đề tài “Đánh giá diễn biến chất lượng nước lưu vực sông Cầu giai đoạn 2006– 2011” nhằm thấy được bức tranh tổng thể về diễn biến chất lượng nước trên toàn bộ hệ thống lưu vực trong những
Trang 1DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU
Chữ viết tắt : Diễn giải
ODA : Official Development Assistance (Hỗ trợ phát triển chính thức)
Ký hiệu:
Trang 2TSS : Tổng chất rắn lơ lửng
MỤC LỤC
Phần I -12
MỞ ĐẦU -12
1.1 Đặt vấn đề -12
1.2 Mục đích, yêu cầu -13
1.2.1 Mục đích -13
1.2.2 Yêu cầu -13
Phần II -14
TỔNG QUAN TÀI LIỆU -14
2.1 Tổng quan về các hệ thống sông ngòi chính ở Việt Nam -14
2.2.1 Lưu vực sông Nhuệ - Đáy -18
2.2.2 Lưu vực sông Đồng Nai -22
2.3 Tình hình quản lý chất lượng nước các lưu vực sông ở Việt Nam 27
2.3.1 Pháp luật liên quan đến quản lý chất lượng nước lưu vực sông -27
2.3.2 Tổ chức quản lý môi trường lưu vực sông -28
2.3.3 Tình hình thực hiện công tác đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và cấp phép xả nước thải ở lưu vực sông -30
2.3.4 Áp dụng các công cụ kinh tế -31
2.3.5 Công tác kiểm tra, thanh tra -32
2.3.6 Thực hiện quy hoạch lưu vực sông -32
2.3.7 Xây dựng nguồn lực -33
2.3.8 Sự tham gia của cộng đồng -36
Phần III -37
ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG -37
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU -37
Trang 33.1.1 Đối tượng nghiên cứu -37
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu -37
3.2 Nội dung nghiên cứu -37
3.3 Phương pháp nghiên cứu -37
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp -37
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp -37
3.3.3 Phương pháp ước tính nguồn thải -38
3.3.4 Phương pháp xử lý số liệu -38
Phần IV -39
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU -39
4.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của lưu vực sông Cầu -39
4.1.1 Điều kiện tự nhiên -39
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội -44
4.2 Các nguồn phát thải chính trên lưu vực sông Cầu -47
4.2.1 Nguồn thải sinh hoạt -48
4.2.2 Nguồn thải công nghiệp -52
4.2.3 Nguồn thải nông nghiệp -55
4.2.4 Nguồn thải làng nghề -62
4.2.5 Nguồn thải y tế -64
4.3 Hiện trạng chất lượng nước mặt lưu vực sông Cầu -69
4.3.1 Sông Cầu -69
4.3.2 Sông Công -76
4.3.3 Sông Ngũ Huyện Khê -78
4.4 Đánh giá diễn biến chất lượng nước lưu vực sông Cầu giai đoạn 2006 – 2011 -82
4.4.1 Sông Cầu -82
4.4.2 Sông Công -87
Trang 44.4.3 Sông Ngũ Huyện Khê -92
4.4.4 Các sông suối khác (sông Chợ Chu, sông Nghinh Tường, sông Đu, sông Cà Lồ, suối Phượng Hoàng và suối Loàng) -96
4.4.5 Thống kê các giá trị của một số thông số chính vượt QCVN 08:2008 cột B1 trên toàn LVS Cầu giai đoạn 2006 - 2011 -100
4.5 Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm bảo vệ chất lượng nước mặt trên LVS Cầu -102
4.5.1 Một số văn bản pháp luật hiện hành về tài nguyên nước đang được áp dụng trên LVS Cầu -102
4.5.2 Một số đề xuất về giải pháp chung -103
4.5.3 Một số giải pháp cụ thể -106
Phần V -109
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ -109
5.1 Kết luận -109
5.2 Kiến nghị -110
TÀI LIỆU THAM KHẢO -111
PHỤ LỤC -115
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Một số đặc điểm của 9 hệ thống sông chính ở Việt Nam -16
Bảng 4.1 Đặc trưng hình thái các sông thuộc LVS Cầu -43
Bảng 4.2 Cơ cấu dân số các tỉnh thuộc LVS Cầu -45
Bảng 4.3 Cơ cấu kinh tế các tỉnh thuộc LVS Cầu -45
Bảng 4.4 Tình hình sử dụng đất các tỉnh LVS Cầu (tính đến 1/1/2009) -47
Bảng 4.5 Ước tính lượng NTSH các tỉnh thuộc LVS Cầu năm 2010 -49
Bảng 4.6 Tải lượng ô nhiễm trung bình trên đầu người theo WHO -50
Bảng 4.7 Ước tính tải lượng thải sinh hoạt phát sinh theo các tỉnh thuộc LVS Cầu năm 2010 -50
Bảng 4.8 Ước tính lượng CTRSH các tỉnh thuộc LVS Cầu năm 2010 -51
Bảng 4.9 Số lượng các KCN/CCN đang hoạt động trên LVS Cầu -53
Bảng 4.10 Đặc trưng nước thải của một số ngành công nghiệp phổ biến ở các tỉnh thuộc LVS Cầu -53
Bảng 4.11 Ước tính tổng lượng nước thải và thải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải từ các KCN của một số tỉnh thuộc LVS Cầu năm 2009 -55
Bảng 4.12 Diện tích trồng lúa đông xuân và ước tính lượng nước hồi quy phân bố theo tỉnh trên LVS Cầu năm 2010 -56
Bảng 4.13 Định mức tải lượng ô nhiễm trồng trọt theo WHO -57
Bảng 4.14 Ước tính tải lượng ô nhiễm từ trồng lúa đông xuân phân bố theo tỉnh trên LVS Cầu năm 2010 -57
Bảng 4.15 Sự phân bố số lượng vật nuôi và ước tính tổng lượng nước thải chăn nuôi các tỉnh thuộc LVS Cầu năm 2010 -59
Bảng 4.16 Định mức tải lượng ô nhiễm chăn nuôi theo WHO -59
Bảng 4.17 Ước tính tổng tải lượng thải chăn nuôi trên LVS Cầu năm 2010 60
Bảng 4.18 Hệ số thực nghiệm phát sinh CTR của các loài vật nuôi -61
Trang 6Bảng 4.19 Ước lượng CTR phát sinh của các loài vật nuôi trên LVS Cầu năm
2010 -61
Bảng 4.20 Một số làng nghề gây ô nhiễm chính ở LVS Cầu -63
Bảng 4.21 Số cơ sở khám, chữa bệnh tại các tỉnh thuộc LVS Cầu -64
Bảng 4.22 Số giường bệnh tại các tỉnh thuộc LVS Cầu năm 2010 -65
Bảng 4.23 Ước tính khối lượng nước thải y tế các tỉnh thuộc -66
