TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA LUẬT Cần Thơ, tháng 03 năm 2023 Cần Thơ, tháng 10 năm 2021 Cần Thơ, tháng 10 năm 2022 Cần Thơ, tháng 10 năm 2021 Cần Thơ, tháng 10 năm 2022 Cần Thơ, tháng 10 năm 2021 Cần T[.]
Trang 1Cần Thơ, tháng 03 năm 2023 Cần Thơ, tháng 10 năm 2021 Cần Thơ, tháng 10 năm 2022 Cần Thơ, tháng 10 năm 2021 Cần Thơ, tháng 10 năm 2022 Cần Thơ, tháng 10 năm 2021 Cần Thơ, tháng 10 năm 2022 Cần Thơ, tháng 10 năm 2021 Cần Thơ, tháng 03 năm 2023 Cần Thơ, tháng 10 năm 2021 Cần Thơ, tháng 10 năm 2022 Cần Thơ, tháng 10 năm 2021 Cần Thơ, tháng 10 năm 2022
BÀI BÁO CÁO MÔN LUẬT NGÂN HÀNG
Nhóm học phần: 01
Mã học phần: KL388
Giảng viên hướng dẫn:
ThS Lê Huỳnh Phương Chinh
HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Sinh viên thực hiện: NHÓM 02
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM VÀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HOÀN THÀNH
Cần Thơ, tháng 10 năm 2022 Cần Thơ, tháng 10 năm 2021 Cần Thơ, tháng 10 năm 2022 Cần Thơ, tháng 10 năm 2021 Cần Thơ, tháng 10 năm 2022 Cần Thơ, tháng 10 năm 2021 Cần Thơ, tháng 03 năm 2023 Cần Thơ, tháng 10 năm 2021 Cần Thơ, tháng 10 năm 2022 Cần Thơ, tháng 10 năm 2021 Cần Thơ, tháng 10 năm 2022 Cần Thơ, tháng 10 năm 2021 Cần Thơ, tháng 10 năm 2022 Cần Thơ, tháng 10 năm 2021
Trang 3
Trang 4
1.1 Khái quát chung về tài chính vi mô 1
1.1.1 Sự hình thành và phát triển của hoạt động tài chính vi mô ở Việt Nam 1
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của tài chính vi mô 2
1.1.2.1 Khái niệm tài chính vi mô 2
1.1.2.2 Đặc điểm của tài chính vi mô 3
1.2 Vai trò của hoạt động tài chính vi mô trong nền kinh tế 5
1.3 Quản lý Nhà nước về hoạt động tài chính vi mô 5
1.4 Đánh giá chung về hoạt động tài chính vi mô trong nền kinh tế hiện nay 6
1.4.1 Những thành công 6
1.4.2 Những hạn chế 7
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ 8
2.1 Quy định của pháp luật về hoạt động tài chính vi mô 8
2.1.1 Hoạt động huy động vốn 9
2.1.2 Hoạt động cấp tín dụng 10
2.1.3 Hoạt động mở tài khoản và thanh toán 12
2.2 Quy định của pháp luật về đối tượng hoạt động tài chính vi mô 12
2.3 Quy định về tổ chức, hoạt động của Quỹ xã hội, Quỹ từ thiện và thành lập, tổ chức và hoạt động của các Hội, Hiệp hội trong liên hệ đến hoạt động tài chính vi mô 15
2.4 Quyết định số 2195/QĐ-TTg về việc Phê duyệt “Đề án xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô tại Việt Nam đến năm 2020” 17
CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ HIỆN NAY 20
3.1 Thực trạng về hoạt động tài chính vi mô ở Việt Nam hiện nay 20
3.1.1 Ưu điểm 20
3.1.2 Khuyết điểm 22
3.2 Kiến nghị những giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động tài chính vi mô 23
3.2.1 Kiến nghị về phạm vi hoạt động tài chính vi mô 23
Trang 61 Lý do chọn đề tài
Nhằm tạo điều kiện cho những cá nhân có thu nhập thấp Ngoài Ngân hàng Chínhsách xã hội, nước ta cần nhiều hơn các tổ chức tài chính hướng đến những cá nhân đógiúp họ có thể tiếp cận đến hệ thống tài chính chính thức và những dịch vụ tài chínhnhỏ tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm, và các dịch vụ khác Theo đó tài chính vi mô có vaitrò quan trọng đối với các nước đang phát triển có đặc điểm kinh tế là các khu vựcnông nghiệp nông thôn tỷ trọng lớn, tỷ lệ đói nghèo cao
Phát triển tài chính vi mô bền vững là mục tiêu quan trọng của ngành tài chính vi
mô Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế Với khung pháp lý ngàycàng hoàn thiện, các quy định liên quan tới các tổ chức tài chính vi mô chính thức là
“tiêu chuẩn” để các tổ chức có hoạt động tài chính vi mô hướng đến mục tiêu bềnvững thể chế
Cho đến nay sau nhiều thập kỷ hình thành và phát triển, tài chính vi mô đã khẳngđịnh được vai trò tầm quan trọng trong công cuộc giảm nghèo vì sự phát triển cộngđồng tại các quốc gia trên thế giới Giống như những quốc gia đang phát triển khác,các tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cảithiện điều kiện kinh tế của những hộ lao động nghèo, những người không thể nào thểnào tiếp cận với những khoản vay từ các nguồn tín dụng chính thức Tuy nhiên, trongquá trình hoạt động tài chính vi mô vẫn phát sinh một số vấn đề khó khăn trong quyđịnh của pháp luật về phạm vi hoạt động tài chính vi mô và khoản tiền vay, lãi suất
