vị làm
dịch vụ có tính chuyên nghiệp, có chứng chỉ và uy tín quốc tế, được đầu tư cơ
Trang 18sở vật chất hiện đại có khả năng cung ứng nhiều loại hình dịch vụ khai thác than với chất lượng cao mà trước đây phải nhập khẩu
+ Quy mô và năng lực dịch vụ: Các đơn vị dịch vụ của Việt Nam có
thể cung ứng hầu hết các loại hình dịch vụ không quá phức tạp trong tất cả các khâu của hoạt động khai thác than và đã hình thành một số loại hình dịch
vụ thế mạnh như: dịch vụ cơ khí, dịch vụ vật liệu nổ công nghiệp
+ Mức độ đáp ứng nhu cầu thị trường: Hiện tại các đơn vị dịch vụ của
đáp ứng được khoảng 60-70% nhu cầu thị trường trong nước về các loại hình dịch vụ khai thác than
+ Về tình hình đầu tư và phát triển: Công tác đầu tư và phát triển cũng
đựơc quan tâm đầu tư trong thời gian vừa qua và đã bước đầu hình thành những đơn vị có tiềm lực như: Công ty công nghiệp ôtô Than Việt Nam; Công ty Cổ phần thiết bị điện Cẩm Phả; Công ty Đóng tàu Than Việt Nam; Công ty Cổ phần ôtô Uông Bí; Công ty Cổ phần Cơ khí Mạo Khê; Công ty
Cổ phần cơ điện Uông Bí; Công ty Cổ phần chế tạo máy và xây lắp công trình TKV v.v
3 Hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm
3.1 Hạn chế và nguyên nhân
+ Xét trên góc độ đầu tư:
- Công tác đầu tư còn giàn trải, trùng lặp ở nhiều đơn vị đặc biệt là lĩnh vực dịch vụ cơ khí, Công ty công nghiệp ôtô Than Việt Nam; Công ty Cổ phần thiết bị điện Cẩm Phả; Công ty Đóng tàu Than Việt Nam; Công ty Cổ phần ôtô Uông Bí; Công ty Cổ phần Cơ khí Mạo Khê cùng tham gia đầu tư vào lĩnh vực này Việc đầu tư giàn trải, trùng lặp sẽ dẫn đến cạnh tranh nội
bộ, làm phân tán nguồn lực
+ Chất lượng dịch vụ chưa cao, nhiều phương tiện, cơ sở vật chất lạc hậu Hàm lượng công nghệ trong sản phẩm dịch vụ kỹ thuật còn thấp đây cũng là một trong những nguyên nhân xảy ra tai nạn trong khai thác than + Tính linh hoạt, năng động: hầu hết các tổ chức làm dịch vụ kỹ thuật khai thác than đều đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấu: từ kế hoạch hoá, bao cấp sang kinh tế thị trường Vì vậy, để hình thành thói quen: năng động, nhạy bén, quyết đoán còn rất cần nhiều thời gian Mặt khác, một số cơ chế chính sách không phù hợp cũng tạo ra rào cản quá trình chủ động, sáng tạo của các tổ chức này
Trang 19+ Khả năng hội nhập khu vực và quốc tế: các đơn vị dịch vụ khai thác than của TKV hầu hết đều chưa có chiến lược và kế hoạch cụ thể cho việc hội nhập khu vực và quốc tế Điều này sẽ làm cho họ gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng khi bắt buộc phải hội nhập
3.2 Bài học kinh nghiệm
Qua nghiên cứu, phân tích hiện trạng dịch vụ than Việt Nam, từ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
- Tập đoàn TKV cần có quy hoạch và định hướng cụ thể nhằm hỗ trợ
và tạo điều kiện thuận lợi để các đơn vị trong ngành mở rộng và phát triển các loại hình dịch vụ kỹ thuật bảo đảm không được chồng chéo, cạnh tranh nội
bộ
- Các đơn vị dịch vụ cần được tổ chức phát triển theo hướng chuyên môn hóa, có chiến lược phát triển rõ ràng và cung cấp các dịch vụ theo đúng chuyên môn đảm bảo chất lượng dịch vụ đáp ứng yêu cầu của công nghiệp dầu khí Tích cực mở rộng hợp tác, liên doanh liên kết với các công ty dịch vụ nước ngoài để tiếp thu và chuyển giao công nghệ, đào tạo đội ngũ cán bộ, chuyên ngành kỹ thuật
- Việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho lĩnh vực dịch vụ khai thác than là vấn đề rất cấp thiết Cần có cơ chế đặc biệt về lương, thưởng
để có thể thu hút nguồn nhân lực có chuyên môn cao vào làm việc đồng thời
có chính sách sử dụng, đào tạo cán bộ hợp lý để có thể giữ chân được người tài
4 Kết luận
Dịch vụ khai thác than đã khẳng định được vị trí quan trọng trong toàn
bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của TKV Tổng doanh thu hàng năm của lĩnh vực dịch vụ đã đạt trên 10 ngàn tỷ đồng, chiếm khoảng 40-50% doanh thu toàn ngành Đã bước đầu hình thành các tổ chức và đội ngũ làm dịch vụ dầu khí có tính chuyên nghiệp Tuy nhiên, công tác tổ chức, thực hiện cung ứng các loại hình dịch vụ khai than của TKV còn nhiều bất cập, hiệu quả dịch
vụ còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng
Trang 20II NGÀNH KHAI THÁC DẦU KHÍ
1 Tổng quan hiện trạng cung ứng và thị trường dịch vụ khai thác dầu khí
1.1 Dịch vụ kỹ thuật dầu khí
1.1.1 Lĩnh vực hoạt động
a) Dịch vụ khảo sát địa chấn, địa chất công trình
Là loại hình dịch vụ cung ứng vật tư, thiết bị, nhân lực phục vụ cho công tác thăm dò, khảo sát, nghiên cứu đánh giá tiềm năng triển vọng dầu khí
ở các khu vực trong và ngoài nước phục vụ cho việc đánh giá, thẩm định trữ lượng và khả năng thương mại của phát hiện dầu khí nhất là ở vùng nước sâu,
xa bờ và vùng chồng lấn, khảo sát đo đạc địa hình, địa chất công trình, địa chất thuỷ văn, các công trình dầu khí
b) Dịch vụ khoan và kỹ thuật giếng khoan
Dịch vụ khoan là loại hình dịch vụ cung cấp các dịch vụ khoan thăm
dò, khai thác, sửa chữa giếng khoan cho các chiến dịch khoan ngoài khơi và trên đất liền cho các công ty và nhà thầu dầu khí
Dịch vụ kỹ thuật giếng khoan:
Bao gồm các dịch vụ chủ yếu sau:
Dịch vụ thiết bị khoan:
Dịch vụ cho thuê thiết bị khoan: là dịch vụ cung cấp các thiết bị khoan chuyên ngành (thiết bị mở lỗ khoan, định tâm, búa khoan, cần khoan, cần nặng, cần thử vỉa ) cho các công ty dầu khí, nhà thầy khoan phục vụ các chiến dịch khoan của các công ty dầu khí theo hình thức hợp đồng cho thuê thiết bị Tất cả các thiết bị này được bảo dưỡng và kiểm định theo các tiêu chuẩn quốc tế AP, DS, ;
Dịch vụ kéo thả ống chống: là dịch vụ cung cấp thiết bị kéo thả ống chống và nhân sự vận hành để thao tác kéo thả cột chống, ống khai thác, cần thử vỉa phục vụ công tác khoan của các công ty dầu khí
Dịch vụ cứu kẹt sự cố giếng khoan và huỷ giếng: là dịch vụ cung cấp thiết bị cứu kẹt sự cố giếng khoan và chuyên gia cứu kẹt để vận hành thiết bị nhằm cứu kẹt các thiết bị khoan trong giếng trong quá trình khoan hoặc cắt ống chống phục vụ công tác huỷ giếng khoan
Dịch vụ khoan định hướng và đo trong khi khoan: là dịch vụ cung cấp các thiết bị khoan định hướng và đo trong khi khoan (như mud motor, thiết bị MWD/LWD ) và chuyên gia vận hành phục vụ công tác khoan của các công
