1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn các chức danh trong hệ thống bảo hiểm xã hội việt nam

160 659 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn các chức danh trong hệ thống bảo hiểm xã hội Việt Nam
Tác giả Nguyễn Kim Thái
Trường học Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Chuyên ngành Bảo hiểm xã hội
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài cấp bộ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảo hiểm xã hội Việt Nam sau hơn 10 năm tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao, bằng sự nỗ lực cố gắng và quyết tâm của toàn ngành, việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế

Trang 1

Bảo hiểm x∙ hội việt nam

-

Báo cáo tổng kết đề tài cấp bộ

Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn

Trang 2

Mục lục Trang

Phần 1: Đánh giá hệ thống tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ công chức

thuộc hệ thống BHXH Việt Nam trong việc thực hiện các nhiệm vụ

được giao

8

1.1 Quá trình hình thành và phát triển của BHXH Việt Nam 8

1.3 Tổ chức BHXH Việt Nam và việc triển khai thực hiện nhiệm vụ của

các đơn vị trực thuộc

15

1.4 Tình hình triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao của các đơn vị,

bộ phận nghiệp vụ chuyên môn BHXH

23

1.5 Tình hình đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngành BHXH 26

1.6 Đánh giá chung trong việc thực hiện nhiệm vụ 28

Phần 2: Xây dựng chức danh và tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công

chức của ngành bảo hiểm xã hội

31

2.1 Cơ sở pháp lý của việc xây dựng hệ thống chức danh và tiêu chuẩn

nghiệp vụ các ngạch công chức của BHXH Việt Nam

2 Tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức kế hoạch và đầu tư tài chính 51

Chuyên viên Kế hoạch và đầu tư tài chính

Chuyên viên chính Kế hoạch và đầu tư tài chính

51

52

Trang 3

3 Tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức đầu tư xây dựng 57

Chuyên viên quản lý và thẩm định công trình xây dựng

Chuyên viên chính quản lý và thẩm định công trình xây dựng

Chuyên viên quản lý thu BHXH

Chuyên viên chính quản lý thu BHXH

Chuyên viên cao cấp quản lý thu BHXH

Chuyên viên quản lý sổ, thẻ

Chuyên viên chính quản lý sổ, thẻ

Chuyên viên giám định bảo hiểm y tế

Chuyên viên chính giám định bảo hiểm y tế

Chuyên viên cao cấp giám định bảo hiểm y tế

Trang 4

Chuyên viên văn thư

Chuyên viên chính văn thư

Chuyên viên quản trị tài sản

Nhân viên lái xe

Kiểm tra viên chính

Kiểm tra viên cao cấp

Trang 5

Chuyên viên chính quản lý khoa học

Chuyên viên cao cấp quản lý khoa học

Chuyên viên lưu trữ BHXH

Chuyên viên chính lưu trữ BHXH

Chuyên viên chính quản lý đào tạo BHXH

Chuyên viên cao cấp quản lý đào tạo BHXH

Trang 6

Lời nói đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Kể từ khi Nhà nước công nông ra đời, Đảng ta đã rất quan tâm đến việc phát triển chính sách bảo hiểm xã hội với tư cách là một chính sách góp phần đảm bảo ổn

định xã hội Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, việc thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội đã đóng vai trò hết sức quan trọng vào việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Bảo hiểm xã hội Việt Nam sau hơn 10 năm tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao, bằng sự nỗ lực cố gắng và quyết tâm của toàn ngành, việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đã đạt được những kết quả bước đầu khả quan: Mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội đến người lao động trong các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế Hình thành quĩ bảo hiểm xã hội tập trung, thống nhất, độc lập với ngân sách, đồng thời là nguồn dự trữ tài chính quốc gia, sử dụng cho đầu tư tăng trưởng góp phần phát triển kinh tế đất nước Hệ thống bảo hiểm xã hội được tổ chức theo ngành dọc từ trung ương đến cấp huyện ở tất cả các tỉnh và thành phố trong toàn quốc Đội ngũ cán bộ, công chức không ngừng lớn mạnh, chất lượng cán bộ được nâng lên đủ sức đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đặt ra cho từng giai đoạn

Thời kỳ phát triển mới của đất nước đã đặt ra cho ngành bảo hiểm xã hội những trọng trách trong việc thực hiện các chính sách bảo hiểm xã hội cho mọi đối tượng tham gia Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng đã khẳng định mục tiêu chiến lược của ngành trong thời gian tới là: “Từng bước mở rộng vững chắc hệ thống bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân” Để thực hiện mục tiêu chiến lược này, đòi hỏi ngành bảo hiểm xã hội phải có các giải pháp phù hợp trên nhiều phương diện để tổ chức thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả, trong đó có công tác tổ chức cán bộ Đó là: Cần xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ,

được đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về nghiệp vụ liên quan trực tiếp đến công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế Đồng thời phải chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức

Trang 7

chức danh cán bộ làm cơ sở cho việc tuyển dụng, sử dụng, đề bạt, luân chuyển cán

bộ, tạo động lực để khuyến khích cán bộ, công chức; đồng thời đề cao trách nhiệm, nâng cao năng lực công tác của cán bộ gắn với chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ đối với công chức

Xây dựng và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức của ngành bảo hiểm xã hội cũng là một nội dung trong tâm trong 4 nội dung của Chương trình tổng thể Cải cách hành chính giai đoạn 2005-2010, đó là: Cải cách thể chế; xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị; nâng cao năng lực

đội ngũ cán bộ, công chức của ngành; cải cách tài chính công Vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng hệ thống chức danh và tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức ngành hiểm xã hội là một việc làm cấp thiết hiện nay góp phần xây dựng và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức ngành bảo hiểm xã hội

2 Mục tiêu đề tài:

Căn cứ chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa, căn cứ vào chiến lược phát triển của ngành trong thời gian tới và nhiệm vụ đặc thù của bảo hiểm xã hội, trên cơ sở đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của hệ thống bảo hiểm xã hội, tình hình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận để

từ đó đề xuất giải pháp xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống các chức danh và các tiêu chuẩn nghiệp vụ cụ thể cho từng loại chức danh trong hệ thống bảo hiểm xã hội Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích những nhiệm vụ của bảo hiểm xã hội Việt Nam và nhiệm vụ của từng lĩnh vực đã được phân công để tìm ra nhiệm vụ đặc thù của ngành bảo hiểm xã hội Phân tích đánh giá các công việc ở mỗi vị trí công tác trong ngành, trong từng lĩnh vực, bộ phận

- Nghiên cứu tiêu chuẩn các chức danh nghiệp vụ liên quan đã được Nhà nước ban hành để vận dụng xây dựng chức danh, tiêu chuẩn chức danh cho đội ngũ cán bộ trong ngành bảo hiểm xã hội

Trang 8

Đề tài không đi vào xây dựng định mức lao động cho từng vị trí công việc nhưng kết quả của đề tài sẽ là cơ sở để xây dựng định mức lao động trong một đề tài khác

4 Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp lôgic, phân tích so sánh, thống kê, tổng hợp kết hợp điều tra

5 Nội dung nghiên cứu:

Ngoài phần Lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề

án được chia thành 02 phần chính như sau:

Phần 1: Đánh giá hệ thống tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức thuộc

hệ thống bảo hiểm xã hội Việt Nam trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao

Phần 2: Xây dựng chức danh và tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức của ngành Bảo hiểm xã hội

Trang 9

Phần 1

Đánh giá hệ thống tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ,

công chức thuộc hệ thống BHXH Việt Nam trong việc

thực hiện các nhiệm vụ đ−ợc giao

1.1 Quỏ trỡnh hỡnh thành và phỏt triển của BHXH Việt Nam

1.1.1 Quỏ trỡnh hỡnh thành và phỏt triển hệ thống BHXH Việt Nam:

Phỏp luật về BHXH được Nhà nước ta ban hành từ năm 1947 Khi đú, do Nhà nước dõn chủ nhõn dõn non trẻ mới thành lập, ngõn sỏch cũn khú khăn, hạn hẹp nờn phạm vi, đối tượng ỏp dụng cỏc chế độ chớnh sỏch BHXH cũng hạn chế, chỉ cú cỏn

bộ, cụng chức Nhà nước và quõn nhõn thuộc phạm vi điều chỉnh của phỏp luật BHXH Cỏc chế độ BHXH được quy định trong cỏc văn bản: Sắc lệnh số 20/SL ngày 16/2/1947 do Chủ tịch Hồ Chớ Minh ký ban hành, quy định về chế độ “hưu bồng thương tật” và “Tiền tuất cho thõn nhõn tử sĩ”; Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 ban hành Quy chế cụng chức Việt Nam; Sắc lệnh 77/SL ngày 20/5/1950 quy định một số chế độ đối với cụng nhõn giỳp việc Chớnh phủ trong thời kỳ khỏng chiến

Ngày 27/12/1961, Hội đồng Chớnh phủ (nay là Chớnh phủ) ban hành Nghị định số 218/CP quy định Điều lệ tạm thời về cỏc chế độ BHXH đối với cụng nhõn, viờn chức Nhà nước Đõy là văn bản phỏp quy đầu tiờn quy định tương đối đầy đủ cỏc chế độ về BHXH lỳc bấy giờ (bao gồm 6 chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trớ, tử tuất) và thay thế cho tất cả cỏc văn bản trước đú Tổng Cụng đoàn Việt Nam (nay là Tổng Liờn đoàn Lao động Việt Nam) chịu trỏch nhiệm về việc thực hiện BHXH cho cụng nhõn viờn chức Nhà nước và quản lý quỹ BHXH Theo Điều lệ, mỗi cơ quan, xớ nghiệp, cụng trường, nụng trường, lõm trường thành lập một ban BHXH đặt dưới sự lónh đạo của Ban Chấp hành cụng đoàn cơ sở Ban này cú nhiệm vụ đụn đốc việc trớch nộp quỹ BHXH một số tiền bằng 4,7% so với tổng quỹ tiền lương của cụng nhõn viờn chức

và quyết định việc chi cấp tiền BHXH theo quy định đó ban hành Việc tổ chức,

Trang 10

quản lý, sử dụng quỹ BHXH; việc lập dự toán, quyết toán thu, chi của quỹ do Tổng Công đoàn Việt Nam quy định