Bảng 4.24 Định mức phát sinh CTR y tế theo WHO -67
Bảng 4.0.25 Ước tính lượng chất thải rắn y tế phát sinh tại các tỉnh thuộc -67
Bảng 4.26 Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt sông Cầu đoạn chảy qua -69
Bảng 4.27 Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt sông Cầu đoạn chảy qua tỉnh Thái Nguyên năm 2011 -71
Bảng 4.28 Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt sông Cầu -74
Bảng 4.29 Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt sông Công năm 2011 -77
Bảng 4.30 Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt sông Ngũ Huyện Khê năm 2011 -79
Bảng 4.31 Tổng hợp sự biến động phần trăm các giá trị vượt QCVN 08:2008 cột B1 cả giai đoạn 2006 – 2011 trên toàn LVS Cầu -101
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ một số lưu vực sông lớn tại Việt Nam -15
Hình 2.2 Lưu lượng dòng chảy sông theo các vùng (tỷ m3/ năm) -17
Hình 2.3 Hàm lượng BOD5 tại một số sông trong nội thành Hà Nội -18
Hình 2.4 Nước sông Nhuệ ngay dưới chân cầu Diễn (Từ Liêm, Hà Nội) -19
Hình 2.5 Hàm lượng N-NH4+ trên sông Nhuệ giai đoạn 2007 – 2009 -19
Hình 2.6 Diễn biễn COD theo các năm (giá trị trung bình năm) của sông Đáy tại Hà Nam (trung lưu) và Nam Định (hạ lưu) -20
Hình 2.7 Diễn biến COD tại Tế Tiêu và cầu Hồng Phú (hợp lưu sông: Nhuệ, Đáy, Châu Giang) -21
Hình 2.8 Diễn biến hàm lượng COD trên sông Đáy giai đoạn 2007 - 2009 22
Hình 2.9 Tần suất vượt QCVN 08:2008/BTNMT (A1) của một số thông số ô nhiễm tại sông Đồng Nai đoạn qua thành phố Biên Hòa -23
Hình 2.10 Diễn biến hàm lượng BOD5 dọc theo sông Đồng Nai giai đoạn 2006 – 2009 -23
Hình 2.11 Diễn biến nồng độ oxy hòa tan trên sông Sài Gòn tại 2 trạm Phú Cường và Hóa An -24
Hình 2.12 Diễn biến nồng độ Coliform trên sông Sài Gòn tại 2 trạm Phú Cường và Hóa An -25
Hình 2.13 Diễn biến dầu mỡ qua các năm tại một số trạm trên sông Sài Gòn 25
Hình 2.14 Diễn biến DO dọc sông Thị Vải tháng 8/2008 và tháng 3/2009 -27
Hình 2.15 Cả một khúc sông Thị Vải thuộc lưu vực sông Đồng Nai bị ô nhiễm, nổi bọt trắng xóa -27
Hình 2.16 Sơ đồ quản lý lưu vực sông từ Trung ương đến địa phương -30
Hình 2.17 Tỷ lệ ước tính về tổng đầu tư cho hoạt động bảo vệ môi trường lưu vực sông trên tổng diện tích của 3 LVS Cầu, Nhuệ - Đáy, Đồng Nai. -34
Trang 8Hình 4.2 Hàm lượng TSS trên sông Cầu đoạn chảy qua Bắc Kạn năm 2011 -71
Hình 4.3 Hàm lượng Fe trên sông Cầu đoạn chảy qua Thái Nguyên -73
Hình 4.4 Hàm lượng Nitrit trên sông Cầu đoạn cuối nguồn năm 2011 -76
Hình 4.5 Hàm lượng COD tại sông Ngũ Huyện Khê năm 2011 -80
Hình 4.6 Hàm lượng Coliform tại sông Ngũ Huyện Khê năm 2011 -81
Hình 4.7 Hàm lượng NH4+ tại sông Ngũ Huyện Khê năm 2011 -81
Hình 4.8 Diễn biến COD trên sông Cầu giai đoạn 2006 – 2011 -82
Hình 4.9 Diễn biến BOD5 trên sông Cầu giai đoạn 2006 – 2011 -83
Hình 4.10 Diễn biến TSS trên sông Cầu giai đoạn 2006 – 2011 -83
Hình 4.11 Diễn biến NH4+ trên sông Cầu giai đoạn 2006 – 2011 -84
Hình 4.12 Diễn biến NO2- trên sông Cầu giai đoạn 2006 – 2011 -85
Hình 4.13 Diễn biến Fe trên sông Cầu giai đoạn 2006 – 2011 -85
Hình 4.14 Diễn biến Coliform trên sông Cầu giai đoạn 2006 – 2011 -86
Hình 4.15 Diễn biến dầu mỡ trên sông Cầu giai đoạn 2006 – 2011 -86
Hình 4.16 Diễn biến COD trên sông Công giai đoạn 2006 – 2011 -87
Hình 4.17 Diễn biến BOD5 trên sông Công giai đoạn 2006 – 2011 -88
Hình 4.18 Diễn biến TSS trên sông Công giai đoạn 2006 – 2011 -88
Hình 4.19 Diễn biến NH4+ trên sông Công giai đoạn 2006 – 2011 -89
Hình 4.20 Diễn biến NO2- trên sông Công giai đoạn 2006 – 2011 -89
Hình 4.21 Diễn biến Fe trên sông Công giai đoạn 2006 – 2011 -90
Hình 4.22 Diễn biến Coliform trên sông Công giai đoạn 2006 – 2011 -90
Hình 4.23 Diễn biến dầu mỡ trên sông Công giai đoạn 2006 – 2011 -91
Hình 4.24 Diễn biến COD trên sông Ngũ Huyện Khê giai đoạn 2006 – 2011- 92 Hình 4.25 Diễn biến BOD5 trên sông Ngũ Huyện Khê giai đoạn 2006 – 2011-92 Hình 4.26 Diễn biến TSS trên sông Ngũ Huyện Khê giai đoạn 2006 – 2011 -93
Hình 4.27 Diễn biến NH4+ trên sông Ngũ Huyện Khê giai đoạn 2006 – 2011 93 Hình 4.28 Diễn biến NO2- trên sông Ngũ Huyện Khê giai đoạn 2006 – 2011- -94
Trang 9Hình 4.29 Diễn biến Fe trên sông Ngũ Huyện Khê giai đoạn 2006 – 2011 -94
Hình 4.30 Diễn biến Coliform trên sông Ngũ Huyện Khê -95
Hình 4.31 Diễn biến dầu mỡ trên sông Ngũ Huyện Khê -95
Hình 4.32 Diễn biến COD trên các sông suối khác giai đoạn 2006 – 2011 -96
Hình 4.33 Diễn biến BOD5 trên các sông suối khác giai đoạn 2006 – 2011 97
Hình 4.34 Diễn biến TSS trên các sông suối khác giai đoạn 2006 – 2011 -97
Hình 4.35 Diễn biến NH4+ trên các sông suối khác giai đoạn 2006 – 2011 -98
Hình 4.36 Diễn biến Fe trên các sông suối khác giai đoạn 2006 – 2011 -98
Hình 4.37 Diễn biến Coliform trên các sông suối khác giai đoạn 2006 – 2011 99 Hình 4.38 Biểu đồ biểu diễn phần trăm giá trị vượt QCVN 08:2008 cột B1 trên toàn LVS Cầu -100
Trang 10đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, khu dân cư… Những nguồn tác động này đãkhiến cho 9 LVS lớn với diện tích khoảng 10.000 km2 của nước ta bị ô nhiễm ở
mức báo động [27].
