1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu danh mục thuốc chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế thực trạng và giải pháp

77 984 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu danh mục thuốc chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế thực trạng và giải pháp
Trường học Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Y học
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 2,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bản nhận xét đề tài nghiên cứu khoa học "Nghiên cứu đanh mục thuốc chữa bệnh cho người tham gia BHYT- Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” Để tài nghiên cứu khoa học: "Nghiên cứu danh m

Trang 1

BAO HIEM XA HOI VIET NAM TRUNG TÂM NGHIÊN CUU KHOA HOC

DE TAI NGHIEN CUU KHOA HOC:

NGHIEN COU DANH MUC THUOC CHUA BENH CHO

NGƯỜI THAM GIA BẢO HIỂM Y TẾ - THUC TRANG VA GIAI PHAP

CHU NHIEM: NGUYEN DUC NGOC

Hà Nội - 2004

1439 Ẳđo( 2/9)

Trang 3

NHAN XET DE TAIKHOA HOC

ĐỀ TÀI:

Nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc trong điều trị bệnh nhân bảo

hiểm y tế Thực trạng và một số giải pháp đề xuất”

Của tác giả Nguyễn Đức Ngọc

1 TINH CAP THIET CUA DE TAL:

Một trong những vấn đẻ xã hội quan tâm tới công tác y tế là chất lượng khám chữa bệnh Mà trong chữa bệnh thuốc đóng vai trò cực kỳ quan

trọng, đôi khi là yếu tố quyết định kết quả điều trị

Danh mục thuốc hạn hẹp ảnh hưởng tới quyền lợi người tham gia bảo

hiểm Nhưng với ngân quỹ có hạn không thể đáp ứng hoàn toàn cho người tham gia Danh mục thuốc không thể là tất cả các thuốc có trên thị trường một phần đo ngân sách nhưng một phần cũng là do đảm bảo tính hiểu quả

và an toàn trong điều trị đối với người tham gia bảo hiểm

Và để có được một danh mục thuốc an toàn hợp lý cũng cần có một cơ chế để xây dựng và cập nhật danh mục thuốc

Vì vậy vấn đề tác giả đề cập trong đề tài là vấn đề cấp thiết đáp ứng được

đòi hỏi của cơ quan BHXH và đông đảo người tham gia bảo hiểm y tế hiện nay

2 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI:

Đề tài dài 65 trang (kể cả mục lục) Phần mở đầu dài 4 trang Phần nội dung nghiên cứu có 3 chương Đây là phần cơ ban của để tài, gồm các

mục:

-_ tổng quan về danh mục thuốc - khảo sát thực tại - dé xuất giải pháp

đài 53 trang Phần kết luận 2 trang Qua bố cục của để tài cũng nhận thấy tác giả đã giành phần cơ bản cho nội dung nghiên cứu

3 THÀNH CÔNG CỦA ĐỀ TÀI:

Trong đề tài tác giả xác định mục tiêu là:

-_ khảo sát một số bất cập trong sử dụng thuốc

-_ kinh nghiệm xây dựng danh mục thuốc của nước ngoài

-_ để xuất mở rộng danh mục thuốc

Mục tiêu của đề tài đã nói lên tính cấp thiết của để tài Day 14 mot dé tai nghiên cứu chứ không phải là một để án (theo quan điểm của BHXH VN) nhưng tác giả lại có nhiều số liệu điều tra khảo sát công phu, chính xác,

Trang 4

khách quan để chứng minh cho quan điểm của mình, đây cũng là các số liệu phản ánh đúng tình hình sử dụng thuốc trong điều trị cho bệnh nhân BHYT hiện nay trên cả nước Đây cũng là một cố gắng lớn của tập thể tác

ia,

Vain dé tac giả để xuất là hợp lý và có thể áp dụng được trong tình hình

hiện nay Hiện chúng ta chỉ có một danh mục thuốc được BHXH thanh toán, vì vậy tác giả gợi ý thêm danh mục thuốc được thanh toán một phần tuỳ nhóm thuốc Điều đó làm tăng thêm quyền lợi của người tham gia bảo

hiểm và tạo sự linh hoạt cho bác sĩ điều trị Vấn để này cũng phù hợp với

phương thức thanh toán của nhiều nước

Vấn đề cơ bản thứ hai mà tác giả đề xuất là thành lập hội đồng tư vấn

cũng là một vấn để cần được quan tâm Vì thuốc là một yếu tố quan trọng trong điều trị và cũng là một sản phẩm tiến bộ không ngừng, vì vậy luôn

phải cập nhật danh mục thuốc để đảm bảo danh mục thuốc không bị lạc hậu và loại bỏ được các loại thuốc kém hiệu quả, không an toàn và tốn

kém cho ngân sách Nên có một hội đồng thường trực để xây dựng danh

mục thuốc là cần thiết

4 THIẾU SÓT CỦA ĐỀ TÀI:

Bên cạnh những thành công cơ bản đề tài còn có những thiếu sót cũng cần

phải sửa Đó là:

e© Về hình thức:

- _ Đánh máy còn rất nhiều lỗi chính tả, phông chữ tuỳ tiện không thống

nhất trong cùng một loại hạng mục, xuống dòng, cách dòng không theo quy định

Nhiều chỗ trong phần mục lục và nội dung các đề mục không thống nhất nhau, thậm chí có chỗ nội dung có mà đề mục không có

- Nhiều bảng không có tén (trang 41,424 Ap Tie Wes mục © hong ce én

(trang 48 các tiểu mục 3.3; 3.4) 2.4 (Ta; 4 )

-_ Cuối trang 5, trong phần so sánh chi phí tiền quốc của Việt Nam va Đức, theo số liệu của tác giả thì tỷ lệ đó là 1/92, chứ không phải là

1/9280

-_ Đề tài chưa đủ số trang theo quy định

e Nội dung:

- Theo tôi tác giả không thể so sánh chỉ phí sử dụng cho thuốc của các

nước với Việt Nam như ở bảng 1, trang 5 được vì cách tính chỉ phí khác nhau

- _ Tài liệu tham khảo tác giả chỉ nên trích dẫn phần kết quả nghiên cứu

của các tác giả khác để chứng minh cho ý kiến của mình, chứ không nên trích cả đoạn dài như dé tài nghiên cứu về tác dụng của

Levofloxacine từ trang l6 tới trang 22 Qua 6 trang trích dẫn của tác

giả cũng chỉ nói lên một điều là có những thuốc mới điều trị có hiệu

Trang 5

quả hơn Mà điều này là tất yếu, mọi người đều dễ chấp nhận, nên

không cần biện luận dài

5 KẾT LUẬN:

Về cơ bản đây là một đề tài cấp thiết, có tính thực tiến cao, đáp ứng được nhu cầu của cơ quan quản lý bảo hiểm và nguyện vọng của người tham gia bảo hiểm Tuy có một số thiếu sót và chủ yếu là về hình thức nên đề tài có thể thông qua sau khi sửa chữa

Đề nghị dé tài được xếp loại khá

Hà Nội 20-—6~— 2005

Phan Duy Tập

Trang 6

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Hà Nội, ngày 30 tháng 6 năm 2005

