Bản nhận xét đề tài nghiên cứu khoa học "Nghiên cứu đanh mục thuốc chữa bệnh cho người tham gia BHYT- Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” Để tài nghiên cứu khoa học: "Nghiên cứu danh m
Trang 1BAO HIEM XA HOI VIET NAM TRUNG TÂM NGHIÊN CUU KHOA HOC
DE TAI NGHIEN CUU KHOA HOC:
NGHIEN COU DANH MUC THUOC CHUA BENH CHO
NGƯỜI THAM GIA BẢO HIỂM Y TẾ - THUC TRANG VA GIAI PHAP
CHU NHIEM: NGUYEN DUC NGOC
Hà Nội - 2004
1439 Ẳđo( 2/9)
Trang 3NHAN XET DE TAIKHOA HOC
ĐỀ TÀI:
Nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc trong điều trị bệnh nhân bảo
hiểm y tế Thực trạng và một số giải pháp đề xuất”
Của tác giả Nguyễn Đức Ngọc
1 TINH CAP THIET CUA DE TAL:
Một trong những vấn đẻ xã hội quan tâm tới công tác y tế là chất lượng khám chữa bệnh Mà trong chữa bệnh thuốc đóng vai trò cực kỳ quan
trọng, đôi khi là yếu tố quyết định kết quả điều trị
Danh mục thuốc hạn hẹp ảnh hưởng tới quyền lợi người tham gia bảo
hiểm Nhưng với ngân quỹ có hạn không thể đáp ứng hoàn toàn cho người tham gia Danh mục thuốc không thể là tất cả các thuốc có trên thị trường một phần đo ngân sách nhưng một phần cũng là do đảm bảo tính hiểu quả
và an toàn trong điều trị đối với người tham gia bảo hiểm
Và để có được một danh mục thuốc an toàn hợp lý cũng cần có một cơ chế để xây dựng và cập nhật danh mục thuốc
Vì vậy vấn đề tác giả đề cập trong đề tài là vấn đề cấp thiết đáp ứng được
đòi hỏi của cơ quan BHXH và đông đảo người tham gia bảo hiểm y tế hiện nay
2 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI:
Đề tài dài 65 trang (kể cả mục lục) Phần mở đầu dài 4 trang Phần nội dung nghiên cứu có 3 chương Đây là phần cơ ban của để tài, gồm các
mục:
-_ tổng quan về danh mục thuốc - khảo sát thực tại - dé xuất giải pháp
đài 53 trang Phần kết luận 2 trang Qua bố cục của để tài cũng nhận thấy tác giả đã giành phần cơ bản cho nội dung nghiên cứu
3 THÀNH CÔNG CỦA ĐỀ TÀI:
Trong đề tài tác giả xác định mục tiêu là:
-_ khảo sát một số bất cập trong sử dụng thuốc
-_ kinh nghiệm xây dựng danh mục thuốc của nước ngoài
-_ để xuất mở rộng danh mục thuốc
Mục tiêu của đề tài đã nói lên tính cấp thiết của để tài Day 14 mot dé tai nghiên cứu chứ không phải là một để án (theo quan điểm của BHXH VN) nhưng tác giả lại có nhiều số liệu điều tra khảo sát công phu, chính xác,
Trang 4khách quan để chứng minh cho quan điểm của mình, đây cũng là các số liệu phản ánh đúng tình hình sử dụng thuốc trong điều trị cho bệnh nhân BHYT hiện nay trên cả nước Đây cũng là một cố gắng lớn của tập thể tác
ia,
Vain dé tac giả để xuất là hợp lý và có thể áp dụng được trong tình hình
hiện nay Hiện chúng ta chỉ có một danh mục thuốc được BHXH thanh toán, vì vậy tác giả gợi ý thêm danh mục thuốc được thanh toán một phần tuỳ nhóm thuốc Điều đó làm tăng thêm quyền lợi của người tham gia bảo
hiểm và tạo sự linh hoạt cho bác sĩ điều trị Vấn để này cũng phù hợp với
phương thức thanh toán của nhiều nước
Vấn đề cơ bản thứ hai mà tác giả đề xuất là thành lập hội đồng tư vấn
cũng là một vấn để cần được quan tâm Vì thuốc là một yếu tố quan trọng trong điều trị và cũng là một sản phẩm tiến bộ không ngừng, vì vậy luôn
phải cập nhật danh mục thuốc để đảm bảo danh mục thuốc không bị lạc hậu và loại bỏ được các loại thuốc kém hiệu quả, không an toàn và tốn
kém cho ngân sách Nên có một hội đồng thường trực để xây dựng danh
mục thuốc là cần thiết
4 THIẾU SÓT CỦA ĐỀ TÀI:
Bên cạnh những thành công cơ bản đề tài còn có những thiếu sót cũng cần
phải sửa Đó là:
e© Về hình thức:
- _ Đánh máy còn rất nhiều lỗi chính tả, phông chữ tuỳ tiện không thống
nhất trong cùng một loại hạng mục, xuống dòng, cách dòng không theo quy định
Nhiều chỗ trong phần mục lục và nội dung các đề mục không thống nhất nhau, thậm chí có chỗ nội dung có mà đề mục không có
- Nhiều bảng không có tén (trang 41,424 Ap Tie Wes mục © hong ce én
(trang 48 các tiểu mục 3.3; 3.4) 2.4 (Ta; 4 )
-_ Cuối trang 5, trong phần so sánh chi phí tiền quốc của Việt Nam va Đức, theo số liệu của tác giả thì tỷ lệ đó là 1/92, chứ không phải là
1/9280
-_ Đề tài chưa đủ số trang theo quy định
e Nội dung:
- Theo tôi tác giả không thể so sánh chỉ phí sử dụng cho thuốc của các
nước với Việt Nam như ở bảng 1, trang 5 được vì cách tính chỉ phí khác nhau
- _ Tài liệu tham khảo tác giả chỉ nên trích dẫn phần kết quả nghiên cứu
của các tác giả khác để chứng minh cho ý kiến của mình, chứ không nên trích cả đoạn dài như dé tài nghiên cứu về tác dụng của
Levofloxacine từ trang l6 tới trang 22 Qua 6 trang trích dẫn của tác
giả cũng chỉ nói lên một điều là có những thuốc mới điều trị có hiệu
Trang 5quả hơn Mà điều này là tất yếu, mọi người đều dễ chấp nhận, nên
không cần biện luận dài
5 KẾT LUẬN:
Về cơ bản đây là một đề tài cấp thiết, có tính thực tiến cao, đáp ứng được nhu cầu của cơ quan quản lý bảo hiểm và nguyện vọng của người tham gia bảo hiểm Tuy có một số thiếu sót và chủ yếu là về hình thức nên đề tài có thể thông qua sau khi sửa chữa
Đề nghị dé tài được xếp loại khá
Hà Nội 20-—6~— 2005
Phan Duy Tập
Trang 6CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 30 tháng 6 năm 2005
Bản nhận xét đề tài nghiên cứu khoa học
"Nghiên cứu đanh mục thuốc chữa bệnh cho người tham gia BHYT- Thực
trạng và giải pháp hoàn thiện”
Để tài nghiên cứu khoa học: "Nghiên cứu danh mục thuốc chữa bệnh cho người tham gia BHYT - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện”, do Ds
Nguyễn Đức Ngọc thực hiện là một nghiên cứu cần thiết không chỉ với
những người làm công tác trong ngành, mà còn có ý nghĩa đối với nhiều cơ quan quản lý, hoạch định chính sách và công luận