Không nằm ngoài tầm ảnh hưởng của ô nhiễm, LVS Cầu - lưu vực quantrọng nhất của LVS Thái Bình – cũng đang bị đe dọa bởi tác động của các hoạtđộng phát triển kinh tế - xã hội và đời sống sinh hoạt của người dân Với chiềudài 288 km, LVS Cầu bắt nguồn từ dãy Pia-Bi-óc (Bắc Kạn) và chảy qua cáctỉnh phía Bắc: Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Hà Nội
và Hải Dương Nước sông Cầu tiếp nhận nước thải chủ yếu từ các hoạt động sảnxuất nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt, khai khoáng của các tỉnh thành nàyvới tốc độ ngày càng nghiêm trọng gây suy thoái chất lượng nước sông
Theo các số liệu quan trắc gần đây cho thấy, chất lượng nguồn nước LVSCầu đang có diễn biến khá phức tạp, nhất là khu vực hạ lưu, đồng thời chấtlượng nước LVS ngày càng có chiều hướng ô nhiễm hơn theo từng năm Nhữngtác động của phát triển kinh tế - xã hội của khu vực trong những năm gần đây đãgây ra những thay đổi như thế nào đến chất lượng nước LVS Cầu? Nước LVSCầu còn phục vụ được cho sản xuất và sinh hoạt của người dân hay không?Những nhà quản lý môi trường phải làm gì để quản lý hiệu quả chất lượng LVSCầu? Để làm căn cứ giải đáp những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành thực hiện
Trang 11đề tài “Đánh giá diễn biến chất lượng nước lưu vực sông Cầu giai đoạn 2006
– 2011” nhằm thấy được bức tranh tổng thể về diễn biến chất lượng nước trên
toàn bộ hệ thống lưu vực trong những năm gần đây Từ đó giúp cho nhà quản lýmôi trường có những chiến lược quản lý chất lượng lưu vực hiệu quả và ổn địnhtrong tương lai
- Khảo sát tổng hợp toàn hệ thống lưu vực sông Cầu
- Tìm hiểu và thu thập các thông số đánh giá chất lượng nước mặt của lưuvực sông Cầu trong giai đoạn 2006 - 2011
- Đánh giá, phân tích diễn biến chất lượng nước lưu vực sông qua cácthông số trên
Trang 12Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tổng quan về các hệ thống sông ngòi chính ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới, mưa nhiều, nên có rất nhiều sông rạch,lưu lượng vào mùa mưa rất cao, nhiều phù sa bồi đắp cho các vùng bình nguyên.Với 13 hệ thống sông lớn có diện tích lưu vực trên 10.000 km2, nước tađược coi là quốc gia có mạng lưới sông ngòi phức tạp với hệ thống các sông liênkết dày đặc Nếu chỉ tính các sông có chiều dài từ 10 km trở lên và có dòng chảythường xuyên thì có tới 2.372 con sông Lưu vực của 13 hệ thống sông lớnchiếm hơn 80% diện tích lãnh thổ; 10 trong số 13 hệ thống sông trên là sông liênquốc gia Lưu vực của 9 hệ thống sông chính Hồng, Thái Bình, Bằng Giang - KỳCùng, Mã, Cả-La, Thu Bồn, Ba, Đồng Nai, Cửu Long chiếm tới gần 93 % tổng
diện tích LVS toàn quốc và xấp xỉ 80% diện tích quốc gia [2].
Hệ thống sông ngòi nước ta có nhiều sông bắt nguồn từ các vùng lưu vựcthuộc các quốc gia khác Hệ thống sông lớn như sông Hồng, sông Cửu Long,sông Cả - La có thượng nguồn phát nguyên từ bên ngoài lãnh thổ Việt Nam.Tổng diện tích của các LVS liên quốc gia tính cả nằm trong và nằm ngoài lãnhthổ Việt Nam khoảng 1,2 triệu km2, khoảng gấp 3 lần diện tích của nước ta Các
sông còn lại như Kỳ Cùng – Bằng Giang lại thường hẹp và ngắn, phát nguyên từnội địa
Trong số các con sông quốc tế, sông Mê Kông và sông Hồng là quan trọngnhất Sông Mê Kông – con sông dài nhất Đông Nam Á – bắt nguồn từ TrungQuốc và chảy vào vùng hạ lưu thuộc vùng biên giới chung giao giữa Myanma –Lào – Thái Lan “Vùng hạ lưu” này có diện tích khoảng 600.000 km2 và bao phủmột phần lãnh thổ của bốn nước là Lào, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam ỞViệt Nam, LVS Hồng là lớn nhất Sông Hồng bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam,
Trang 13Trung Quốc, chảy qua miền Bắc nước ta và đổ ra Vịnh Bắc Bộ, tạo thành một
vùng châu thổ rộng lớn [1].
Hình 2.1 Sơ đồ một số lưu vực sông lớn tại Việt Nam [2]
Tổng lượng dòng chảy sông ngòi trung bình hàng năm của nước ta khoảng
847 km3, trong đó tổng lượng ngoài vùng chảy vào khoảng 507 km3 chiếm 60%
nước sông được hình thành trong lãnh thổ nước ta, thì hệ thống sông Hồng có
Trang 14tổng lượng dòng chảy lớn nhất (81,3 km3) chiếm 23,9%, sau đó đến hệ thốngsông Mê Kông (53 km3, 15,6%), hệ thống sông Đồng Nai (32,8 km3, 9,6%)
Bảng 2.1 Một số đặc điểm của 9 hệ thống sông chính ở Việt Nam [2]
Ngoài nước
Trong
Ngoài nước
Trong nước Tổng
Nghìn
m 3 /km 2
m 3 / người
1.167.00
0 507,4 340 847,4 2.560
11.10 0
Tài nguyên nước sông của nước ta tương đối phong phú, chiếm khoảng 2%tổng lượng dòng chảy của các sông trên thế giới, trong khi đó diện tích đất liềnnước ta chỉ chiếm khoảng 1,35% của thế giới Tuy nhiên, do đặc điểm địa lýnước ta kéo dài theo phương kinh tuyến, địa hình bị chia cắt mạnh đã tác độngtrực tiếp tới sự ảnh hưởng của các chế độ gió mùa, là nguyên nhân gây ra nhữngbiến đổi mạnh mẽ theo thời gian (dao động giữa các năm và phân phối khôngđều trong năm) và phân bố rất không đều giữa các hệ thống sông và các vùng Khoảng 60% lượng nước sông toàn quốc tập trung ở đồng bằng sông CửuLong, nơi sinh sống của khoảng 20% dân số cả nước; 40% lượng nước còn lạiphải đáp ứng cho nhu cầu của 80% số dân còn lại trên toàn quốc cũng như đápứng cho 90% các hoạt động sản xuất, thương mại và các hoạt động dịch vụ khác
Trang 1515.4 137
31.7 36.6
52.2
45.5 43.7 507.9
Đông Bắc ĐBSH
DH Nam Trung Bộ Đông Nam Bộ Tây Bắc Bắc Trung Bộ Tây Nguyên ĐBSCL
Hình 2.2 Lưu lượng dòng chảy sông theo các vùng (tỷ m 3/ năm) [1]
Hàng năm lượng nước tập trung trong 3 4 tháng mùa mưa chiếm tới 70 75%, chỉ riêng một tháng cao điểm trong mùa mưa có thể chiếm tới 30% Trongkhi về mùa khô, lượng nước chỉ chiếm 25 - 30% Chính sự phân bố không đềunày là nguyên nhân gây ra lũ, úng, lụt và các đợt hạn hán nghiêm trọng Thiêntai, lũ lụt, bão, úng ngập, hạn hán, chua phèn, xâm nhập mặn thường xuyên làmối đe doạ đối với sản xuất và đời sống dân cư nhiều vùng của nước ta Do vậy,việc điều hoà phân phối nguồn nước, khai thác mặt lợi của nước và giảm thiểu
-tác hại do nước gây ra cần phải được quản lý thống nhất theo LVS [28].