Bản nhận xét đề tài nghiên cứu khoa học

"Nghiên cứu đanh mục thuốc chữa bệnh cho người tham gia BHYT- Thực

trạng và giải pháp hoàn thiện”

Để tài nghiên cứu khoa học: "Nghiên cứu danh mục thuốc chữa bệnh cho người tham gia BHYT - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện”, do Ds

Nguyễn Đức Ngọc thực hiện là một nghiên cứu cần thiết không chỉ với

những người làm công tác trong ngành, mà còn có ý nghĩa đối với nhiều cơ quan quản lý, hoạch định chính sách và công luận

Về cơ bản nghiên cứu khoa học này đã bám sát mục tiêu nghiên cứu,

dan dat cdc vin dé một cách lôgích, tập hợp các số liệu thống kê phong phú, công phu Tác giả không chỉ dừng lại ở các vấn đề thuộc về đanh mục thuốc

và hoàn thiện danh mục thuốc, mà còn mở rộng nghiên cứu đến tình trạng sử

dụng thuốc ở Việt Nam, những bất cập và giải pháp cần tháo gỡ

Thực ra ở Việt Nam, chúng ta biết đến danh mục thuốc một cách rộng rãi là sau khi nhà nước thực hiện chế độ thu một phần viện phí và BHYT, khi

xoá bỏ dần cơ chế bao cấp tràn lan trong KCB Vì vậy, với nhiều người khái

niệm về danh mục thuốc thiết yếu dùng trong bệnh viện, thuốc được phép lưu hành, thuốc tên gốc, các biệt dược đều là những vấn đề còn rất mới mẻ Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu khoa học này sẽ thu hút được sự quan tâm

của cán bộ trong ngành khi tìm hiểu về một lĩnh vực mà những năm qua quỹ

BHYT đã chi phí không nhỏ cho việc cung ứng thuốc chữa bệnh cho bệnh nhân BHYT Tác giả đã tập trung phân tích nguyên tắc xây dựng danh mục

thuốc với xuất phát từ mô hình bệnh tật, điểu kiện kinh tế- thuật, kiểm soát

thuốc lưu hành và yêu cầu hiệu quả, an toàn trong điều trị bệnh Thuốc là một loại hàng hoá đặc biệt, liên quan đến sức khoẻ, sự sống, thuốc có yêu cầu quản lý rất riêng, có giá trị kinh tế rất lớn, vì vậy tác giả đã cố gắng làm

rõ về thị trường thuốc chữa bệnh ở VN những năm vừa qua, về sản xuất trong

nước và nhập khẩu thuốc, về số lượng tên thuốc đang lưu hành, về bình quân

Trang 7

người dân sử dụng thuốc mỗi năm, về hệ thống phân phối thuốc hiện nay và điều không thể không nói đến là thói quen dùng thuốc của người dân, cũng

như cách kê đơn của thày thuốc

Từ những thực trạng trên, tác giả đã để cập đến Danh mục thuốc, mục đích của việc xây dựng danh mục, nguyên tắc lựa chọn các loại thuốc để đưa vào danh mục, cấu trúc của danh mục thuốc với đặc điểm bên cạnh thuốc tân được, còn có danh mục thuốc y học cổ truyền Tác giả đã đi sâu phân tích việc sử dụng đanh mục thuốc trong các bệnh viện hiện nay, bằng những khảo sát nhỏ cho thấy thực trạng đáng lo ngại về hiện tượng kháng thuốc, về một

số tên thuốc chưa đủ cho nhu cầu điều trị, về những thuốc mới giảm tác dụng

phụ và cả việc phân cấp điều trị tại các tuyến chuyên môn kỹ thuật hiện hành Để minh chứng cho những vấn đề đã nêu, tác giả đã giới thiệu đanh

mục thuốc của Pháp, của Bang Quebec (CANADA) và của WHO, qua đó rút

ra những vấn đề cần điều chỉnh tại Việt Nam

Tác giả đã đầu tư nhiều công sức vào phần đề xuất các giải pháp trong

việc xây dựng và sử dụng danh mục thuốc chữa bệnh cho bệnh nhân BHYT theo hướng: mở rộng danh mục thuốc, trong đó nên phân ra danh mục thuốc chủ yếu và danh mục thuốc tự chọn; việc cập nhật, bổ sung thường xuyên danh mục thuốc; cải tiến phương thức thanh toán tiền thuốc của cơ quan BHXH theo phân loại nhóm thuốc (5 nhóm), tương ứng với tỷ lệ quỹ BHYT thanh toán từ mức 100% và giảm đến 20%; thành lập hội đồng tư vấn thuốc; tăng cường sự quản lý nhà nước về thuốc chữa bệnh

Đây là một đề tài nghiên cứu khó, có phạm vi rộng, vừa đề cập đến kỹ thuật, đến kinh tế, đến nhận thức của người dân, và nằm ngoài mong muốn

quản lý của BHXH VN Song có thể nói rằng, tác giả đã rất cố gắng để hoàn

thiện đề tài, đưa đến những đề xuất với mong muốn phục vụ tốt người bệnh nói chung và bệnh nhân BHYT nói riêng trong hoàn cảnh một nước nghèo

như VN Về một số điểm còn hạn chế của Để tài, tôi xin dé cập như sau:

1.Trang 5 của đề tài, tác giả so sánh chi phí về thuốc của VN so với

các nước tư bản phát triển (bảng 1), và nhận xét chỉ phí về thuốc tại VN chiếm tỷ trọng lớn trong chỉ phí KCB so với các nước khác, điều này dễ hiểu

vì ở VN người bệnh mới trả l phần viên phí, nếu so sánh chỉ phí về thuốc trên đầu người thì chúng ta sẽ không có nhận xét trên

2 Tác giả thực hiện một số khảo sát với mẫu nhỏ tại một số cơ sở KCH với 2 nhóm đối tượng: người bệnh và thày thuốc về danh mục thuốc và việc trả thêm tiền nếu sử dụng thuốc ngoài danh mục, những khảo sát này

Trang 8

khó đưa đến kết quả khách quan, bởi người bệnh không thể biết về danh mục

thuốc, còn thày thuốc lại dễ bị chỉ phối bởi các yếu tố ngoài chuyên môn

3 Tại các trang từ 46 đến 49, tác giả đã thiết kế mẫu khảo sát "khá

hay” để tìm hiểu về cdc thay thuốc tại các bệnh viện, cụ thể:

Hỏi: Thuốc trong danh mục- Đủ 42/241, bằng 17% Thiếu 199/241,

bằng 82,5% Trong khi đó khi hỏi về chất lượng điều trị thì lại nhận được câu trả lời: Tốt và trung bình 203/241, bằng 84,5 %; chưa dat 38/241, bang

15,5% Như vậy ở đây có mâu thuẫn không? khi mà thuốc trong danh mục

quá thiếu, trong khi đó kết quả điều trị vẫn tốt tác giả nên bàn luận về vấn để

này một cách toàn điện hơn

4 Về danh mục thuốc đang sử dụng đối với bệnh nhân BHYT và những thuốc ngoài danh mục nhưng được phép lưu hành tại VN, quỹ BHYT cũng thanh toán theo hạn mức nhất định Nếu so với danh mục thuốc của

WHO thì danh mục thuốc ở VN vượt xa, còn nếu so với một số nước tư bản, thco tác giả thì chưa bằng, trong khi đó theo một tài liệu nghiên cứu khác thì

danh mục thuốc ở VN không thua kém danh mục thuốc BHYT của các nước

tư bản phát triển, vấn để này cần được làm rõ hơn

5 Trong nhiều giải pháp nhằm cung ứng thuốc với giá hợp lý, bảo

đảm chất lượng, tôi muốn tác giả nghiên cứu thêm 2 vấn đề:

- Đối với thuốc sản xuất trong nước, đã có thể đặt hàng sản xuất thuốc đành riêng cho BHYT được chưa)

- Quỹ BHYT đại diện cho một lượng khách hàng sử dụng thuốc rất lớn, nhưng tại sao lại đứng ngoài các hợp đồng mua thuốc?