Do đó, việc đánh giá pháp luật về phạm vi, khoản tiền vay, lãi suất là cần thiết để tạokhuôn khổ pháp lý thuận lợi, định hướng cho sự phát triển của lĩnh vực này Tạo điềukiện, cơ hội hơn cho họ tiếp cận nguồn vốn, cải thiện đời sống và giảm thiểu tình trạngnghèo đói trong xã hội
Trong quá trình phát triển tài chính vi mô tại Việt Nam ở những năm vừa qua,nhận thấy được tầm quan trọng, mới mẻ và những tồn tại của pháp luật về hoạt động
tài chính vi mô Và từ những lí do trên nhóm đã lựa chọn đề tài: “ Hoạt động tài chính
vi mô ở Việt Nam hiện nay”, để làm đề tài nghiên cứu trong bài báo cáo
Trang 73 Mục tiêu nghiên cứu
Nhóm xác định mục tiêu nghiên cứu đề tài: “Hoạt động tài chính vi mô ở ViệtNam hiện nay” là: tập trung phân tích, đánh giá tổng thể hoạt động tài chính vi mô ởViệt Nam về mặt hoạt động, tổ chức của tài chính vi mô Trên cơ sở đó, nhóm đưa ranhững đề xuất, kiến nghị có tính hành động cụ thể, thiết thực để xây dựng và hoànthiện pháp luật về tài chính vi mô hiện nay, cũng như với mục tiêu xây dựng và pháttriển hệ thống tài chính vi mô ở Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các vấn đề tài đặt ra, nhóm dựa trên cơ sở phân tích khoa học;nghiên cứu lý luận trên các tài liệu, sách vở, tham khảo các tài liệu từ sách, tạp chí, cáctrang thông tin điện tử kết hợp với các phương pháp nghiên cứu: phương pháp nghiêncứu tổng hợp, phân tích; phương pháp so sánh; phương pháp đánh giá Các phươngpháp sẽ được áp dụng ở một mức độ hợp lý để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu đề tài
5 Bố cục
Để làm rõ đề tài và đạt được mục tiêu nghiên cứu, ngoài phần Mở đầu, Kết luận vàdanh mục tài liệu tham khảo, bố cục gồm ba chương với nội dung cụ thể như sau:Chương 1: Giới thiệu chung về hoạt động tài chính vi mô
Chương 2: Quy định của pháp luật về hoạt động tài chính vi mô
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về hoạt động tài chính vi môhiện nay
Trang 8CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ 1.1 Khái quát chung về tài chính vi mô
1.1.1 Sự hình thành và phát triển của hoạt động tài chính vi mô ở Việt Nam
Việt Nam là đất nước với tỷ lệ dân số sống bằng nông nghiệp khá cao Đaphần những người sinh sống bằng nghề này đều có mức thu nhập thấp và cầnphải được trợ giúp về mặt tài chính và cách tạo thu nhập Chính bởi lý do này
mà Nhà nước đã luôn có những chính sách hỗ trợ người nông dân thông quahoạt động của các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng chính sách xã hội và cácQuỹ tín dụng nhân dân Trong chừng mực nhất định, các hoạt động trợ giúpnông thôn Việt Nam của các định chế tài chính này cũng mang dáng dấp của tàichính vi mô (TCVM) nhưng không thực sự là hoạt động tài chính vi mô đíchthực, bởi lẽ tính bao cấp vẫn luôn hiện diện khá rõ ràng trong các hoạt độngnày Cho đến năm 1987, khi Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổ chức Hội nghịkhu vực Châu Á - Thái Bình Dương về “Tạo việc làm và tăng thu nhập cho phụnữ” thì ở Việt Nam bắt đầu xuất hiện các dự án “tiết kiệm - tín dụng” cho phụ
nữ Việt Nam Đây cũng là lúc mà các đoàn thể, các tổ chức phi chính phủ chínhthức tham gia vào công cuộc chống đói nghèo ở Việt Nam qua các chương trìnhtrợ giúp về mặt tài chính (có hoàn trả) đồng thời dạy cho phụ nữ Việt Nam biếtcách tiết kiệm và tạo thu nhập từ những đồng vốn được tài trợ, đánh dấu mốcthời điểm tài chính vi mô xuất hiện tại Việt Nam
Qua thời gian, các chương trình trợ giúp của các tổ chức phi chính phủnày đã dần khẳng định được vai trò và tầm quan trọng của mình Có nhữngchương trình, dự án hoạt động thực sự hiệu quả khi vừa thực hiện được mụctiêu xã hội lại vừa đảm bảo được sự tồn tại và phát triển bền vững của chínhmình khi chẳng những bảo toàn mà còn gia tăng được số vốn được tài trợ banđầu Các chương trình này dần trở nên độc lập về mặt tài chính (nhưng khôngđộc lập về tư cách pháp lý) so với tổ chức phi chính phủ là chủ thể tài trợ tàichính của các chương trình đó Tuy nhiên, một khung pháp luật cho sự tồn tạicủa các hoạt động này chưa hề xuất hiện tại Việt Nam cho đến trước năm 2005,thời điểm có sự xuất hiện của Nghị định số 28/2005/NĐ-CP ngày 09/3/2005của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ tạiViệt Nam được ban hành