Vào giữa những năm thập niên 80, chính sách BHXH đã có nhiều thay đổi, đặc biệt là chế độ nghỉ hưu sớm của công nhân, viên chức Nhà nước Các chế độ BHXH lúc này do nhiều cơ quan quản lý, quỹ BHXH bị phân tán, không còn tập trung như giai đoạn trước Tổng Công đoàn Việt Nam quản lý khoản trích 3,7% để thực hiện các chế độ BHXH ngắn hạn: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Bộ Nội vụ (sau giao cho Bộ Lao động - thương binh và xã hội) quản lý khoản trích 1% để thực hiện các chế độ BHXH dài hạn: hưu trí, mất sức lao động, tử tuất Bộ Tài chính vừa thu BHXH vừa cấp phát kinh phí từ ngân sách cho Bộ Lao động - thương binh và xã hội để chi trả các chế độ trợ cấp BHXH Mức trích này được thay đổi qua từng giai đoạn Đến năm 1993 mức trích này được điều chỉnh từ

4,7% tăng lên 20 % tổng quỹ tiền lương (Nghị định 43/CP ngày 22/6/1993) Hệ

thống tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BHXH giai đoạn này do hệ thống lao động - thương binh - xã hội và Liên đoàn Lao động thực hiện

Sau Đại hội VI của Đảng, đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, nền kinh tế từng bước chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường, định hướng XHCN, có sự quản lý của Nhà nước Trong bối cảnh đó, quan hệ lao động theo cơ chế mới cũng từng bước được hình thành, do yêu cầu khách quan đòi hỏi phải có những cải cách

về chính sách xã hội, trong đó có chính sách BHXH Để khắc phục những hạn chế của chính sách BHXH trước đây, xây dựng một chính sách BHXH phù hợp với sự đổi mới của nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng XHCN, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo người lao động, người sử dụng lao động, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ đổi mới và hội nhập với xu thế phát triển BHXH của các quốc gia trên thế giới, Nghị quyết Đại hội VII của Đảng đã chỉ rõ:

“Đổi mới chính sách BHXH theo hướng: Mọi người lao động và đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều đóng góp vào Quỹ BHXH Từng bước tách quỹ BHXH đối với công nhân viên chức Nhà nước khỏi Ngân sách và hình thành quỹ

Trang 11

BHXH chung cho người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế…Phát triển bảo hiểm khám chữa bệnh, tăng ngân sách cho hoạt động khám chữa bệnh”

Năm 1995 có thể coi là bước ngoặt, đánh dấu giai đoạn phát triển BHXH ở nước ta Về chủ trương, Chính phủ thực hiện việc tách chức năng quản lý Nhà nước

về BHXH ra khỏi chức năng tổ chức thực hiện BHXH và giao cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về BHXH và thực hiện các nhiệm vụ: Xây dựng và trình ban hành các văn bản pháp quy về BHXH thuộc thẩm quyền; hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện BHXH Nhà nước có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc sử dụng quỹ BHXH nhằm đảm bảo sử dụng hiệu quả và theo đúng quy định của Pháp luật

Ngày 16/2/1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 19/CP thành lập BHXH Việt Nam trên cơ sở thống nhất các tổ chức BHXH ở Trung ương và địa phương thuộc hệ thống Lao động-Thương binh và Xã hội và Liên đoàn Lao động với nhiệm

vụ chính là tổ chức thu BHXH, chi BHXH, giải quyết chế độ, chính sách và quản lý quỹ BHXH Như vậy với việc thành lập hệ thống BHXH Việt Nam, công tác thu, chi, quản lý quỹ và giải quyết các chế độ BHXH…đã được tập trung cho một ngành thực hiện, tạo điều kiện cho công tác BHXH ở Việt Nam phát triển Hệ thống BHXH Việt Nam được tổ chức và quản lý tập trung, thống nhất theo 03 cấp từ Trung ương đến quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh:

- Ở Trung ương là BHXH Việt Nam

- Ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) là BHXH tỉnh

- Ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện) là BHXH huyện

1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển hệ thống Bảo hiểm y tế Việt Nam:

Trong những năm đầu của thập kỷ 60, việc chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân

và cán bộ, công nhân viên chức do các bệnh viện, bệnh xá, trạm xá và trung tâm y tế

từ Trung ương đến địa phương thực hiện theo phương thức khám chữa bệnh không mất tiền Cho đến thời kỳ đầu của những năm 80, các cơ sở khám chữa bệnh lâm vào

Trang 12

tình trạng thiếu kinh phí hoạt động, xuống cấp nhiều, trong khi đó chi phí khám chữa bệnh ngày càng tăng do áp dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật hiện đại trong chẩn đoán và điều trị Thực hiện chủ trương đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI của Đảng trong lĩnh vực y tế theo phương châm “nhà nước và nhân dân cùng làm” ngày 24/04/1989 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 45/HĐBT cho phép các cơ sở khám chữa bệnh thu một phần viện phí để bổ sung nguồn kinh phí, giảm bớt sức ép cho các cơ sở khám chữa bệnh, đồng thời giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước Việc thực hiện Quyết định số 45/HĐBT phần nào đã làm giảm bớt khó khăn cho các cơ sở khám chữa bệnh và đáp ứng một phần nhu cầu khám chữa bệnh của một số đối tượng có thu nhập khá Tuy nhiên với

đa số những người có thu nhập thấp, người nghèo, người mất sức lao động khi ốm đau nhất là khi mắc bệnh hiểm nghèo thì không có điều kiện để chi trả viện phí

Để khắc phục tình trạng này và thực hiện chủ trương của Nhà nước là thống nhất quản lý sự nghiệp bảo vệ sức khỏe của nhân dân, tạo điều kiện để mọi người dân được chăm sóc sức khỏe, ngày 15/8/1992 Hội đồng Bộ trưởng đã có Nghị định

số 299/HĐBT ban hành Điều lệ Bảo hiểm y tế, đánh dấu một bước phát triển trong chính sách BHYT của nước ta Hệ thống Bảo hiểm y tế được thành lập và tổ chức hoạt động từ trung ương đến địa phương, bao gồm 59 cơ quan bảo hiểm y tế (53 Bảo hiểm y tế tỉnh, thành phố; 04 Bảo hiểm y tế ngành; Bảo hiểm y tế Việt Nam và chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh) Trong giai đoạn này việc quản lý chuyên môn nghiệp vụ về bảo hiểm y tế do Bảo hiểm y tế Việt Nam trực thuộc Bộ y tế thực hiện; còn về tổ chức Bảo hiểm y tế các địa phương trực thuộc Sở Y tế và Bảo hiểm y tế ngành do ngành chủ quản trực tiếp quản lý thực hiện Bảo hiểm y tế Việt Nam chịu trách nhiệm hướng dẫn Bảo hiểm y tế địa phương và ngành về chuyên môn, nghiệp

vụ, còn việc quản lý trực tiếp quỹ Bảo hiểm y tế do UBND địa phương và ngành chủ quản quản lý, quĩ hạch toán độc lập và không có sự bù đắp, điều tiết, hỗ trợ lẫn nhau

Năm 1998, Chính phủ thực hiện việc tách chức năng tổ chức thực hiện Bảo hiểm y tế ra khỏi chức năng quản lý Nhà nước về Bảo hiểm y tế của UBND các địa

Trang 13

phương và các ngành để thống nhất giao cho Bảo hiểm y tế Việt Nam quản lý Hệ thống Bảo hiểm y tế Việt Nam trực thuộc Bộ Y tế và được tổ chức theo hệ thống dọc thống nhất từ trung ương đến địa phương theo 3 cấp:

- Ở Trung ương là BHYT Việt Nam

- Ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) là BHYT cấp tỉnh và BHYT ngành than, dầu khí, cao su và giao thông vận tải

- Ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh tổ chức thành chi nhánh BHYT trực thuộc BHYT cấp tỉnh

Quỹ Bảo hiểm y tế được quản lý tập trung thống nhất, hạch toán độc lập với Ngân sách Nhà nước và được Nhà nước bảo hộ, Quỹ có thể điều tiết trong toàn hệ thống

1.1.3 Chuyển giao BHYT sang BHXH Việt Nam:

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 khoá VIII và Chương trình Cải cách hành chính của Chính phủ, ngày 24/01/2002 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 20/2002/QĐ-TTg chuyển giao hệ thống BHYT từ Bộ Y tế sang BHXH Việt Nam nhằm giảm bớt đầu mối quản lý và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát triển trong giai đoạn mới Ngày 6/12/2002 Chính phủ ban hành Nghị định số 100/2002/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam Từ thời điểm này, BHXH Việt Nam được giao nhiệm vụ thống nhất quản lý quỹ BHXH, BHYT và tổ chức thực hiện các chế

độ BHXH và BHYT cho các đối tượng tham gia

Cơ cấu tổ chức hệ thống BHXH Việt Nam được thiết kế theo hệ thống ngành dọc, tập trung từ Trung ương đến địa phương theo 3 cấp:

- Ở Trung ương là BHXH Việt Nam, Hội đồng Quản lý BHXH Việt Nam là cơ quan quản lý của BHXH Việt Nam, bao gồm đại diện lãnh đạo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam; Tổng Giám đốc là đại diện pháp nhân của BHXH Việt Nam