Trong xu thế phát triển kinh tế - xã hội những năm gần đây, dưới tác độngcủa các yếu tố tự nhiên và hoạt động của con người, chất lượng nước ở một sốLVS nước ta đã và đang suy giảm nghiêm trọng Quá trình công nghiệp hóa, đôthị hóa và dân số tăng nhanh khiến lượng thải đổ ra sông ngày càng nhiều Lưuvực của nhiều con sông như sông Nhuệ, sông Đáy, sông Cầu, sông Đồng Nai vànhiều con sông khác đang trong tình trạng báo động vì ô nhiễm nghiêm trọng,hàm lượng nhiều loại chất thải đo được từ các con sông này đều vượt tiêu chuẩncho phép nhiều lần Nguyên nhân chủ yếu là do nước thải chưa qua xử lý từ cáchoạt động khai thác và chế biến khoáng sản, các KCN, làng nghề, nước thải sinh
Trang 162.2.1 Lưu vực sông Nhuệ - Đáy
LVS Nhuệ - Đáy là một trong những LVS lớn, có vai trò đặc biệt quantrọng trong phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Hồng, nhất là 5 địa
hai dòng sông trên vừa là hệ thông tưới tiêu cho nông nghiệp, vừa đảm nhiệmthoát nước đô thị Tuy nhiên, môi trường, chất lượng nước lưu vực hai con sôngnày đang ngày càng suy thoái do sự phát triển nhanh chóng của các làng nghề,KCN của các địa phương trong lưu vực
Hiện nay, với tổng lượng nước thải công nghiệp khoảng 100.000m3/ngàyđêm, Hà Nội đang đứng đầu danh sách 6 tỉnh về lượng nước thải đổ ra sôngNhuệ - Đáy Mặt nước ở các sông nội thành Hà Nội bị ô nhiễm nghiêm trọng,các đoạn sông Nhuệ nhận nước từ sông Tô Lịch cũng có dấu hiệu bị ô nhiễm.Các giá trị COD, BOD5 vượt quá tiêu chuẩn từ 3 - 5 lần Nước sông màu đen, có
váng, cặn lắng và có mùi tanh [29] Đặc biệt, vào mùa khô, mức độ ô nhiễm
càng trở nên trầm trọng hơn Kết quả các đợt quan trắc cuối năm 2005 cho thấygiá trị DO đạt rất thấp Giá trị COD vượt 7 - 8 lần, BOD5 vượt 7 lần (Hình 2.3)
Giá trị Coliform cao hơn TCVN 5942 - 1995 (loại B) [2].
Trang 17Hình 2.3 Hàm lượng BOD 5 tại một số sông trong nội thành Hà Nội [2]
Trang 18Hình 2.4 Nước sông Nhuệ ngay dưới chân cầu Diễn (Từ Liêm, Hà Nội) [30]
Sông Nhuệ gần như đã trở thành con sông “chết” vì nước bị ô nhiễm nặng,hàm lượng ôxy hòa tan trong mẫu nước lấy tại cầu Hà Đông, cầu Tó, Cự Đà…đặc biệt là sau khi nhận nước từ sông Tô Lịch rất thấp, trong khi lượng coliform,thông số COD, BOD5, NH4+… vượt tiêu chuẩn nhiều lần
Theo kết quả giám định của Viện Quy hoạch thủy lợi, Bộ Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn cho thấy, tại cầu Tó - nơi nhận nước thải lớn nhất tại sông
Tô Lịch hàm lượng các chất hóa học đều vượt giới hạn B của TCVN 5942
-1995 nhiều lần Lượng NO2 có lúc đạt 0,508 mg/l (vượt giới hạn B 10 lần);lượng NH4+ là 2,005 mg/l (gấp đôi giới hạn B); lượng Coliform từ 110.000 -
330.000 MPN/100 ml (vượt quá giới hạn B 33 lần) [31].
Hình 2.5 Hàm lượng N-NH 4 + trên sông Nhuệ giai đoạn 2007 – 2009 [5]
Trang 19Qua kết quả quan trắc trên sông Nhuệ giai đoạn 2007 – 2009 (Hình 2.5)thấy rõ, sau khi tiếp nhận nước thải của sông Tô Lịch, nước sông Nhuệ đã bị ônhiễm nặng Có thể thấy nước thải sông Tô Lịch (nguồn tiếp nhận nước thảichính của toàn bộ các quận nội thành Hà Nội) là nguyên nhân chính gây ô nhiễm
cho nước sông Nhuệ [5].
Dọc theo dòng chảy cho tới cuối nguồn mức độ ô nhiễm của nước sôngNhuệ giảm dần, là do đoạn sông này ít chịu tác động của các nguồn thải côngnghiệp xả trực tiếp, đồng thời vào mùa mưa lưu lượng nước sông lớn, tốc độdòng chảy cao làm tăng khả năng tự làm sạch của nước Chất lượng nước sôngNhuệ - Đáy từng lúc khác nhau do phụ thuộc vào thời gian mở cống Liên Mạc
và mực nước của sông Hồng [32].
Còn chất lượng nước sông Đáy thường thay đổi thất thường, phụ thuộc rấtnhiều vào chất lượng nước thải từ hai bên bờ sông Đáy trên suốt chiều dài củasông Mức độ ô nhiễm sông Đáy mang tính cục bộ với mức độ ngày càng giatăng, đặc biệt nước sông chịu ảnh hưởng của ô nhiễm sông Nhuệ
Trang 20Hình 2.6 Diễn biễn COD theo các năm (giá trị trung bình năm) của sông
Đáy tại Hà Nam (trung lưu) và Nam Định (hạ lưu) [13]
Trong đó, nặng nề nhất là đoạn cầu Hồng Phú (Phủ Lý, Hà Nam - hợp lưucủa sông Nhuệ, Đáy và sông Châu Giang) Tại đây, nước sông bị ô nhiễm hữu
không đạt tiêu chuẩn cho phép
Trang 21Hình 2.7 Diễn biến COD tại Tế Tiêu và cầu Hồng Phú (hợp lưu sông:
Nhuệ, Đáy, Châu Giang) [2]
Tình trạng này diễn ra tương tự tại đoạn hợp lưu của sông Hoàng Long đổvào sông Đáy (cầu Gián Khẩu - Gia Viễn - Ninh Bình) và xu hướng ô nhiễmngày một gia tăng theo từng năm Phần hạ lưu sông Đáy, mặc dù nguồn thải ởthượng nguồn dồn về đã được pha loãng cộng với quá trình tự làm sạch củadòng sông nhưng do ảnh hưởng của nguồn thải từ hai bên sông nên chất lượngnước ở hạ lưu sông Đáy vẫn không được cải thiện nhiều so với các đoạn trên.Các thông số thể hiện mức độ ô nhiễm vẫn không đạt tiêu chuẩn TCVN 5942-
1995 loại A, dù một số nơi đã đạt tiêu chuẩn loại B [2].
Trong những năm gần đây, chất lượng nước sông Đáy có sự suy giảm, cácthông số đều không đạt QCVN 08:2008/BTNMT loại A1 (Hình 2.8) nhưng mức
độ ô nhiễm nhẹ hơn sông Nhuệ [5].