Trong những năm qua, với đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng và Nhànước, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tích ấn tượng về phát triển kinh tế vàđặc biệt trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, trong đó có phần đóng góp đáng
Trang 9khích lệ của hoạt động tài chính vi mô Hoạt động tài chính vi mô đã và đangkhẳng định vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ người nghèo, người có thu nhậpthấp tiếp cận các dịch vụ tài chính, ngân hàng một cách thuận tiện và phù hợp.Thực tế đã chứng minh, tài chính vi mô là hoạt động có ý nghĩa xã hội sâu sắc
và ngày càng lớn mạnh ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước đangphát triển, trong đó có Việt Nam
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của tài chính vi mô
1.1.2.1 Khái niệm tài chính vi mô
Cùng với sự thành công của việc cấp tín dụng nói riêng và cung ứng cácdịch vụ tài chính nói chung cho người có thu nhập thấp trở nên thành công ởkhá nhiều nơi trên thế giới, khái niệm tài chính vi mô (microfinance) – đã xuấthiện để mô tả các hoạt động này Có khá nhiều cách giải thích khái niệm này ởcác góc nhìn khác nhau:
Theo cách hiểu của Nhóm tư vấn hỗ trợ người nghèo (CGAP1) thì: “Tài
chính vi mô là việc cung cấp các dịch vụ tài chính cơ bản đáp ứng nhu cầu người nghèo như: dịch vụ gửi tiết kiệm, tín dụng, bảo hiểm, lương hưu, chuyển tiền…” Với cách tiếp cận này, CGAP cho thấy tài chính vi mô bao gồm các
hoạt động như hoạt động gửi tiền (chỉ dừng lại ở tiền gửi tiết kiệm mà không cócác dịch vụ tiền gửi khác); các hoạt động cấp tín dụng; dịch vụ bảo hiểm và một
số các dịch vụ tài chính đơn giản khác Tuy nhiên, các dịch vụ này chỉ được gọi
là tài chính vi mô khi có đối tượng tiếp cận là những người nghèo
Ở cách tiếp cận khác, J Ledgerwood cho rằng: “Tài chính vi mô là một
phương pháp phát triển kinh tế thông qua các dịch vụ tài chính nhằm mang lại lợi ích cho dân cư có thu nhập thấp… Tài chính vi mô thường bao gồm cả hai yếu tố: trung gian tài chính và trung gian xã hội” Qua cách lý giải này,
Ledgerwood cũng cho thấy tài chính vi mô là việc cung ứng các dịch vụ tàichính cơ bản cho đối tượng là những người có thu nhập thấp nhưng bà cũngkhẳng định tài chính vi mô vừa có tính kinh doanh (trung gian tài chính) vừa cótính xã hội (trung gian xã hội)
Cũng có cách lý giải tương tự, Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) cho
rằng: “Tài chính vi mô là việc cung cấp các dịch vụ tài chính như tiền gửi, cho
vay, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền và bảo hiểm cho người nghèo và hộ gia đình có thu nhập thấp hoạt động kinh doanh cá thể và các doanh nghiệp nhỏ của họ”
1 The Consultative Group to Assist the Poor
Trang 10Dưới góc nhìn của PGS.TS Nguyễn Kim Anh và TS Lê Thanh Tâm thì:
“Tài chính vi mô là một trong những cách thức phát triển kinh tế nhằm cung cấp các dịch vụ tài chính, dịch vụ khác cho các đối tượng có thu nhập thấp trong xã hội để phục vụ nhu cầu chi tiêu và đầu tư Tài chính vi mô vừa là công
cụ ngân hàng vừa là công cụ phát triển” Có thể thấy, hai tác giả này cũng đưa
ra cách tiếp cận về tài chính vi mô tương tự như J Ledgerwood
Ở Việt Nam, mặc dù Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổsung năm 2017 đã chính thức đề cập đến tài chính vi mô nhưng một sự lý giảiđầy đủ về tài chính vi mô vẫn chưa được thực hiện Tuy nhiên, có thể dựa vàocác khái niệm liên quan được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luậtkhác để định nghĩa về tài chính vi mô:
“Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ 2 ”
“Dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giản gồm: tín dụng quy mô nhỏ; nhận tiền gửi tiết kiệm bắt buộc; tiền gửi tự nguyện; một số dịch vụ thanh toán cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp 3 ”
“Tín dụng quy mô nhỏ là khoản cho vay có giá trị nhỏ, có hoặc không có tài sản bảo đảm đối với các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp để sử dụng vào các hoạt động tạo thu nhập và cải thiện điều kiện sống 4 ”
Từ những khái niệm nêu trên và thực trạng ngành tài chính vi mô, có thểđưa ra định nghĩa về tài chính vi mô như sau: “Tài chính vi mô là hoạt độngkinh doanh thông qua việc cung ứng các dịch vụ tài chính, ngân hàng có giá trịnhỏ cho những chủ thể có thu nhập thấp trong xã hội.”