Trang 14

- Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là BHXH cấp tỉnh trực thuộc BHXH Việt Nam

- Ở các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là BHXH cấp huyện trực thuộc BHXH tỉnh

1.2 Đặc điểm ngành BHXH Việt Nam:

BHXH Việt Nam có hai đặc điểm cơ bản sau:

1.2.1 Tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội cho đối tượng tham gia BHXH, BHYT

Sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã tác động mạnh mẽ đến cơ cấu nền kinh tế và các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, theo đó, quan hệ lao động theo cơ chế mới từng bước được hình thành, tạo sự bình đẳng giữa người lao động làm việc trong các thành phần kinh tế khác nhau, giúp cho việc sắp xếp, cơ cấu lại lực lượng lao động giữa các ngành, các địa phương, các thành phần kinh tế, các cơ quan, đơn vị thuận lợi hơn Ngành BHXH cũng không nằm ngoài tác động ảnh hưởng đó Nghị quyết Đại hội VII của Đảng đã chỉ rõ “ Đổi mới chính sách BHXH theo hướng: Mọi người lao động và các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều đóng góp vào quỹ BHXH Từng bước tách quỹ BHXH đối với công nhân viên chức Nhà nước khỏi ngân sách và hình thành quỹ BHXH chung cho người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế…” Theo đó, tách chức năng tổ chức thực hiện BHXH

ra khỏi chức năng quản lý Nhà nước về BHXH Theo luật BHXH, Bộ Lao động - Thương binh - xã hội chịu trách nhiệm quản lý Nhà nước về BHXH, hệ thống BHXH Việt Nam được tổ chức và quản lý theo hệ thống dọc, tập trung, thống nhất

từ Trung ương đến cấp huyện Bước đổi mới tổ chức quản lý BHXH đã tạo cơ chế tự chủ cho hoạt động của BHXH, BHYT, đồng thời phù hợp với hội nhập kinh tế quốc

tế Về bản chất, hệ thống bảo hiểm xã hội chính là đơn vị sự nghiệp thực hiện dịch

vụ công trong lĩnh vực BHXH - một chức năng của quản lý nhà nước nhằm thực hiện pháp luật về BHXH do các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan lập pháp ban hành Vì vậy mô hình tổ chức BHXH Việt Nam phải được tổ chức phù hợp với tính

Trang 15

1.2.2 Quản lý quỹ BHXH, nguồn lực dự trữ quốc gia

Trước đây, khi nói đến BHXH là nói đến những chính sách trợ cấp xã hội do ngân sách Nhà nước đảm bảo và chi trả Về thực chất chưa hình thành quỹ tài chính riêng độc lập Hiện nay, BHXH được hiểu bao hàm 2 chức năng, đó là thực hiện chế

độ BHXH như đã từng thực hiện trước đây, hơn thế nữa còn một chức năng hoàn toàn mới đó là quản lý quỹ BHXH để thực hiện chế độ chính sách BHXH theo quy định của pháp luật Quỹ BHXH được hình thành với sự tham gia của 3 bên đóng góp

là người lao động, chủ sử dụng lao động và đóng góp của Nhà nước, ngoài ra còn các nguồn thu hợp pháp khác như đầu tư tăng trưởng, viện trợ Quỹ BHXH được hạch toán độc lập với ngân sách và được Nhà nước bảo hộ Chính vì vậy quỹ BHXH

có những đặc trưng khác với các quỹ đầu tư khác: Nguồn thu bảo hiểm khi đưa vào quỹ một phần sẽ được chi dùng ngay cho các đối tượng đang hưởng các chế độ ngắn hạn và một phần cho các đối tượng hưởng chế độ dài hạn, song phần lớn là nguồn dự trữ dùng để chi trả các chế độ BHXH trong tương lai Chính khoản tiền tạm thời nhàn rỗi này tồn tích qua nhiều năm chưa phải chi trả ngay sẽ được dùng cho đầu tư tăng trưởng quỹ nhằm đảm bảo giá trị của quỹ và tăng quy mô của quỹ

Những đặc thù của nguồn hình thành quỹ BHXH đã tạo ra những đặc điểm riêng có cho việc quản lý quỹ BHXH Với mục đích đảm bảo cho an sinh xã hội, nên việc đầu tư quỹ BHXH phải đảm bảo tuyệt đối an toàn Quỹ đuợc bảo toàn và tăng trưởng tốt sẽ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người lao động và góp phần tăng trưởng nền kinh tế, ổn định và phát triển đất nước Ngược lại nếu quỹ BHXH không được bảo toàn thì không những đời sống của người tham gia bị ảnh hưởng mà xã hội

sẽ bất ổn Chính vì vậy, việc quản lý đầu tư quỹ phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định do nhà nước quy định sao cho rủi ro ở mức thấp nhất và được bảo hộ, ưu tiên đầu tư vào những công trình trọng điểm, đặc thù Mặt khác lĩnh vực đầu tư quỹ sẽ giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ của BHXH Các vấn đề cần quan tâm trong việc quản lý đầu tư quỹ, đó là: Các chiến lược đầu tư, lộ trình đầu tư, danh mục đầu tư, hiệu quả đầu tư (trên cả hai phương diện hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế xã hội), khả năng thu hồi vốn

Trang 16

Trải qua hơn 10 năm hình thành và phát triển, quỹ BHXH càng ngày càng lớn mạnh, đóng góp một phần không nhỏ vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tổng số thu BHXH, BHYT toàn ngành tăng dần qua các năm Năm 2004 đạt trên 13.000 tỷ đồng, 2005 là trên 17.000 tỷ đồng, 2006 là trên 33.000 tỷ đồng Thực hiện đổi mới cơ chế quản lý tài chính theo Quyết định số 02/2003/QĐ-TTg ngày 02/01/2003 quy định phạm vi mà BHXH được phép đầu tư, cụ thể: Mua trái phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu, công trái của Nhà nước và các ngân hàng thương mại của Nhà nước; Cho vay đối với quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển, các ngân hàng thương mại của Nhà nước, Ngân hàng chính sách của Nhà nước; Đầu tư vào các công trình kinh

tế trọng điểm quốc gia Thông qua các hoạt động trên, hiện quỹ BHXH đã và đang trở thành nguồn tài chính không nhỏ bổ sung thêm cho nguồn vốn ngân sách nhà nước để phục vụ đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội đất nước

1.3 Tổ chức BHXH Việt Nam và việc triển khai thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị trực thuộc

1.3.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy của BHXH Việt Nam giai đoạn 1995-2001:

BHXH Việt Nam được thành lập có chức năng giúp Thủ tướng Chính phủ quản lý quỹ BHXH và thực hiện các chế độ, chính sách BHXH theo pháp luật của Nhà nước Tuy nhiên vị trí BHXH Việt Nam trong giai đoạn này chưa được xác định

rõ thuộc loại cơ quan nào trong hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước

Theo Nghị định 19/CP, cơ cấu tổ chức bộ máy giúp việc Tổng Giám đốc ở Trung ương gồm 8 đơn vị trực thuộc BHXH Việt Nam:

- Ban Quản lý chế độ chính sách BHXH

- Ban Quản lý Thu BHXH

- Ban Quản lý chi BHXH

- Ban Kiểm tra - pháp chế

- Ban Kế hoạch - tài chính

- Ban tổ chức - cán bộ

Trang 17

- Trung tâm Thông tin - khoa học

Trong quá trình hoạt động để đáp ứng yêu cầu thực tiễn đã thành lập thêm các phòng: Phòng Quản lý BHXH Quốc phòng - an ninh, Phòng Quan hệ quốc tế, Phòng Quản lý công nghệ thông tin Các đơn vị trực thuộc có chức năng chỉ đạo, quản lý,

hướng dẫn địa phương theo lĩnh vực công tác được phân công

ë tỉnh, giúp việc Giám đốc BHXH tỉnh có 05 hoặc 06 phòng chức năng trực thuộc: - Phòng Quản lý Chế độ chính sách BHXH

Đối với BHXH huyện có nhiệm vụ là quản lý đối tượng đăng ký hưởng chế độ BHXH; đôn đốc, theo dõi thu, nộp BHXH đối với người sử dụng lao động và người lao động thuộc địa bàn quản lý; tổ chức mạng lưới hoặc trực tiếp chi trả các chế độ BHXH cho người được hưởng trên địa bàn huyện Đây là cấp cuối cùng và trực tiếp thực hiện các chế độ BHXH đối với người tham gia bảo hiểm, không cơ cấu tổ chức thành các phòng mà bố trí cán bộ, công chức đảm nhiệm theo mảng công việc để giúp việc cho Giám đốc BHXH huyện Căn cứ vào tiêu chí địa bàn, quy mô dân số,

số lượng đơn vị tham gia để bố trí số lượng cán bộ phụ trách cho phù hợp Có thể khái quát cơ cấu tổ chức bộ máy bằng sơ đồ sau:

Trang 19

Trong quá trình hoạt động, thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội và các Nghị định của Chính phủ về chia tách, điều chỉnh địa giới hành chính, về tổ chức bộ máy của các đơn vị trực thuộc Chính phủ, BHXH Việt Nam đã có những điều chỉnh, kiện toàn tổ chức bộ máy cho phù hợp như: Ở Trung ương thành lập phòng Quan hệ quốc

tế, tách mảng công nghệ thông tin ra khỏi Trung tâm thông tin - khoa học để thành lập Phòng Quản lý công nghệ thông tin, thành lập Tạp chí BHXH Ở địa phương,

để tăng cường chức năng kiểm tra việc thực hiện các chế độ BHXH đã tiến hành tách chức năng kiểm tra ra khỏi Phòng Tổ chức - Hành chính để thành lập Phòng Kiểm tra