Đề tài nghiên cứu khoa học do Ds Nguyễn Đức Ngọc cùng các cộng

sự thực hiện về cơ bản đã đạt được mục tiêu cần nghiên cứu, nét mạnh của để tài là có nhiều phân tích độc lập, thể hiện sự đầu tư, suy nghĩ sâu về về một vấn đề mới và phức tạp Số liệu, tư liệu của để tài là tài liệu tham khảo tốt cho cán bộ nghiên cứu của hệ thống

Tôi để nghị Hội đồng thông qua và đánh giá Để tài đạt loại khá

Nhận xét I

ar

tu Kos Tort

Trang 9

CNĐT: Nguyễn Đức Ngọc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh

MỤC LỤC

Phân thứ nhất: MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

3 ĐỐI TƯỜNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

a Đối tượng

b Phương pháp

Phần thứ hai: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯNG |: TỔNG QUAN VỀ DANH MỤC THUỐC

1 NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG DANH MỤC THUỐC

1.1 Mô hình bệnh tật

1.2 Điều kiện kinh tế - kỹ thuật

1.3 Thuốc phải được phép lưu hành

1.4 Thuốc có hiệu quả và an toàn trong điều trị

2 GIỚI THIỆU DANH MỤC THUỐC CỦA VIỆT NAM

2.1 Tình hình thị trường thuốc chữa bệnh ở Việt Nam

2.2 Giới thiệu danh mục thuốc theo Quyết định 2320/2001/QD-

BYT

2.2.1 Mục đích của ban hành danh mục thuốc nhằm

2.2.2 Nguyên tắc lựa chọn thuốc trong danh mục thuốc

2.3 Cấu trúc Danh mục thuốc

2.3.1.Danh mục thuốc tân được

2.3.2 Danh mục thuốc y học cổ truyền

Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện.

Trang 10

CNDT: Nguyén Ditc Ngoc / Đại điện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh

2.4 Danh mục thuốc theo quyết định 03/2005/8YT-QĐÐ

2.4.1 Danh mục thuốc tân được

2.4.2 Danh mục thuốc y học cỔ truyền

3 MỘT SỐ KHÓ KHĂN KHI SỬ DỤNG DANH MỤC THUỐC HIỆN NAY

3.1 Hiện tượng kháng thuốc

3.2 Sự cần thiết phẩi đưa một số loại thuốc mới vào danh mục thuốc

a Đánh giá đáp ứng lâm sàng

b Đánh giá đáp ứng X quang cũng thu được kết quả rất tốt

c Đánh giá hiệu quả điều trị

3.3 Một số thuốc mới có khả năng hạn chế tác dụng phụ, cách sử

dụng tiện lợi hơn

3.4 Hạn chế khả năng điều trị của tuyến y tế cơ sở

3.5 Nhu cầu sử dụng thuốc của các đối tượng bệnh nhân khác nhau

4 NGUYÊN LÝ XÂY DỰNG DANH MỤC THUỐC CỦA TỔ CHỨC Y TẾ

THE GIOI (WHO) VA MOT SỐ NUOC

4.1 Danh mục thuốc của WHO

4.2 Danh mục thuốc của Pháp

4.3 Danh mục thuốc của bang québec (Canada)

4.3.1 Nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc

4.3.2 Hội đồng tư vấn thuốc

4.3.3 Hội đồng đánh giá sử dụng thuốc

4.3.4 Cam kết của các công ty sẵn xuất, phân phối thuốc

4.3.5 Phần đóng góp của bệnh nhân BHYT

Nghiên cúu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện

Trang 11

CNĐT: Nguyễn Đức Ngọc Đại điện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh

CHUGNG II: KHAO SAT TINH HINH THUC TAI TRONG VIEC su

DUNG THUOC DIEU TR! CHO BENH NHAN Y KIEN CUA THAY

THUỐC VÀ NGƯỜI BỆNH VỀ DANH MỤC THUỐC

1 KHAO SAT TINH HINH SỬ DỤNG THUỐC TRONG DIEU TRI 1.1 Tình hình sử dụng thuốc tại trung tâm y tế quận, huyện

1.2 Tình hình sử dụng thuốc tại các bệnh viện đa khoa và chuyên

khoa tỉnh

1.3 Tổng hợp tình hình sử đựng thuốc toàn quốc

1.4 So sánh danh mục thuốc thanh toán theo viện phí và danh mục thuốc bảo hiểm y tế (số liệu bệnh viện 115 - TP.HCM)

2 Ý KIẾN CỦA BỆNH NHÂN VÀ THÂY THUỐC BẢO HIỂM Y TẾ

2.1 Ý kiến của bệnh nhân bảo hiểm y tế

2.2 Ý kiến của thầy thuốc về danh mục thuốc

3 BÀN LUẬN

CHƯƠNG li: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TRONG VIỆC SỬ DỤNG DANH MỤC THUỐC CHỮA BỆNH CHO BỆNH NHÂN CÓ THE BHYT

1 MỞ RỘNG DANH MỤC THUỐC

1.1 Danh mục thuốc chủ yếu

1.2 Danh mục thuốc tự chọn

2 VẤN ĐỀ CẬP NHẬT DANH MỤC THUỐC

3 ĐỀ XUẤT CẢI TIẾN PHUONG THỨC THANH TOÁN TIẾN

THUỐC CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI

3.1 Khái niệm về thuốc gốc (generic drug)

3.2 Phân chia danh mục thuốc

3.3 Phương thức thanh toán

4 THÀNH LẬP HỘI ĐỒNG TƯ VẤN THUỐC

Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện.

Trang 12

CNĐT: Nguyễn Đức Ngọc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh

5 TANG CUONG VAI TRO QUAN LY NHÀ NUÚC VỀ THUỐC

CHUA BENH:

5.1 Tập trung đầu tư xây dựng các Nhà máy hóa dược:

5.2 Đầu tư nhiều xí nghiệp dược phẩm lớn, có công nghệ hiện đại, đạt tiêu chuẩn GMP

5.3 Quản lý giá thuốc

5.4 Chấn chỉnh việc nhập khẩu thuốc

5.5 Tổ chức lại khâu phân phối lưu thông

6 BÀN LUẬN

PHAN THU BA: KET LUAN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế:

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện.