Trang 22Hình 2.8 Diễn biến hàm lượng COD tại sông Đáy giai đoạn 2007 – 2009 [5]
Các sông khác trong lưu vực như sông Tích, Châu Giang, Hoàng Long…cũng đã bị ô nhiễm hữu cơ và có xu hướng suy giảm chất lượng nước dần theocác năm
2.2.2 Lưu vực sông Đồng Nai
LVS Đồng Nai là LVS lớn thứ ba ở Việt Nam, có ý nghĩa cực kỳ quantrọng cho cả khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam Đáng buồn thay, khi kinh tếkhu vực đang ngày càng phát triển thì LVS Đồng Nai đang chết dần chết mòn vìtình trạng ô nhiễm Các địa phương trên LVS Đồng Nai đã và đang phải đối mặtvới vấn đề ô nhiễm các nguồn nước với xu hướng ngày một gia tăng, đặc biệt là
ở khu vực hạ lưu của hệ thống sông này
Trên sông Đồng Nai, có nhiều đoạn đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, đặc biệt làvùng hạ lưu Nước sông Đồng Nai, đoạn từ nhà máy nước Thiện Tân đến LongĐại - Đồng Nai đã bắt đầu ô nhiễm chất hữu cơ và chất rắn lơ lửng, đặc biệt
đoạn chảy qua thành phố Biên Hòa [5].
Trang 23Hình 2.9 Tần suất vượt QCVN 08:2008/BTNMT (A1) của một số thông số
ô nhiễm tại sông Đồng Nai đoạn qua thành phố Biên Hòa [5]
Hình 2.10 Diễn biến hàm lượng BOD 5 dọc theo sông Đồng Nai
giai đoạn 2006 – 2009 [5]
tiêu về môi trường ở hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai đã vượt tiêu chuẩn chophép ở mức độ báo động, trong đó nghiêm trọng nhất là ô nhiễm hữu cơ, vi sinh,kim loại nặng và dầu mỡ Đặc biệt, vùng này cũng đã bị nhiễm mặn nghiêm
Trang 24trọng, nước sông ở khu vực này không thể sử dụng cho mục đích cấp nước sinhhoạt và tưới tiêu
Còn hệ thống sông Sài Gòn đã và đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, ở mứcbáo động cao, chủ yếu là ô nhiễm chất hữu cơ, vi sinh và một số nơi đã có dấuhiệu ô nhiễm kim loại nặng
Chất lượng nước trên các đoạn sông trung lưu (khu vực cầu Bến Súc, cửasông Thị Tính ) bị ô nhiễm cục bộ bởi các chất hữu cơ Kết quả quan trắc tạicác khu vực cho thấy, giá trị DO đạt thấp, N-NH4+ vượt TCVN 5942 - 1995 (loại
chuẩn Nước sông bắt đầu bị ô nhiễm từ khu vực cửa sông Thị Tính và tăng dần
về phía hạ lưu [2].
Kết quả quan trắc ở các trạm Phú Cường (phía trên nhà máy nước TânHiệp) và Hoá An (nguồn nước thô để dẫn về nhà máy nước Thủ Đức) cho thấynồng độ DO trong nước sông giảm liên tục từ năm 1998 đến nay và giảm xuốngthấp hơn tiêu chuẩn cho phép TCVN 5942 - 1995, loại A (6 mg/l) từ khoảngnăm 2000 Đến giai đoạn 2005 - 2007, nồng độ DO ở hai trạm này luôn nhỏ hơntiêu chuẩn cho phép từ 2 - 3 lần chứng tỏ chất lượng nguồn nước đã bị suy giảmnghiêm trọng làm ảnh hưởng đến chất lượng đầu vào nguồn nước cấp thành phố
Trang 25Hình 2.11 Diễn biến nồng độ oxy hòa tan trên sông Sài Gòn tại 2 trạm
Phú Cường và Hóa An [8]
Nồng độ Coliform ở 2 trạm này có diễn biến phức tạp trong 10 năm qua.Nồng độ Coliform tăng đột biến từ 1998 - 2004 Vào năm 2004, hàm lượngColiform vượt TCVN 5942 - 1995 loại A (5000 MPN/100ml) từ 12 -14 lần Sau
đó lại có xu hướng giảm đáng kể đến năm 2006 Tuy nhiên, đến năm 2007,Coliform lại tăng lên, đặc biệt là trạm Phú Cường mức vượt tiêu chuẩn cho phéptăng từ 2 lần lên khoảng 12 lần chỉ sau 1 năm
Trang 26Hình 2.12 Diễn biến nồng độ Coliform trên sông Sài Gòn tại 2 trạm
Phú Cường và Hóa An [8]
Hàm lượng dầu mỡ đo tại các trạm Phú Cường, Bình Phước, Phú An daođộng khoảng 0,03mg/l, trong khi tiêu chuẩn quy định không cho phép dầu hiệndiện trong nguồn nước dùng làm nguồn cấp nước sinh hoạt (Hình 2.13)
Hình 2.13 Diễn biến dầu mỡ qua các năm tại một số trạm trên
Trang 27vực tăng mạnh Điều đáng nói là N-NH4+ ở tất cả cửa sông đều vượt QCVNloại nước A1 như phà Bình Khánh, đập Tam Thôn Hiệp, sông Soài Rạp
[33].
Chất lượng nước của một số sông nhánh trong lưu vực như sông Bé, ĐaNhim - Đa Dung… phần hạ lưu cũng đang diễn biến theo chiều hướng xấu đi Ônhiễm nhất trong lưu vực là sông Thị Vải có một đoạn sông "chết" dài trên 10
chục ngàn khối nước thải trực tiếp từ các nhà máy, khu công nghiệp đổ vào,trong đó chủ yếu là nước thải từ công ty Vedan Việt Nam
Tại đây, nước bị ô nhiễm hữu cơ trầm trọng, có màu nâu đen và bốc mùihôi thối cả ngày lẫn đêm, cả khi thủy triều Kết quả giám sát chất lượng nước tạikhu vực Vedan thuộc Dự án hạ lưu sông Đồng Nai do Trung tâm Chất lượngnước và Môi trường thực hiện từ 1999 – 2004 cho thấy sau năm 2000, nướcsông Thị Vải đã rất xấu, DO thường rất thấp, hiếm khi cao hơn 1 mg/l Tìnhtrạng ô nhiễm sông đã kéo dài liên tục và ngày càng trở nên trầm trọng cho tới
khi đoàn kiểm tra liên ngành phát hiện ra vụ Vedan [26].