Trang 21ty dầu khí Dịch vụ này rất thành công khi ứng dụng các công nghệ mới như Performance Mud Motor, High Torpue/ High WOB Drilling Mud Motor The Auto Track Rotary Closed Loop Drilling System (RCLD),
Dịch vụ bơm trám xi măng: Là dịch vụ bơm vữa xi măng thích hợp vào trong khoảng không vành xuyến giữa thành giếng khoan và cột chống hoặc tới một chiều sâu nào đó của giếng khoan nhằm mục đích:
Liên kết chắc chắn cột ống chống với thành hệ giếng khoan Cách ly tầng khai thác với các tầng khác, bảo vệ cột ống chống khỏi rỉ do các chất lỏng chứa trong các tầng khoan qua gây ra
Tạo đế kín cho các thiết bị đối áp lắp đặt ở đầu giếng Làm cầu xi măng
để khoan cắt xiên, bít nước vỉa xâm nhập vào các vùng làm mất dung dịch khoan, tuân thủ các quy trình huỷ giếng khoan
Dịch vụ kích thích vỉa: Đóng vai trò quan trọng trong quá trình gọi dòng giếng khoan dầu nhằm mục đích gia tăng khả năng khai thác dầu của vỉa dầu bằng cách loại bỏ những vùng hư hại ở lân cận thành giếng hoặc tạo ra cấu trúc có tính liên thông cao trong thành hệ giếng khoan
Dịch vụ đo karota khí:
Dịch vụ đo karota khí sử dụng công nghệ của BHI
Dịch vụ đo karota khí sử dụng công nghệ của Sondex Đây là dịch vụ
hỗ trợ quá trình khoan nhưng vô cùng quan trọng Sử dụng các thông số đánh giá các mảnh cắt (cutting) từ giếng khoan, các chuyên gia địa chất sẽ đưa ra các quyết định cho phép tiếp tục quá trình khoan hay mục đích khoan của thân giếng đã hoàn thành và dừng khoan để thực hiện các công đoạn khác như
đo địa vật lý giếng khoan, thả ống chống v.v
Dịch vụ đo địa vật lý giếng khoan: Đo địa vật lý giếng khoan là quá trình đo đạc các thông số trong lòng giếng khoan và các địa tầng của mỏ thông qua việc thả các tổ hợp thiết bị đo (sensors) vào lòng giếng bằng tời cáp điện Các tổ hợp thiết bị này có thể bao gồm các thiết bị điện (resistivities), xạ (radioactive), từ (magnetic resonance), siêu âm (sonic - ultrasonic), thiết bị đo ảnh (imaging devices), thiết bị lấy mẫu lõi, mẫu nước, đo áp xuất và nhiệt độ của giếng khoan Các thông số này cho biết sự tồn tại của các vỉa dầu và giúp đánh giá khả năng phát triển thương mại của mỏ dầu
Dịch vụ thử vỉa: Là dịch vụ cung cấp các thiết bị thử vỉa và các chuyên gia vận hành để phục vụ công tức thử vỉa dòng sản phẩm sau khi đã hoàn tất
Trang 22quá trình khoan để xác định sản lượng giếng, trữ lượng thương mại ước tính của vỉa dầu khí
c) Dịch vụ tháo dỡ và thu dọn công trình dầu khí
Đây là loại dịch vụ thực hiện công việc tháo dỡ, thu dọn công trình dầu khí như giàn khoan, giàn khai thác khi đã kết thúc thời gian hoạt động Loại hình dịch vụ này rất có tiềm năng phát triển trong thời gian tới khi nhu cầu tháo dỡ các công trình dầu khí sẽ gia tăng nhanh chóng do các mở như Bạch
Hổ, Rồng đang bước vào giai đoạn sụt giảm sản lượng khai thác
d) Dịch vụ khảo sát sửa chữa công trình ngầm dầu khí
Đây là dịch vụ cung cấp nhân lực và phương tiện để tiến hành khảo sát
và sửa chữa các công trình ngầm trong ngành dầu khí như chân đế, các giàn khai thác, đường ống dưới biển
f) Dịch vụ thiết kế, chế tạo, xây lắp công trình biển
Đây là dịch vụ thuộc lĩnh vực cơ khí chế tạo, đóng mới và hoán cải các thiết bị như các loại ống chống cần khoan, ống nối, giàn khoan, giàn nén, chân đế, khối thượng tầng giàn khoan, kho nổi chứa FPSO, tàu chứa và xuất dầu thô FSO và các phụ kiện phục vụ trong lĩnh vực thuộc công trình dầu khí biển
g) Dịch vụ thiết kế, chế tạo, xây lắp đường ống, bể chứa, các công trình chế biến dầu khí
Đây là loại hình dịch vụ thực hiện công việc từ khâu thiết kế, chế tạo các bồn chứa, bể chứa, thiết bị cơ khí phục vụ ngành dầu khí, cho đến việc xây lắp các công trình dầu khí (trên bờ, ngoài biển) như đường ống, cầu cảng,
để chắn sóng, hệ thống móng các nhà máy lọc ă hoá dầu, nhà máy điện, đạm h) Dịch vụ cho thuê phương tiện và hạ tầng kỹ thuật
Dịch vụ này bao gồm các lĩnh vực như:
- Dịch vụ cho thuê kho bãi, cơ sở hạ tầng
Trang 23- Dịch vụ cho thuê phương tiện vận tải
- Dịch vụ cho thuê thiết bị đầu giếng
- Dịch vụ cho thuê thiết bị khoan như cần khoan, cần nặng, cần thử vỉa, búa thuỷ lực, thiết bị định tâm, giảm chấn
i) Dịch vụ ứng cứu sự cố tràn dầu
Là loại hình dịch vụ cung cấp phương tiện, thiết bị và nhân sự chuyên ngành trực ứng cứu các sự cố tràn dầu có nguy cơ xảy ra từ các hoạt động khoan, khai thác, vận chuyển và tàng trữ dầu và tiến hành triển khai các biện pháp kỹ thuật cần thiết để hạn chế mức độ tác động đến môi trường xung quanh khi xảy ra sự cố tràn dầu từ các hoạt động trên
1.1.2 Hiện trạng hoạt động
a) Tình hình tổ chức và quản lý
Dịch vụ kỹ thuật dầu khí được hình thành và phát triển từ rất sớm cùng với sự ra đời và phát triển của ngành dầu khí Việt Nam Trải qua hơn 30 năm xây dựng và phát triển, đến nay đã có 13 đơn vị thành viên Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) tham gia cung cấp lĩnh vực dịch vụ này và đã bước đầu hình thành một số loại dịch vụ kỹ thuật thế mạnh như dịch vụ tàu thuyền, dịch vụ khoan, dịch vụ cơ khí, chế tạo Ngoài PVN còn có các đơn vị khác như: Tổng công ty lắp máy Việt Nam (Lilama) cung cấp dịch vụ thiết kế, xây lắp, Tập đoàn công nghiệp đóng tầu Việt Nam (Vinashin) thiết kế, đóng mới tàu thuyền, PSO/FSO, các viện nghiên cứu, các trường đại học, các công ty dịch vụ dầu khí nước ngoài cũng tham gia vào thị trường dịch vụ kỹ thuật dầu khí ở Việt Nam
Trong những năm vừa qua, công tác tổ chức sắp xếp các đơn vị cung ứng dịch vụ dầu khí nói chung và dịch vụ kỹ thuật nói riêng đã có những thành công nhất định Hiện nay, ngành Dầu khí đã hình thành được những đơn vị cung cấp dịch vụ kỹ thuật chuyên sâu, được đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc hiện đại, có khả năng đảm nhiệm được nhiều loại hình dịch vụ kỹ thuật dầu khí Tiêu biểu trong lĩnh vực này là Tổng công ty cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí (PTSC), Tổng công ty Khoan và Dịch vụ khoan dầu khí (PV Drilling) và Xí nghiệp Liên doanh dầu khí Vietsovpetro (VSP)
Tổng Công ty CP Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí - PTSC, tiền thân là công
ty Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí PTSC thành lập năm 1993 trên cơ sở sáp nhập 2