Trang 13

CNDT: Nguyén Đúc Ngoc Dai dign BHXH VN tai TP Hé Chi Minh

Phan tha nhat

MO DAU

Nghị định 299/CP ngay15 - 8 -1992 ctia Chinh phủ ban hành Điều

lệ Bảo hiểm y tế (BHYT) đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong

chính sách khám chữa bệnh (KCB) của Nhà nước chúng ta trong thời kỳ

đổi mới, chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nên kinh tế thi

trường có sự điều tiết của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa Đây là chủ trương hoàn toàn mới, chưa có tiền lệ ở nước ta Chính sách này nhằm giảm

thiểu gánh nặng chi phí khám chữa bệnh bao cấp mà Nhà nước phai

gánh chịu, tăng cường sự quan tâm của người dân đối với sức khoẻ của mình và sự đóng góp của bản thân đối với xã hội Chính sách mới này

cũng phù hợp với thực trạng xã hội có nhiều thành phần kinh tế khác

nhau, nó cũng giúp cho nước ta từng bước hội nhập với cộng déng quốc

tế Vì những lẽ đó, chính sách Bảo hiểm y tế ra đời đã được các ngành, các cấp và mọi tầng lớp cán bộ, người lao động, nhân dân ủng hộ và nhiệt tình tham gia Trải qua trên 10 năm thực hiện bảo hiểm y tế, nó đã

chứng tổ đây là một chủ trương an sinh xã hội đúng đắn và ngày cang

phát triển sâu rộng Tính đến nay đã có 18 triệu người được hưởng chế

độ bảo hiểm y tế bao gồm cán bộ công nhân viên nhà nước, những người lao động, người có công với cách mạng, gia đình chính sách, người

nghềo và đặc biệt có hàng triệu học sinh sinh viên, người dân tham gia

bảo hiểm y tế tự nguyện Hàng năm Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã chị

khoảng 2.000 tỷ đồng cho việc khám chữa bệnh Đây là sự đóng góp không nhỏ cho ngân sách y tế của nước ta Bước khởi đầu có kết quả này

tạo tiền để thuận lợi để chúng ta thực hiện mục tiêu “tiến tới bảo hiểm y

tế toàn dân”, như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã để ra Tuy

nhiên trong quá trình triển khai thực thi chính sách bảo hiểm y tế chúng

Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện.

Trang 14

CNĐT: Nguyễn Đúc Ngọc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh

ta cũng còn một số điều bất cập, nguyên nhân thì nhiều nhưng tập trung vào các vấn để chính như: mức phí đóng thấp, cơ sở khám chữa bệnh cũng như trang thiết bị còn thiếu và lạc hậu, còn có cả chính sách bảo hiểm y tế đang tiếp tục hoàn thiện Để giải quyết những vấn để trên đòi hỏi phải có thời gian và sự đóng góp của toàn bộ nền kinh tế - xã hội,

chứ không phải chỉ riêng ngành bảo hiểm xã hội hay ngành y tế Trong

chuyên để này chúng tôi chỉ xin phép để cập tới một khía cạnh nhỏ của những điều bất cập trên, đó là vấn để thuốc chữa bệnh

Đối với các nước đang phát triển như nước ta thì chi phi tiễn thuốc

trong tổng chỉ phí khám chữa bệnh thường chiếm ủ lệ cao (thông thường

từ 60-80%) so với các nước phát triển (thường chỉ khoảng 15-20%) Điều

này chứng tỏ thuốc chiếm vị trí rất quan trọng trong phương pháp điểu trị của thầy thuốc đối với bênh nhân và tác động không nhỏ đến kinh phí

khám chữa bệnh của bảo hiểm xã hội

Bảng Chỉ phí sử dụng thuốc trong điều trị

Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện.

Trang 15

CNDT: Nguyén Dite Ngoc Đại điện BHXH VN tai TP Hồ Chí Minh

chi phí tiễn thuốc/người/năm thì họ vượt xa nước ta rất nhiều Ví dụ: Mỹ

471 USD, Đức 552USD, Việt Nam 6 USD (chỉ bằng 1/92 so với Đức)

Trong thời gian qua các bệnh nhãn bảo hiểm y tế, các thầy thuốc

và cả dư luận xã hội được phản ảnh qua đài báo, có những ý kiến chưa chính xác gây bất lợi cho ngành bảo hiểm xã hội, làm ảnh hưởng tới một

chính sách lớn, đó là ý kiến cho rằng: thuốc sử dụng cho bệnh nhân bảo

hiểm y tế chỉ là thuốc nội, kém chất lượng, từ đó cho rằng người có thẻ

bảo hiểm y tế không được đối xử công bằng, chỉ là “bệnh nhân hạng

hai"()

Vấn để trên đã được thảo luận công khai nhiều lần và đĩ nhiên là không đúng Điều này cũng đã được thực tế chứng minh Thế nhưng ở

góc độ những người quản lý, đang được nhà nước giao cho thực hiện

chính sách bảo hiểm y tế, chúng tôi muốn để cập vấn để này gắn với việc chúng ta đang sửa đổi và hoàn thiện chính sách bảo hiểm y tế

Chính vì lẽ đó, chúng tôi đã mạnh đạn để nghị tiến hành để tài “Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Thực rạng và giải pháp hoàn thiện ”

Hầu hết các nước đều có hai đanh mục thuốc:

- Danh mục thuốc được Bộ Y tế cho phép sử dụng trong toàn quốc

- Danh mục thuốc được cơ quan Bảo hiểm xã hội thanh toán cho

những người tham gia bảo hiểm xã hội Danh mục cũng nằm trong danh

mục thuốc được Bộ Y tế cho phép lưu hành

Sở đĩ cần có danh mục thuốc riêng do cơ quan Bảo hiểm xã hội

thanh toán nhằm loại bổ một số thuốc đất tiền hoặc không cần thiết làm

ảnh hưởng tới khẩ năng cân đối của quĩ Bảo hiểm xã hội Điều này hợp

lý vì mức đóng của người đân và quĩ Bảo hiểm xã hội là hữu hạn, còn chi phí khám chữa bệnh là vô hạn Bởi vậy cần phả¡ có quy định cụ thể

Nghiên cứu danh mục thuấc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện.

Trang 16

CNĐT: Nguyễn Đức Ngọc _„ Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh

Vấn để xây dựng danh mục thuốc là công việc rất khó khăn và phức tạp, đòi hỏi một hội đồng gồm các nhà chuyên môn cao trong các lĩnh vực y tế, kinh tế, quần lí, xã hội Bởi vậy, với khả năng rất hạn chế của mình, chúng tôi xin phép chỉ tiến hành khảo sát một số bất cập trong

việc sử dụng danh mục thuốc hiện nay, và qua học tập kinh nghiệm của

một vài nước, chúng tôi có một số để nghị bổ sung thêm nhằm tăng

cường mức thụ hưởng trong điều trị của các bệnh nhân có thể bảo hiểm y

- Bệnh nhân có thẻ bảo hiểm y tế

- Các thây thuốc điều trị cho bệnh nhân bảo hiểm y tế

- Một số bệnh viện tại thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Long

An, Hà Nội, Nam Định

Nghiên câu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện.