Về cơ bản nghiên cứu khoa học này đã bám sát mục tiêu nghiên cứu,
dan dat cdc vin dé một cách lôgích, tập hợp các số liệu thống kê phong phú, công phu Tác giả không chỉ dừng lại ở các vấn đề thuộc về đanh mục thuốc
và hoàn thiện danh mục thuốc, mà còn mở rộng nghiên cứu đến tình trạng sử
dụng thuốc ở Việt Nam, những bất cập và giải pháp cần tháo gỡ
Thực ra ở Việt Nam, chúng ta biết đến danh mục thuốc một cách rộng rãi là sau khi nhà nước thực hiện chế độ thu một phần viện phí và BHYT, khi
xoá bỏ dần cơ chế bao cấp tràn lan trong KCB Vì vậy, với nhiều người khái
niệm về danh mục thuốc thiết yếu dùng trong bệnh viện, thuốc được phép lưu hành, thuốc tên gốc, các biệt dược đều là những vấn đề còn rất mới mẻ Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu khoa học này sẽ thu hút được sự quan tâm
của cán bộ trong ngành khi tìm hiểu về một lĩnh vực mà những năm qua quỹ
BHYT đã chi phí không nhỏ cho việc cung ứng thuốc chữa bệnh cho bệnh nhân BHYT Tác giả đã tập trung phân tích nguyên tắc xây dựng danh mục
thuốc với xuất phát từ mô hình bệnh tật, điểu kiện kinh tế- thuật, kiểm soát
thuốc lưu hành và yêu cầu hiệu quả, an toàn trong điều trị bệnh Thuốc là một loại hàng hoá đặc biệt, liên quan đến sức khoẻ, sự sống, thuốc có yêu cầu quản lý rất riêng, có giá trị kinh tế rất lớn, vì vậy tác giả đã cố gắng làm
rõ về thị trường thuốc chữa bệnh ở VN những năm vừa qua, về sản xuất trong
nước và nhập khẩu thuốc, về số lượng tên thuốc đang lưu hành, về bình quân
Trang 7người dân sử dụng thuốc mỗi năm, về hệ thống phân phối thuốc hiện nay và điều không thể không nói đến là thói quen dùng thuốc của người dân, cũng
như cách kê đơn của thày thuốc
Từ những thực trạng trên, tác giả đã để cập đến Danh mục thuốc, mục đích của việc xây dựng danh mục, nguyên tắc lựa chọn các loại thuốc để đưa vào danh mục, cấu trúc của danh mục thuốc với đặc điểm bên cạnh thuốc tân được, còn có danh mục thuốc y học cổ truyền Tác giả đã đi sâu phân tích việc sử dụng đanh mục thuốc trong các bệnh viện hiện nay, bằng những khảo sát nhỏ cho thấy thực trạng đáng lo ngại về hiện tượng kháng thuốc, về một
số tên thuốc chưa đủ cho nhu cầu điều trị, về những thuốc mới giảm tác dụng
phụ và cả việc phân cấp điều trị tại các tuyến chuyên môn kỹ thuật hiện hành Để minh chứng cho những vấn đề đã nêu, tác giả đã giới thiệu đanh
mục thuốc của Pháp, của Bang Quebec (CANADA) và của WHO, qua đó rút
ra những vấn đề cần điều chỉnh tại Việt Nam
Tác giả đã đầu tư nhiều công sức vào phần đề xuất các giải pháp trong
việc xây dựng và sử dụng danh mục thuốc chữa bệnh cho bệnh nhân BHYT theo hướng: mở rộng danh mục thuốc, trong đó nên phân ra danh mục thuốc chủ yếu và danh mục thuốc tự chọn; việc cập nhật, bổ sung thường xuyên danh mục thuốc; cải tiến phương thức thanh toán tiền thuốc của cơ quan BHXH theo phân loại nhóm thuốc (5 nhóm), tương ứng với tỷ lệ quỹ BHYT thanh toán từ mức 100% và giảm đến 20%; thành lập hội đồng tư vấn thuốc; tăng cường sự quản lý nhà nước về thuốc chữa bệnh
Đây là một đề tài nghiên cứu khó, có phạm vi rộng, vừa đề cập đến kỹ thuật, đến kinh tế, đến nhận thức của người dân, và nằm ngoài mong muốn
quản lý của BHXH VN Song có thể nói rằng, tác giả đã rất cố gắng để hoàn
thiện đề tài, đưa đến những đề xuất với mong muốn phục vụ tốt người bệnh nói chung và bệnh nhân BHYT nói riêng trong hoàn cảnh một nước nghèo
như VN Về một số điểm còn hạn chế của Để tài, tôi xin dé cập như sau:
1.Trang 5 của đề tài, tác giả so sánh chi phí về thuốc của VN so với
các nước tư bản phát triển (bảng 1), và nhận xét chỉ phí về thuốc tại VN chiếm tỷ trọng lớn trong chỉ phí KCB so với các nước khác, điều này dễ hiểu
vì ở VN người bệnh mới trả l phần viên phí, nếu so sánh chỉ phí về thuốc trên đầu người thì chúng ta sẽ không có nhận xét trên
2 Tác giả thực hiện một số khảo sát với mẫu nhỏ tại một số cơ sở KCH với 2 nhóm đối tượng: người bệnh và thày thuốc về danh mục thuốc và việc trả thêm tiền nếu sử dụng thuốc ngoài danh mục, những khảo sát này
Trang 8khó đưa đến kết quả khách quan, bởi người bệnh không thể biết về danh mục
thuốc, còn thày thuốc lại dễ bị chỉ phối bởi các yếu tố ngoài chuyên môn
3 Tại các trang từ 46 đến 49, tác giả đã thiết kế mẫu khảo sát "khá
hay” để tìm hiểu về cdc thay thuốc tại các bệnh viện, cụ thể:
Hỏi: Thuốc trong danh mục- Đủ 42/241, bằng 17% Thiếu 199/241,
bằng 82,5% Trong khi đó khi hỏi về chất lượng điều trị thì lại nhận được câu trả lời: Tốt và trung bình 203/241, bằng 84,5 %; chưa dat 38/241, bang
15,5% Như vậy ở đây có mâu thuẫn không? khi mà thuốc trong danh mục
quá thiếu, trong khi đó kết quả điều trị vẫn tốt tác giả nên bàn luận về vấn để
này một cách toàn điện hơn
4 Về danh mục thuốc đang sử dụng đối với bệnh nhân BHYT và những thuốc ngoài danh mục nhưng được phép lưu hành tại VN, quỹ BHYT cũng thanh toán theo hạn mức nhất định Nếu so với danh mục thuốc của
WHO thì danh mục thuốc ở VN vượt xa, còn nếu so với một số nước tư bản, thco tác giả thì chưa bằng, trong khi đó theo một tài liệu nghiên cứu khác thì
danh mục thuốc ở VN không thua kém danh mục thuốc BHYT của các nước
tư bản phát triển, vấn để này cần được làm rõ hơn
5 Trong nhiều giải pháp nhằm cung ứng thuốc với giá hợp lý, bảo
đảm chất lượng, tôi muốn tác giả nghiên cứu thêm 2 vấn đề:
- Đối với thuốc sản xuất trong nước, đã có thể đặt hàng sản xuất thuốc đành riêng cho BHYT được chưa)
- Quỹ BHYT đại diện cho một lượng khách hàng sử dụng thuốc rất lớn, nhưng tại sao lại đứng ngoài các hợp đồng mua thuốc?