Trang 24đơn vị là Công ty Địa vật lý và công ty Dịch vụ Dầu khí, hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con với 14 đơn vị thành viên, chức năng chính là cung cấp các dịch vụ kỹ thuật phục vụ cho các hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác và chế biến dầu khí Sau gần 15 năm xây dựng và phát triển, hiện nay PTSC là đơn vị dịch vụ kỹ thuật dầu khí hàng đầu của Ngành dầu khí Việt Nam, cung cấp đa dạng các loại hình dịch vụ như cung cấp tàu chuyên dụng, tàu chứa, xử lý và xuất dầu thô, dịch vụ căn cứ cảng dầu khí, dịch vụ cơ khí chế tạo, lắp đặt, vận hành và bảo dưỡng các công trình dầu khí, dịch vụ cung ứng vật tư thiết bị chuyên ngành dầu khí, dịch vụ khảo sát địa chấn, địa chất công trình dầu khí, đáp ứng nhu cầu dịch vụ cho các công ty, nhà thầu dầu khí hoạt động tại Việt Nam
Công ty Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu khí PV Drilling được thành lập vào năm 2001 trên cơ sở một bộ phận được tách ra của PTSC theo chủ trương xây dựng, mở rộng và phát triển các loại hình dịch vụ kỹ thuật chuyên sâu của PVN Tháng 10/2005 PV Drilling tiến hành cổ phần hoá thành công và chuyển đổi sang hoạt động theo mô hình công ty cổ phần, sau đó tháng 4/2007 chuyển đổi thành Tổng công ty Cổ phần Khoan và Dịch vụ khoan Dầu khí, hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - công ty con với 9 đơn vị thành viên, có chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là cung cấp dịch vụ khoan, dịch vụ kỹ thuật giếng khoan cũng như dịch vụ hỗ trợ cho các chiến dịch khoan của Tập đoàn và các công ty dầu khí hoạt động tại Việt Nam Hiện nay PV Drilling là nhà cung cấp dịch vụ khoan và kỹ thuật giếng khoán hàng đầu tại Việt Nam
Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro - VSP là một liên doanh thăm dò khai thác dầu khí lớn nhất Việt Nam hiện nay, được thành lập vào năm 1981 với nhiệm vụ chính là thăm dò khai thác dầu khí ở thềm lục địa phía Nam Việt Nam Ngay từ khi mới thành lập, để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, PSV đã lập ra các xí nghiệp dịch vụ như xí nghiệp khoan, sửa giếng, xí nghiệp xây lắp các công trình biển hoạt động trong nội bộ Liên doanh, hạch toán vào chi phí sản xuất và không cung cấp dịch vụ cho bên ngoài Từ năm
1992 với định hướng phát triển dịch vụ của Ngành Dầu khí, VSP đã phát triển lĩnh vực dịch vụ kỹ thuật cho bên ngoài bên cạnh nhiệm vụ chính là phục vụ VSP trong thăm dò khai thác dầu khí Hiện nay, mặc dù doanh thu từ dịch vụ cho bên ngoài chỉ chiếm khoảng 3 - 4% trong tổng doanh thu của VSP, nhưng với cơ sở vật chất hùng hậu, đội ngũ chuyên gia kỹ sư có trình độ cao, giàu kinh nghiệm, VSP sẽ là một trong những nhà cung cấp dịch vụ kỹ thuật dầu khí giàu tiềm năng nhất Việt Nam
Trang 25Nhìn chung, công tác tổ chức và quản lý lĩnh vực dịch vụ kỹ thuật dầu khí đã có những thành công nhất định, bước đầu đã hình thành được những đơn vị cung cấp dịch vụ chuyên sâu, được đầu tư cơ sở vật chất hiện đại, có khả năng cung ứng nhiều loại hình dịch vụ kỹ thuật với chất lượng cao mà trước đây phải đi thuê nước ngoài như: dịch vụ khoan và kỹ thuật giếng khoan, dịch vụ cơ khí đóng mới các công trình dầu khí Tuy vậy, việc tổ chức sắp xếp các đơn vị dịch vụ còn bộc lộ nhiều bất cập, phân công nhiệm
vụ còn dàn trải, chồng chéo, do vậy hiệu quả hoạt động của dịch vụ kỹ thuật còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng
b) Quy mô và năng lực dịch vụ
- Về dịch vụ khảo sát địa chấn, địa chất công trình
Dịch vụ khảo sát địa chấn, địa chất công trình là một dịch vụ phức tạp, đòi hỏi kỹ thuật, công nghệ cao, quy mô dịch vụ lớn, giá trị hợp đồng thường hàng triệu USD Tuy nhiên, các đơn vị của PVN mới chỉ cung cấp được một phần rất nhỏ trong gói dịch vụ này, phần còn lại chủ yếu phải đi thuê các công
ty dịch vụ dầu khí nước ngoài như: Schlumberger, Geoservices, nternational Logging v.v
PVN hiện có 4 đơn vị có khả năng cung cấp dịch vụ khảo sát địa chấn, địa chất công trình là PTSC, VSP, PVC và PV Engineering Trong đó PTSC
là đơn vị duy nhất có khả năng cung cấp dịch vụ thu nổ địa chấn 2D nhờ đang
sở hữu 01 tàu khảo sát địa chấn M/V Polar Duke; các đơn vị còn lại: VSP, PVC và PV Engineering chỉ cung cấp được dịch vụ khảo sát địa chấn công trình trên bờ và một phần công việc khảo sát dưới biển để phục vụ thi công xây lắp các công trình dầu khí
Khảo sát địa chấn 2D, 3D là bước đầu tiên trong khâu thăm dò và khai thác dầu khí Nhu cầu dịch vụ này ngày càng gia tăng khi các hoạt động tìm kiếm, thăm dò ngày càng sôi động Chỉ tính riêng Tổng công ty Thăm dò và Khai thác dầu khí (PVEP) trong giai đoạn 2008- 2015, nhu cầu thu nổ địa chấn ở trong nước vào khoảng 40.000 km 2D, và 30.000km2 3D, ở nước ngoài khoảng 80.000 km 2D và 24km2 3D, với tổng chi phí ước tính hàng trăm triệu USD Tuy nhiên, việc thu nổ địa chấn hiện nay chủ yếu do các công
ty dịch vụ dầu khí nước ngoài cung cấp, trong đó Schulumberger đang dẫn đầu tại thị trường Việt Nam
- Dịch vụ khoan và kỹ thuật giếng khoan
Trang 26Dịch vụ khoan và kỹ thuật giếng khoan là một dịch vụ thế mạnh của PVN Với cơ sở vật chất được đầu tư hiện đại, đội ngũ kỹ sư, chuyên gia giàu kinh nghiệm, các đơn vị dịch vụ của PVN hiện có khả năng thực hiện được hầu hết các hạng mục công việc trong lĩnh vực khoan và dịch vụ giếng khoan + Dịch vụ khoan: PVN hiện đang sở hữu 04 giàn khoan dầu khí, gồm
03 giàn khoan biển tự nâng và 01 giàn khoan đất liền Còn lại toàn bộ các nhà thầu dầu khí đang hoạt động thăm dò và khai thác tại Việt Nam đều phải đi thuê giàn khoan của nước ngoài Dự báo trong thời gian tới có trung bình khoảng 40-60 giếng khoan được thi công hàng năm Do đó, thị trường Việt Nam cần khoảng 7-10 giàn khoan biển Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã lập kế hoạch đóng mới 02 giàn khoan (1 giàn 130m nước và 1 giàn khoan nửa chìm cho PV Drilling) PVN hiện đang có 2 nhà cung cấp dịch vụ này là VSP và
PV Drilling, bên cạnh đó, tham gia vào thị trường ở Việt Nam còn có các công ty dịch vụ nước ngoài như GSF, TSF, Diamond Offshore, Atwood Oceanic, Ensco, Seadrill v.v…