Trang 17

CNDT: Nguyén Ditc Ngoc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh

Phân thứ hai NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHUONG |

TONG QUAN VE DANH MUC THUOC

Mỗi nước đều có những tiêu chí riéng cla minh dé xay dung danh

mục thuốc cho phù hợp, nhưng nói chung, họ đều dựa vào những nguyên

tắc cơ bản sau:

1.1 Mô hình bệnh tật

Do hoàn cắnh địa lý, khí hậu, đặc điểm dân tộc mà ở mỗi khu vực hoặc mỗi nước thường hay mắc loại bệnh nào hoặc xảy ra bệnh địch

gì để xây đựng danh mục thuốc thiết yếu nhằm dự phòng cũng như điều

trị kịp thời cho người bệnh

1.2 Điều kiện kinh tế - kỹ thuật

Đối với những nước công nghiệp phát triển, có mức thu nhập cao thì người dân có điều kiện thụ hưởng những thuốc mới phát minh, hiệu

quả điểu trị cao, nhưng giá thành lại đắt Ngược lại, những nước nghèo

đành phải chấp nhận điểu trị bằng những thuốc phổ biến thông thường Bởi vậy đanh mục thuốc của các nước phát triển rất rộng, hầu như có tất

cả các loại thuốc Đối với những nước chậm phát triển thì danh mục

thuốc bị hạn chế rất nhiều

1.3 Thuốc phải được phép lưu hành

Thuốc được đưa vào danh mục thuốc phải được cơ quan quản lý

dược phẩm cấp phép

Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện.

Trang 18

CNĐT: Nguyễn Đức Ngọc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh

1.4 Thuốc có hiệu quả và an toàn trong điều trị:

Các thuốc đã khuyến cáo không nên sử dụng, có tác dụng phụ gây

ảnh hưởng xấu tới kết quả điều trị, hoặc thuốc lạc hậu cũng không đưa vào danh mục thuốc

Điều này có tác dụng chủ động nguồn cung ứng thuốc khi có nhu

cầu, góp phần thúc đẩy nền công nghiệp được trong nước nói riêng và

kinh tế nói chung được phát triển, đồng thời sẽ có được giá thành hợp lý

2.1 Tình hình thị trường thuốc chữa bệnh ở Việt Nam

Trên thị trường hiện có trên 10.000 tên thuốc (brand name) được

cấp số đăng ký lưu hành, trong đó số thuốc sẵn xuất trong nước có 6129

SĐÐK với khoảng 400 hoạt chất, đáp ứng được từ 35 - 40% nhu cầu sử dụng của người đân Thuốc nước ngoài đã cấp 4.353 SĐÐK với khoảng

1.000 hoạt chất, chiếm khoảng 60 - 65% nhu cầu sử dụng (Báo cáo của

Bộ Y tế) Nhưng các thành phẩm do Việt Nam sản xuất thì có hơn 90%

là các thuốc generic, kháng sinh, thuốc điểu trị bệnh thông thường đưới đạng bào chế đơn giản Hầu hết các nguyên liệu để sản xuất trong nước

đều phải nhập từ nước ngoài (hơn 90%) Hiện nay thuốc nước ngoài được

nhập khẩu từ các công ty đa quốc gia, phần lớn là các biệt được, thuốc

chuyên khoa đặc trị, nhiều thuốc còn trong thời gian bảo hộ phát minh, sáng chế Kim ngạch nhập khẩu thuốc tăng nhanh qua các năm: năm

2001 gần 418 triệu USD, năm 2002 hơn 457 triệu USD, năm 2003 hơn

503 triệu USĐ Tuy bình quân sử dụng thuốc của chúng ta còn thấp (6,5 USD/người/năm), thế nhưng việc phụ thuộc quá lớn vào nguồn nguyên

liệu và thành phẩm của nước ngoài đã gây khó khăn lớn cho việc điều trị

cũng như bình ổn giá thuốc, ảnh hưởng đến sức khỏe và nền kinh tế

Hệ thống phân phối thuốc của chúng ta có nhiều vấn để khiến

chưa thống nhất kiểm soát được thị trường Hiện nay có khoảng 500 công

ty trong, ngoài nước kinh doanh được phẩm, với hơn 8000 nhà thuốc và

Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bão hiểm y tế

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện

10

Trang 19

CNĐT: Nguyễn Đúc Ngọc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh

hơn 10.000 đại lý đã tạo nên mạng lưới kinh đoanh được phủ khấp toàn quốc Thế nhưng vấn để ở đây là mạng lưới này hoạt động còn manh

mún, tự phát, chưa có sự định hướng và sự giám sát chặt chế của Nhà

nước Từ đó dẫn đến sự hỗn loạn của thị trường, đã gây nên hết từ cơn

“sốt' thiếu thuốc điều trị đến cơn “sốt” tăng giá, ít thì một vài chục %, cao thi tăng tới 100 - 200% Điều này làm đau đầu các nhà quần lý, cả trên diễn đàn Quốc hội, và “đau nhất” là túi tiền của người dân khi bệnh

tật ()

Có một điểm quan trọng nữa tác động tới thị trường thuốc Việt

Nam là tâm lý thích dùng thuốc ngoại: thầy thuốc bay kê toa thuốc ngoại, còn người bệnh thì cẩm thấy an tâm hơn khi sử dụng thuốc ngoại

Đó là một nghịch lý, thuốc ngoại thường đắt hơn thuốc nội vài ba lần, có

khi cả chục lần, với thu nhập bình quân của nước ta thấp hơn các nước

tiên tiến 50 -60 lân, nhưng ta vẫn thích sử dụng sản phẩm của họ dù giá thành rất cao Trừ một số biệt dược ta chưa sản xuất được, còn thuốc

generic mà vẫn thích sử dụng thì thật lãng phí Điều này có tác động không tốt tới sự phát triển của nền công nghiệp dược nước nhà, và nầy sinh thắc mắc khi thụ hưởng chế độ Bảo hiểm y tế

2.2 Giới thiệu danh mục thuốc

Danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu được ban bành kèm theo

Quyết định số 2320/2001/QĐ-BYT ngày 19 tháng 06 năm 2001 của Bộ

trưởng Bộ Y tế

2.2.1_Muc địch của ban hành dạnh mục thuốc nhằm:

- Đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, kinh tế,

- Đáp ứng yêu cầu điều trị cho người bệnh

- Đảm bảo nhu câu sử dụng thuốc chữa bệnh của người bệnh bảo

hiểm y tế

- Phù hợp với khả năng ngân sách của bảo hiểm y tế và khả năng

kinh tế của người bệnh

Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện

11

Trang 20

CNĐT: Nguyễn Đức Ngọc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh

2.2.2 Nguyên tắc lựa chọn thuốc trong danh mục thuốc

- Đảm bảo hiệu lực điều trị, an toàn Thuốc chủ yếu nằm trong danh mục thuếc thiết yếu Việt Nam hiện hành Thuốc đã được cấp số đăng kí tại Việt Nam và có hiệu quả rõ rệt trong điều trị, có tần suất sử dụng nhiều ở các cơ sở khám chữa bệnh