1.1.2.2 Đặc điểm của tài chính vi mô
Tài chính vi mô có năm đặc điểm cơ bản sau:
2 Khoản 5 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017
3 Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 165/2007/NĐ-CP ngày 15/11/2007 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung, bãi
bỏ một số điều Nghị định số 28/2005/NĐ-CP ngày 09 tháng 03 năm 2005 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của của tổ chức tài chính quy mô nhỏ tại Việt Nam
4 Khoản 1 Điều 2 Thông tư số 02/2008/TT-NHNN ngày 02/4/2008 của Ngân hàng nhà nước Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 28/2005/NĐ-CP ngày 09 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ tại Việt nam và Nghị định số 165/2007/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2007 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của Nghị định số 28/2005/NĐ-
CP ngày 09 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ tại Việt Nam (hết hiệu lực một phần)
Trang 11Thứ nhất, tài chính vi mô là một hoạt động kinh doanh Đây là đặc điểm
quan trọng nhất để phân biệt tài chính vi mô với các hoạt động cung ứng dịch
vụ tài chính, ngân hàng cho người có thu nhập thấp của các định chế tài chínhkhác trong xã hội Nếu như theo cách tiếp cận truyền thống, chúng ta hiểunhững người có thu nhập thấp là đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội cầnđược trợ giúp về mặt kinh tế nên các dịch vụ tài chính dành cho họ thường cóchi phí thấp (khoản vay có lãi suất thấp, dịch vụ tài chính có chi phí thấp ), tức
là hoạt động này mang nặng tính bao cấp Trái lại, tài chính vi mô không phải làmột hoạt động có tính bao cấp mà có tính kinh doanh, chi phí mà người nghèotrả cho tài chính vi mô không phải là chi phí bao cấp mang tính tượng trưng mà
là chi phí thực thụ của thị trường Thực tế cho thấy, các chi phí mà khách hàngcủa tài chính vi mô phải chi trả thường cao hơn khá nhiều so với mặt bằngchung của thị trường Như vậy, tài chính vi mô là một ngành kinh doanh thựcthụ chứ không phải lĩnh vực thuần túy cung ứng dịch vụ mang tính từ thiện
Thứ hai, đối tượng khách hàng của tài chính vi mô chủ yếu là những
người có thu nhập thấp trong xã hội Nếu nhìn vào mục đích của hoạt động tàichính vi mô ta thấy dường như có sự mâu thuẫn ở đây khi đối tượng tạo ra lợinhuận cho các hoạt động tài chính vi mô lại là những người nghèo, thậm chí lànhững người rất nghèo Tuy nhiên, đây chính là mặt thứ hai của tài chính vi mô:một công cụ quan trọng giúp người nghèo thoát nghèo
Thứ ba, dịch vụ được cung ứng bởi tài chính vi mô thường có giá trị nhỏ.
Đặc trưng này được xuất phát từ chính đối tượng khách hàng của tài chính vi
mô là những người có mức thu nhập thấp trong xã hội, thậm chí là những ngườikhông bao giờ có cơ hội được tiếp cận đến các dịch vụ của các Ngân hàngthương mại bởi thường họ không có tài sản có thể dùng để đảm bảo cho cáckhoản vay Chính bởi vậy, các hoạt động kinh tế của họ đều là những hoạt độngnhỏ lẻ và do đó, nhu cầu về vốn cũng là không lớn Bên cạnh đó, các chủ thểcung cấp dịch vụ tài chính vi mô cũng không phải là các trung gian tài chínhvới tiềm lực mạnh mẽ nên để đảm bảo an toàn, các khoản vay của họ luôn cógiá trị khá nhỏ
Thứ tư, tài chính vi mô không chỉ là hoạt động kinh doanh mà luôn kết
hợp hài hòa giữa mục đích kinh doanh và mục đích xã hội Thông thường, cácdoanh nghiệp trong xã hội mà hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận thì luônnhận được sự bao cấp từ phía nhà nước bởi đơn giản họ hiếm khi có thể tìmđược những khoản thu nhập đủ để bù đắp những chi phí trong hoạt động củamình Những doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận thì sẽ rất khó khăntrong việc thực hiện các chính sách xã hội bởi tôn chỉ lợi ích kinh tế của mình
Trang 12Khác với hai hoạt động đó, tài chính vi mô không sống dựa vào nguồn lực dồidào của Ngân sách Nhà nước mà bằng chính những lợi nhuận kiếm được từhoạt động kinh doanh của mình và đồng thời cũng không tối đa hóa mục tiêu lợinhuận khi tìm đến đối tượng khách hàng là người có thu nhập thấp với mongmuốn giúp họ có được những nguồn lực tài chính nhất định để thực hiện hoạtđộng kinh doanh, thoát đói nghèo Chính bởi đặc trưng này nên có thể coi tàichính vi mô là một phương thức xóa nghèo bền vững trong giai đoạn hiện nay.
Thứ năm, tài chính vi mô dạy cho người có thu nhập thấp biết cách làm
kinh tế và biết tiết kiệm Đây có thể coi là một đặc trưng hết sức cơ bản của tàichính vi mô, thể hiện sự khác biệt căn bản của lĩnh vực này so với các hoạtđộng tín dụng khác trong xã hội Quy định của pháp luật cũng như thực tế hoạtđộng tài chính vi mô cho thấy, để có thể được vay vốn của tài chính vi mô,người có thu nhập thấp buộc phải thực hiện việc gửi tiền tiết kiệm tại chính chủthể mà họ dự định vay vốn Đòi hỏi này tạo sức ép cho chính những người cóthu nhập thấp, buộc phải có hành vi tiết kiệm trong chi tiêu của mình và qua đó,dần tạo thành thói quen tiết kiệm trong cuộc sống hàng ngày – tiền đề để nhữngngười này dần thoát khỏi đói, nghèo
1.2 Vai trò của hoạt động tài chính vi mô trong nền kinh tế
Hoạt động tài chính vi mô giữ vai trò quan trọng quá trình phát triển kinh
tế - xã hội Trong thời gian qua, tài chính vi mô được xem là công cụ hữu hiệutrong chiến lược xóa đói giảm nghèo ở các quốc gia đang phát triển Tại ViệtNam, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đặc biệt quan tâm đến hoạt động và
sự phát triển của tài chính vi mô
Trang 13hàng hóa và dịch vụ, trở thành một công cụ đắc lực để giảm nghèo đói và tăngthu nhập.