Theo kết quả khảo sát của Bộ Tài nguyên và Môi trường, giá trị DO thườngxuyên dưới 0,5 mg/l (giá trị thấp nhất tại khu vực cảng Vedan (0,04 mg/l) Vớigiá trị DO gần bằng 0 như vậy, các loài sinh vật không còn khả năng sinh sống.Thông số N-NH4+ cũng vượt quá TCVN 5942 - 1995 (loại B) từ 3 - 15 lần, giá
trị Coliform vượt TCVN (loại B) từ vài chục đến hàng trăm lần [2] Tuy nhiên,
hiện nay, với nỗ lực của các cấp chính quyền, các doanh nghiệp bắt buộc phảituân thủ các biện pháp kiểm soát ô nhiễm nên chất lượng nước đã cải thiện phầnnào Đoạn ô nhiễm trên sông Thị Vải đã được cải thiện, hàm lượng oxy hòa tantrong nước tăng lên đáng kể từ đầu năm 2009 (Hình 2.14)
Trang 28Hình 2.14 Diễn biến DO dọc sông Thị Vải tháng 8/2008 và tháng 3/2009 [5]
Hình 2.15 Cả một khúc sông Thị Vải thuộc lưu vực sông Đồng Nai bị ô
nhiễm, nổi bọt trắng xóa [34]
2.3 Tình hình quản lý chất lượng nước các lưu vực sông ở Việt Nam
2.3.1 Pháp luật liên quan đến quản lý chất lượng nước lưu vực sông
Nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc quản lý tổng hợp LVS, trong thờigian qua nhiều văn bản quy phạm pháp luật có liên quan được ban hành đã góp
Trang 29Trong đó có thể kể ra các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng như: Luật Bảo
vệ môi trường (2005), Luật Tài nguyên nước (1998), Luật Đất đai (2003), hệthống Tiêu chuẩn Việt Nam - Các tiêu chuẩn chất lượng nước sông, hồ (banhành năm 1995, sửa đổi năm 2001 và 2005), và hàng loạt các văn bản dưới luật
khác [2].
Việc quản lý LVS đã được quy định tại Luật Tài nguyên nước, ban hànhnăm 1998 Tuy nhiên, Luật cũng chưa quy định cụ thể về quản lý LVS, chưaquy định nguyên tắc, nội dung quản lý tổng hợp LVS… Vì vậy, việc triển khaithực hiện công tác quản lý tổng hợp LVS trên thực tế còn nhiều khó khăn,vướng mắc Dự thảo Luật sửa đổi Luật Tài nguyên Nước (TNN) năm 1998 đangđược xây dựng, nhằm bảo vệ TNN hiệu quả; sử dụng nước hợp lý, tiết kiệm;phòng, chống, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra tốt hơn; tăng cườnghiệu lực quản lý Nhà nước về TNN trong tình hình mới
Quản lý LVS không chỉ quản lý về mặt số lượng mà còn quản lý về mặtchất lượng nước Tình trạng ô nhiễm nguồn nước đang gia tăng ở nước ta đòihỏi phải có sự phối hợp giữa các địa phương vùng thượng lưu với các địaphương vùng hạ lưu Thực tế, việc xây dựng các đề án quản lý môi trường LVSCầu, sông Nhuệ - Đáy và sông Đồng Nai cho thấy, không thể tách rời quản lýTNN với bảo vệ môi trường có liên quan đến TNN Để khắc phục những nhượcđiểm về thể chế trong việc quản lý LVS, ngày 01/12/2008 Chính phủ đã banhành Nghị định số 120/2008/NĐ-CP về Quản lý lưu vực sông
Tuy đã có hàng loạt các văn bản pháp luật đã được ban hành, song hiệu quảquản lý tại các LVS chưa cao do hệ thống chính sách, văn bản pháp quy liênquan đến bảo vệ chất lượng nước ở lưu vực sông còn thiếu và chưa đồng bộ
2.3.2 Tổ chức quản lý môi trường lưu vực sông
2.3.2.1 Cấp quốc gia
Trang 30Tháng 8/2002, Quốc hội đã quyết định thành lập Bộ Tài nguyên và Môitrường (TN&MT) Việc giao chức năng quản lý TNN từ Bộ Nông nghiệp vàPhát triển Nông thôn sang Bộ TN&MT đã tách quản lý Nhà nước về TNN ra
khỏi quản lý theo mục đích sử dụng [2] Như vậy, Bộ TN&MT là cơ quan
Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên các LVS trong phạm vi cảnước
Các Bộ liên quan có trách nhiệm trong quản lý chất lượng nước trong cácLVS gồm Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Xây dựng, Bộ Côngthương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Thương mại, Bộ Tài chính…
Thành lập ba Ủy ban Bảo vệ môi trường của ba LVS: Cầu, Nhuệ - Đáy vàĐồng Nai Đây là những tổ chức chỉ đạo và phối hợp liên ngành, liên tỉnh thựchiện ba phê chuẩn các dự án về bảo vệ môi trường LVS
2.3.2.2 Cấp liên vùng và địa phương
Ở các địa phương, từ năm 2003 (sau khi thành lập Bộ TN&MT), các cơquan TN&MT đã được thành lập Các Sở TN&MT đều có Phòng quản lý môitrường (TP Hồ Chí Minh có Chi Cục BVMT) Một số tỉnh cũng đã thành lậpcác Trung tâm Quan trắc tập trung vào giám sát chất lượng nước sông và hồ.Công tác quản lý nhà nước về TNN ở các địa phương bước đầu được quan tâm
Trang 31- Các Ủy viên:
+ Lãnh đạo UBND các tỉnh, thành phố trên LVS + Các lãnh đạo Bộ, ngành có liên
quan
Các nhà tài trợ trong và ngoài nước
Các chuyên gia đa ngành
Các phòng ban của Bộ/
ngành có liên quan
Văn phòng UBBVMT LVS (thuộc Cục Môi
trường Việt Nam)
Sở TN&MT, các Sở/ ngành khác
Quan hệ quản lý trực tiếpTham gia, hỗ trợ
Hình 2.16 Sơ đồ quản lý lưu vực sông từ Trung ương đến địa phương [25]
Tuy nhiên, sự phối hợp giữa các cơ quan Bộ, ngành và địa phương để giảiquyết các vấn đề về LVS còn yếu Giữa các địa phương trong cùng lưu vực chưatìm được tiếng nói chung, chưa thống nhất và hợp tác chặt chẽ trong công tácquản lý môi trường lưu vực
2.3.3 Tình hình thực hiện công tác đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và cấp phép xả nước thải ở lưu vực sông
Những năm qua, nỗ lực thực hiện công tác ĐTM của các tỉnh/thành phốtrong các LVS thời gian qua là rất đáng khích lệ, góp phần không nhỏ để bảo vệmôi trường các LVS Tuy nhiên, tỷ lệ báo cáo ĐTM và bản đăng ký đạt tiêuchuẩn môi trường được thẩm định và phê duyệt trên tổng số các dự án và cơ sở
Trang 32thuộc diện phải lập báo cáo ĐTM còn thấp; số báo cáo ĐTM và bản đăng ký đạttiêu chuẩn môi trường được phê duyệt giữa các tỉnh/thành cũng không đồng đều;hoạt động sau thẩm định báo cáo ĐTM còn rất yếu…
Tại các địa phương thuộc LVS, nhiều nơi đã thực hiện việc thống kê các cơ
sở xả thải thuộc diện phải xin cấp phép, nhưng cho đến nay trên LVS Cầu, Nhuệ
- Đáy, Đồng Nai, số lượng giấy phép xả nước thải vào nguồn nước cấp được cònrất ít so với số lượng các đối tượng phải xin cấp phép Tính đến cuối tháng6/2006, mới có rất ít giấy phép được cấp trong tổng số khoảng hàng trăm các cơ
sở sản xuất kinh doanh thuộc diện phải xin cấp phép xả nước thải, cho thấy công
tác này mới chỉ được bắt đầu và cần triển khai mạnh mẽ trong thời gian tới [2].