Đề tài nghiên cứu khoa học do Ds Nguyễn Đức Ngọc cùng các cộng
sự thực hiện về cơ bản đã đạt được mục tiêu cần nghiên cứu, nét mạnh của để tài là có nhiều phân tích độc lập, thể hiện sự đầu tư, suy nghĩ sâu về về một vấn đề mới và phức tạp Số liệu, tư liệu của để tài là tài liệu tham khảo tốt cho cán bộ nghiên cứu của hệ thống
Tôi để nghị Hội đồng thông qua và đánh giá Để tài đạt loại khá
Nhận xét I
ar
tu Kos Tort
Trang 9CNĐT: Nguyễn Đức Ngọc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh
MỤC LỤC
Phân thứ nhất: MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
3 ĐỐI TƯỜNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
a Đối tượng
b Phương pháp
Phần thứ hai: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯNG |: TỔNG QUAN VỀ DANH MỤC THUỐC
1 NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG DANH MỤC THUỐC
1.1 Mô hình bệnh tật
1.2 Điều kiện kinh tế - kỹ thuật
1.3 Thuốc phải được phép lưu hành
1.4 Thuốc có hiệu quả và an toàn trong điều trị
2 GIỚI THIỆU DANH MỤC THUỐC CỦA VIỆT NAM
2.1 Tình hình thị trường thuốc chữa bệnh ở Việt Nam
2.2 Giới thiệu danh mục thuốc theo Quyết định 2320/2001/QD-
BYT
2.2.1 Mục đích của ban hành danh mục thuốc nhằm
2.2.2 Nguyên tắc lựa chọn thuốc trong danh mục thuốc
2.3 Cấu trúc Danh mục thuốc
2.3.1.Danh mục thuốc tân được
2.3.2 Danh mục thuốc y học cổ truyền
Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế
Thực trạng và giải pháp hoàn thiện.
Trang 10CNDT: Nguyén Ditc Ngoc / Đại điện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh
2.4 Danh mục thuốc theo quyết định 03/2005/8YT-QĐÐ
2.4.1 Danh mục thuốc tân được
2.4.2 Danh mục thuốc y học cỔ truyền
3 MỘT SỐ KHÓ KHĂN KHI SỬ DỤNG DANH MỤC THUỐC HIỆN NAY
3.1 Hiện tượng kháng thuốc
3.2 Sự cần thiết phẩi đưa một số loại thuốc mới vào danh mục thuốc
a Đánh giá đáp ứng lâm sàng
b Đánh giá đáp ứng X quang cũng thu được kết quả rất tốt
c Đánh giá hiệu quả điều trị
3.3 Một số thuốc mới có khả năng hạn chế tác dụng phụ, cách sử
dụng tiện lợi hơn
3.4 Hạn chế khả năng điều trị của tuyến y tế cơ sở
3.5 Nhu cầu sử dụng thuốc của các đối tượng bệnh nhân khác nhau
4 NGUYÊN LÝ XÂY DỰNG DANH MỤC THUỐC CỦA TỔ CHỨC Y TẾ
THE GIOI (WHO) VA MOT SỐ NUOC
4.1 Danh mục thuốc của WHO
4.2 Danh mục thuốc của Pháp
4.3 Danh mục thuốc của bang québec (Canada)
4.3.1 Nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc
4.3.2 Hội đồng tư vấn thuốc
4.3.3 Hội đồng đánh giá sử dụng thuốc
4.3.4 Cam kết của các công ty sẵn xuất, phân phối thuốc
4.3.5 Phần đóng góp của bệnh nhân BHYT
Nghiên cúu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế
Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
Trang 11CNĐT: Nguyễn Đức Ngọc Đại điện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh
CHUGNG II: KHAO SAT TINH HINH THUC TAI TRONG VIEC su
DUNG THUOC DIEU TR! CHO BENH NHAN Y KIEN CUA THAY
THUỐC VÀ NGƯỜI BỆNH VỀ DANH MỤC THUỐC
1 KHAO SAT TINH HINH SỬ DỤNG THUỐC TRONG DIEU TRI 1.1 Tình hình sử dụng thuốc tại trung tâm y tế quận, huyện
1.2 Tình hình sử dụng thuốc tại các bệnh viện đa khoa và chuyên
khoa tỉnh
1.3 Tổng hợp tình hình sử đựng thuốc toàn quốc
1.4 So sánh danh mục thuốc thanh toán theo viện phí và danh mục thuốc bảo hiểm y tế (số liệu bệnh viện 115 - TP.HCM)
2 Ý KIẾN CỦA BỆNH NHÂN VÀ THÂY THUỐC BẢO HIỂM Y TẾ
2.1 Ý kiến của bệnh nhân bảo hiểm y tế
2.2 Ý kiến của thầy thuốc về danh mục thuốc
3 BÀN LUẬN
CHƯƠNG li: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TRONG VIỆC SỬ DỤNG DANH MỤC THUỐC CHỮA BỆNH CHO BỆNH NHÂN CÓ THE BHYT
1 MỞ RỘNG DANH MỤC THUỐC
1.1 Danh mục thuốc chủ yếu
1.2 Danh mục thuốc tự chọn
2 VẤN ĐỀ CẬP NHẬT DANH MỤC THUỐC
3 ĐỀ XUẤT CẢI TIẾN PHUONG THỨC THANH TOÁN TIẾN
THUỐC CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI
3.1 Khái niệm về thuốc gốc (generic drug)
3.2 Phân chia danh mục thuốc
3.3 Phương thức thanh toán
4 THÀNH LẬP HỘI ĐỒNG TƯ VẤN THUỐC
Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế
Thực trạng và giải pháp hoàn thiện.
Trang 12CNĐT: Nguyễn Đức Ngọc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh
5 TANG CUONG VAI TRO QUAN LY NHÀ NUÚC VỀ THUỐC
CHUA BENH:
5.1 Tập trung đầu tư xây dựng các Nhà máy hóa dược:
5.2 Đầu tư nhiều xí nghiệp dược phẩm lớn, có công nghệ hiện đại, đạt tiêu chuẩn GMP
5.3 Quản lý giá thuốc
5.4 Chấn chỉnh việc nhập khẩu thuốc
5.5 Tổ chức lại khâu phân phối lưu thông
6 BÀN LUẬN
PHAN THU BA: KET LUAN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế:
Thực trạng và giải pháp hoàn thiện.