- Thuốc phải phù hợp với khả năng chi trả của người bệnh và quĩ bảo hiểm y tế

Thuốc có giá hợp lí, phù hợp giữa hiệu quả điểu trị và giá thành

Ưu tiên lựa chọn: thuốc gốc (generic drug), thuốc đơn chất, thuốc sản xuất trong nước đạt chất lượng GMP

2.3 Cấu trúc Danh mục thuốc theo Quyết định 2320/2001/QĐ- BYT:

Danh mục thuốc gồm 2 phần:

2:3.1 Danh mục thuốc tân dược

- Thuốc sắp xếp theo bảng phân loại ATC (giải phẫu - điều trị - hóa học) gồm 459 tên thuốc

- Các thuốc điều trị đặc hiệu sử dụng danh mục theo hướng dẫn

của các chương trình

2.3.2 Danh mục thuốc y học cổ truyền

- Danh mục thuốc chế phẩm: 68 thành phẩm phân thành 11 nhóm

theo tác dụng được lí của thuốc

- Danh mục thuốc vị thuốc: 185 vị phân thành 24 nhóm theo tác dụng của thuốc

Ngày 03 tháng 12 năm 2002 Bộ trưởng Bộ Y tế ra Quyết định số 4809/2002/QĐ-BYT bổ sung thêm vào danh mục thuốc 90 thuốc tân

dược, 97 thuốc y học cổ truyền

Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Thục trạng và giải pháp hoàn thiện.

Trang 21

CNĐT: Nguyễn Đúc Ngọc Đại điện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh

2.4 Danh mục thuốc theo Quyết định 03/2005/BYT-QĐ:

Mới đây, ngày 21 tháng 01 năm 2005, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ký

Quyết định số 03/2005/BYT-QĐ ban hành Danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụng trong các cơ sở điều trị đó cũng là căn cứ để cơ quan

Bảo hiểm xã hội thanh toán cho người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế, Danh

mục thuốc này bao gồm :

2.4.1 Danh mục thuốc tân được:

- Có 646 thuốc được sắp xếp theo phân loại ATC (giải phẫu - điều trị - hoá học)

2.42 Danh mục thuốc y học cổ truyền:

- Danh mục thuốc chế phẩm: 91 thuốc được phân thành 11 nhóm theo tác đụng được lý của thuốc

- Danh mục thuốc vị thuốc: 210 vị phân thành 25 nhóm theo tác dụng của thuốc

3.1 Hiện tượng kháng thuốc

Kháng thuốc là hiện tượng thuốc kém hoặc không còn hiệu lực

trên chứng, bệnh của một cá nhân hay cộng đồng mà trước đó với liều

lượng và cách dùng ấy vẫn có hiệu lực Hiện tượng kháng thuốc thường

gặp ở các loại thuốc kháng sinh và kháng khuẩn Nguyên nhân do:

- Sử dụng liều quá thấp, dùng quá lâu hoặc đùng gián đoạn

- Bản thân vi khuẩn tiết ra men phá hủy thuốc kháng sinh (ví dụ:

penixilinaza hủy penixilin G)

Đây là vấn để rất khó khăn cho việc điểu trị bệnh nhân, nhất là đối với các nước chưa phát triển như nước ta, điều kiện sinh hoạt và môi trường còn kém, khả năng mắc các bệnh viêm nhiễm cao, phải sử dụng

thuốc kháng sinh nhiều

Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện.

Trang 22

CNĐT: Nguyễn Đức Ngọc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh:

Báo cáo hoạt động theo đõi sự hoạt động để kháng kháng sinh của

vi khuẩn gây bệnh thường gặp ở Việt Nam (Ban chỉ đạo hoạt động

ASTS) nêu rõ: có 15.262 chủng vi khuẩn được xác định độ nhạy cắm với kháng sinh (kháng sinh đồ) tại 6 cơ sở (Viện và Bệnh viện) đại diện cho

3 miễn Bắc - Trung - Nam của Việt Nam Kết quả cho thấy ngoài 3 vi khuẩn hay gây bệnh thường gặp nhất là E.coli (16,7%), trực khuẩn mủ

xanh - Pseudomonas earuginosa (15,9%) và tụ cầu vàng - Staphylococcus

aureus (10,7%), còn 2 vi khuẩn thường gây nhiễm khuẩn bệnh viện đã

chiếm tỷ lệ cao là Klebsiella (9,8%) và Acimobacter (10,3%) Cả 5 loại vi

khuẩn này đều kháng nhiều kháng sinh thường dùng trong điều trị ở mức

độ cao Mỗi bệnh viện có loài vi khuẩn đứng hàng đầu khác nhau và

mức độ để kháng với những kháng sinh chuyên trị cũng khác nhau

Tổng cộng 15.262 chủng vi khuẩn đã được thử ngiệm, trong đó

riêng số lượng chủng của bệnh viện Chợ Rẫy chiếm 47,9%, ba vi khuẩn

gây bệnh hay gặp nhất là E.coli, trực khuẩn mủ xanh (P.earuginosa) và

tụ cầu vàng (S.aureus) vẫn nằm trong nhóm tác nhân hàng đầu gây bệnh

ở tất cả các bệnh viện Đáng lưu ý là 2 vi khuẩn Klebsiella và Acinobacter hay gây nhiễm khuẩn bệnh viện, ví dụ viêm phổi đã chiếm

tỷ lệ khá cao ở phần lớn các bệnh viện, nhất là tuyến trung ương như

bệnh viện Bạch Mai bệnh viện Chợ Rẫy Mỗi địa phương lại có những

loài vi khuẩn nổi trội khác nhau: bệnh viện đa khoa Uông Bí là các vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp, đứng đầu là Morasella catarnrhalis

(36,2%), tiếp theo là phế cầu (S.pneumoniae) (10,3%), và Haramophilus influenzae (7,9%) 6 bệnh viện đa khoa Đồng Tháp, Salmonella typhi gây nhiễm trùng máu chiếm 8,2% tổng số vi khuẩn được phân lập

Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Thực trạng và giải pháp hoàn tuện

14

Trang 23

CNDT: Nguyễn Đức Ngọc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh

Theo nghiên cứu của các bệnh viện, tình hình kháng kháng sinh

trong việc điểu trị các bệnh nhiễm khuẩn đã đến mức báo động Tự điểu tri va diéu trị bừa bãi, quá nhiều các loại thuốc kháng sinh đã góp phần đáng kể gây nên tình trạng kháng kháng sinh, dẫn đến nguy cơ đe dọa

sức khoẻ cộng đồng và gây ra hậu quả tai hại đối với mục tiêu chăm sóc

sức khoẻ cho người dân, nhất là đối với người nghèo, do đòi hỏi phải sử dụng các loại thuốc mới rất đắt tiền

dụng kháng sinh trong điểu trị là khá phổ biến ở các tuyến

Kết quả đầu tra của Vụ Điều trị (Bộ Y tế) cho thấy, tình hình lạm

Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện

15

Trang 24

CNĐT: Nguyễn Đúc Ngọc Đại điện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh

Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện.