2.3.4 Áp dụng các công cụ kinh tế
Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam là tổ chức tài chính nhà nước thực hiệnchức năng tài trợ tài chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trên phạm vi cảnước mà không vì mục đích lợi nhuận Thời gian qua, Quỹ Bảo vệ môi trường
Việt Nam đã và đang đóng góp thiết thực cho mục tiêu “Vì một Việt Nam
xanh” Trong những năm gần đây, Quỹ đã tiến hành cho vay vốn với lãi suất ưu
đãi với các dự án thuôc các LVS như "Đề án tổng thể Bảo vệ môi trường lưu
vực sông Nhuệ - sông Đáy đến năm 2020" hay tăng cường hỗ trợ vốn đầu tư bảo
vệ môi trường lưu vực hệ thống sông Đồng Nai năm 2010… Mặc dù số dự ánlập hồ sơ vay vốn và số dự án được chấp thuận cho vay vốn tại các tỉnh, thànhphố thuộc các LVS là rất ít song đây là dấu hiệu rất đáng mừng, tạo đà cho việcphát triển và áp dụng các công cụ kinh tế khác trong bảo vệ môi trường LVS.Một công cụ kinh tế hữu hiệu trong công tác bảo vệ môi trường, đặc biệt làLVS là phí bảo vệ môi trường đối với nước thải Cùng với Nghị quyết số 41/NQ– TW của Bộ Chính trị, Chiến lược Bảo vệ môi trường (BVMT) quốc gia đếnnăm 2010 và định hướng đến năm 2020, Luật BVMT năm 2005, phí BVMT đốivới nước thải được quy định theo Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003,
Trang 33nay được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 04/2007/NĐ-CP ngày 08/11/2007
và Nghị định 26/2010/ NĐ-CP ngày 22/3/2010 của Chính phủ Việc áp dụngmức phí này đã góp phần BVMT nước LVS bởi các hoạt động xả thải, đồng thời
có thêm nguồn kinh phí đầu tư cho hoạt động BVMT,tạo đà quan trọng cho việc
năm 2005 của các Sở TN&MT thuộc LVS Cầu, Nhuệ - Đáy, Đồng Nai, các tỉnhnày đã thu được hơn 132,1 tỷ đồng; trong đó, phí nước thải công nghiệp là hơn13,4 tỷ đồng (chiếm khoảng 10,2%) và phí nước thải sinh hoạt đạt hơn 118,7 tỷ
đồng (chiếm khoảng 89,8%) [2].
2.3.5 Công tác kiểm tra, thanh tra
Kiểm tra, thanh tra về hoạt động BVMT của các cơ sở sản xuất, kinhdoanh, dịch vụ và khu công nghiệp có nước thải công nghiệp gây nguy cơ ônhiễm nước sông là việc làm hết sức cấp thiết nhằm BVMT các LVS
Để tăng cường công tác BVMT, năm 2006 đã thành lập lược lực lượngCảnh sát môi trường, Thanh tra Tổng cục Môi trường năm 2009 Trong nhữngnăm qua, hàng loạt các vụ việc liên quan đến vi phạm môi trường, đặc biệt làcác vụ liên quan đến chất lượng nước LVS đã được các cơ quan này phát hiện
và xử phạt theo quy định của pháp luật Tiêu biểu nhất là vụ Vedan xả chất thải
ra sông Thị Vải vụ gây ô nhiễm môi trường được Cục Cảnh sát môi trường
-Bộ Công an Việt Nam phối hợp với -Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam
phát hiện ngày 13/9/2008 tại Công ty Vedan Việt Nam [35].
2.3.6 Thực hiện quy hoạch lưu vực sông
Trên phạm vi của các LVS và các vùng lãnh thổ lớn, công tác quy hoạchTNN lưu vực đến nay đã được triển khai Ngày 13/02/2006, Bộ TN&MT đã cócác Quyết định phê duyệt đề cương và tổng dự toán dự án Quy hoạch TNN lưuvực sông Đồng Nai, Vùng cực Nam Trung Bộ và Vùng kinh tế trọng điểm Bắc
Bộ [2].
Trang 34Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã thành lập và đang quản lý 8Ban Quản lý quy hoạch LVS, cụ thể Ban Quản lý quy hoạch LVS Hồng – TháiBình, Cầu, Nhuệ - Đáy, Cả, Vũ Gia – Thu Bồn, Đồng Nai, Serepok và CửuLong.
Kể từ năm 2002, Chính phủ đã giao chức năng quản lý TNN cho BộTN&MT Bộ này đã tham mưu Chính phủ thành lập 3 Uỷ ban Bảo vệ Môitrường là Uỷ ban BVMT LVS Cầu, Đồng Nai và Nhuệ - Đáy
Đến năm 2008, Chính phủ đã giao cho Bộ TN&MT thống nhất quản lýTNN và LVS thông qua các tổ chức Uỷ ban Lưu vực sông sẽ được thành lậptrong tương lai Nhiệm vụ này đã được quy định bởi Nghị định 120/2008/NĐ-
CP của Chính phủ về Quản lý LVS [36].
Như vậy có thể thấy cùng trên một LVS song lại có nhiều cơ quan quản lý,với tên gọi khác nhau, nhưng chất lượng các dòng sông thì xấu đi từng ngày.Chính vì thế, điểm nổi bật nhất của mô hình quản lý LVS hiện nay hết sứcchồng chéo Đến nay các mô hình này đều được đánh giá là không hiệu quả,chưa khai thác được tiềm năng của các LVS, đồng thời chưa bảo vệ được môitrường các LVS
2.3.7 Xây dựng nguồn lực
2.3.7.1 Đội ngũ cán bộ
Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý môi trường nói chung và quản lý môitrường LVS nói riêng giữa các tỉnh cũng không đồng đều Lực lượng cán bộđang rất thiếu hụt về số lượng và còn nhiều hạn chế về năng lực
Theo tính toán sơ bộ, trong tổng số khoảng 1.200 cán bộ quản lý môitrường ở Việt Nam thì chỉ có gần 150 cán bộ quản lý môi trường LVS Chỉ sốnăng lực ước tính theo số lượng nhân sự cho thấy các chỉ số năng lực về bảo vệmôi trường LVS của Việt Nam rất thấp, chỉ đạt khoảng 1,8 cán bộ/ 1 triệu dân.Các cán bộ hiện tại đang làm việc trong lĩnh vực BVMT sông phần lớn đều
Trang 35không được đào tạo chuyên ngành về môi trường và TNN, lại phải kiêm nhiệm
nhiều lĩnh vực nên kiến thức về BVMT LVS thường không sâu [2].
2.3.7.2 Đầu tư tài chính
Nguồn chi cho quản lý và BVMT LVS từ ngân sách nhà nước không được
ngừng tăng Tuy nhiên, đầu tư cho hoạt động bảo vệ môi trường LVS còn ít,chưa đáp ứng yêu cầu
Hình 2.17 Tỷ lệ ước tính về tổng đầu tư cho hoạt động bảo vệ môi trường
lưu vực sông trên tổng diện tích của 3 LVS Cầu, Nhuệ - Đáy, Đồng Nai [2]
Nhằm nâng cao hoạt động BVMT LVS trong giai đoạn hiện nay, năm
2011, chương trình mục tiêu quốc gia về khắc phục ô nhiễm và cải thiện môitrường vừa được Quốc hội thông qua xác định kinh phí 10.100 tỷ đồng dành cho
3 LVS đến năm 2015 là nội dung đặc biệt có ý nghĩa đối với các địa phương trênlưu vực Trong đó ngân sách Trung ương là 2.500 tỷ, ngân sách địa phương vàvốn ODA (viết tắt của cụm từ Official Development Assistance - Hỗ trợ pháttriển chính thức) là 7.600 tỷ Khoản tiền này chưa phải là đủ, nhưng rất quan
trọng đối với công tác ngăn ngừa ô nhiễm, cải thiện cho cả 3 LVS [37].