Về mặt xã hội:
Tạo ra cơ hội cho người nghèo - người có thu nhập thấp tiếp cận được vớidịch vụ tài chính, tăng cường năng lực xã hội, hỗ trợ và cũng là động lựckhuyến khích sự tham gia của họ vào việc nâng cao sản xuất, tự lập tài chính và
nỗ lực vươn lên, loại bỏ sự ỷ lại, trông chờ vào các chính sách ưu đãi “chokhông” của Nhà nước Tài chính vi mô có mục tiêu cải thiện điều kiện kinh tếcho nhóm khách hàng nghèo, giúp họ có cơ hội phát triển, cải thiện cuộc sống,thông qua việc cung cấp các dịch vụ tài chính cho người nghèo Bên cạnh mụctiêu tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận trực tiếp với các dịch vụ tài chính vàphi tài chính, các tổ chức tài chính vi mô còn hướng tới mục tiêu là giúp kháchhàng có đủ năng lực tiếp cận bền vững với dịch vụ tài chính chính thức Từ đógiúp giảm nghèo, cải thiện chất lượng cuộc sống người dân thông qua việc thựchiện đồng loạt các chương trình trọng điểm, duy trì mục tiêu quốc gia về xóađói giảm nghèo…
1.3 Quản lý Nhà nước về hoạt động tài chính vi mô
Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tích ấn tượng vềphát triển kinh tế và đặc biệt trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, trong đó cóphần đóng góp đáng khích lệ của hoạt động tài chính vi mô Để đáp ứng sự mởrộng cả về quy mô, nhu cầu và chất lượng của nhóm khách hàng này, quá trìnhchuyển đổi từ các dự án, chương trình TCVM phi lợi nhuận dưới sự tài trợ củacác tổ chức tài chính phi chính phủ (NGOs) thành các tổ chức TCVM giữ vaitrò như một trung gian tài chính với mục tiêu lợi nhuận đã diễn ra một cách tựnhiên và mạnh mẽ tại Việt Nam Điều này đòi hỏi hoạt động giám sát, quản lýcủa Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với tổ chức TCVM phảichặt chẽ, đồng bộ và hiệu quả Vì vậy trong thời gian qua, nhằm đảm bảo mụctiêu tái cơ cấu toàn diện thị trường tài chính, hàng loạt các văn bản pháp lýđược ban hành và chi phối mạnh mẽ hoạt động TCVM
Ngày 06/12/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số2195/QĐ-TTg phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển hệ thống TCVM tại ViệtNam đến năm 2020 (Đề án 2195) Tiếp đó, ngày 12/6/2017, Thủ tướng Chínhphủ cũng đã ký ban hành Quyết định số 20/2017/QĐ-TTg quy định về hoạtđộng của chương trình, dự án TCVM của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -
xã hội, tổ chức phi chính phủ (Quyết định số 20) Sự ra đời của Quyết định số
20 đã góp phần thực hiện mục tiêu phát triển hệ thống TCVM theo Đề án 2195
Trang 14và là cơ sở pháp lý đầu tiên hướng dẫn về nội dung hoạt động, phạm vi hoạtđộng đối với các chương trình, dự án TCVM, tạo nền tảng cho các cơ quanquản lý Nhà nước có cơ sở quản lý thống nhất các chương trình, các dự ánTCVM đang hoạt động nhỏ lẻ, đa dạng và trải rộng trên phạm vi cả nước.
Với mục tiêu toàn diện hơn nhằm tạo điều kiện cho mọi người dân vàdoanh nghiệp, đặc biệt chú trọng tới phân khúc người nghèo, người có thu nhậpthấp, doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và vừa được tiếp cận và sử dụng
an toàn, thuận tiện các sản phẩm, dịch vụ tài chính phù hợp nhu cầu với chi phíhợp lý, ngày 22/01/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 149/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, địnhhướng đến năm 2030 Trong đó, bao gồm các nhiệm vụ và giải pháp cụ thể đểphát triển hoạt động TCVM
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy khuôn khổ pháp lý cho hoạt động TCVMứng dụng công nghệ tài chính về cơ bản mới chỉ ở giai đoạn đầu, cần tiếp tụchoàn thiện bắt kịp tiềm năng, nhu cầu thực tiễn và tốc độ phát triển ứng dụngcông nghệ tài chính đối với các tổ chức TCVM Vì vậy, việc nghiên cứu nộidung thúc đẩy tài chính vi mô tại Việt Nam trong xu hướng phát triển của côngnghệ tài chính là cần thiết, quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế và mangtính ổn định trong cộng đồng, nhất là đối với phát triển an sinh xã hội trong bốicảnh công nghệ tài chính ngày càng phát triển
1.4 Đánh giá chung về hoạt động tài chính vi mô trong nền kinh tế hiện nay
Về chiều sâu, các tổ chức TCVM Việt Nam đã vươn đến nhóm kháchhàng yếu thế gồm phụ nữ và người nghèo tương đối tốt
1.4.2 Những hạn chế
Trang 15Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng các tổ chức TCVM Việt Nam còn hoạtđộng khá yếu ớt trên thị trường Mức độ bền vững chưa cao, khả năng cạnhtranh với các định chế tài chính khác còn nhiều hạn chế:
Thứ nhất, Mức độ tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính còn rất thấp so
với tiềm năng của Việt Nam