Như vậy, các cơ quan chuyên môn nghiệp vụ BHXH được tổ chức, bố trí thống nhất từ Trung ương đến huyện tùy thuộc vào chức năng, nhiệm vụ của từng cấp để tổ chức thành các phòng hay bố trí cán bộ phụ trách Ví dụ: ở Trung ương có Ban Chế độ chính sách, ở tỉnh được bố trí thành phòng Chế độ chính sách, ở huyện thì bố trí là cán bộ làm chế độ chính sách Điều này cho thấy mỗi lĩnh vực công việc đều có cán bộ có trình độ chuyên môn đảm nhiệm, điều đó là cơ sở để hình thành nên chức danh và tiêu chuẩn cán bộ, công chức cho từng lĩnh vực công việc đó

1.3.2 Hệ thống tổ chức bộ máy của BHXH Việt Nam giai đoạn 2002 đến nay:

Căn cứ Nghị định 100/2002/NĐ-CP ngày 06/12/2002 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam, BHXH Việt Nam được xác định là cơ quan sự nghiệp thuộc Chính phủ có chức năng thực hiện chính sách, chế độ BHXH, BHYT và quản lý quỹ BHXH theo quy định của pháp luật BHXH Việt Nam có 19 nhiệm vụ, quyền hạn sau:

1 Xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt:

+ Chiến lược phát triển ngành BHXH và kế hoạch dài hạn, năm năm về thực hiện chính sách, chế độ BHXH;

+ Đề án bảo tồn giá trị và tăng trưởng Quỹ BHXH;

Trang 20

2 Chỉ đạo và tổ chức thực hiện chính sách, chế độ BHXH; thu các khoản đóng góp BHXH bắt buộc và tự nguyện; chi các khoản trợ cấp về BHXH cho đối tượng tham gia BHXH đầy đủ, thuận tiện, đúng thời hạn theo quy định của pháp luật;

và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt;

6 Ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện việc giải quyết các chế độ BHXH và nghiệp vụ thu, chi BHXH theo thẩm quyền; quản lý nội bộ ngành BHXH Việt Nam;

7 Tổ chức hợp đồng với các cơ sở khám, chữa bệnh hợp pháp để phục vụ người có sổ, thẻ BHYT theo quy định của pháp luật;

8 Kiểm tra việc ký hợp đồng và việc thu, chi BHXH đối với cơ quan, đơn vị,

tổ chức sử dụng lao động, cá nhân, cơ sở khám chữa bệnh; kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và cơ quan cấp trên của đơn vị sử dụng lao động, cơ sở khám chữa bệnh để xử lý những hành vi vi phạm pháp luật về BHXH;

9 Từ chối việc chi các chế độ BHXH khi đối tượng tham gia bảo hiểm không

đủ điều kiện hưởng bảo hiểm theo quy định của pháp luật hoặc khi có căn cứ pháp lý

về các hành vi giả mạo, khai man hồ sơ để hưởng bảo hiểm;

10 Bồi thường mọi khoản thu, chi sai quy định của pháp luật về chế độ BHXH cho đối tượng tham gia BHXH;

11 Giải quyết khiếu nại, tố cáo của tổ chức và cá nhân về việc thực hiện chính sách, chế độ BHXH theo quy định của pháp luật;

12 Lưu trữ hồ sơ của đối tượng tham gia và hưởng chế độ BHXH theo quy định của pháp luật;

Trang 21

13 Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành hoạt động BHXH;

14 Tổ chức đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ BHXH;

15 Tổ chức công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến chính sách, chế độ BHXH;

16 Thực hiện hợp tác quốc tế về BHXH theo quy định của pháp luật;

17 Chủ trì, phối hợp với các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội,

tổ chức xã hội ở Trung ương và địa phương, với các bên tham gia BHXH để giải quyết các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện chính sách, chế độ BHXH theo quy định của pháp luật;

18 Quản lý tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước; tài chính và tài sản của BHXH Việt Nam theo quy định của pháp luật;

19 Thực hiện chế độ báo cáo với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật;

So với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giao cho BHXH Việt Nam tại Nghị định 19/CP ngày 16/02/1995 trước đây, BHXH Việt Nam được giao thêm một số nhiệm vụ là thực hiện các chế độ, chính sách BHYT Về thẩm quyền, đã được mở rộng cơ chế tự chủ và được giao thêm một số nhiệm vụ, phù hợp với vị trí là cơ quan trực thuộc Chính phủ, như: Được ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện giải quyết chế độ, chính sách, công tác thu, chi và các văn bản quản lý nội bộ ngành; được trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển ngành, kế hoạch dài hạn, năm năm về thực hiện chế độ, chính sách BHXH, các đề án bảo tồn giá trị và tăng trưởng quỹ; tổ chức thực hiện các nhiệm vụ về BHYT; tổ chức đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về BHXH, BHYT; tổ chức nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành hệ thống

Về cơ cấu tổ chức:

Trang 22

Hệ thống tổ chức của BHXH Việt Nam được tiếp tục khẳng định là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Chính phủ, tổ chức và quản lý theo hệ thống dọc, ba cấp như quy định tại Nghị định 19/CP Ở Trung ương, giúp việc Tổng Giám đốc có 11 ban tham mưu và 6 đơn vị sự nghiệp trực thuộc, bao gồm:

1 Ban Chế độ Chính sách BHXH 10 Ban Hợp tác quốc tế

2 Ban Thu BHXH 11 Văn phòng

3 Ban Chi BHXH 12 Trung tâm nghiên cứu khoa học BHXH

4 Ban Kế hoạch tài chính 13 Trung tâm Đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ

BHXH

5 Ban BHXH tự nguyện 14 Trung tâm Lưu trữ

6 Ban Tổ chức cán bộ 15 Trung tâm Công nghệ thông tin

7 Ban Giám định y tế 16 Báo BHXH

8 Ban Tuyên truyền 17 Tạp chí BHXH

9 Ban Kiểm tra

Một số tổ chức mới được thành lập là: Ban BHXH Tự nguyện, Ban Giám định

y tế, Ban Tuyên truyền, Ban Hợp tác quốc tế (được nâng cấp lên từ Phòng Quan hệ quốc tế) Các ban giúp việc Tổng giám đốc có chức năng quản lý, chỉ đạo và hướng dẫn BHXH địa phương triển khai theo lĩnh vực được phân công

Ở cấp tỉnh, có 8 phòng nghiệp vụ giúp việc Giám đốc BHXH tỉnh, gồm: Phòng chế độ chính sách, Phòng Thu, Phòng Giám định chi, Phòng Kế hoạch tài chính, Phòng Bảo hiểm tự nguyện, Phòng Tổ chức hành chính, Phòng Kiểm tra, Phòng Công nghệ thông tin Riêng BHXH thành phố Hà Nội và BHXH thành phố

Hồ Chí Minh có thêm Phòng Cấp, sổ, thẻ BHXH và Phòng Quản lý hồ sơ Các phòng chức năng có nhiệm quản lý và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ thuộc lĩnh vực

đã được Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam quy định

Đối với BHXH huyện có nhiệm vụ là tổ chức thực hiện các chính sách, chế

độ BHXH, BHYT và quản lý tài chính BHXH trên địa bàn huyện Đây là cấp cuối

Trang 23

không cơ cấu tổ chức thành các phòng mà bố trí cán bộ đảm nhiệm theo mảng công việc để giúp việc cho Giám đốc BHXH huyện Căn cứ vào tiêu chí địa bàn, quy mô dân số, số lượng đơn vị tham gia để bố trí số lượng cán bộ phụ trách cho phù hợp

Có thể khái quát bằng sơ đồ sau:

1.4 Tình hình triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao của các đơn

đã được phân cấp cho BHXH tỉnh thực hiện theo Quyết định 1166/QĐ-BHXH ngày

18/4/2005 (xem phụ lục 2)

Đối với BHXH tỉnh, Phòng Chế độ chính sách có nhiệm vụ chính là tổ chức

thực hiện các chế độ BHXH đối với người lao động Kể từ tháng 12/2006, phòng được giao nhiệm vụ tổ chức quản lý việc chi trả các chế độ ốm đau, thai sản (trước đây do phòng Giám định chi thực hiện) Việc chuyển giao nhiệm vụ trên đã đảm bảo cho việc hướng dẫn, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đôn đốc từ Trung ương xuống địa phương được xuyên suốt, đầy đủ

Đối với BHXH huyện, thường bố trí từ một đến hai cán bộ làm công tác chế độ chính sách

1.4.1.2 Nhiệm vụ kế hoạch tài chính:

Được tổ chức thực hiện theo hệ thống ngành dọc từ Trung ương đến địa phương

Ở Trung ương, Ban Kế hoạch tài chính có nhiệm vụ quản lý và chỉ đạo thực hiện 4 lĩnh vực chính là: Công tác kế hoạch tài chính, công tác đầu tư phát triển và quản lý quỹ, công tác quản lý tài chính và kế toán thống kê, công tác xây dựng cơ bản

Trang 24

Các nhiệm vụ trên có phạm vi và tính chất công việc tương đối độc lập với nhau Ví

dụ công tác xây dựng cơ bản khác với công tác thống kê hạch toán kế toán và công tác đầu tư phát triển quỹ Theo Luật Bảo hiểm xã hội, Hội đồng Quản lý được giao nhiệm

vụ quyết định các hình thức đầu tư thay vì trước đây do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Luật cũng trao quyền chủ động cho BHXH Việt Nam trong việc quyết định các hình thức đầu tư theo quy định Chính vì vậy công tác đầu tư phát triển quỹ trong thời gian tới cần được chú trọng hơn nữa