Trang 13CNDT: Nguyén Đúc Ngoc Dai dign BHXH VN tai TP Hé Chi Minh
Phan tha nhat
MO DAU
Nghị định 299/CP ngay15 - 8 -1992 ctia Chinh phủ ban hành Điều
lệ Bảo hiểm y tế (BHYT) đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong
chính sách khám chữa bệnh (KCB) của Nhà nước chúng ta trong thời kỳ
đổi mới, chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nên kinh tế thi
trường có sự điều tiết của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa Đây là chủ trương hoàn toàn mới, chưa có tiền lệ ở nước ta Chính sách này nhằm giảm
thiểu gánh nặng chi phí khám chữa bệnh bao cấp mà Nhà nước phai
gánh chịu, tăng cường sự quan tâm của người dân đối với sức khoẻ của mình và sự đóng góp của bản thân đối với xã hội Chính sách mới này
cũng phù hợp với thực trạng xã hội có nhiều thành phần kinh tế khác
nhau, nó cũng giúp cho nước ta từng bước hội nhập với cộng déng quốc
tế Vì những lẽ đó, chính sách Bảo hiểm y tế ra đời đã được các ngành, các cấp và mọi tầng lớp cán bộ, người lao động, nhân dân ủng hộ và nhiệt tình tham gia Trải qua trên 10 năm thực hiện bảo hiểm y tế, nó đã
chứng tổ đây là một chủ trương an sinh xã hội đúng đắn và ngày cang
phát triển sâu rộng Tính đến nay đã có 18 triệu người được hưởng chế
độ bảo hiểm y tế bao gồm cán bộ công nhân viên nhà nước, những người lao động, người có công với cách mạng, gia đình chính sách, người
nghềo và đặc biệt có hàng triệu học sinh sinh viên, người dân tham gia
bảo hiểm y tế tự nguyện Hàng năm Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã chị
khoảng 2.000 tỷ đồng cho việc khám chữa bệnh Đây là sự đóng góp không nhỏ cho ngân sách y tế của nước ta Bước khởi đầu có kết quả này
tạo tiền để thuận lợi để chúng ta thực hiện mục tiêu “tiến tới bảo hiểm y
tế toàn dân”, như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã để ra Tuy
nhiên trong quá trình triển khai thực thi chính sách bảo hiểm y tế chúng
Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế
Thực trạng và giải pháp hoàn thiện.
Trang 14CNĐT: Nguyễn Đúc Ngọc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh
ta cũng còn một số điều bất cập, nguyên nhân thì nhiều nhưng tập trung vào các vấn để chính như: mức phí đóng thấp, cơ sở khám chữa bệnh cũng như trang thiết bị còn thiếu và lạc hậu, còn có cả chính sách bảo hiểm y tế đang tiếp tục hoàn thiện Để giải quyết những vấn để trên đòi hỏi phải có thời gian và sự đóng góp của toàn bộ nền kinh tế - xã hội,
chứ không phải chỉ riêng ngành bảo hiểm xã hội hay ngành y tế Trong
chuyên để này chúng tôi chỉ xin phép để cập tới một khía cạnh nhỏ của những điều bất cập trên, đó là vấn để thuốc chữa bệnh
Đối với các nước đang phát triển như nước ta thì chi phi tiễn thuốc
trong tổng chỉ phí khám chữa bệnh thường chiếm ủ lệ cao (thông thường
từ 60-80%) so với các nước phát triển (thường chỉ khoảng 15-20%) Điều
này chứng tỏ thuốc chiếm vị trí rất quan trọng trong phương pháp điểu trị của thầy thuốc đối với bênh nhân và tác động không nhỏ đến kinh phí
khám chữa bệnh của bảo hiểm xã hội
Bảng Chỉ phí sử dụng thuốc trong điều trị
Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế
Thực trạng và giải pháp hoàn thiện.
Trang 15CNDT: Nguyén Dite Ngoc Đại điện BHXH VN tai TP Hồ Chí Minh
chi phí tiễn thuốc/người/năm thì họ vượt xa nước ta rất nhiều Ví dụ: Mỹ
471 USD, Đức 552USD, Việt Nam 6 USD (chỉ bằng 1/92 so với Đức)
Trong thời gian qua các bệnh nhãn bảo hiểm y tế, các thầy thuốc
và cả dư luận xã hội được phản ảnh qua đài báo, có những ý kiến chưa chính xác gây bất lợi cho ngành bảo hiểm xã hội, làm ảnh hưởng tới một
chính sách lớn, đó là ý kiến cho rằng: thuốc sử dụng cho bệnh nhân bảo
hiểm y tế chỉ là thuốc nội, kém chất lượng, từ đó cho rằng người có thẻ
bảo hiểm y tế không được đối xử công bằng, chỉ là “bệnh nhân hạng
hai"()
Vấn để trên đã được thảo luận công khai nhiều lần và đĩ nhiên là không đúng Điều này cũng đã được thực tế chứng minh Thế nhưng ở
góc độ những người quản lý, đang được nhà nước giao cho thực hiện
chính sách bảo hiểm y tế, chúng tôi muốn để cập vấn để này gắn với việc chúng ta đang sửa đổi và hoàn thiện chính sách bảo hiểm y tế
Chính vì lẽ đó, chúng tôi đã mạnh đạn để nghị tiến hành để tài “Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế
Thực rạng và giải pháp hoàn thiện ”
Hầu hết các nước đều có hai đanh mục thuốc:
- Danh mục thuốc được Bộ Y tế cho phép sử dụng trong toàn quốc
- Danh mục thuốc được cơ quan Bảo hiểm xã hội thanh toán cho
những người tham gia bảo hiểm xã hội Danh mục cũng nằm trong danh
mục thuốc được Bộ Y tế cho phép lưu hành
Sở đĩ cần có danh mục thuốc riêng do cơ quan Bảo hiểm xã hội
thanh toán nhằm loại bổ một số thuốc đất tiền hoặc không cần thiết làm
ảnh hưởng tới khẩ năng cân đối của quĩ Bảo hiểm xã hội Điều này hợp
lý vì mức đóng của người đân và quĩ Bảo hiểm xã hội là hữu hạn, còn chi phí khám chữa bệnh là vô hạn Bởi vậy cần phả¡ có quy định cụ thể
Nghiên cứu danh mục thuấc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế
Thực trạng và giải pháp hoàn thiện.
Trang 16CNĐT: Nguyễn Đức Ngọc _„ Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh
Vấn để xây dựng danh mục thuốc là công việc rất khó khăn và phức tạp, đòi hỏi một hội đồng gồm các nhà chuyên môn cao trong các lĩnh vực y tế, kinh tế, quần lí, xã hội Bởi vậy, với khả năng rất hạn chế của mình, chúng tôi xin phép chỉ tiến hành khảo sát một số bất cập trong
việc sử dụng danh mục thuốc hiện nay, và qua học tập kinh nghiệm của
một vài nước, chúng tôi có một số để nghị bổ sung thêm nhằm tăng
cường mức thụ hưởng trong điều trị của các bệnh nhân có thể bảo hiểm y
- Bệnh nhân có thẻ bảo hiểm y tế
- Các thây thuốc điều trị cho bệnh nhân bảo hiểm y tế
- Một số bệnh viện tại thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Long
An, Hà Nội, Nam Định
Nghiên câu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế
Thực trạng và giải pháp hoàn thiện.