Trang 25

CNĐT: Nguyễn Đúc Ngọc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh

Nghệ An Lạng Sơn Cao Bằng Quảng Bình

1 Không sử dụng KS Hi 1 khang sinh

L2 kháng sinh Hơn 3 kháng sinh

Qua nghién cfu trén Jam sang cdc Staphylococcus aureus của Viện

y học nhiệt đới cho thấy tỷ lệ kháng kháng sinh rất đáng lo ngại

Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện

17

Trang 26

CNĐT: Nguyễn Đức Ngọc / Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh

Những kết quả nghiên cứu các vi khuẩn thuộc nhóm Streptococcus

và các vi khuẩn thuộc nhóm trực khuẩn gram (-) cũng cho thấy tý lệ kháng kháng sinh rất cao Đây là 2 nhóm vi khuẩn chịu trách nhiệm chính chiếm tới trên 80% các tác nhân gây bệnh đã được nghiên cứu

Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện

18

Trang 27

CNDT: Nguyễn Đức Ngọc Đại diệu BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh

Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện

19

Trang 28

CNĐT: Nguyễn Đức Ngọc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh

Phẩn trên chúng tôi đã giới thiệu kết quả của một số nghiên cứu

về tính kháng kháng sinh của một số vi khuẩn gây bệnh đối với các loại

thuốc kháng sinh kinh điển được đưa vào danh mục thuốc Để làm rõ yêu

cầu bức thiết của việc phải sử dụng thuốc mới trong điều trị đối với các

' loại vi khuẩn kháng kháng sinh cao, chúng tôi xin nêu một công trình

nghiên cứu của bệnh viện Chợ Rẫy và bệnh viện Bạch Mai đối với bệnh

viêm phổi mắc phải trong cộng đồng (VPCĐ)

Viêm phổi cộng đổng (VPCĐ) thường do phế cầu (Streptococcus

pneumoniae) gây nên Sự nguy hiểm của nó là kháng penicilline cao, thế giới khoảng 50%, còn Việt Nam là 90% Và sự nguy hiểm cằng gia tăng khi triệu chứng lâm sàng và X quang không giúp chuẩn đoán phân biệt

rõ rệt, và hơn 50% kết quả vi trùng học âm tính Do vậy việc tìm ra những kháng sinh có hiệu quả cao với đa số các tác nhân gây bệnh và

đặc biệt chống lại những vi khuẩn kháng thuốc được thế giới hết sức chú

ý Levofloxacin (Tavanic) là một kháng sinh thuộc nhóm Quinolone mdi

có phổ kháng khuẩn rộng, đã đáp ứng được những yêu cầu trên

Kết quá sử dụng Levofloxacin về điểu trị bệnh nhân bị viêm phổi

cộng đồng :

Nghiên cúu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện

20

Trang 29

CNĐT: Nguyễn Đức Ngọc Đại điện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh

Nguồn: Bệnh viện Chợ Rẫy, bệnh viện Bạch Mai

Bảng 9 Đáp ứng lâm sàng nhóm bệnh nhân nội trú

Nghiên câu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện

21

Trang 30

CNĐT: Nguyễn Đức Ngọc _ Đại diện BHXH VN tai TP Hồ Chí Minh

- Thuyên giảm: Từ V2 có 28 ca thuyên giảm (82%) và V5 tất cả

đều khỏi trên lâm sàng

- Thất bại : Không có

- Không đánh giá được: 3 ca ở V2 (9% ) và 1 ca ở V5 (3% )

Bang 10: Đáp ứng lâm sàng nhóm bệnh nhân nghiên cứu

Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện

2

Trang 31

CNĐT: Nguyễn Đức Ngọc Đại diệu BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh

b Đánh giá đắp ứng X quang cũng thu được kết quả rất tất

Bang 11 Đáp ứng X quang ngực nhóm bệnh nhân ngoại trú

Không đổi hay

Nghiên củu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Thực trạng và giải pháp hoàn tiện

23

Trang 32

CNĐT: Nguyễn Đức Ngọc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh

Đánh giá về mức độ an toàn và dung nạp:

Không có ca nào có biểu hiện tác dụng phụ trên lâm sàng cũng như cận lâm sàng trong nhóm nghiền cứu

c Đánh giá hiệu quả điều trị

- Hiệu quả lâm sàng: Levofloxacine (Tavanic) có hiệu quả cao

100% trong nhóm 35 bệnh nhân nghiên cứu thuộc nhóm nguy cơ thấp và

và trung bình tại 2 trung tâm Chợ Rẫy và Bạch Mai Thời gian đáp ứng

sau điều trị thường vào ngày thứ-3 -5, bệnh nhân giẩm hay hết sốt, đờm

trong hơn và bệnh nhân khoẻ hơn Tỷ lệ khỏi bệnh tăng rõ rệt khi tái, khám, 21 ca (62%) ở V3, 32 ca (94%) ở V4, trong đó có 12/12 ca ngoại

trú (100%) và 22/22 ca nội trú ở V5 (100%)

- Hiệu quả X quang: Hồi phục hoàn toàn, (biến mất tổn thương

trên X quang ngực) ở V3 là 10 ca (50%), V4 là 11 ca (69%) và V5 là 12

ca (80%) tính trên bệnh nhân nội trú Tỷ lệ hổi phục hoàn toàn ở bệnh

nhân ngoại trú cũng tương tị: ở V3 là 6 ca (63%), ở V4 là 8 ca (80%) Không có ca nào tổn thương không đổi hay nặng lên, 2 ca không đánh giá được ở V4 (bệnh nhân ngoại trú) và 7 ca không đánh giá được ở V5

Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện

24

Trang 33

CNDT: Nguyén Ditc Ngoc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh

(bệnh nhân nội trú) do không có kết quả X quang khi tái khám Sự hồi

phục X quang cũng tương ứng với đáp ứng lâm sàng nhưng tổn thương X quang hổi phục chậm hơn 20% bệnh nhân còn hình ảnh bất thường trên

X quang ở V5, trong khi đó lâm sàng đã hổi phục hoàn toàn Điều này cũng phù hợp với Y văn

Mi Dap ing lam sang =i Ddp ting X quang

- Thời gian điều trị: Trung bình 10 ngày, nhiều nhất 15 ngày, thấp

nhất 3 ngày (bệnh nhân nội trú dùng 3 viên, khi xuất viện quên lãnh thuốc nhưng vẫn khám đến visit cuối cùng và vẫn cải thiện tốt trên lâm

sàng) Số ngày nằm viện trung bình là 4,62 ngày, dù số lượng bệnh nhân

Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện

25

Trang 34

CNĐT: Nguyễn Đúc Ngọc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh

nghiên cứu không nhiều, nhưng đây là vấn để quan trọng hiện nay vì sự

quá tải thường xuyên bệnh nhân và rút ngắn thời gian nằm viện giúp tiết kiệm rất nhiều giờ công lao động và chỉ phí điểu trị cho bệnh nhân Bệnh nhân đáp ứng rõ rệt trên lâm sàng vào lần khám thứ 2 (ngày 3-5), có thể xuất viện và điểu trị ngoại trú an toần