Đối với BHXH tỉnh, Phòng Kế hoạch - tài chính chỉ có nhiệm vụ thực hiện công tác kế hoạch và quản lý tài chính, hạch toán kế toán bao gồm cả công tác chi trả

vụ xây dựng kế hoạch chi trả các chế độ BHXH, BHYT do phòng Kế hoạch tài chính thực hiện, chỉ có một phần nhiệm vụ chi BHXH (công tác xây dựng kế hoạch chi trả các chế độ BHXH ngắn hạn) trước đây do phòng Giám định Chi đảm nhiệm nay đã được chuyển sang Phòng Chế độ chính sách thực hiện (Theo Quyết định số 3559/QĐ ngày 18/12/2006) Đối với BHXH huyện thì bố trí cán bộ thực hiện nhiệm vụ chi trả

các chế độ BHXH (xem phụ lục 4)

1.4.1.4 Nhiệm vụ thu BHXH:

Được tổ chức thực hiện theo hệ thống dọc từ Trung ương đến tỉnh Ở Trung ương, Ban Thu có nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo tổ chức thực hiện thu BHXH của các đối tượng tham gia BHXH bắt buộc Đồng thời thực hiện công tác quản lý sổ, thẻ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế Tương tự như vậy, ở địa phương Phòng Thu thực hiện nhiệm vụ thu, cấp, sổ, thẻ BHXH đối với các đối tượng tham gia BHXH bắt buộc

Trang 25

(xem phụ lục 5) Đối với BHXH huyện, thường bố trí một cán bộ làm nghiệp vụ quản

lý thu BHXH

1.4.1.5 Nhiệm vụ BHXH tự nguyện:

Được tổ chức thực hiện theo hệ thống dọc từ Trung ương xuống địa phương

Ở Trung ương, Ban BHXH tự nguyện có nhiệm vụ chỉ đạo và tổ chức thực hiện các

chính sách BHXH tự nguyện Thực chất Ban BHXH tự nguyện cũng thực hiện đầy

đủ các nghiệp vụ của một loại hình bảo hiểm, bao gồm: Công tác thu bảo hiểm tự

nguyện; công tác quản lý chi trả bảo hiểm tự nguyện; công tác quản lý thẻ bảo hiểm

tự nguyện; kế hoạch khai thác bảo hiểm tự nguyện (xem phụ lục 3) Tương tự như

vậy ở địa phương Phòng Bảo hiểm tự nguyện cũng được giao tổ chức thực hiện các

lĩnh vực như vậy

Đối với BHXH huyện, công tác này thường được bố trí một vài cán bộ đảm nhiệm

1.4.1.6 Nhiệm vụ Giám định y tế:

Được tổ chức thực hiện theo hệ thống dọc từ Trung ương xuống địa phương,

đảm bảo sự điều hành xuyên suốt của công tác hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra và tổ

chức thực hiện Ở Trung ương Ban Giám định Y tế có nhiệm vụ quản lý công tác

giám định, đảm bảo quyền lợi khám chữa bệnh cho các đối tượng tham gia BHYT

ë địa phương, Phòng Giám định có nhiệm vụ quản lý công tác chi trả chế độ khám

chữa bệnh; thực hiện giám định y tế, phục vụ thanh quyết toán chi phí khám chữa bệnh

(xem phụ lục 6)

Đối với BHXH huyện công tác này thường do một số cán bộ kiêm nhiệm cả

công tác giám định y tế và thanh toán chế độ khám chữa bệnh

1.4.1.7 Nhiệm vụ công nghệ thông tin:

Ở Trung ương, Trung tâm công nghệ thông tin có chức năng quản lý và tổ

chức ứng dụng công nghệ thông tin vào các lĩnh vực hoạt động của ngành Ở địa

phương ngoài việc tổ chức quản lý và ứng dụng công nghệ thông tin ở BHXH tỉnh

và BHXH huyện thì phòng còn có thêm nhiệm vụ quản lý hồ sơ, tài liệu lưu trữ của

BHXH tỉnh và lập, in danh sách chi trả BHXH trên cơ sở báo cáo tổng hợp của

Trang 26

Phòng Chế độ chính sách Như vậy phòng Công nghệ thông tin của BHXH tỉnh cùng thực hiện 2 lĩnh vực có tính chất độc lập, khác biệt Phòng công nghệ thông tin phải chịu sự chỉ đạo về nghiệp vụ của Trung tâm Công nghệ thông tin và Trung tâm Lưu trữ

(xem phụ lục 17)

1.4.2 Nhiệm vụ quản lý, phục vụ nội bộ: Bao gồm các nhiệm vụ thuộc các

lĩnh vực như tổ chức cán bộ, quản trị, văn phòng, kiểm tra, hợp tác quốc tế, thư viện Đây là những nhiệm vụ nhằm phục vụ cho các hoạt động nghiệp vụ và duy trì

sự phối hợp giữa các đơn vị, bộ phận trong hệ thống của bất kỳ một tổ chức, cơ quan Nhà nước nào Tùy thuộc quy mô và nhiệm vụ của từng cấp mà hình thành các đơn

vị, bộ phận cho phù hợp Ở Trung ương là cơ quan quản lý, đầu mối cho tất cả các lĩnh vực trên và tổ chức thành các bộ phận tương ứng Ở địa phương chỉ tổ chức thành các bộ phận như: tổ chức hành chính, kiểm tra Riêng công tác tuyên truyền

được đưa về bộ phận hành chính thực hiện (xem phụ lục 7,8,9,10,11)

1.4.3 Một số nhiệm vụ hỗ trợ khác: Do các tổ chức sự nghiệp trực thuộc

BHXH Việt Nam thực hiện để phục vụ cho nhiệm vụ chung của ngành như báo chí, nghiên cứu khoa học, đào tạo bồi dưỡng, lưu trữ, công nghệ thông tin Căn cứ vào quy mô và tính chất công việc mà các tổ chức sự nghiệp này cũng có một số nhiệm

vụ quản lý, phục vụ chung như tổ chức, hành chính, quản trị (xem phụ lục

12,13,14,15,16)

1.5 Tình hình đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngành BHXH:

Tổ chức và cán bộ là thực thể của một bộ máy quản lý, có quan hệ hữu cơ với nhau Có tổ chức thì phải có cán bộ và ngược lại là cán bộ thì phải nằm trong một tổ chức nhất định Trong mối quan hệ giữa tổ chức và cán bộ, một mặt cán bộ là yếu tố quyết định chất lượng của tổ chức, ngược lại tổ chức cũng có vai trò rất quan trọng tác động trên hai mặt ngược chiều nhau: nếu tổ chức hợp lý, khoa học, bố trí sử dụng cán bộ phù hợp thì cán bộ phát huy được khả năng, trình độ của họ, ngược lại nếu tổ chức thiết kế bộ máy không hợp lý, bố trí sử dụng cán bộ không đúng thì không

Trang 27

những không phát huy được vai trò, năng lực của cán bộ mà còn triệt tiêu động lực của mỗi người cán bộ và dẫn đến cản trở sự phát triển của tổ chức

Từ khi thành lập BHXH Việt Nam năm 1995, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được hình thành chủ yếu từ hai ngành, đó là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và ngành Lao động Thương binh và xã hội Tổng số cán bộ công chức, viên chức thời điểm này là 5423 người thuộc diện biên chế giao hưởng lương ngân sách Nhà nước và một số ít là lao động hợp đồng Trong đó số cán bộ có trình độ đại học trở lên là 1216 người chiếm 22,42%; số cán bộ có trình độ trung cấp là 2874 người

chiếm 53%; số cán bộ có trình độ sơ cấp là 1333 người chiếm 24,58% (Theo số liệu

Đề tài: Đổi mới tổ chức - cán bộ của BHXH Việt Nam theo cơ chế quản lý mới; năm 1997) Phần lớn trong số họ không được đào tạo cơ bản về công tác Bảo hiểm xã hội

vì trong hệ thống đào tạo của nước ta khi đó chưa có trường đại học, cao đẳng nào đào tạo chuyên ngành về BHXH Đội ngũ cán bộ này có trình độ ở nhiều ngành nghề khác nhau và trưởng thành do có quá trình làm việc lâu năm trong ngành, tích lũy được kinh nghiệm

Năm 2003, thực hiện chuyển giao BHYT sang BHXH Việt Nam Số lượng cán

bộ BHYT chuyển sang BHXH Việt Nam là 2.949 người Trong đó số cán bộ có trình

độ đại học và trên đại học là 1488 người chiếm 50,45%; số có trình độ cao đẳng là

76 người chiếm 2,57%, số có trình độ trung cấp là 962 người chiếm 32,6%

Tính đến nay đội ngũ cán bộ làm công tác BHXH, BHYT đã trưởng thành cả

về số lượng và chất lượng Toàn ngành có 11189 cán bộ, công chức, viên chức trong biên chế khung, trong đó số cán bộ có trình độ đại học trở lên chiếm 56%, số có trình độ cao đẳng chiếm tỷ lệ thấp 5,4%, số còn lại có trình độ trung cấp, sơ cấp chiếm 30,8% Đội ngũ cán bộ này có trình độ chuyên môn thuộc các chuyên ngành tài chính - kế toán, kinh tế, luật, y, dược, khoa học và xã hội và một số chuyên ngành khác như: tin học, sư phạm, trung học dạy nghề nông nghiệp và phát triển nông thôn, lao động - xã hội, thủy sản, ngoại ngữ, công đoàn, điều dưỡng…Trong đó số cán bộ

có chuyên ngành tài chính - kế toán chiếm 25,4%; chuyên ngành kinh tế chiếm 36,4%; chuyên ngành luật chiếm 3,6%; chuyên ngành y dược chiếm 15,8%; chuyên

Trang 28

ngành khoa học xã hội chiếm 4,4%; các chuyên ngành khác chiếm 14,4% Như vậy

có thể thấy số cán bộ có chuyên ngành BHXH vẫn chiếm tỷ lệ thấp trong số 14,4%

(Theo số liệu điều tra khảo sát của Ban TCCB tính đến thời điểm 31/12/2006)