Trang 17CNDT: Nguyén Ditc Ngoc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh
Phân thứ hai NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHUONG |
TONG QUAN VE DANH MUC THUOC
Mỗi nước đều có những tiêu chí riéng cla minh dé xay dung danh
mục thuốc cho phù hợp, nhưng nói chung, họ đều dựa vào những nguyên
tắc cơ bản sau:
1.1 Mô hình bệnh tật
Do hoàn cắnh địa lý, khí hậu, đặc điểm dân tộc mà ở mỗi khu vực hoặc mỗi nước thường hay mắc loại bệnh nào hoặc xảy ra bệnh địch
gì để xây đựng danh mục thuốc thiết yếu nhằm dự phòng cũng như điều
trị kịp thời cho người bệnh
1.2 Điều kiện kinh tế - kỹ thuật
Đối với những nước công nghiệp phát triển, có mức thu nhập cao thì người dân có điều kiện thụ hưởng những thuốc mới phát minh, hiệu
quả điểu trị cao, nhưng giá thành lại đắt Ngược lại, những nước nghèo
đành phải chấp nhận điểu trị bằng những thuốc phổ biến thông thường Bởi vậy đanh mục thuốc của các nước phát triển rất rộng, hầu như có tất
cả các loại thuốc Đối với những nước chậm phát triển thì danh mục
thuốc bị hạn chế rất nhiều
1.3 Thuốc phải được phép lưu hành
Thuốc được đưa vào danh mục thuốc phải được cơ quan quản lý
dược phẩm cấp phép
Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế
Thực trạng và giải pháp hoàn thiện.
Trang 18CNĐT: Nguyễn Đức Ngọc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh
1.4 Thuốc có hiệu quả và an toàn trong điều trị:
Các thuốc đã khuyến cáo không nên sử dụng, có tác dụng phụ gây
ảnh hưởng xấu tới kết quả điều trị, hoặc thuốc lạc hậu cũng không đưa vào danh mục thuốc
Điều này có tác dụng chủ động nguồn cung ứng thuốc khi có nhu
cầu, góp phần thúc đẩy nền công nghiệp được trong nước nói riêng và
kinh tế nói chung được phát triển, đồng thời sẽ có được giá thành hợp lý
2.1 Tình hình thị trường thuốc chữa bệnh ở Việt Nam
Trên thị trường hiện có trên 10.000 tên thuốc (brand name) được
cấp số đăng ký lưu hành, trong đó số thuốc sẵn xuất trong nước có 6129
SĐÐK với khoảng 400 hoạt chất, đáp ứng được từ 35 - 40% nhu cầu sử dụng của người đân Thuốc nước ngoài đã cấp 4.353 SĐÐK với khoảng
1.000 hoạt chất, chiếm khoảng 60 - 65% nhu cầu sử dụng (Báo cáo của
Bộ Y tế) Nhưng các thành phẩm do Việt Nam sản xuất thì có hơn 90%
là các thuốc generic, kháng sinh, thuốc điểu trị bệnh thông thường đưới đạng bào chế đơn giản Hầu hết các nguyên liệu để sản xuất trong nước
đều phải nhập từ nước ngoài (hơn 90%) Hiện nay thuốc nước ngoài được
nhập khẩu từ các công ty đa quốc gia, phần lớn là các biệt được, thuốc
chuyên khoa đặc trị, nhiều thuốc còn trong thời gian bảo hộ phát minh, sáng chế Kim ngạch nhập khẩu thuốc tăng nhanh qua các năm: năm
2001 gần 418 triệu USD, năm 2002 hơn 457 triệu USD, năm 2003 hơn
503 triệu USĐ Tuy bình quân sử dụng thuốc của chúng ta còn thấp (6,5 USD/người/năm), thế nhưng việc phụ thuộc quá lớn vào nguồn nguyên
liệu và thành phẩm của nước ngoài đã gây khó khăn lớn cho việc điều trị
cũng như bình ổn giá thuốc, ảnh hưởng đến sức khỏe và nền kinh tế
Hệ thống phân phối thuốc của chúng ta có nhiều vấn để khiến
chưa thống nhất kiểm soát được thị trường Hiện nay có khoảng 500 công
ty trong, ngoài nước kinh doanh được phẩm, với hơn 8000 nhà thuốc và
Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bão hiểm y tế
Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
10
Trang 19CNĐT: Nguyễn Đúc Ngọc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh
hơn 10.000 đại lý đã tạo nên mạng lưới kinh đoanh được phủ khấp toàn quốc Thế nhưng vấn để ở đây là mạng lưới này hoạt động còn manh
mún, tự phát, chưa có sự định hướng và sự giám sát chặt chế của Nhà
nước Từ đó dẫn đến sự hỗn loạn của thị trường, đã gây nên hết từ cơn
“sốt' thiếu thuốc điều trị đến cơn “sốt” tăng giá, ít thì một vài chục %, cao thi tăng tới 100 - 200% Điều này làm đau đầu các nhà quần lý, cả trên diễn đàn Quốc hội, và “đau nhất” là túi tiền của người dân khi bệnh
tật ()
Có một điểm quan trọng nữa tác động tới thị trường thuốc Việt
Nam là tâm lý thích dùng thuốc ngoại: thầy thuốc bay kê toa thuốc ngoại, còn người bệnh thì cẩm thấy an tâm hơn khi sử dụng thuốc ngoại
Đó là một nghịch lý, thuốc ngoại thường đắt hơn thuốc nội vài ba lần, có
khi cả chục lần, với thu nhập bình quân của nước ta thấp hơn các nước
tiên tiến 50 -60 lân, nhưng ta vẫn thích sử dụng sản phẩm của họ dù giá thành rất cao Trừ một số biệt dược ta chưa sản xuất được, còn thuốc
generic mà vẫn thích sử dụng thì thật lãng phí Điều này có tác động không tốt tới sự phát triển của nền công nghiệp dược nước nhà, và nầy sinh thắc mắc khi thụ hưởng chế độ Bảo hiểm y tế
2.2 Giới thiệu danh mục thuốc
Danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu được ban bành kèm theo
Quyết định số 2320/2001/QĐ-BYT ngày 19 tháng 06 năm 2001 của Bộ
trưởng Bộ Y tế
2.2.1_Muc địch của ban hành dạnh mục thuốc nhằm:
- Đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, kinh tế,
- Đáp ứng yêu cầu điều trị cho người bệnh
- Đảm bảo nhu câu sử dụng thuốc chữa bệnh của người bệnh bảo
hiểm y tế
- Phù hợp với khả năng ngân sách của bảo hiểm y tế và khả năng
kinh tế của người bệnh
Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế
Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
11
Trang 20CNĐT: Nguyễn Đức Ngọc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh
2.2.2 Nguyên tắc lựa chọn thuốc trong danh mục thuốc
- Đảm bảo hiệu lực điều trị, an toàn Thuốc chủ yếu nằm trong danh mục thuếc thiết yếu Việt Nam hiện hành Thuốc đã được cấp số đăng kí tại Việt Nam và có hiệu quả rõ rệt trong điều trị, có tần suất sử dụng nhiều ở các cơ sở khám chữa bệnh
- Thuốc phải phù hợp với khả năng chi trả của người bệnh và quĩ bảo hiểm y tế
Thuốc có giá hợp lí, phù hợp giữa hiệu quả điểu trị và giá thành
Ưu tiên lựa chọn: thuốc gốc (generic drug), thuốc đơn chất, thuốc sản xuất trong nước đạt chất lượng GMP
2.3 Cấu trúc Danh mục thuốc theo Quyết định 2320/2001/QĐ- BYT:
Danh mục thuốc gồm 2 phần:
2:3.1 Danh mục thuốc tân dược
- Thuốc sắp xếp theo bảng phân loại ATC (giải phẫu - điều trị - hóa học) gồm 459 tên thuốc
- Các thuốc điều trị đặc hiệu sử dụng danh mục theo hướng dẫn
của các chương trình
2.3.2 Danh mục thuốc y học cổ truyền
- Danh mục thuốc chế phẩm: 68 thành phẩm phân thành 11 nhóm
theo tác dụng được lí của thuốc
- Danh mục thuốc vị thuốc: 185 vị phân thành 24 nhóm theo tác dụng của thuốc
Ngày 03 tháng 12 năm 2002 Bộ trưởng Bộ Y tế ra Quyết định số 4809/2002/QĐ-BYT bổ sung thêm vào danh mục thuốc 90 thuốc tân
dược, 97 thuốc y học cổ truyền
Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế
Thục trạng và giải pháp hoàn thiện.