Thứ hai, Các tổ chức TCVM chiếm thị phần nhỏ bé so với các tổ chức lớn
của Nhà nước (Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp vàPhát triển Nông thôn)
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ 2.1 Quy định của pháp luật về hoạt động tài chính vi mô
Trong những năm qua, Chính phủ, các bộ, ngành đã có nhiều chính sáchkhuyến khích phát triển các hoạt động tài chính vi mô (TCVM) Quyết định số20/2017/QĐ-TTg ngày 12/06/2017 của Thủ tướng Chính phủ quy định về hoạtđộng của chương trình, dự án tài chính vi mô của tổ chức chính trị, tổ chứcchính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ; Quy định về cấp giấy phép, tổ chức vàhoạt động của tổ chức tài chính vi mô Thông tư số 03/2018/TT-NHNN quyđịnh về Khuôn khổ pháp lý đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy tàichính vi mô ở Việt Nam trong những năm qua có nhiều chuyển biến tích cực.Thông tư số 37/2019/TT-BTC còn quy định cụ thể trách nhiệm của các cơquan như Bộ Tài chính, ngân hàng nhà nước Việt Nam, tổ chức chính trị, tổchức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ, chương trình, dự án tài chính vimô…Với sự ra đời của Thông tư số 37/2019/TT-BTC, khung pháp lý chung vềchế độ tài chính của chương trình, dự án tài chính vi mô đã được hình thành
Trang 16Quy định mới được kỳ vọng sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn để hoạt động ngàycàng chuyên nghiệp hơn, góp phần tích cực vào công tác đảm bảo an sinh xãhội, hướng tới mục tiêu phát triển vững mạnh, để đáp ứng các điều kiện chuyểnthành tổ chức tài chính vi mô hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng cũngnhư công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này Nhà nước Việt Nam đã từngbước xây dựng và dần hoàn thiện các quy định của pháp luật nhằm điều chỉnh
có hiệu quả đến hoạt động tài chính vi mô Việt Nam có các ngân hàng chongười nghèo như:
- Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam – một Ngân hàng thuộc sở hữuNhà nước được thành lập nhằm trợ giúp người nghèo trong xã hội Cũng cóquan điểm cho rằng hoạt động của ngân hàng chính sách xã hội là hoạt động tàichính vi mô (vì giá trị khoản tín dụng nhỏ và đối tượng phục vụ là người có thunhập thấp) song theo quy định của pháp luật Việt Nam, đây không phải là tổchức tài chính vi mô;
- Ngân hàng Hợp tác xã và hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân Loại hình chủthể này cũng thực hiện những hoạt động cung ứng các dịch vụ tài chính ngânhàng cho đối tượng có thu nhập thấp trong xã hội là chủ yếu (với điều kiệnngười vay tiền phải là thành viên của Quỹ) Tuy nhiên cũng theo quy định củapháp luật Việt Nam, đây không phải là tổ chức tài chính vi mô mà là một loạihình tổ chức tín dụng độc lập;
- Các tổ chức Tài chính vi mô, loại chủ thể cho đến nay mới chỉ có 04 tổchức tài chính vi mô tiêu biểu gồm: Tổ chức tài chính vi mô TNHH MTV TìnhThương (TYM), Tổ chức tài chính vi mô TNHH M7 (M7 - MFI), Tổ chức tàichính vi mô TNHH Thanh Hóa (Thanh Hóa - MFI), Tổ chức tài chính vi môTNHH MTV CEP đã được ngân hàng nhà nước cấp phép hoạt động theo LuậtCác tổ chức tín dụng
- Các các chương trình, dự án hoạt động tài chính vi mô của các tổ chứcphi chính phủ hiện đang tồn tại dưới dạng các “Quỹ”, “Hội” hay “Chươngtrình”… (Quỹ khuyến khích cộng đồng miền núi phát triển, huyện Mai Sơn,Sơn La (M7 Mai Sơn); Quỹ Dariu; Quỹ Hỗ Trợ Phụ Nữ Phát triển Kinh TếTỉnh Tiền Giang; Quỹ CEP…); các chương trình (Chương trình Anh Chị Em;Chương trình Bàn Tay Vàng; Chương trình Tín dụng tiết kiệm - Hội liên hiệpphụ nữ Phù Yên, Sơn La) hay các dự án (Dự án Tiết kiệm và vốn vay thôn bản(VSL) của tổ chức Plan; Dự án tín dụng và tiết kiệm - Chương trình sinh kếChild Fund Việt Nam); Các Trung tâm (Trung tâm hỗ trợ phát triển doanhnghiệp Nhỏ (SEDA); Trung tâm phát triển vì người nghèo Can Lộc (PPC);Trung tâm vì phụ nữ và phát triển cộng đồng (CWCD))…
Trang 172.1.1 Hoạt động huy động vốn
Đây là một nội dung vô cùng quan trọng đối với các tổ chức tín dụng nóichung và tổ chức tài chính vi mô nói riêng bởi huy động vốn chính là hoạt độngtạo ra phương tiện để thực hiện các hoạt động kinh doanh khác của tổ chức tàichính vi mô Nói một cách khác, hoạt động này có thể hiểu là nền tảng để tổchức tài chính vi mô xúc tiến các hoạt động kinh doanh khác nhằm đạt được cácmục tiêu đã đặt ra Việc huy động vốn của các tổ chức tín dụng rất đa dạng vì