Để đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ ngày càng tăng, các tỉnh còn thực hiện chế

độ lao động hợp đồng chuyên môn nghịêp vụ và hợp đồng vụ việc với tổng số lao

động hợp đồng của BHXH các tỉnh là gần 3.000 người Trong năm 2007 đã tiến

hành thi sát hạch vào biên chế khung số lao động hợp đồng này

-Về cơ cấu ngạch:

Bên cạnh số cán bộ làm công tác chuyên ngành BHXH và BHYT, tài chính -

kế toán, hệ thống BHXH còn có các cán bộ làm ở các bộ phận như nghiên cứu khoa

học, công nghệ thông tin, trung tâm đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ, lưu trữ, báo và

tạp chí Hiện nay phần lớn số cán bộ, công chức, viên chức của ngành được xếp vào

ngạch hành chính và tương đương Đối với cán bộ có trình độ từ đại học trở lên được

xếp ngạch chuyên viên, nếu đủ thời gian giữ bậc như quy định thì được thi nâng

ngạch lên chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp Đối với cán bộ có trình độ trung

cấp được xếp vào ngạch cán sự Cán bộ có trình độ sơ cấp hoặc chưa được đào tạo

sơ cấp được xếp vào ngạch nhân viên Số lượng cán bộ được bổ nhiệm vào các

ngạch hành chính và tương đương như sau:

Số

TT

Các ngạch đang áp dụng Trung ương Địa phương Tổng số

1 Chuyên viên cao cấp và tương

Trang 29

1.6.1 Những ưu điểm:

Qua 5 năm kể từ khi chuyển giao BHYT sang BHXH Việt Nam, đối tượng tham gia BHXH, BHYT đã tăng nhanh, theo đó số thu, chi BHXH, BHYT cũng tăng đáng kể qua các năm cho thấy mô hình tổ chức và cơ chế vận hành hệ thống của BHXH Việt Nam phù hợp với sự vận động của thực tế và được thực tế chấp nhận Cùng với việc tăng số thu, chi BHXH, trong quá trình triển khai nhiệm vụ, BHXH luôn quan tâm củng cố và hoàn thiện tổ chức bộ máy Bộ máy giúp việc ở Trung ương được tăng cường cả về tổ chức và vị trí công tác: Thành lập Ban Thi đua khen thưởng, Ban Hợp tác quốc tế Các phòng trực thuộc các Ban và tương đương cũng được thành lập mới hoặc kiện toàn lại Bộ máy của BHXH tỉnh và các thành phố trực thuộc trung ương cũng được sắp xếp kiện toàn lại theo hướng tinh gọn, hiệu quả, phân công trách nhiệm cơ bản rõ ràng hơn, khắc phục tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo về nhiệm vụ giữa các bộ phận, đáp ứng với yêu cầu phát triển của ngành, địa phương nhằm bảo đảm cho việc quản lý, điều hành hoạt động của toàn bộ hệ thống được đồng bộ, hiệu quả, phù hợp với tiến trình cải cách nền hành chính Nhà nước BHXH tỉnh được phân cấp trực tiếp thực hiện một số nhiệm vụ nhằm tạo sự chủ động và chịu trách nhiệm của đơn vị, đồng thời giảm bớt công việc giải quyết sự

vụ, tạo điều kiện để các Ban ở Trung ương tập trung vào việc quản lý, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của địa phương

1.6.2 Những tồn tại bất cập:

Việc xác định các nhiệm vụ một cách rõ ràng, cụ thể là cơ sở cho việc hình thành các chức danh cán bộ, công chức Qua rà soát nhiệm vụ của các bộ phận nghiệp vụ chuyên ngành BHXH cho thấy một số tồn tại, bất cập sau:

- Việc cấp thẻ BHYT, phiếu khám chữa bệnh chưa được quản lý thống nhất, hiện đang giao cho một số phòng ở BHXH tỉnh quản lý theo từng đối tượng tham gia Cụ thể: Phòng bảo hiểm tự nguyện cấp thẻ, phiếu khám chữa bệnh cho đối tượng tham gia BHYT tự nguyện; Phòng Chế độ chính sách thực hiện tiếp nhận, lập danh sách cấp thẻ, phiếu khám chữa bệnh cho đối tượng hưởng chế độ BHXH

Trang 30

thường xuyên như hưu trí, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; Phòng Thu cấp thẻ, phiếu khám chữa bệnh cho đối tượng tham gia BHXH bắt buộc Cùng một nghiệp

vụ nhưng lại do 3 phòng cùng thực hiện dẫn đến trùng lắp, ảnh hưởng đến việc tổng hợp chung và theo dõi đối tượng tham gia, trong khi đó, đối tượng tham gia BHYT ngày càng tăng nhanh theo lộ trình tiến tới BHYT toàn dân

- Hiện tại chỉ có BHXH của thành phố Hà Nội, BHXH thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh đang thực hiện thí điểm đề án cải cách hành chính một cửa được thành lập phòng quản lý sổ, thẻ, còn ở đa số BHXH các tỉnh, nhiệm vụ này do Phòng Thu đảm nhiệm Theo chiến lược và xu hướng phát triển của ngành trong thời gian tới, khi đối tượng tham gia và hưởng các chế độ BHXH tăng nên gấp nhiều lần hiện nay thì việc có nên để phòng Thu thực hiện cùng một lúc hai lĩnh vực khác nhau là vấn đề cần tính đến

- Nhiệm vụ của Ban Bảo hiểm xã hội tự nguyện bao gồm toàn bộ các nghiệp

vụ quản lý chi và thẩm định quyết toán, quản lý sổ, thẻ và khai thác phát triển đối tượng tham gia BHYT tự nguyện theo quy định của pháp luật Với những nhiệm vụ trên, Ban cũng phải tổ chức thành các bộ phận để thực hiện các nhiệm vụ tương ứng Như vậy sẽ không đảm bảo tính chuyên nghiệp cũng như việc giám sát lẫn nhau giữa các bộ phận trong Ban Quy định hiện hành giao cho Phòng Bảo hiểm tự nguyện nhiệm vụ quản lý việc chi trả đối với đối tượng tham gia và cơ sở khám chữa bệnh trên địa bàn BHXH tỉnh là chưa hợp lý vì nhiệm vụ này do Phòng Giám định phối hợp với Phòng Kế hoạch tài chính thực hiện Phòng Bảo hiểm tự nguyện không

có chức năng giám định hồ sơ khám chữa bệnh

- Phòng Công nghệ thông tin thuộc BHXH tỉnh hiện đang đảm nhiệm hai nhiệm vụ thuộc hai lĩnh vực khác nhau đó là quản lý ứng dụng công nghệ thông tin

và quản lý hồ sơ tài liệu lưu trữ của cơ quan BHXH tỉnh Đây là hai lĩnh vực độc lập

có chuyên môn và nghiệp vụ hoàn toàn khác nhau

Những hạn chế trên đây ảnh hưởng đến quá trình xây dựng chức danh công chức theo từng lĩnh vực, đòi hỏi phải được nghiên cứu để kiện toàn tổ chức bộ máy,

Trang 31

đề tài chỉ tập trung xác định các lĩnh vực hoạt động của ngành BHXH, các phần việc trong mỗi lĩnh vực để làm căn cứ cho việc xây dựng các chức danh và tiêu chuẩn công chức trong ngành

Trang 32

PhÇn 2

X©y dùng chøc danh vµ tiªu chuÈn nghiÖp vô c¸c ng¹ch

c«ng chøc cña ngµnh b¶o hiÓm x∙ héi 2.1 Cơ sở pháp lý của việc xây dựng hệ thống chức danh và tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức của BHXH Việt Nam

Ngay từ những năm 1990, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã giao cho Ban tổ chức cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) nhiệm vụ xây dựng trình Hội đồng

Bộ trưởng ban hành các chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức Nhà nước và được uỷ quyền ban hành các chức danh và tiêu chuẩn viên chức đối với từng ngành, lĩnh vực (Nghị định số 135/HĐBT ngày 7/5/1990 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ của Ban tổ chức cán bộ - Chính phủ) Tiếp đó Nghị định số 25/CP ngày 23/5/1993 của Chính phủ tiếp tục giao cho Ban tổ chức cán bộ Chính phủ ban hành tiêu chuẩn và thống nhất quản lý các ngạch công chức, viên chức làm cơ sở cho việc đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng, bổ nhiệm, thực hiện nâng ngạch, chuyển ngạch

Tính đến năm 2004 Nhà nước đã ban hành tiêu chuẩn các ngạch công chức, viên chức của 24 ngành nghề Các ngạch công chức, viên chức ở mỗi ngành được

Trang 33

- Loại C: Đào tạo sơ học Có ngạch nhân viên và tương đương

- Loại B: Đào tạo trung học Có ngạch cán sự và tương đương

- Loại A: Đào tạo từ đại học trở lên Gồm có 3 ngạch: chuyên viên và tương đương; chuyên viên chính và tương đương; chuyên viên cao cấp và tương đương Trong ngạch chuyên viên còn quy định chuyên viên ngạch AO cho người có trình độ cao đẳng

Mỗi ngạch công chức, viên chức đều thể hiện chức và cấp của từng vị trí chuyên môn, nghiệp vụ trong cơ cấu bộ máy của nền hành chính quốc gia thuộc hệ thống quản lý Nhà nước (được tổ chức theo ngành và theo lãnh thổ) có tên gọi (chức danh riêng); có tiêu chuẩn nghiệp vụ trong đó xác định rõ chức trách, nhiệm vụ, nội dung công việc phải làm ứng với độ phức tạp nhất định và yêu cầu cấp đào tạo ban đầu phải có Mỗi ngạch công chức gắn với một giải tiền lương bao gồm nhiều mức lương khác nhau thể hiện chính sách khuyến khích công chức yên tâm, tận tụy với công việc Trên cơ sở các ngạch công chức do Nhà nước quy định, mỗi ngành, đơn

vị rà soát xác định ngành, đơn vị mình có bao nhiêu lĩnh vực, từ đó mới có căn cứ xây dựng các chức danh tương ứng