Xí nghiệp Khoan và Sửa giếng của VSP là đơn vị đảm nhận chính công tác khoan của xí nghiệp Liên doanh Hiện nay, Xí nghiệp này đang sở hữu 02 giàn khoan biển tự nâng là Tam đảo - 01 và Cửu Long; đây là 2 giàn khoan hiện đại được đầu tư đóng mới ở nước ngoài, có thể thi công khoan trên vùng biển với độ sâu lần lượt là 61m và 91m Xí nghiệp hiện nay có 7 đội khoan chuyên nghiệp, có bề dày kinh nghiệm trong việc thi công các giếng khoan có cấu tạo địa chất phức tạp như khoan qua vùng dễ lở, dễ sập, kẹt dính Kể từ khi thành lập Xí nghiệp đã thi công 355 giếng khoan với hơn 1,4 triệu mét khoán, trong đó có 58 giếng thăm dò với 219.459 mét khoan và 279 giếng khai thác với 1,2 triệu mét khoan Tuy nhiên với năng lực hiện tại, Xí nghiệp vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu khoan của VSP Năm 2007- 2008 xí nghiệp chỉ đáp ứng được khoảng 70- 80% kế hoạch khoan, dự kiến năm 2009 chỉ đáp ứng chưa đầy 50%, phần còn lại phải đi thuê ngoài Nguyên nhân chủ yếu là không đầu tư được giàn tự nâng SPUB (chậm đầu tư), do vậy trong tương lai gần, mặc dù là đơn vị rất có tiềm năng về nhân lực, kinh nghiệm khoan, nhưng chủ yếu vẫn sẽ là phục vụ nội bộ cho VSP
PV Drilling hiện đang sở hữu 02 giàn khoan dầu khí là: Giàn PV Drilling 1 (biển) và PV Drilling 11 (đất liền) Giàn khoan tự nâng PV Drilling 1: với độ sâu đáy biển lớn nhất là 90m Đây là một trong những giàn khoan cùng loại hiện đại nhất thế giới với công nghệ tiên tiến nhất và hầu hết các thiết bị sản xuất tại các nước G7 Hiện tại, giàn khoan PV Drilling 1 đang tiếp
Trang 27tục thi công các giếng khoan cho chương trình phát triển mỏ Cá Ngừ Vàng tại
lô 09-2 Giàn khoan PV Drilling 11 đang được trang bị máy móc chuyên dụng
đủ khả năng hoạt động trong các điều kiện môi trường khắc nghiệt của sa
mạc Giàn có khả năng thi công giếng khoan có độ sâu đến 7000m, giàn này
được vận chuyển sang Algieria để thi công các giếng khoan phát triển vùng
mỏ MOM-3 của Tổng công ty Thăm dò và khai thác dầu khí (PVEP)
+ Dịch vụ kỹ thuật giếng khoan:
PVN hiện có 3 đơn vị tham gia cung cấp dịch vụ kỹ thuật giếng khoan
cho các nhà thầu dầu khí: VSP, PV Drilling và DMC Trong đó, DMC chỉ có
thế mạnh trong việc cung cấp dung dịch khoan dầu khí; VSP, PV Drilling mới
chỉ là các nhà cung cấp chính dịch vụ kỹ thuật giếng khoan ở Việt Nam
Xí nghiệp Địa vật lý giếng khoan thuộc VSP được thành lập năm 1983
với nhiệm vụ chính là tiến hành dịch vụ khảo sát địa vật lý giếng khoan, dịch
vụ địa chất, cảnh giới trong quá trình khoan, bắn miền mở vỉa, cứu kẹt, thử
vỉa và khảo sát công nghệ khai thác mỏ Khách hàng nội bộ là VSP và bên
ngoài là các nhà thầu dầu khí như Petronas Cligari, JVPC, KNOC Năng lực
thực hiện các dịch vụ kỹ thuật giếng khoan được đưa ra trong bảng 2.2
Bảng 2.2: Năng lực cung cấp dịch vụ kỹ thuật giếng khoan
của Xí nghiệp Địa vật lý giếng khoan thuộc VSP
dịch vụ đồng thời
3 Địa vật lý tổng hợp (wireline logging) 08
6 Khảo sát chất lượng gắn kết xi măng tình trạng
7 Thử vỉa 02
Nguồn: VSP
Hiện tại, trung bình mỗi năm Xí nghiệp địa vật lý giếng khoan có dịch
vụ khảo sát 18.500 m giếng khoan cho các dạng nghiên cứu, hoàn thành xử lý
minh giải cho 18 giếng thăm dò, khai thác, 40 đợt đo PLT, 55 đợt kiểm tra
chất lượng xi măng, 30 đợt khảo sát tình trạng kỹ thuật của ống chống, 40 đợt
xác định kiểm kẹt với chất lượng dịch vụ cao, kịp thời, chính xác Tính đến
tháng 8/2008, Xí nghiệp đã khảo sát cho gần 300 giếng khoan tại các mỏ
Trang 28thuộc các bồn trũng Cửu Long và Nam Côn Sơn như Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng, Sói, Đại Bàng, Thiên Ưng, Mãng Cầu, Đồi Mồi, Bà Đen, Ba Vì, Tam Đảo, Chôm Chôm, Sư Tử Đen
Mặc dù tham gia vào thị trường dịch vụ kỹ thuật giếng khoan muộn hơn VSP nhưng PV Drilling có những bước phát triển nhanh chóng, chứng tỏ đẳng cấp là nhà cung cấp dịch vụ hàng đầu trong lĩnh vực này Doanh thu từ dịch vụ kỹ thuật giếng khoan thường chiếm khoảng 50-60% tổng doanh thu của PV Drilling Hiện nay, PV Drilling đang cung cấp các dịch vụ cho hầu hết các công ty dầu khí tại Việt Nam như Cuulong JOC, Petronas, JVPC, Hoanvu JOC, Diamond Offshore, Transocean, Global Santa Fe v.v… Các dịch vụ cung ứng vật tư thiết bị, dịch vụ đo địa vật lý giếng khoan và thử vỉa, các dịch
vụ kỹ thuật giếng khoan khai thác đã và đang ghi nhận sự tăng trưởng cả về thị phần và tỷ lệ nội địa hoá, gia tăng tính chủ động, vị thế cạnh tranh của PV Drilling Hiện đang từng bước phát triển ra thị trường các nước trong khu vực cho các công ty, nhà thầu khoan dầu khí
Bảng 2.3: Một số hợp đồng cung cấp dịch vụ kỹ thuật giếng
của PV Drilling đã và đang thực hiện
Đơn vị: triệu USD
TT Nội dung cung cấp Khách hàng Giá trị
(USD)
Thời gian thực hiện
măng và kích thích vỉa PCOSB 1.400.000 2006-2007
8 Dịch vụ khoan định hướng PC Viet nam Ltd 5.000.000 2003-2006
Trang 29TT Nội dung cung cấp Khách hàng Giá trị
(USD)
Thời gian thực hiện
- Dịch vụ tháo dỡ, thu dọn công trình dầu khí:
Dịch vụ tháo dỡ, thu dọn công trình dầu khí là một lĩnh vực dịch vụ
mới ở Việt Nam song rất có tiềm năng phát triển Hiện nay, rất nhiều mỏ khai
thác ở thềm lục địa Việt Nam đang bước vào giai đoạn giảm sản lượng khai
thác và có nguy cơ cạn kiệt trong tương lai gần Đây là thị trường tiềm năng
cho lĩnh vực dịch vụ này phát triển
Tham gia vào thị trường dịch vụ tháo dỡ, thu dọn công trình dầu khí ở
Việt Nam chủ yếu là các đơn vị của PVN như: VSP, PTSC, PVC, PV
Engineering Trong đó, chỉ có PTSC và VSP đủ năng lực tháo dỡ các giàn
khai thức ngoài biển nhờ sở hữu cần cẩu nổi với sức cẩu lớn và sà lan mặt
boong, các đơn vị còn lại: PVC, PV Engineering, chỉ có khả năng tháo dỡ
công trình trên bờ, phục vụ việc xây mới các công trình dầu khí
Hiện tại, doanh thu từ dịch vụ tháo dỡ, thu dọn công trình dầu khí còn
chiếm tỷ trọng nhỏ do phần lớn các công trình dầu khí ngoài biển (giàn khai
thác, giàn phụ trợ ) vẫn đang trong giai đoạn hoạt động; tuy nhiên trong thời
gian tới, đây sẽ là thị trường rất tiềm năng Để đón đầu cơ hội phát triển dịch
vụ này, PTSC đang tích cực chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tham gia vào
việc thu gọn các giàn khai thác, các công trình dầu khí ngoài khơi, phấn đấu
đến 2015 chiếm lĩnh toàn bộ thị trường lĩnh vực dịch vụ tháo dỡ, thu dọn