có thể được thực hiện dưới rất nhiều các hình thức khác nhau như nhận tiền gửi,phát hành các loại giấy tờ có giá hay đi vay của các chủ thể khác Tuy nhiên, dođặc thù của tổ chức tài chính vi mô là những tổ chức tín dụng có quy mô nhỏ,đối tượng khách hàng chủ yếu là người có thu nhập thấp và nội dung hoạt độngcũng chỉ là những hoạt động ngân hàng đơn giản nên hoạt động huy động vốncủa tổ chức tài chính vi mô cũng có nhiều hạn chế hơn so với các loại hình tổchức tín dụng khác Cụ thể, theo quy định tại Điều 119 Luật Các tổ chức tíndụng 2010, tổ chức tài chính vi mô chỉ được huy động vốn dưới các hình thứcsau đây:
- Thứ nhất, nhận tiền gửi tiết kiệm bằng tiền đồng Việt Nam Tổ chức tài
chính vi mô có thể nhận tiền gửi tiết kiệm dưới cả hai hình thức: Tiết kiệm bắtbuộc và tiết kiệm tự nguyện Tiết kiệm bắt buộc là khoản tiền có giá trị nhỏ màkhách hàng của tổ chức tài chính vi mô buộc phải gửi vào tổ chức này để đượcquyền vay vốn Số tiền này có thể được gửi định kỳ hoặc được tổ chức tài chính
vi mô giữ lại từ chính khoản vay giải ngân cho khách hàng Việc lựa chọn hìnhthức tiết kiệm bắt buộc nào là do tổ chức tài chính vi mô quy định Trongtrường hợp tiền tiết kiệm bắt buộc được gửi định kỳ, số tiền sẽ được ấn định cụthể và trong trường hợp tiết kiệm bắt buộc được trích ra từ chính khoản vay củakhách hàng thì sẽ được tính theo một tỷ lệ phần trăm nhất định5 Như vậy, tổchức tài chính vi mô chắc chắn có được một nguồn vốn nhất định, dù không
thực sự lớn, từ kênh huy động này Tiết kiệm tự nguyện, là số tiền được các cá
nhân, tổ chức trong xã hội (có thể là khách hàng tài chính vi mô hoặc không)gửi tại tổ chức tài chính vi mô dưới hình thức tiền gửi tiết kiệm6 Trong trườnghợp này, việc gửi – nhận tiền gửi giữa khách hàng và tổ chức tài chính vi môxuất hiện hoàn toàn dựa trên cơ sở sự tự do ý chí của các bên, tức là cũng giống
5 Điểm 6 khoản 1 Điều 1 Nghị định 165/2007/NĐ-CP sửa đổi bổ sung bãi bỏ một số điều nghị định 28/2005/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ tại Việt Nam.
6 Điểm 7 khoản 1 Điều 1 Nghị định 165/2007/NĐ-CP sửa đổi bổ sung bãi bỏ một số điều nghị định 28/2005/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ tại Việt Nam.
Trang 18như việc khách hàng gửi tiền tiết kiệm tại các tổ chức tín dụng được nhận tiềngửi tiết kiệm khác trong xã hội
- Thứ hai, vay vốn của các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính và của các
cá nhân, tổ chức khác trong nước Do nguồn vốn huy động được từ kênh nhận
tiền gửi tiết kiệm là không lớn nên để đảm bảo tổ chức tài chính vi mô có đủnguồn vốn để hoạt động, Luật các tổ chức tín dụng 2010 và các văn bản phápluật hiện hành cho phép tổ chức tài chính vi mô được huy động vốn thông quaviệc đi vay của các chủ thể khác (chủ yếu là của các ngân hàng thương mại vàcác tổ chức tài chính khác) trong xã hội
- Thứ ba, vay vốn, Khoản 2 Điều 119 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 chỉ
ghi nhận việc “vay vốn” Tuy nhiên, nói một cách ngắn gọn, hoạt động huyđộng vốn của tổ chức tài chính vi mô khá đơn giản và thể hiện đúng bản chất
của tổ chức tài chính vi mô là “thực hiện một số hoạt động ngân hàng đơn
giản”
Có thể khẳng định rằng, các tổ chức tài chính vi mô, chương trình, dự ántài chính vi mô đã góp thêm một kênh cung cấp vốn sản xuất - kinh doanh chokhu vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn Qua đó, đóng góp cho sự phát triểncủa tài chính toàn diện tại Việt Nam “Mọi người dân và doanh nghiệp đềuđược tiếp cận và sử dụng an toàn, thuận tiện các sản phẩm, dịch vụ tài chínhphù hợp nhu cầu, với chi phí hợp lý, do các tổ chức được cấp phép cung ứngmột cách có trách nhiệm và bền vững”, đó là mục tiêu tổng quát đề ra tại Chiếnlược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 22/01/2020
vi mô chỉ được thực hiện dưới duy nhất hình thức cho vay và cũng chỉ được chovay bằng tiền đồng Việt Nam mà thôi Đây cũng là điều dễ hiểu bởi đối tượngkhách hàng chủ yếu của tài chính vi mô là những người có thu nhập thấp hoặcdoanh nghiệp siêu nhỏ với những khoản vay có giá trị nhỏ để thực hiện các hoạtđộng kinh doanh nhỏ nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của bản
Trang 19thân cũng như của gia đình nên không phát sinh nhu cầu sử dụng ngoại tệ Cáckhoản vay của những đối tượng này, luật không bắt buộc phải có tài sản bảođảm mà việc bảo đảm nghĩa vụ trả nợ thông thường được thực hiện dựa trênkhoản tiền tiết kiệm bắt buộc mà khách hàng phải gửi tại tổ chức tài chính vi
mô và/hoặc sự bảo đảm của nhóm khách hàng tiết kiệm và vay vốn Có thể nói,đây chính là đặc trưng hết sức cơ bản thể hiện sự khác biệt căn bản của tàichính vi mô với các hoạt động cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng khác trong