Về hệ thống quản lý và đào tạo chuyên ngành BHXH:

Tuy nhiệm vụ thực hiện quyền lợi và các chế độ đãi ngộ cán bộ, công chức

đã có từ khi thành lập nước, song từ khi thành lập BHXH Việt Nam năm 1995 cho đến những năm 2000 chưa có một cơ sở đào tạo nào được giao soạn thảo giáo trình, tài liệu về nghiệp vụ chuyên sâu BHXH, BHYT đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thực tế của ngành Vì vậy ngay từ những năm đầu mới thành lập công tác đào tạo bồi dưỡng

đã được BHXH Việt Nam đặc biệt quan tâm Công tác xây dựng giáo trình, tài liệu chuyên ngành đã được chú trọng và hoàn chỉnh dần qua các năm BHXH Việt Nam

đã mở nhiều lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ BHXH, BHYT, giám định y tế, công tác tuyên truyền, kiểm tra, công tác thu, chi BHXH, tập huấn về thực hiện chế độ chính sách BHXH, BHYT…Hầu hết cán bộ làm nghiệp vụ chuyên môn bảo hiểm đều được cử đi các lớp bồi dưỡng, đến nay trình độ, nghiệp vụ của cán bộ trong ngành đã

Trang 34

được cập nhật, đáp ứng được những yêu cầu nhiệm vụ trước mắt của ngành trong giai đoạn mới

Cho đến năm 2005, việc đào tạo cử nhân BHXH đã được giao cho trường Đại

học Lao động xã hội (được thành lập trên cơ sở Trường Cao đẳng lao động xã hội)

do Bộ Lao động - Thương binh và xã hội trực tiếp quản lý Như vậy về trình độ đào tạo đối với chuyên ngành đã phù hợp với ngạch công chức chuyên ngành BHXH Đây chính là cơ sở cho việc hình thành chức danh của ngành BHXH Tuy nhiên nội dung đào tạo của trường còn nhiều vấn đề cần sửa đổi để phù hợp với thực tiễn công tác BHXH Bên cạnh đó cũng có một số trường đang thực hiện đào tạo cử nhân chuyên ngành bảo hiểm nói chung như trường Đại học Kinh tế quốc dân, trường Đại học Công đoàn…

Về việc áp dụng các chức danh, tiêu chuẩn ngạch công chức, viên chức của BHXH Việt Nam:

Do đội ngũ cán bộ, công chức ngành BHXH được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau nên ngay từ khi thành lập ngành, để thuận lợi trong việc quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của ngành, BHXH Việt Nam đã áp dụng ngạch công chức hành chính trong việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong toàn hệ thống từ Trung ương xuống địa phương Đối với số cán bộ công chức, viên chức của BHYT chuyển sang đã được chuyển xếp lại ngạch hành chính cho thống nhất trong toàn ngành Song thực tế hiện nay vẫn còn tồn tại một số chức danh chưa chuyển sang ngạch hành chính như: ngạch công chức ngành y tế (dược tá, bác sĩ), ngạch kinh tế viên bảo hiểm Riêng đối với số cán bộ làm công tác kế toán tài chính thì áp dụng ngạch công chức của ngành tài chính, kế toán, hoặc một số ngành đặc thù như báo, tạp chí, lưu trữ, kỹ sư chuyên ngành thì vẫn áp dụng ngạch công chức của ngành đó Tuy nhiên việc áp dụng một chức danh nghiệp vụ cho tất cả các vị trí công tác là chưa phù hợp, chưa đáp ứng được yêu cầu công việc của một ngành có những đặc thù nghề nghiệp riêng

Trang 35

2.2.1 Khái niệm về tiêu chuẩn công chức:

Tiêu chuẩn công chức là những quy định cụ thể về yêu cầu về trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức, quá trình đào tạo và công tác của công chức theo những tiêu chí nhất định đối với từng ngành nghề riêng biệt

Tiêu chuẩn công chức có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH và HĐH

là cơ sở để tuyển dụng, sắp xếp công chức và các ngạch bậc khác nhau, là căn cứ để

đề bạt công chức vào những vị trí khác nhau Đối với tất cả các nền công vụ, việc xây dựng tiêu chuẩn công chức là một nội dung quan trọng để thực hiện các nhiệm

vụ của Nhà nước Ở nước ta tiêu chuẩn công chức được xác định theo các tiêu chí sau:

- Tiêu chuẩn về nhân thân:

Bao gồm các yếu tố về quốc tịch, sức khoẻ, quyền công dân Điều kiện tiên quyết để một người được tuyển dụng vào công vụ phải là công dân Việt Nam, mang quốc tịch Việt Nam (Điều 1 - Pháp lệnh cán bộ công chức) Điều này xuất phát từ yêu cầu của thể chế tức là những đòi hỏi cơ bản về hoàn cảnh chính trị, một yêu cầu chính trị cơ bản của mọi quốc gia khi tuyển dụng công chức

Khi thi hành công vụ, công chức phải có sức khoẻ Nếu công chức không có sức khoẻ sẽ không hoàn thành được nhiệm vụ và ảnh hưởng đến công việc của Nhà nước Vì vậy khi tuyển dụng công chức cần phải chú ý đến vấn đề sức khoẻ của công chức đó và tình trạng sức khoẻ này phải được duy trì liên tục trong suốt quá trình công chức đó làm việc Nhà nước đã có những quy định về chế độ bảo vệ sức khoẻ cho cán bộ, công chức

Công chức thi hành công vụ là nhân danh Nhà nước Vì vậy công chức đó phải có đầy đủ các quyền công dân, những người bị truy tố, đang thụ án, hoặc mất phẩm chất, đạo đức, bị tước bỏ quyền công dân, những người mắc bệnh tâm thần…thì không thể có tư cách nhân danh Nhà nước để thực thi công vụ

- Tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức:

Cán bộ, công chức là công bộc của dân “Cán bộ, công chức phải trung thành với Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ sự an toàn, danh dự và

Trang 36

lợi ích quốc gia”(Điều 6-Pháp lệnh cán bộ công chức) Xét về bản chất thì đây là tiêu chuẩn hàng đầu và đương nhiên phải có của công chức Nội dung tiêu chuẩn đạo đức gồm 4 tiêu chí sau:

Thái độ chính trị: đó là sự kiên trì đường lối, chấp hành tốt chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước; tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Phẩm chất tư tưởng: Thể hiện ở sự liêm chính, chí công, vô tư, công minh chính trực; đoàn kết nội bộ; nhiệt tình công tác, không cục bộ, bản vị

Đạo đức xã hội: Giữ gìn trật tự xã hội, thực hiện nếp sống văn hoá; quan tâm đến gia đình, tập thể; coi trọng nhân tài, có tinh thần đấu tranh chống tiêu cực

Đạo đức nghề nghiệp: Tuân thủ và chấp hành nghiêm túc những quy phạm nghề nghiệp; bảo vệ bí mật quốc gia và danh dự nghề nghiệp

- Tiêu chuẩn về tuổi tác:

Trước hết một người muốn tham gia công vụ phải đáp ứng được trách nhiệm dân sự và được pháp luật thừa nhận là có đủ năng lực hành vi và chịu trách nhiệm pháp lý về những hành vi của mình Đồng thời phải đảm bảo trong độ tuổi lao động

do Luật Lao động quy định

Ngoài trình độ cần phải có để đáp ứng công vụ được giao, còn cần có thời gian để tích luỹ kinh nghiệm thì mới đảm nhiệm được những nhiệm vụ phức tạp hơn, hoặc được giao những trọng trách quan trọng hơn Chính vì vậy Nhà nước đã

có những văn bản quy định điều kiện để thi nâng ngạch, điều kiện để bổ nhiệm cán

bộ lãnh đạo, quản lý…

- Tiêu chuẩn về trình độ, năng lực:

Năng lực là yếu tố quan trọng của công chức, là một tiêu chuẩn để kiểm tra trước khi tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ, công chức trong thời kỳ mới Năng lực công chức được nhìn nhận từ 02 mặt: Sự hiểu biết và nhận thức cả về chính trị, xã hội cũng như chuyên môn nghiệp vụ; năng lực quản lý, thực hiện công việc, khả năng diễn đạt, tính năng động trong giải quyết tình huống Năng lực công chức thể hiện

Trang 37

Trình độ hiểu biết;

Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ;

Trình độ nhận thức, khả năng giải quyết công việc;

Trình độ quản lý

Nếu đạo đức là tiêu chuẩn mang nặng tính định tính thì năng lực lại có thể định lượng một các rõ ràng cụ thể Căn cứ vào tiêu chuẩn về trình độ, năng lực, người ta xây dựng tiêu chuẩn nghiệp vụ của các chức danh công chức, viên chức trong hệ thống các cơ quan Nhà nước.Việc xây dựng hệ thống tiêu chuẩn các chức danh công chức ngành BHXH mang tính khoa học và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cũng phải tuân theo những nguyên tắc như khi xây dựng tiêu chuẩn các chức danh công chức nói chung

2.2.2 Các nguyên tắc khi xây dựng tiêu chuẩn:

2.2.2.1 Nguyên tắc cấu trúc: Nguyên tắc này xuất phát từ việc xác định các

tiêu chí cơ bản của tiêu chuẩn công chức nói chung Mỗi tổ chức có vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ và lĩnh vực hoạt động khác nhau nên việc xây dựng tiêu chuẩn, chức danh công chức cho lĩnh vực hoạt động đó phải đảm bảo sự hài hoà cần có giữa các tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn riêng của lĩnh vực hoạt động Các tiêu chuẩn chức danh đều phải được xác định ở 3 tiêu chí cơ bản:

Phần chức trách: Dùng để mô tả nội dung chức vụ ngạch Trong đó thể hiện

rõ vị trí, chức năng, phạm vi trách nhiệm của người công chức đó Tiếp đó phải xác định nội dung công việc và độ phức tạp của công việc mà trong thời gian giữ ngạch người công chức phải từng bước làm được thành thạo những yêu cầu của tiêu chuẩn ngạch

Phần hiểu biết: Là những yêu cầu về mặt tri thức của người công chức giữ ở

ngạch đó cần phải biết như: kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, hiểu biết về chính trị, xã hội

và khả năng hành động Những hiểu biết này là cơ sở để người công chức có thể làm được những phần việc mà chức trách yêu cầu

Trang 38

Phần yêu cầu trình độ: Xác định mức đào tạo tối thiểu cần có của ngạch

công chức đó Gồm các văn bằng, chứng chỉ phải có để người công chức thực hiện được nhiệm vụ được giao Tiêu chuẩn của từng ngạch, đảm bảo không được thấp hơn tiêu chuẩn chung Đây cũng là điều kiện để người công chức có khả năng học tập nghiên cứu phấn đấu để đạt lên những ngạch cao hơn

2.2.2.2 Nguyên tắc thực tiễn: Nguyên tắc này yêu cầu khi xây dựng tiêu

chuẩn công chức phải xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, yêu cầu quản lý nhà nước trong quá trình hội nhập khu vực và thế giới Thực tiễn vận động và phát triển thì tiêu chuẩn cũng cần điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện theo từng giai đoạn Như vậy trong quá trình áp dụng do yêu cầu của nhiệm vụ mà tiêu chuẩn sẽ được bổ sung, thay thế bằng những tiêu chuẩn phù hợp hơn

2.2.2.3 Nguyên tắc pháp chế: Xây dựng tiêu chuẩn công chức phải nhằm bố

trí để sử dụng đúng người, đúng việc, đúng vị trí của cơ quan sử dụng công chức Muốn vậy các yếu tố liên quan đến tiêu chuẩn cần phải được thể chế bằng văn bản

cụ thể để có hiệu lực thi hành

2.2.2.4 Nguyên tắc kế thừa: Việc xây dựng tiêu chuẩn chức danh cần xuất

phát từ những gì thực tế đã và đang có, nếu tiêu chuẩn đó vẫn phù hợp yêu cầu nhiệm vụ và phù hợp với tiêu chuẩn của ngành nghề có tính chất tương tự Việc phủ

nhận toàn bộ những tiêu chuẩn đang có sẽ gây xáo trộn trong đội ngũ công chức

2.3 Xây dựng chức danh:

Căn cứ vào quy định của nhà nước về quản lý cán bộ, công chức theo các ngành nghề chuyên môn, đào tạo và các nhiệm vụ đặc thù của ngành BHXH, tên gọi chức danh gốc của ngành BHXH vừa phải đảm bảo cả hai lĩnh vực bảo hiểm đó là BHXH và BHYT và vừa thể hiện đặc trưng ngành nghề Đề nghị tên gọi chức danh gốc được xác định như sau:

- Chuyên viên cao cấp Bảo hiểm (có trình độ từ sau đại học trở lên)

- Chuyên viên chính Bảo hiểm (có trình độ từ đại học trở lên)

Trang 39

- Cán sự Bảo hiểm (có trình độ trung cấp)

Căn cứ vào các lĩnh vực quản lý của ngành và đặc tính lao động của công chức có thể chia thành 03 nhóm:

- Nhóm quản lý nghiệp vụ: gồm các chức danh dành cho công chức thuộc các lĩnh vực có tính chất quản lý, chỉ đạo, thực hiện nghiệp vụ bảo hiểm như: kế hoạch tài chính, chế độ chính sách, công tác thu, chi trả BHXH, công tác bảo hiểm xã hội

tự nguyện, giám định y tế

Trên cơ sở xác định các lĩnh vực cụ thể sẽ xác định các chức danh cụ thể của nhóm Chức danh gốc là căn cứ để xây dựng các chức danh cụ thể, mang tính đặc thù của ngành

- Nhóm quản lý chung: gồm các chức danh dành cho công chức làm công tác trong các lĩnh vực tổ chức, hành chính, pháp chế, tuyên truyền, kỹ thuật, hợp tác quốc tế

- Nhóm hỗ trợ công tác nghiệp vụ bảo hiểm: gồm các chức danh dành cho công chức làm công tác trong các lĩnh vực nghiên cứu, đào tạo, lưu trữ, báo, tạp chí, công nghệ thông tin

Vận dụng các chức danh thuộc các lĩnh vực trên đã được nhà nước ban hành

và căn cứ vào đặc thù nhiệm vụ của ngành để xây dựng các chức danh cụ thể Đối với các đơn vị sự nghiệp trực thuộc BHXH Việt Nam, bên cạnh nhiệm vụ đặc thù của đơn vị cũng có các nhiệm vụ mang tính hỗ trợ, phục vụ như tổ chức hành chính, văn thư, kế toán, quản trị

2.3.1 Nhóm quản lý nghiệp vụ gồm các lĩnh vực cụ thể sau:

1 Công tác Kế hoạch tài chính có 03 lĩnh vực:

Kế hoạch và đầu tư Đầu tư xây dựng cơ bản Tài chính kế toán

2 Công tác chế độ chính sách BHXH, BHYT có 01 lĩnh vực:

Chế độ chính sách

3 Công tác thu BHXH có 02 lĩnh vực:

Trang 40

Quản lý thu BHXH, BHYT Quản lý sổ, thẻ

4 Công tác chi trả BHXH : Quản lý chi

5 Công tác bảo hiểm xã hội tự nguyện có 03 lĩnh vực:

Quản lý thu, khai thác bảo hiểm tự nguyện Quản lý chi

Quản lý sổ, thẻ

6 Công tác giám định y tế có 01 lĩnh vực:

Giám định y tế

2.3.2 Nhóm quản lý chung gồm các lĩnh vực cụ thể sau:

1 Công tác hành chính, văn phòng có 6 lĩnh vực sau:

Công tác tổ chức nhân sự

Pháp chế Hành chính, tổng hợp Văn thư

Thư viện Quản trị 2.Công tác tuyên truyền:

3 Công tác kiểm tra :

5 Công tác đào tạo, bồi dưỡng: Quản lý đào tạo

6 Công nghệ thông tin:

Ngày đăng: 15/05/2014, 12:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
28. Đề tài: Nghiên cứu xây dựng luận cứ khoa học cơ bản để hoàn thiện; năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng luận cứ khoa học cơ bản để hoàn thiện
Năm: 2001
1. Sắc lệnh số 20/SL ngày 16.02.1947 quy định về chế độ Hưu bồng thường tật và tiền tuất cho thân nhân tử sĩ Khác
2. Sắc lệnh số 76/SL ngày 20.5.1950 ban hành Quy chế công chức Việt Nam Khác
3. Sắc lệnh số 77/SL ngày 20.5.1950 quy định chế độ đối với công nhân giúp việc Chính phủ trong thời kỳ kháng chiến Khác
4. Nghị định 218/CP ngày 27.12.1961 quy định điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH đối với công nhân, viên chức Nhà nước Khác
5. Nghị định số 39/CP ngày 22.03.1962 quy định nội dung thu, chi của quỹ Bảo hiểm xã hội Khác
6. Quyết định số 45/HĐBT ngày 24/4/1989 về việc thu một phần viện phí y tế Khác
7. Quyết định số 131-HĐBT ngày 30.10.1986 sửa đổi tỷ lệ trích nộp kinh phí bảo hiểm do Tổng Công đoàn Việt Nam quản lý Khác
8. Quyết định số 40-HĐBT ngày 16.03.1988 sửa đổi tỷ lệ trích nộp kinh phí bảo hiểm xã hội do Bộ Lao động - thương binh và xã hội quản lý Khác
9. Nghị định số 135/HĐBT ngày 07/5/1990 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ của Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ Khác
10. Nghị định 299/HĐBT ngày 15/8/1992 ban hành Điều lệ bảo hiểm y tế Khác
11. Nghị định số 25/CP ngày 23/5/1993 quy định tạm thời chế độ tiền lương mới của công chức, viên chức hành chính, sự nghiệp và lực lượng vũ trang Khác
12. Quyết định số 414/TCCP ngày 29/5/1993 về việc ban hành tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức ngành hành chính Khác
13. Thông tư 444/TCCP ngày 05/6/1993 Hướng dẫn áp dụng tiêu chuẩn các ngạch công chức hành chính Khác
14. Nghị định số 43/CP ngày 22.6.1993 quy định tạm thời chế độ Bảo hiểm xã hội Khác
15. Quyết định 428/QĐ-TCCP ngày 02/6/1993 ban hành tiêu chuẩn nghiệp vụ ngạch phóng viên Khác
16. Nghị định số 19/CP ngày 16/02/1995 về việc thành lập BHXH Việt Nam Khác
17. Quyết định số148/1998/QĐ-BKHCNMT ngày 18/02/1998 về việc ban hành tiêu chuẩn nghịêp vụ cụ thể của các ngạch công chức quản lý hành chính thuộc lĩnh vực khoa học và công nghệ Khác
18. Quyết định số 20/2002/QĐ-TTg ngày 24/01/2002 chuyển Bảo hiểm y tế Việt Nam sang Bảo hiểm xã hội Việt Nam Khác
19. Nghị định 100/2002/NĐ-CP ngày 06/12/2002 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w