công trình dầu khí ở Việt Nam
- Dịch vụ khảo sát, sửa chữa các công trình ngầm
PVN hiện có hai đơn vị tham gia cung cấp dịch vụ khảo sát, sửa chữa
công trình ngầm là PTSC và VSP Đây là dịch vụ rất đặc thù, hoạt động trong
điều kiện khắc nghiệt, đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của các thiết bị chuyên dụng
như thiết bị ROV, tàu phục vụ lặn, v.v
Trang 30Xí nghiệp xây lắp khảo sát và sửa chữa công trình biển và Xí nghiệp vận tải biển và công tác lặn là hai đơn vị chủ lực trong việc thực hiện việc khảo sát, sửa chữa các công trình ngầm của VSP Hiện VSP đang sở hữu 02 tàu phục vụ lặn với đội lặn 40 người được cấp chứng chỉ quốc tế, có khả năng thực hiện công tác lắp đặt, sửa chữa các công trình ngầm đến độ sâu 150 m nước; ngoài ra, VSP còn đầu tư 01 thiết bị khảo sát dưới biển ROV (loại thiết
bị làm việc ngầm dưới nước điều khiển từ xa) có khả năng làm việc ở độ sâu 500m, đảm nhận được hầu hết công tác khảo sát, thăm dò đáy biển, khảo sát sửa chữa các công trình ngầm như chân đế, đường ống.v.v…
Dịch vụ khảo sát sửa chữa công trình ngầm dầu khí là một trong những lĩnh vực mà PTSC đặt trọng tâm phát triển Năm 2004, PTSC đã đầu tư mua
01 thiết bị ROV Partner Plus của Seaeye Marine (Anh) Với 2 tay máy thủy lực 5 và 6 chức năng, thiết bị ROV này có khả năng thực hiện những thao tác cần thiết để hỗ trợ các công việc bảo dưỡng và sửa chữa các công trình ngầm dầu khí PTSC cũng đang gấp rút triển khai đầu tư tiếp 01 robot có khả năng ngoài việc khảo sát còn có thể sửa chữa được các công trình ngầm dưới biển với độ sâu dưới 1.100m Ngoài ra, PTSC còn hợp tác với các đối tác trong và ngoài nước cung cấp tất cả các loại hình dịch vụ liên quan đến việc khảo sát giàn khoan và tuyến ống, hỗ trợ khoan, xây lắp, sửa chữa tuyến cáp ngầm
- Tàu dịch vụ:
Dịch vụ tàu thuyền là một dịch vụ truyền thống và là thế mạnh của PTSC Hiện tại, PTSC đang sở hữu đội tàu ngầm gồm 20 chiếc bao gồm các loại dịch vụ dầu khí đa năng (AHTS), tàu định vị động học (DP1 & DP2), tàu kéo, tàu hỗ trợ lặn khảo sát, tàu chống cháy, tàu trục nhỏ, tàu bảo vệ, tàu vận chuyển khí hoá lỏng (LPG) được vận hành bởi đội ngũ thuyền viên Việt Nam và nước ngoài có năng lực, giàu kinh nghiệm Đồng thời với việc triển khai thực hiện đội tàu hiện có, PTSC còn hợp tác với nhiều đối tác trong và ngoài nước, thuê lại tàu của họ để đáp ứng nhu cầu về tàu cung cấp cho hoạt động dầu khí tại Việt Nam và một số nước trong khu vực
Tham gia vào thị trường tàu dịch vụ ở Việt Nam, ngoài PTSC, còn có VSP Xí nghiệp vận tải biển và công tác lặn của VSP hiện đang sở hữu 11 tàu dịch vụ đa năng, đáp ứng hầu hết công tác tàu dịch vụ tại VSP, ngoài ra còn cung cấp dịch vụ cho các nhà thầu dầu khí đang hoạt động tại Việt Nam như: Rạng Đông, JVPC, Đại Hùng, Cagilari Petronas Malaysia, Dung Quất và các công ty nước ngoài như UNOCAL Thái Lan, INTAN, Indonesia
Trang 31- Dịch vụ cơ khí chế tạo và đóng mới các công trình dầu khí
Dịch vụ cơ khí chế tạo là dịch vụ có quy mô lớn nhất cả về khối lượng công việc cũng như giá trị hợp đồng Đây là dịch vụ đòi hỏi đầu tư lớn về hạ tầng kỹ thuật như: cảng, kho bãi chế tạo, phương tiện máy móc, thiết bị và nhân lực Các đơn vị dịch vụ của Việt Nam có khả năng chế tạo được hầu hết các công trình phục vụ thăm dò, khai thác, vận chuyển dầu khí từ tàu chở dầu, tàu dịch vụ cho đến đường ống, giàn khai thác Tuy nhiên tỷ lệ nội địa hoá chưa cao, chúng ta mới chỉ chế tạo được phần khung còn phần máy móc điều khiển phải nhập khẩu; các đơn vị của PVN (VSP, PTSC, PVC ) mới chỉ dừng lại ở thiết kế, chế tạo giàn dầu giếng, chân đế, các kết cấu không quá phức tạp, trọng lượng dưới 2.500 tấn
Dịch vụ cơ khí chế tạo được VSP phát triển từ rất sớm Xí nghiệp khảo sát và sửa chữa các công trình dầu khí biển thuộc VSP là nhà cung cấp hàng đầu lĩnh vực này, nhờ được đầu tư cơ sở vật chất đồng bộ, hoàn chỉnh gồm: bãi chế tạo với tổng diện tích 210m2, cùng hệ thống nhà xưởng, cảng chuyên dụng, máy móc thiết bị hiện đại Năng lực chế tạo của xí nghiệp hiện đạt khoảng 25.000tấn/năm Xí nghiệp đã tham gia chế tạo, hạ thuỷ, lắp đặt, bảo dưỡng tất cả các giàn của VSP, gồm 12 giàn cố định, 2 giàn công nghệ trung tâm, 10 giàn nhẹ, 02 giàn nhà ở Ngoài ra còn tham gia chế tạo chân đế/ topside cho các công ty như Petronas Carigali, JVPC, Cuu Long JOC, CNOOC, v.v…
PVC cũng là một trong những đơn vị tham gia vào lĩnh vực cơ khí chế tạo từ khá sớm Hiện PVC đang đảm nhiệm khoảng 50% khối lượng công việc chế tạo và 7% công tác bảo dưỡng sửa chữa chân đế cho các giàn khoan dầu khí của VSP Ngoài ra còn chế tạo chân đế và topside cho các nhà thầu quốc tế như dự án chế tạo chân đế/topside Ruby A, Ruby B cho Petronas, chân đế và topside cho giàn khai thác S1, E1, chân đế cho giàn công nghệ trung tâm cho JVPC
Mặc dù mới tham gia vào lĩnh vực dịch vụ đóng mới chế tạo các công trình dầu khí song PTSC đã có những bước phát triển nhanh chóng PTSC hiện có nguồn nhân lực (công nhân, kỹ sư và chuyên gia nước ngoài) và điều kiện cơ sở vật chất, cảng bãi, kho hàng, thiết bị cẩu kéo, thiết bị nâng hạ đáp ứng được nhu cầu thiết kế, chế tạo các công trình dầu khí lớn Công trường thi công của PTSC tại Vũng Tàu với diện tích bãi thi công gần 250m (cầu cảng)
x 450m và diện tích kho hàng 600m2 Mực nước sâu 9 - 12m cho phép các tàu
có trọng tải lên tới 25.000 tấn có thể cập cảng, ngoài ra còn rất thuận lợi cho
Trang 32việc hạ thuỷ các công trình có trọng tải tối đa là 3000 tấn từ bãi thi công xuống xà lan/ tàu bằng nhiều phương thức hạ thủy khác nhau như dùng cần cẩu, thiết bị kéo v.v…
Thời gian qua, PTSC đã trúng thầu và thực hiện thành công hàng loạt các dự án lớn và vừa như Total Package Solution (TPS) do Công ty Chế biến
và Kinh doanh các sản phẩm khí (PVGC) làm Chủ đầu tư, Dự án module khối nhà ở 140 người (LQ-CPC/99) do XNLD Vietsovpetro (VSP) làm chủ đầu tư,
Dự án lắp đặt trạm nén khi đầu vào nhà máy Dinh Cố (GPP), Dự án Talisman với việc chế tạo các cấu kiện gồm khối nhà ở 48 người và các cầu dẫn, tháp đuốc, Dự án phát triển mỏ Rạng Đông bao gồm việc chế tạo giàn dầu giếng WHP S1 và hai cầu dẫn, Dự án NULQ với khối nhà ở 63 người, Dự án cải tạo giàn đầu giếng N1 do Công ty JVPC làm chủ đầu tư, Dự án Sư Tử đen của chủ đầu tư Cửu Long JOC, dự án đóng mới giàn công nghệ đầu giếng Ruby B của chủ đầu tư PCV