Trang 21CNĐT: Nguyễn Đúc Ngọc Đại điện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh
2.4 Danh mục thuốc theo Quyết định 03/2005/BYT-QĐ:
Mới đây, ngày 21 tháng 01 năm 2005, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ký
Quyết định số 03/2005/BYT-QĐ ban hành Danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụng trong các cơ sở điều trị đó cũng là căn cứ để cơ quan
Bảo hiểm xã hội thanh toán cho người bệnh có thẻ bảo hiểm y tế, Danh
mục thuốc này bao gồm :
2.4.1 Danh mục thuốc tân được:
- Có 646 thuốc được sắp xếp theo phân loại ATC (giải phẫu - điều trị - hoá học)
2.42 Danh mục thuốc y học cổ truyền:
- Danh mục thuốc chế phẩm: 91 thuốc được phân thành 11 nhóm theo tác đụng được lý của thuốc
- Danh mục thuốc vị thuốc: 210 vị phân thành 25 nhóm theo tác dụng của thuốc
3.1 Hiện tượng kháng thuốc
Kháng thuốc là hiện tượng thuốc kém hoặc không còn hiệu lực
trên chứng, bệnh của một cá nhân hay cộng đồng mà trước đó với liều
lượng và cách dùng ấy vẫn có hiệu lực Hiện tượng kháng thuốc thường
gặp ở các loại thuốc kháng sinh và kháng khuẩn Nguyên nhân do:
- Sử dụng liều quá thấp, dùng quá lâu hoặc đùng gián đoạn
- Bản thân vi khuẩn tiết ra men phá hủy thuốc kháng sinh (ví dụ:
penixilinaza hủy penixilin G)
Đây là vấn để rất khó khăn cho việc điểu trị bệnh nhân, nhất là đối với các nước chưa phát triển như nước ta, điều kiện sinh hoạt và môi trường còn kém, khả năng mắc các bệnh viêm nhiễm cao, phải sử dụng
thuốc kháng sinh nhiều
Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế
Thực trạng và giải pháp hoàn thiện.
Trang 22CNĐT: Nguyễn Đức Ngọc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh:
Báo cáo hoạt động theo đõi sự hoạt động để kháng kháng sinh của
vi khuẩn gây bệnh thường gặp ở Việt Nam (Ban chỉ đạo hoạt động
ASTS) nêu rõ: có 15.262 chủng vi khuẩn được xác định độ nhạy cắm với kháng sinh (kháng sinh đồ) tại 6 cơ sở (Viện và Bệnh viện) đại diện cho
3 miễn Bắc - Trung - Nam của Việt Nam Kết quả cho thấy ngoài 3 vi khuẩn hay gây bệnh thường gặp nhất là E.coli (16,7%), trực khuẩn mủ
xanh - Pseudomonas earuginosa (15,9%) và tụ cầu vàng - Staphylococcus
aureus (10,7%), còn 2 vi khuẩn thường gây nhiễm khuẩn bệnh viện đã
chiếm tỷ lệ cao là Klebsiella (9,8%) và Acimobacter (10,3%) Cả 5 loại vi
khuẩn này đều kháng nhiều kháng sinh thường dùng trong điều trị ở mức
độ cao Mỗi bệnh viện có loài vi khuẩn đứng hàng đầu khác nhau và
mức độ để kháng với những kháng sinh chuyên trị cũng khác nhau
Tổng cộng 15.262 chủng vi khuẩn đã được thử ngiệm, trong đó
riêng số lượng chủng của bệnh viện Chợ Rẫy chiếm 47,9%, ba vi khuẩn
gây bệnh hay gặp nhất là E.coli, trực khuẩn mủ xanh (P.earuginosa) và
tụ cầu vàng (S.aureus) vẫn nằm trong nhóm tác nhân hàng đầu gây bệnh
ở tất cả các bệnh viện Đáng lưu ý là 2 vi khuẩn Klebsiella và Acinobacter hay gây nhiễm khuẩn bệnh viện, ví dụ viêm phổi đã chiếm
tỷ lệ khá cao ở phần lớn các bệnh viện, nhất là tuyến trung ương như
bệnh viện Bạch Mai bệnh viện Chợ Rẫy Mỗi địa phương lại có những
loài vi khuẩn nổi trội khác nhau: bệnh viện đa khoa Uông Bí là các vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp, đứng đầu là Morasella catarnrhalis
(36,2%), tiếp theo là phế cầu (S.pneumoniae) (10,3%), và Haramophilus influenzae (7,9%) 6 bệnh viện đa khoa Đồng Tháp, Salmonella typhi gây nhiễm trùng máu chiếm 8,2% tổng số vi khuẩn được phân lập
Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế
Thực trạng và giải pháp hoàn tuện
14
Trang 23CNDT: Nguyễn Đức Ngọc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh
Theo nghiên cứu của các bệnh viện, tình hình kháng kháng sinh
trong việc điểu trị các bệnh nhiễm khuẩn đã đến mức báo động Tự điểu tri va diéu trị bừa bãi, quá nhiều các loại thuốc kháng sinh đã góp phần đáng kể gây nên tình trạng kháng kháng sinh, dẫn đến nguy cơ đe dọa
sức khoẻ cộng đồng và gây ra hậu quả tai hại đối với mục tiêu chăm sóc
sức khoẻ cho người dân, nhất là đối với người nghèo, do đòi hỏi phải sử dụng các loại thuốc mới rất đắt tiền
dụng kháng sinh trong điểu trị là khá phổ biến ở các tuyến
Kết quả đầu tra của Vụ Điều trị (Bộ Y tế) cho thấy, tình hình lạm
Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế
Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
15
Trang 24CNĐT: Nguyễn Đúc Ngọc Đại điện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh
Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế
Thực trạng và giải pháp hoàn thiện.