Trang 362.3.7.3 Quan trắc và thông tin môi trường
Từ năm 2005, Chương trình quan trắc tổng thể 3 LVS: Cầu, Nhuệ - Đáy,Đồng Nai đã được Cục Bảo vệ môi trường phê duyệt và hoạt động quan trắctrong các LVS này cũng đã bắt đầu được tiến hành bởi Trung tâm Quan trắc môitrường Quốc gia Tuy nhiên, do giới hạn về kinh phí, hoạt động quan trắc chưađược tiến hành với đầy đủ số điểm quan trắc và tần suất như thiết kế trongChương trình
Ngoài ra, nhiều tỉnh/thành trong các LVS cũng đã thành lập Trung tâmQuan trắc môi trường nhằm theo dõi, giám sát diễn biết chất lượng môi trườngnói chung, phục vụ công tác quản lý, BVMT của địa phương Hoạt động quantrắc môi trường nước LVS của các địa phương ngày càng được tăng cường, số
điểm quan trắc, tần suất và thông số quan trắc cũng ngày càng tăng [2].
Thực trạng tại các LVS chưa có hệ thống dữ liệu thông tin nhằm phục vụquản lý chất lượng nước khu vực Trên thực tế, dữ liệu về LVS còn rời rạc, chưađược hệ thống hóa dẫn tới việc tìm kiếm thông tin cần thiết trong núi dữ liệuchậm, khai thác dữ liệu khó khăn, báo cáo môi trường tốn nhiều thời gian Từ đócông tác theo dõi biến động và dự báo chưa được đầy đủ và khoa học nên việcđánh giá hiệu quả công tác BVMT tại các LVS còn gặp nhiều khó khăn
Trong những năm gần đây, mặc dù Việt Nam đã có những đề tài, dự ánnghiên cứu môi trường LVS, tuy nhiên, chưa thực sự phục vụ đắc lực cho yêucầu lâu dài của công tác quản lý Trong khi đó, công tác quản lý môi trường tạicác LVS, đòi hỏi phải quản lý một khối lượng lớn các dữ liệu
Trong năm 2006, Cục Bảo vệ môi trường phối hợp với các tỉnh trong lưuvực tiến hành xây dựng và cập nhật thông tin cho trang thông tin điện tử về môitrường 3 LVS
Một số địa phương trên các LVS đã tiến hành xây dựng cơ sở dữ liệu môitrường tại địa phương mình Tuy nhiên, chưa có các cơ sở dữ liệu ở cấp lưu vực
Trang 37hoặc tiểu lưu vực Việc trao đổi, chia sẻ số liệu, thông tin môi trường giữa các
tỉnh trong lưu vực và giữa các lưu vực với nhau cũng còn nhiều hạn chế [2].
Hiện nay, sự phát triển của công nghệ thông tin đã cho ra đời những môhình quản lý và xử lý dữ liệu không gian mới có nhiều ưu việt hơn chẳng hạnnhư bản đồ số, cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin địa lý (GIS), mô hình hóa trongcông tác quản lý các LVS Là nguồn cung cấp nước chính, đồng thời lại là nơitiếp nhận hầu hết các nguồn thải từ các đô thị và khu công nghiệp trong vùng,các LVS đang đứng trước những thách thức lớn trong duy trì và cải thiện chấtlượng nước Vì vậy, việc ứng dụng hệ thống thông tin môi trường hỗ trợ và phục
vụ công tác quản lý chất lượng nước LVS của các cơ quan quản lý nhà nước là
một điều hết sức cần thiết [38].
2.3.8 Sự tham gia của cộng đồng
Vai trò của cộng đồng rất quan trọng, không có thể thay thế được trong sự
công của các hoạt động BVMT phụ thuộc rất nhiều vào sự tham gia của cộngđồng
Tuy nhiên, sự tham gia của cộng đồng trong công tác BVMT LVS hiện vẫncòn nhiều hạn chế: sự tham gia của cộng đồng vào các quá trình ra quyết định,hoạch định chính sách và các hoạt động quản lý môi trường vẫn còn nhiều hạnchế, nhận thức và trách nhiệm BVMT LVS và tuân thủ pháp luật của các doanh
nghiệp và cộng đồng chưa cao… [2] Điều này còn gây nhiều khó khăn cho hoạt
động quản lý chất lượng nước các LVS của nước ta
Trang 38Phần III ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Chất lượng nước mặt lưu vực sông Cầu
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Toàn bộ lưu vực sông Cầu
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của lưu vực sông Cầu
- Các nguồn ô nhiễm chính trên lưu vực sông Cầu
- Hiện trạng chất lượng nước lưu vực sông Cầu
- Đánh giá, phân tích diễn biến chất lượng nước lưu vực sông Cầu giaiđoạn 2006 – 2011
- Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm bảo vệ chất lượngnước mặt trên lưu vực sông Cầu
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Phương pháp thu thập các tài liệu, các nghiên cứu, báo cáo, các số liệuquan trắc liên quan đến lưu vực sông Cầu:
- Các thông tin về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của lưu vựcsông Cầu
- Các số liệu đo đạc, quan trắc chất lượng nước sông Cầu qua các năm từ
2006 – 2011
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Phương pháp khảo sát thực địa:
Trang 39- Khảo sát khu vực lưu vực sông Cầu.
- Quan sát thực tế để đánh giá sơ bộ hiện trạng chất lượng lưu vực sôngCầu
3.3.3 Phương pháp ước tính nguồn thải
Sử dụng các hệ số phát thải đã được xây dựng từ các công trình nghiên cứucủa các nhà khoa học, các tổ chức về bảo vệ môi trường để tính toán, ước lượngcác nguồn nước thải
3.3.4 Phương pháp xử lý số liệu
- Số liệu thu thập được thống kê và xử lý bằng phần mềm Excel
- Kết quả được trình bày bằng bảng số liệu, biểu đồ, bản đồ
Trang 40Phần IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của lưu vực sông Cầu
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
LVS Cầu là lưu vực quan trọng nhất trong hệ thống sông Thái Bình Trong
đó, sông Cầu là dòng sông chính của lưu vực, bắt nguồn từ vùng núi Phia-Đengcao 1.527m ở sườn Đông Nam của dãy Pia-bi-óc, vùng núi cao của tỉnh BắcKạn Sông Cầu có hướng chảy Bắc - Nam từ Bắc Kạn về Thái Nguyên, sau đóđổi hướng Tây Bắc - Đông Nam, chảy qua Chợ Đồn, Chợ Mới, Thái Nguyên,Bắc Giang, Bắc Ninh và đổ vào sông Thái Bình tại Phả Lại - Hải Dương Tổngchiều dài của sông Cầu khoảng 288 km
LVS Cầu nằm ở toạ độ từ 21007’ đến 22018’ vĩ độ Bắc, 105028’ đến
106008’ kinh độ Đông, diện tích 6.030 km2, tổng chiều dài các nhánh sôngkhoảng 1.600 km Lưu vực được giới hạn bởi:
- Phía Tây giới hạn bởi cánh cung sông Gâm
- Phía Đông giới hạn bởi cánh cung Ngân Sơn
- Phía Bắc và Tây Bắc giới hạn bởi những dãy núi cao hơn 1000m
- Phía Nam giáp với tỉnh Hải Dương và thành phố Hà Nội