Trong lĩnh vực này còn xuất hiện một gương mặt mới nhưng đầy triển vọng là PV Shipyard Được thành lập tháng 7/2007, PV Shipyard có tham vọng là công ty đầu tiên của Việt Nam có đủ năng lực chế tạo các giàn khoan dầu khí và vươn lên là một trong những công ty chế tạo giàn khoan hàng đầu trong khu vực Hiện nay, PV Shipyard đang tích cực chuẩn bị cơ sở vật chất, mặt bằng, nhà xưởng, nhân lực, các phương án liên doanh liên kết để có thể thiết kế thi công đóng mới 04 giàn khoan dầu khí cho PVN trong giai đoạn đến 2015
- Dịch vụ thiết kế, chế tạo, xây lắp đường ống, bể chứa; các công trình
chế biến dầu khí
Dịch vụ thiết kế, chế tạo, xây lắp đường ống, bể chứa, các công trình chế biến dầu khí là một loại hình dịch vụ có nhiều nét tương tự với dịch vụ chế tạo và đóng mới các công trình dầu khí Tuy nhiên, các đơn vị làm dịch
vụ của Việt Nam chỉ đủ năng lực chế tạo xây lắp các đường ống, bồn bể chứa, trong khi các công trình, chế biến dầu khí thì chúng ta chỉ có thể tham gia một phần công việc như khảo sát, xây lắp chưa có năng lực thực hiện các khâu còn lại như thiết kế, chế tạo Hiện tại PVN có 5 đơn vị tham gia lĩnh vực này là VSP, PVGAS, PTSC, PVC, PV Engineering, ngoài ngành dầu khí có: Lilama,
Mc Dermott, Technip
Trong lĩnh vực thiết kế, chế tạo, xây lắp các công trình chế biến khí các đơn vị của Việt Nam chỉ dừng lại ở việc thi công xây lắp một phần công trình
Trang 33với tư cách là nhà thầu phụ Các đơn vị như PVC, PV Engineering, VSP đều
đã tham gia thầu phụ vào nhà máy lọc dầu Dung Quất PVC là đơn vị duy nhất của PVN hiện đang xây dựng chiến lược tăng tốc để đến 2012 có thể làm tổng thầu EPC các công trình nhà máy lọc hoá dầu, chế biến khí
- Dịch vụ cho thuê phương tiện và hạ tầng kỹ thuật
Dịch vụ cho thuê các phương tiện hạ tầng kỹ thuật phục vụ ngành dầu khí là một lĩnh vực được hình thành từ rất sớm và phát triển mạnh mẽ hơn khi các nhà thầu dầu khí nước ngoài tham gia thăm dò khai thác trên thềm lục địa Việt Nam Hiện nay các đơn vị của PVN (PVC, PTSC, PVDrilling vv) đã tham gia cung cấp hầu hết hạng mục công việc thuộc lĩnh vực cho thuê phương tiện, hạ tầng kỹ thuật như cầu cảng, kho chứa, thiết bị, tầu chuyên dụng.v.v , trong đó PTSC, VSP đứng đầu về lĩnh vực này
Xí nghiệp dịch vụ cảng và cung ứng vật tư của VSP đang sở hữu một cảng chuyên dụng lớn nhất Việt Nam với 09 bến cảng, tổng chiều dài 1.230, trong đó có cầu cảng trọng tải 10.000 tấn, ngoài ra còn có hệ thống bốc, xếp chuyên dụng, kho chứa 20.000m2.v.v Tuy nhiên năng lực hiện tại chỉ đủ phục vụ cho các hoạt động của VSP
PTSC với hơn 15 năm xây dựng và phát triển, đã xây dựng được hệ thống căn cứ cảng dịch vụ dầu khí phân bố rộng khắp cả nước như Cảng Đà Nẵng, Dung Quất, Quảng Ngãi, Phú Mỹ và đặc biệt là căn cứ cảng dịch vụ dầu khí tại Vũng Tàu
Cảng dịch vụ ở Vũng Tàu là cảng chính cung cấp hỗ trợ dịch vụ và hậu cần cho toàn bộ các hoạt động chính về thăm dò và khai thác của các nhà thầu dầu khí tại Việt Nam Cảng có 07 cầu tàu có tổng chiều dài cầu cảng là 450 mét, độ sâu là 9.3 mét, có thể cung cấp dịch vụ cho cùng một lúc từ 8-9 tàu với trọng tải tàu lên tới 20.000 tấn, hệ thống kho bãi với 3.000 mét vuông văn phòng, 17.000 mét vuông nhà kho và khoảng 140.000 mét vuông kho bãi Với
cơ sở hạ tầng và trang thiết bị hiện có, PTSC cung cấp toàn bộ các dịch vụ về cảng và hậu cần liên quan như:
+ Dịch vụ cầu cảng, dịch vụ bến bãi, dịch vụ cho thuê văn phòng tại các Cảng
+ Dịch vụ kho chứa hàng rời, dịch vụ xử lý hoá chất hàng rời
+ Dịch vụ cung cấp các trang thiết bị (handling equiment) như xe tải hạng nặng có độ dài lên tới 60’, các loại xe nâng và thiết bị nâng từ 2,5 tấn tới
Trang 347 tấn, nhiều cần cẩu các loại với sức nâng từ 30 tấn đến 160 tấn hoặc cao hơn nữa (tuỳ theo yêu cầu của khách hàng Dịch vụ vận chuyển trên bờ và dịch vụ
hạ thuỷ các cấu kiện, công trình dầu khí biển
+ Dịch vụ Cân
+ Dịch vụ cung cấp nhiên liệu, dầu nhớt và nước sạch
+ Kiểm tra thử tải, thử áp lực và cấp chứng chỉ cho các thiết bị nâng hạ, thiết bị chịu áp lực cao
+ Dịch vụ thử không phá huỷ (NDT)
+ Dịch vụ xử lý nhiệt sau hàn (Post Weld Heat Treatment) & DV Heat
Pre-+ Dịch vụ cung cấp lao động kỹ thuật tại cảng
+ Các dịch vụ bảo dưỡng và sửa chữa cơ khí như kiểm tra, bảo hành, bảo dưỡng thiết bị, cấu kiện chế tạo, cung cấp vật tư, hoá chất không ăn mòn, máy bắn cát, xử lý cơ khí, gia cố cơ khí
+ Dịch vụ xử lý rác và chất thải công nghiệp
+ Dịch vụ quản lý dây chuyền cung cấp trọn gói (Supply Chain Management Services) phục vụ khách hàng từ khâu mua sắm đến lưu kho, quản lý và cung ứng thiết bị đến tay khách hàng
- Dịch vụ ứng cứu sự cố tràn dầu
PVN hiện có 2 đơn vị có khả năng tham gia cung ứng dịch vụ này là
PV Drilling và VSP, ngoài ngành có công ty TNHH Đại Minh, công ty TNHH Hà Đạt, Công ty Sông Thu, công ty 128 Hải Quân.v.v song năng lực
và thị phần nhỏ
Bắt đầu cung ứng dịch vụ trực và ứng cứu sự cố tràn dầu cho các nhà thầu có hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí tại Việt Nam từ năm 1994, công ty dịch vụ kỹ thuật dầu khí biển của PV Drilling đã được các nhà thầu trong và ngoài nước tín nhiệm và được các tổ chức quốc tế như IOM, DNV chứng nhận về chất lượng dịch vụ Hiện PV Drilling chiếm khoảng 70% thị trường dịch vụ này
PV Drilling tham gia vào thị trường dịch vụ ứng cứu sự cố tràn dầu từ năm 1994 và là đơn vị chủ chốt trong việc cung ứng các loại hình dịch vụ này với thị phần khoảng 90% Các căn cứ dịch vụ được đặt ở ven biển và các khu
Trang 35vực hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí luôn sẵn sàng cho việc triển khai hoạt động ứng cứu các sự cố tràn dầu, hoá chất xảy ra trên biển, trong sông hay các sự cố xảy ra tại các nhà máy chế biến, các phương tiện tàng trữ và vận chuyển dầu khí Với năng lực của công ty đã được Uỷ ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn (VINASARCOM) giao nhiệm vụ là lực lượng nòng cốt cho hoạt động của trung tâm ứng phó sự cố tràn dầu quốc gia khu vực miền nam (NASOS)