Trang 25CNĐT: Nguyễn Đúc Ngọc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh
Nghệ An Lạng Sơn Cao Bằng Quảng Bình
1 Không sử dụng KS Hi 1 khang sinh
L2 kháng sinh Hơn 3 kháng sinh
Qua nghién cfu trén Jam sang cdc Staphylococcus aureus của Viện
y học nhiệt đới cho thấy tỷ lệ kháng kháng sinh rất đáng lo ngại
Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế
Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
17
Trang 26CNĐT: Nguyễn Đức Ngọc / Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh
Những kết quả nghiên cứu các vi khuẩn thuộc nhóm Streptococcus
và các vi khuẩn thuộc nhóm trực khuẩn gram (-) cũng cho thấy tý lệ kháng kháng sinh rất cao Đây là 2 nhóm vi khuẩn chịu trách nhiệm chính chiếm tới trên 80% các tác nhân gây bệnh đã được nghiên cứu
Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế
Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
18
Trang 27CNDT: Nguyễn Đức Ngọc Đại diệu BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh
Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế
Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
19
Trang 28CNĐT: Nguyễn Đức Ngọc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh
Phẩn trên chúng tôi đã giới thiệu kết quả của một số nghiên cứu
về tính kháng kháng sinh của một số vi khuẩn gây bệnh đối với các loại
thuốc kháng sinh kinh điển được đưa vào danh mục thuốc Để làm rõ yêu
cầu bức thiết của việc phải sử dụng thuốc mới trong điều trị đối với các
' loại vi khuẩn kháng kháng sinh cao, chúng tôi xin nêu một công trình
nghiên cứu của bệnh viện Chợ Rẫy và bệnh viện Bạch Mai đối với bệnh
viêm phổi mắc phải trong cộng đồng (VPCĐ)
Viêm phổi cộng đổng (VPCĐ) thường do phế cầu (Streptococcus
pneumoniae) gây nên Sự nguy hiểm của nó là kháng penicilline cao, thế giới khoảng 50%, còn Việt Nam là 90% Và sự nguy hiểm cằng gia tăng khi triệu chứng lâm sàng và X quang không giúp chuẩn đoán phân biệt
rõ rệt, và hơn 50% kết quả vi trùng học âm tính Do vậy việc tìm ra những kháng sinh có hiệu quả cao với đa số các tác nhân gây bệnh và
đặc biệt chống lại những vi khuẩn kháng thuốc được thế giới hết sức chú
ý Levofloxacin (Tavanic) là một kháng sinh thuộc nhóm Quinolone mdi
có phổ kháng khuẩn rộng, đã đáp ứng được những yêu cầu trên
Kết quá sử dụng Levofloxacin về điểu trị bệnh nhân bị viêm phổi
cộng đồng :
Nghiên cúu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế
Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
20
Trang 29CNĐT: Nguyễn Đức Ngọc Đại điện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh
Nguồn: Bệnh viện Chợ Rẫy, bệnh viện Bạch Mai
Bảng 9 Đáp ứng lâm sàng nhóm bệnh nhân nội trú
Nghiên câu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế
Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
21
Trang 30
CNĐT: Nguyễn Đức Ngọc _ Đại diện BHXH VN tai TP Hồ Chí Minh
- Thuyên giảm: Từ V2 có 28 ca thuyên giảm (82%) và V5 tất cả
đều khỏi trên lâm sàng
- Thất bại : Không có
- Không đánh giá được: 3 ca ở V2 (9% ) và 1 ca ở V5 (3% )
Bang 10: Đáp ứng lâm sàng nhóm bệnh nhân nghiên cứu
Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế
Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
2
Trang 31CNĐT: Nguyễn Đức Ngọc Đại diệu BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh
b Đánh giá đắp ứng X quang cũng thu được kết quả rất tất
Bang 11 Đáp ứng X quang ngực nhóm bệnh nhân ngoại trú
Không đổi hay
Nghiên củu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế
Thực trạng và giải pháp hoàn tiện
23
Trang 32CNĐT: Nguyễn Đức Ngọc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh
Đánh giá về mức độ an toàn và dung nạp:
Không có ca nào có biểu hiện tác dụng phụ trên lâm sàng cũng như cận lâm sàng trong nhóm nghiền cứu
c Đánh giá hiệu quả điều trị
- Hiệu quả lâm sàng: Levofloxacine (Tavanic) có hiệu quả cao
100% trong nhóm 35 bệnh nhân nghiên cứu thuộc nhóm nguy cơ thấp và
và trung bình tại 2 trung tâm Chợ Rẫy và Bạch Mai Thời gian đáp ứng
sau điều trị thường vào ngày thứ-3 -5, bệnh nhân giẩm hay hết sốt, đờm
trong hơn và bệnh nhân khoẻ hơn Tỷ lệ khỏi bệnh tăng rõ rệt khi tái, khám, 21 ca (62%) ở V3, 32 ca (94%) ở V4, trong đó có 12/12 ca ngoại
trú (100%) và 22/22 ca nội trú ở V5 (100%)
- Hiệu quả X quang: Hồi phục hoàn toàn, (biến mất tổn thương
trên X quang ngực) ở V3 là 10 ca (50%), V4 là 11 ca (69%) và V5 là 12
ca (80%) tính trên bệnh nhân nội trú Tỷ lệ hổi phục hoàn toàn ở bệnh
nhân ngoại trú cũng tương tị: ở V3 là 6 ca (63%), ở V4 là 8 ca (80%) Không có ca nào tổn thương không đổi hay nặng lên, 2 ca không đánh giá được ở V4 (bệnh nhân ngoại trú) và 7 ca không đánh giá được ở V5
Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế
Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
24
Trang 33CNDT: Nguyén Ditc Ngoc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh
(bệnh nhân nội trú) do không có kết quả X quang khi tái khám Sự hồi
phục X quang cũng tương ứng với đáp ứng lâm sàng nhưng tổn thương X quang hổi phục chậm hơn 20% bệnh nhân còn hình ảnh bất thường trên
X quang ở V5, trong khi đó lâm sàng đã hổi phục hoàn toàn Điều này cũng phù hợp với Y văn
Mi Dap ing lam sang =i Ddp ting X quang
- Thời gian điều trị: Trung bình 10 ngày, nhiều nhất 15 ngày, thấp
nhất 3 ngày (bệnh nhân nội trú dùng 3 viên, khi xuất viện quên lãnh thuốc nhưng vẫn khám đến visit cuối cùng và vẫn cải thiện tốt trên lâm
sàng) Số ngày nằm viện trung bình là 4,62 ngày, dù số lượng bệnh nhân
Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế
Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
25
Trang 34CNĐT: Nguyễn Đúc Ngọc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh
nghiên cứu không nhiều, nhưng đây là vấn để quan trọng hiện nay vì sự