- Tác dụng phụ: Không có trường hợp nào tác dụng phụ trên lâm sàng cũng như sinh hoá và huyết học trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu

qua quá trình theo dõi chặt chẽ trên lam sang khi bệnh nhân tái khám và

xét nghiệm sinh hóa huyết học kiểm tra vào lân khám thứ 3 theo quy

3.3 Một số thuốc mới có khả năng hạn chế tác dụng phụ, cách

sử dụng tiện lợi hơn

Tác dụng chính của thuốc là để trị bệnh Thế nhưng xuất hiện

đồng thời với hiệu quả trị liệu mong muốn là tác dụng có hại, mà trong ngôn ngữ lâm sàng học gọi là tấc dụng phụ

Để đánh giá thuốc mới có khá năng hạn chế tác dụng phụ, cũng

như cách sử dụng thuận tiện hơn thế hệ thuốc cũ, chúng ta thử xem xét

một số ví dụ về thuốc hạ áp (các thế hệ đối kháng canxi) Bệnh huyết áp

là bệnh khá phổ biến ở nước ta hiện nay, chiếm tỉ lệ cao nhất là những người cao tuổi ở thành thị Theo thống kê ở bệnh viện Thống Nhất (thành phố Hồ Chí Minh), các thuốc về tim mạch chiếm tỉ lệ đến 15,03%

Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bão hiểm y te

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện

26

Trang 35

CNĐT: Nguyễn Đúc Ngọc Đại điện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh

LOẠI Dạng thông thường Phóng thích chậm Dang tac dụng kéo dai Cac Verapamil, Dilizem Verapamil SR Amlodipine

biét Nipedipine, Nifedipine XL/GITS | Lercanidipine

dược Nicardipine Diltizem CD

Tac Bình thường Tác dụng trên mạch | Khả năng chọn lọc cao

trén

mach

mau

Các đặc | - Uống nhiều lần tron |- Uống từ 1-2 lần | - Uống duy nhất một lần

sàng - Dung nạp bình |- Dung nạp khá - Dung nạp tốt hơn nhiều

thường - Hiệu quả hạ áp từ |- Hiệu quả hạ ấp từ từ

- Hiệu quả hạ áp | từ có thể ảnh hưởng | vàêm địu suốt 24 giờ

nhanh hơn, ảnh hưởng | nhịp tim - Không ảnh hưởng nhịp

* Với các kháng sinh thuộc thế hệ mới, các tác dụng phụ cũng được hạn

chế rất nhiều, tạo điều kiện tốt cho bệnh nhân khi điều trị

Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện

27

Trang 36

CNPT: Nguyễn Đức Ngọc Đại diệu BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh

- Nỗng độ tối đa sau 120 phút

S Í- Độc tính thấp, phổ kháng khuẩn |- Phổ kháng khuẩn hầu hết vi

ấ rong khuẩn Œr(-) và vị khuẩn Gr(+)

= - Dé dé kháng thuốc - Thời gian bán hủy dài (8 giờ),

E - Dễ gây phản ứng phản vệ khuếch tấn nhanh vào dịch gian

- Phổ kháng khuẩn rộng, tác dụng | - Phổ kháng khuẩn hầu hết với vi

2 _ |toàn thân thấp, đào thải nhanh, | khuẩn Gr(-) và vi khuẩn Gr(+), vì

= điểu trị dài ngày có nguy cơ bội ‡ khuẩn yếm khí và vi khuẩn ái khí

= nhiễm nấm hoặc làm phát triển | Hấp thu tốt qua đừng tiêu hóa và

5 các vi khuẩn không gây bệnh | tác dụng toần thân cao _

© lkhác - Phân phối rộng khấp cơ thể vào

ễ - Có thể gây viêm gân, rối loạn | nhiều mô và dịch

z tiêu hóa, rối loạn thị giác, ảo | - Ít tác dụng phụ

giác, rối loạn thần kinh

Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện

28

Trang 37

CNDT: Nguyén Ditc Ngoc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh

3.4 Hạn chế khả năng điều trị của tuyến y tế cơ sở

Do đặc thù của Việt Nam hệ thống y tế của ta được chia thành 4 tuyến:

- Tuyến y tế cơ sở (trạm y tế xã, phường)

- Tuyến y tế quận huyện (trung tâm y tế)

- Tuyến tỉnh (bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa của tỉnh)

- Tuyến trung ương (bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa do

Bộ Y tế quần lý)

Tương ứng với từng tuyến có các quy định chặt chế về xử lý chuyên môn và thuốc sử dụng trong điều trị Do nền kinh tế nước ta ngày

càng phát triển và nhu cầu khám chữa bệnh của người dân ngày càng

nâng cao, nên sự đầu tư cho tuyến đưới cũng được chú ý Bằng nguồn vốn của Nhà nước hoặc vốn vay kích cầu, vốn tự có, các cơ sở khám chữa bệnh tuyến dưới được nâng cấp rất lớn về cơ sở hạ tầng cũng như

các trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho chẩn đoán, điển trị Đội ngũ các

thầy thuốc cũng được nâng cao về trình độ cũng như tay nghề

Khảo sát Trung tâm y tế Củ Chi thấy điển hình của việc nâng cấp

tuyến huyện:

Số giường bệnh: 290, dự kiến nâng 400 giường

Tiếp nhận bệnh nhân hàng ngày tới khám chữa bệnh: 600 - 800 người

Trang thiết bị: máy chụp CT, bộ phẫu thuật nội soi não, máy xét nghiệm tự động 18 thông số, siêu âm màu

Đội ngũ thầy thuốc: 120 bác sỹ (trong đó có 13 bác sĩ chuyên khoa

1) Trung tâm y tế có thể tiến hành một số ca đại phẫu, mổ chấn thương

SỌ não

Có một nghịch lý là: trong khi cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như đội

ngũ thấy thuốc được nâng cao, thì danh mục thuốc lại không được thay đổi, cứ giữ như bao năm về trước (!) Điều đó rõ ràng hạn chế khả năng điều trị của trung tâm y tế này, gây bức xúc cho thầy thuốc cũng như bệnh nhân

Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế

Thực trạng và giải pháp hoàn tiện

29

Trang 38

CNĐT: Nguyễn Đức Ngoc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh

Một ví dụ khác: Công ty Pouyuen (TP HCM) với 100% vốn nước

ngoài, có 48.000 lao động Để chăm sóc sức khoẻ cho công nhân, công ty

đã cho xây dựng trạm y tế với hơn 50 nhân viên y tế, bác sĩ, được sĩ và

40 giường bệnh, với một số trang thiết bị y tế hiện đại Nếu chúng ta cứ

coi như “y tế cơ quan” và áp cho danh rnục thuốc hạn chế thì các thầy

thuốc đành bó tay và số trang thiết bị y tế trở nên vô dụng

Thăm dò 58 thầy thuốc tại trung tâm ÿ tế huyện về Danh mục

thuốc hiện tại đang sử dụng tại đây chúng tôi đã thu được kết quả như

(Dành cho thầy thuốc)

Nội dung câu hồi vin số 5 Tra lời

Số lượng Tỷ lệ% 1.Số lượng thuốc trong danh mục 58

Nghiên củu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bão hiểm y tế

Thực trạng và giải pháp hoàn thiện

Ngày đăng: 15/05/2014, 12:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w