VSP có trung tâm an toàn và bảo vệ môi trường là thành viên của Diễn đàn kiểm soát giếng khoan quốc tế (IWCF): có dịch vụ ứng cứu sự cố dầu khí-phun cháy nổ, trên các công trình khoan-khai thác dầu khí trên bờ cũng như trên công trình biển Với bề dầy kinh nghiệm, cùng trang thiết bị máy móc hiện đại, Trung tâm đã luôn đảm bảo và xử lý tốt mọi tình huống xảy ra
Nhận xét về quy mô và năng lực dịch vụ dầu khí:
- Dịch vụ kỹ thuật dầu khí là lĩnh vực có quy mô lớn, sử dụng công nghệ cao, giá trị hợp đồng lớn, có thể đến hàng trăm triệu USD; do đó, đòi hỏi các nhà cung cấp dịch vụ phải có năng lực tương ứng, đặc biệt là phải đầu tư
cơ sở vật chất đồng bộ hiện đại như cơ sở hạ tầng, nhà xưởng, máy móc, thiết
bị chuyên dụng và quan trọng nhất là trình độ của đội ngũ nhân lực làm công tác dịch vụ phải tương ứng
- Các đơn vị của PVN hiện nay đã có thể cung cấp được hầu hết các loại hình dịch vụ kỹ thuật dầu khí không quá phức tạp và bước đầu hình thành một số lĩnh vực thế mạnh như: dịch vụ khoan và kỹ thuật giếng khoan, dịch
vụ tầu chuyên dụng, dịch vụ cơ khí chế tạo, dịch vụ cho thuê phương tiện hạ tầng kỹ thuật Tuy nhiên, năng lực của PVN trong việc cung ứng một số dịch
vụ có tính phức tạp cao như dịch vụ thiết kế, chế tạo các công trình chế biến dầu khí, giàn khoan, tầu dịch vụ, dịch vụ thu nổ địa chấn v.v còn rất hạn chế, phải đi thuê nước ngoài
c) Mức độ đáp ứng nhu cầu thị trường
Các đơn vị cung cấp dịch vụ kỹ thuật dầu khí trong nước hiện mới chỉ đáp ứng một phần nhu cầu thị trường, chiếm ưu thế trong các loại hình dịch
vụ kỹ thuật không quá phức tạp, có lợi thế về tự nhiên; trong khi, các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài đang chiếm lĩnh mảng dịch vụ đòi hỏi kỹ thuật cao, quy mô lớn, đòi hỏi hàm lượng chất xám cao và năng lực tổng hợp lớn Mức độ đáp ứng nhu cầu thị trường về các loại hình dịch vụ kỹ thuật dầu khí
ở Việt Nam bảng 2.4
Trang 36Bảng 2.4: Mức độ đáp ứng nhu cầu thị trường về các loại hình dịch vụ kỹ thuật dầu khí ở Việt Nam
TT Lĩnh vực hoạt động
dịch vụ kỹ thuật dầu khí
Đơn vị cung cấp
Mức độ đáp ứng
1
- Dịch vụ khảo sát địa chấn công trình
trên bờ và ngoài biển
- Dịch vụ thu nổ địa chấn 2D, 3D
PTSC, VSP, PVC PTSC (2D)
70% 10%
+ Dịch vụ đo karota khí, địa vật lý
giếng khoan và thử vỉa:
PV Drilling
PV Drilling, VSP, DMC, PV Shipyard
30% 35% 45% 25%
3 - Dịch vụ tháo dỡ, thu dọn công trình
dầu khí
PTSC, PVC, PV Engineering
35%
5
- Dịch vụ thiết kế, chế tạo, xây lắp
công trình biển: chân đế, topside, các
hợp phần của giàn khai thác, giàn công
- Dịch vụ thiết kế, chế tạo và xây lắp
các công trình chế biến dầu khí
PV GAS, PTSC, VSP, PV
Engineering, Lilama
70% 10%
7 - Dịch vụ cho thuê phương tiện và hạ
tầng kỹ thuật
PTSC, PV Drilling, VSP, PVC
90%
8
- Dịch vụ ứng cứu sự cố dầu tràn PV Drilling, VSP,
128 Hải Quân, Sông Thu
70%
Nguồn: Tổng hợp từ PTSC, VSP, PV Drilling và các đơn vị dịch vụ khác Nhận xét về mức độ đáp ứng nhu cầu thị trường:
Trang 37- Về thị phần: các đơn vị của PVN chiếm thị phần lớn trong các loại hình dịch vụ kỹ thuật dầu khí không quá phức tạp, có lợi thế về tự nhiên như dịch vụ khảo sát địa chất trên bờ, dưới biển (70%); tầu dịch vụ (90%), dịch vụ cho thuê hạ tầng kỹ thuật (90%), dịch vụ ứng cứu sự cố dầu tràn (70%), dịch
vụ thiết kế, chế tạo hệ thống đường ống, bồn bể chứa, chân đế, topside (65%) Tuy nhiên, các loại hình dịch vụ đòi hỏi kỹ thuật cao thì chiếm thị phần rất nhỏ như: dịch vụ thu nổ địa chấn (10%), thiết kế chế tạo các công tình chế biến dầu khí (15%).v.v
- Về chất lượng dịch vụ: chất lượng dịch vụ của PVN được các nhà thầu dầu khí trong và ngoài nước đánh giá cao, đáp ứng được các tiêu chuẩn trong nước và quốc tế Tuy nhiên, nhiều phần việc trong gói hợp đồng, nhất là các hợp đồng lớn, các đơn vị dịch vụ của Việt Nam vẫn phải thuê hoặc liên doanh liên kết với nước ngoài để thực hiện Điều này có thể thấy ngay trong dịch vụ tầu thuyền của PTSC, đơn vị đầu ngành về dịch vụ kỹ thuật dầu khí Mặc dù dịch vụ tàu thuyền có hiệu quả cao nhưng gần 2/3 doanh thu (chiếm trên 500 tỷ đồng/năm) là từ việc cung cấp tàu thuê ngoài, do đó phần lớn lợi nhuận thuộc về chủ đầu tư (ước tính khoảng 60% lợi nhuận từ dịch vụ tàu thuyền thuộc về các chủ nước ngoài do PTSC không có đủ tàu cung cấp cho nhu cầu hoạt động dầu khí) Từ đấy cho thấy việc đầu tư nâng cấp và phát triển đội tàu của PTSC là vấn đề được quan tâm
d) Tình hình đầu tư phát triển
Trong những năng vừa qua, được sự ủng hộ về chủ trương và đường lối của PVN, công tác đầu tư và phát triển của các đơn vị làm dịch vụ kỹ thuật đã
có những bước phát triển vượt bậc và bước đầu đã hình thành những đơn vị
có tiềm lực mạnh với cơ sở vật chất hiện đại và đồng bộ như: VSP, PTSC, PV Drilling, PVC, PV Engineering.v.v
Xí nghiệp Liên doanh Vietsopetro là đơn vị thăm dò và khai thác dầu khí lớn nhất Việt Nam Công tác đầu tư và phát triển luôn được quan tâm hàng đầu nhằm đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất kinh doanh của VSP Ngoài
ra, VSP còn thông qua các dự án dịch vụ để tranh thủ đầu tư hiện đại hoá trang thiết bị, phương tiện hoạt động Trong lĩnh vực địa vật lý giếng khoan,
xí nghiệp đã được trang bị nhiều thế hệ máy móc hiện đại như: các trạm và máy Halliburton cho đội công nghệ cao, các trạm Karat và máy Nga thế hệ mới cho đội karota tổng hợp, các thiết bị thử vỉa Halliburton, Powerwell, các phần mềm minh giải tài liệu Lappa, ALT.v.v Trong lĩnh vực khoan và sửa giếng, VSP đã đầu tư mua 02 giàn tự nâng có thể thi công trên biển.v.v Đã
Trang 38đầu tư mua sắm 9 tàu chuyên dụng, tàu cẩu đến 600-1.200 tấn và nhiều loại thiết bị chuyên dụng khác
Công tác đầu tư và phát triển của PTSC cũng có những bước phát triển vượt bậc Hiện tại PTSC đã sở hữu đội tàu dịch vụ mạnh nhất Việt Nam và có thứ hạng trong khu vực Ngoài ra, với chủ trương tập trung phát triển dịch vụ
kỹ thuật chuyên ngành, chú trọng lĩnh vực công nghệ, PTSC đã và đang đầu
tư nhiều loại máy móc chuyên dụng như thiết bị ROV, tàu dịch vụ đa năng, các căn cứ cảng hiện đại cùng hệ thống máy móc chuyên dụng có thể đáp ứng được nhu cầu của các nhà thầu dầu khí về dịch vụ kỹ thuật như dịch vụ cơ khí chế tạo, dịch vụ khảo sát, sửa chữa công trình ngầm.v.v