quá tải thường xuyên bệnh nhân và rút ngắn thời gian nằm viện giúp tiết kiệm rất nhiều giờ công lao động và chỉ phí điểu trị cho bệnh nhân Bệnh nhân đáp ứng rõ rệt trên lâm sàng vào lần khám thứ 2 (ngày 3-5), có thể xuất viện và điểu trị ngoại trú an toần
- Tác dụng phụ: Không có trường hợp nào tác dụng phụ trên lâm sàng cũng như sinh hoá và huyết học trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu
qua quá trình theo dõi chặt chẽ trên lam sang khi bệnh nhân tái khám và
xét nghiệm sinh hóa huyết học kiểm tra vào lân khám thứ 3 theo quy
3.3 Một số thuốc mới có khả năng hạn chế tác dụng phụ, cách
sử dụng tiện lợi hơn
Tác dụng chính của thuốc là để trị bệnh Thế nhưng xuất hiện
đồng thời với hiệu quả trị liệu mong muốn là tác dụng có hại, mà trong ngôn ngữ lâm sàng học gọi là tấc dụng phụ
Để đánh giá thuốc mới có khá năng hạn chế tác dụng phụ, cũng
như cách sử dụng thuận tiện hơn thế hệ thuốc cũ, chúng ta thử xem xét
một số ví dụ về thuốc hạ áp (các thế hệ đối kháng canxi) Bệnh huyết áp
là bệnh khá phổ biến ở nước ta hiện nay, chiếm tỉ lệ cao nhất là những người cao tuổi ở thành thị Theo thống kê ở bệnh viện Thống Nhất (thành phố Hồ Chí Minh), các thuốc về tim mạch chiếm tỉ lệ đến 15,03%
Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bão hiểm y te
Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
26
Trang 35CNĐT: Nguyễn Đúc Ngọc Đại điện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh
LOẠI Dạng thông thường Phóng thích chậm Dang tac dụng kéo dai Cac Verapamil, Dilizem Verapamil SR Amlodipine
biét Nipedipine, Nifedipine XL/GITS | Lercanidipine
dược Nicardipine Diltizem CD
Tac Bình thường Tác dụng trên mạch | Khả năng chọn lọc cao
trén
mach
mau
Các đặc | - Uống nhiều lần tron |- Uống từ 1-2 lần | - Uống duy nhất một lần
sàng - Dung nạp bình |- Dung nạp khá - Dung nạp tốt hơn nhiều
thường - Hiệu quả hạ áp từ |- Hiệu quả hạ ấp từ từ
- Hiệu quả hạ áp | từ có thể ảnh hưởng | vàêm địu suốt 24 giờ
nhanh hơn, ảnh hưởng | nhịp tim - Không ảnh hưởng nhịp
* Với các kháng sinh thuộc thế hệ mới, các tác dụng phụ cũng được hạn
chế rất nhiều, tạo điều kiện tốt cho bệnh nhân khi điều trị
Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế
Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
27
Trang 36CNPT: Nguyễn Đức Ngọc Đại diệu BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh
- Nỗng độ tối đa sau 120 phút
S Í- Độc tính thấp, phổ kháng khuẩn |- Phổ kháng khuẩn hầu hết vi
ấ rong khuẩn Œr(-) và vị khuẩn Gr(+)
= - Dé dé kháng thuốc - Thời gian bán hủy dài (8 giờ),
E - Dễ gây phản ứng phản vệ khuếch tấn nhanh vào dịch gian
- Phổ kháng khuẩn rộng, tác dụng | - Phổ kháng khuẩn hầu hết với vi
2 _ |toàn thân thấp, đào thải nhanh, | khuẩn Gr(-) và vi khuẩn Gr(+), vì
= điểu trị dài ngày có nguy cơ bội ‡ khuẩn yếm khí và vi khuẩn ái khí
= nhiễm nấm hoặc làm phát triển | Hấp thu tốt qua đừng tiêu hóa và
5 các vi khuẩn không gây bệnh | tác dụng toần thân cao _
© lkhác - Phân phối rộng khấp cơ thể vào
ễ - Có thể gây viêm gân, rối loạn | nhiều mô và dịch
z tiêu hóa, rối loạn thị giác, ảo | - Ít tác dụng phụ
giác, rối loạn thần kinh
Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế
Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
28
Trang 37CNDT: Nguyén Ditc Ngoc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh
3.4 Hạn chế khả năng điều trị của tuyến y tế cơ sở
Do đặc thù của Việt Nam hệ thống y tế của ta được chia thành 4 tuyến:
- Tuyến y tế cơ sở (trạm y tế xã, phường)
- Tuyến y tế quận huyện (trung tâm y tế)
- Tuyến tỉnh (bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa của tỉnh)
- Tuyến trung ương (bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa do
Bộ Y tế quần lý)
Tương ứng với từng tuyến có các quy định chặt chế về xử lý chuyên môn và thuốc sử dụng trong điều trị Do nền kinh tế nước ta ngày
càng phát triển và nhu cầu khám chữa bệnh của người dân ngày càng
nâng cao, nên sự đầu tư cho tuyến đưới cũng được chú ý Bằng nguồn vốn của Nhà nước hoặc vốn vay kích cầu, vốn tự có, các cơ sở khám chữa bệnh tuyến dưới được nâng cấp rất lớn về cơ sở hạ tầng cũng như
các trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho chẩn đoán, điển trị Đội ngũ các
thầy thuốc cũng được nâng cao về trình độ cũng như tay nghề
Khảo sát Trung tâm y tế Củ Chi thấy điển hình của việc nâng cấp
tuyến huyện:
Số giường bệnh: 290, dự kiến nâng 400 giường
Tiếp nhận bệnh nhân hàng ngày tới khám chữa bệnh: 600 - 800 người
Trang thiết bị: máy chụp CT, bộ phẫu thuật nội soi não, máy xét nghiệm tự động 18 thông số, siêu âm màu
Đội ngũ thầy thuốc: 120 bác sỹ (trong đó có 13 bác sĩ chuyên khoa
1) Trung tâm y tế có thể tiến hành một số ca đại phẫu, mổ chấn thương
SỌ não
Có một nghịch lý là: trong khi cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như đội
ngũ thấy thuốc được nâng cao, thì danh mục thuốc lại không được thay đổi, cứ giữ như bao năm về trước (!) Điều đó rõ ràng hạn chế khả năng điều trị của trung tâm y tế này, gây bức xúc cho thầy thuốc cũng như bệnh nhân
Nghiên cứu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế
Thực trạng và giải pháp hoàn tiện
29
Trang 38CNĐT: Nguyễn Đức Ngoc Đại diện BHXH VN tại TP Hồ Chí Minh
Một ví dụ khác: Công ty Pouyuen (TP HCM) với 100% vốn nước
ngoài, có 48.000 lao động Để chăm sóc sức khoẻ cho công nhân, công ty
đã cho xây dựng trạm y tế với hơn 50 nhân viên y tế, bác sĩ, được sĩ và
40 giường bệnh, với một số trang thiết bị y tế hiện đại Nếu chúng ta cứ
coi như “y tế cơ quan” và áp cho danh rnục thuốc hạn chế thì các thầy
thuốc đành bó tay và số trang thiết bị y tế trở nên vô dụng
Thăm dò 58 thầy thuốc tại trung tâm ÿ tế huyện về Danh mục
thuốc hiện tại đang sử dụng tại đây chúng tôi đã thu được kết quả như
(Dành cho thầy thuốc)
Nội dung câu hồi vin số 5 Tra lời
Số lượng Tỷ lệ% 1.Số lượng thuốc trong danh mục 58
Nghiên củu danh mục thuốc khám chữa bệnh cho người tham gia bão hiểm y tế
Thực trạng và giải pháp hoàn thiện