Là “đơn vị tiên phong của ngành khoan dầu khí Việt Nam”, PV Drilling luôn tìm kiếm đổi mới công nghệ, ứng dụng các thành tựu về khoa học quản lý cũng như công nghệ Đến nay PV Drilling đã đầu tư được 01 giàn khoan đa năng tự nâng 90m nước và đi vào hoạt động cuối tháng 3 năm 2007;
01 giàn khoan đất liền để phục vụ khoan cho Công ty PIDC tại Algeria đi vào hoạt động vào tháng 7 năm 2007 Ngoài ra PV Drilling cũng đã không ngừng đẩy mạnh đầu tư các trang thiết bị hiện đại khác như thiết bị tại xưởng cơ khí, tàu chuyên dụng ứng cứu sự cố tràn dầu trên sông, máy tháo vặn ren điều khiển bằng vi tính, máy tiện CNC, bộ thiết bị cứu kẹt, bộ thiết bị kéo thả ống chống, bộ thiết bị ứng cứu sự cố tràn dầu, máy tiện bán tự động, thiết bị dịch
vụ kỹ thuật giếng khoan, bộ cần khoan nặng, bộ thiết bị đo karota khí nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tỷ trọng và chất lượng dịch vụ của PV Drilling cũng như uy tín đối với khách hàng và đối tác quốc tế
Nhận xét về tình hình đầu tư và phát triển:
Công tác đầu tư và phát triển đã có những bước chuyển biến tích cực, đặc biệt là trong những năm gần đây Đã hình thành những đơn vị có tiềm lực
cơ sở vật chất đủ mạnh, có thể tự giải quyết được nhiều công việc trong lĩnh vực dịch vụ kỹ thuật dầu khí
Hạn chế:
- Công tác đầu tư còn giàn trải, trùng lặp ở nhiều đơn vị đặc biệt là lĩnh vực dịch vụ chế tạo xây lắp, cả VSP, PTSC, PVC và PV Engineering cùng tham gia đầu tư vào lĩnh vực này Việc đầu tư giàn trải, trùng lặp sẽ dẫn đến cạnh tranh nội bộ, làm phân tán nguồn lực vốn đã yếu của PVN Hậu quả là mặc dù nhiều đơn vị cùng tham gia lĩnh vực này nhưng chủ yếu vẫn chỉ thiết
kế chế tạo những kết cấu không quá phức tạp như đường ống, bồn bể chứa, chân đế/topside.v.v trong khi lại vẫn chưa thể hình thành một đơn vị có tiềm
Trang 39lực đủ mạnh để thiết kế, chế tạo và lắp đặt các công trình phức tạp như giàn khoan, giàn khai thác, tàu chuyên dụng… v.v
- Thiếu quan tâm tới các mục tiêu lâu dài: đội tàu, giàn khoan, các phương tiện nổi Hậu quả là đội tầu của PTSC vẫn luôn trong tình trạng thiếu hụt và quá tải, tỷ trọng dịch vụ tầu thuê ngoài khá lớn Với giàn khoan cũng tương tự, do chậm đầu tư giàn SPBU nên hiện nay xí nghiệp khoan và sửa giếng của SPBU chỉ đáp ứng được khoảng 60% kế hoạch khoan của VSP Điều này gây lãng phí lớn do giá đi thuê ngoài rất cao trong khi đội khoan của
Xí nghiệp không có việc làm
1.2 Dịch vụ vận hành bảo dưỡng
1.2.1 Lĩnh vực hoạt động
Dịch vụ vận hành và bảo dưỡng là dịch vụ tổng hợp của các loại hình dịch vụ kỹ thuật nhằm đáp ứng yêu cầu của chủ đầu tư trong công tác vận hành và khai thác tài sản đã đầu tư một cách có hiệu quả, chuyên nghiệp, phù hợp với xu thế hội nhập và phát triển của đất nước trong tương lai Lĩnh vực hoạt động của dịch vụ vận hành bảo dưỡng bao gồm:
a) Dịch vụ vận hành các công trình dầu khí
Phạm vi công việc của dịch vụ vận hành của các công trình dầu khí gồm:
+ Vận hành và giám sát hoạt động các giàn khoan, giàn khai thác;
+ Vận hành và giám sát hoạt động các công trình khí;
+ Vận hành và giám sát hoạt động các nhà máy lọc hoá dâu;
+ Vận hành và giám sát hoạt động các nhà máy điện tử, đạm từ nguyên liệu dầu khí;
+ Vận hành và giám sát hoạt động hệ thống đường ống, bể chứa, cầu cảng, tàu chở dầu và các trang thiết bị chuyên ngành.v.v;
b) Dịch vụ bảo dưỡng, sửa chữa các thiết bị và công trình dầu khí
Bảo dưỡng, sửa chữa các công trình dầu khí là hoạt động cần thiết để duy trì hoạt động và kéo dài tuổi thọ của các công trình dầu khí, phạm vi của dịch vụ này gồm:
+ Bảo dưỡng, sửa chữa các giàn khoan thăm dò, giàn khai thác (giàn nhẹ, giàn công nghệ trung tâm, giàn bơm ép nước.v.v );
+ Bảo dưỡng, sửa chữa các thiết bị chuyên ngành dầu khí: thiết bị khoan, cần ống, thiết bị đầu giếng, van chuyên dụng, bơm ly tâm chìm, các loại cẩu, thiết bị nâng trên bờ và ngoài biển, các thiết bị điện tử, đo đếm công nghiệp trong ngành dầu khí.v.v;
Trang 40+ Bảo dưỡng sửa chữa các phương tiện nổi: tầu vận dịch vụ, tầu chở dầu, FPSO/FSO, v.v ;
+ Bảo dưỡng, sửa chữa các nhà máy lọc, hoá dầu, điện, đạm dùng nguyên liệu khí;
+ Bảo dưỡng và sửa chữa hệ thống đường ống, bồn bể chứa, các nhà máy chế biến khí;
+ Bảo dưỡng và sửa chữa các cầu cảng, các công trình dịch vụ chuyên dùng, các kết cấu kim loại và ăn mòn v.v
1.2.2 Hiện trạng hoạt động
a) Tình hình tổ chức và quản lý
Cũng giống như dịch vụ kỹ thuật dầu khí, lĩnh vực vận hành và bảo dưỡng các công trình dầu khí được hình thành từ rất sớm, cùng với sự ra đời
và phát triển của công nghiệp dầu khí Đây là nhiệm vụ trọng tâm của các đơn
vị, xí nghiệp trong Ngành nhằm duy trì và ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh, từng bước tiếp thu và làm chủ công nghệ Tuy vậy, trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển Ngành dầu khí, lĩnh vực vận hành và bảo dưỡng các công trình dầu khí không được tách ra như là một ngành dịch vụ độc lập mà hoạt động như là một bộ phụ trợ thiết yếu cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp
Từ năm 1992, cùng với sự phát triển và lớn mạnh của ngành dầu khí, lĩnh vực vận hành và bảo dưỡng các công trình dầu khí cũng đã bước đầu được chuyên môn hoá như là một ngành dịch vụ độc lập Xí nghiệp liên doanh Vietsopetro, Tổng công ty Khí (PV GAS), Đạm Phú Mỹ (PVFCo)….v.v, bên cạnh nhiệm vụ chính là phục vụ sản xuất kinh doanh, đã bắt đầu chú trọng đến việc cung cấp dịch vụ ra bên ngoài cho các nhà thầu dầu khí, các đối tác trong và ngoài nước Bên cạnh đó hướng phát triển dịch
vụ O&M như ngành dịch vụ độc lập bắt đầu được quan tâm; PTSC thành lập công ty Dịch vụ lắp đặt vận hành và bảo dưỡng công trình dầu khí biển (Công
ty POS) năm 2007, dự án cảng dịch vụ Sao Mai Bến Đình đang triển khai từ năm 2008 v.v sẽ là những đơn vị dịch vụ O&M chuyên nghiệp đầu tiên của Việt Nam
Nhìn chung trong những năm qua, công tác vận hành và bảo dưỡng đã được tổ chức và quản lý khá tốt, các công trình dầu khí đều hoạt động an toàn, hiệu quả, chưa có một sự cố đáng tiếc nào xảy ra Tuy nhiên các đơn vị làm dịch vụ O&M còn nằm dải rác ở nhiều đơn vị trong ngành dầu khí Hầu hết các đơn vị làm nhiệm vụ sản xuất kinh doanh (chủ mỏ, doanh nghiệp sản xuất