xã hội Khách hàng tài chính vi mô của các tổ chức tài chính vi mô cũng nhưcủa các chương trình, dự án hoạt động tài chính vi mô trên lãnh thổ Việt Namđều không phải sử dụng tài sản của cá nhân hay gia đình để thế chấp cầm cốcho tổ chức tài chính vi mô nhằm đảm bảo cho giá trị khoản vay Các khoảnvay của họ đều được bảo đảm bằng uy tín của nhóm khách hàng mà họ là thànhviên và khoản tiền tiết kiệm bắt buộc họ gửi tại tổ chức tài chính vi mô (chươngtrình, dự án hoạt động tài chính vi mô) – khoản tiền thường có giá trị khá nhỏ.Theo quy định tại Khoản 2 Điều 120 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 thì tổ chứctài chính vi mô không bị bắt buộc chỉ được cho vay đối với các đối tượng có thunhập thấp trong xã hội mà còn có thể cho vay đối với các tổ chức, cá nhân kháctrong xã hội Tuy nhiên, những khoản vay này cũng chỉ được thực hiện bằngtiền đồng Việt Nam mà không thể là ngoại tệ và dư nợ cho vay đối với cáckhách hàng này phụ thuộc vào tổng dư nợ mà tổ chức tài chính vi mô đã giảingân cho các khách hàng tài chính vi mô của mình (những đối tượng có thunhập thấp trong xã hội và các doanh nghiệp siêu nhỏ) Cụ thể, Khoản 2 Điều
120 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 đưa ra quy định:
Cấp tín dụng cho cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp, doanh nghiệp
siêu nhỏ trong tổng dư nợ cấp tín dụng không thấp hơn tỷ lệ do ngân hàng nhà nước quy định.”
Hiện nay, quy định mức cho vay đối với tài chính vi mô là khi“Tổng dư
nợ cho vay của tổ chức tài chính vi mô đối với một khách hàng tài chính vi mô
không được vượt quá 50 (năm mươi) triệu đồng” 7.Như vậy, so với các tổ chức
tín dụng khác thì hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tài chính vi mô bị giới hạnkhá chặt cả về hình thức cấp cũng như giá trị của khoản tín dụng Đây cũng làđiều hợp lý bởi hai lý do: thứ nhất, xuất phát từ bản chất của hoạt động tài chính
vi mô chỉ là những hoạt động ngân hàng đơn giản, có giá trị nhỏ Thứ hai làtiềm lực tài chính của chính các tổ chức tài chính vi mô cũng chỉ dừng lại ở
7 Khoản 5 Điều 32 Thông tư số 03/2018/TT-NHNN ngày 23 tháng 02 năm 2018 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về cấp Giấy phép, tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính vi mô, có hiệu lực kể
từ ngày 15 tháng 4 năm 2018, được sửa đổi bổ sung thêm một số điều tại thông tư số 19/2019/TT-NHNN ngày
05 tháng 01 năm 2019 quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tài chính vi mô
Trang 20mức độ hạn chế nên để đảm bảo an toàn, tổ chức tài chính vi mô không thể thựchiện được các hình thức cấp tín dụng khác cũng như những khoản vay có giá trịlớn Việc cho phép tổ chức tài chính vi mô được mở rộng hoạt động tín dụngsang những đối tượng không phải là khách hàng tài chính vi mô ở một mức độnhất định cũng là một cách tiếp cận hợp lý nhằm giúp tổ chức tài chính vi mô
có thể sử dụng vốn hiệu quả hơn mà vẫn đảm bảo được tôn chỉ, mục đích củamình là trợ giúp những đối tượng khó khăn trong xã hội
2.1.3 Hoạt động mở tài khoản và thanh toán
Đối với vấn đề mở tài khoản của tổ chức tài chính vi mô: Cả Luật Các tổchức tín dụng 2010 và Khoản 6 Điều 32 Thông tư số 03/2018/TT-NHNN quyđịnh tổ chức tài chính vi mô được phép mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng nhànước và các ngân hàng thương mại Tổ chức tài chính vi mô không thể mở tàikhoản và cũng không thể gửi tiền tại các tổ chức tín dụng không phải là ngânhàng thương mại Điều cần lưu ý ở đây là, loại tài khoản tổ chức tài chính vi môđược phép mở chỉ là tài khoản tiền gửi mà không phải là tài khoản thanh toán.Dường như đây là một quy định bất cập bởi tổ chức tài chính vi mô cũng là mộtdoanh nghiệp và để phục vụ hoạt động của mình, tổ chức tài chính vi mô cũngcần phải thực hiện những giao dịch nhất định và việc không có tài khoản thanhtoán sẽ ít nhiều gây ra những khó khăn cho chủ thể này Tuy nhiên xem xét lạiđối với hoạt động cung ứng các dịch vụ thanh toán Cũng giống như các tổ chứctín dụng phi ngân hàng và Quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi môkhông được phép mở tài khoản thanh toán cho khách hàng của mình Điều này
là hoàn toàn hợp lý bởi mục đích hoạt động của mình cũng như năng lực tàichính, con người, công nghệ thì tổ chức tài chính vi mô khó có thể thành côngkhi thực hiện được các dịch vụ thanh toán qua tài khoản
2.2 Quy định của pháp luật về đối tượng hoạt động tài chính vi mô
Sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động tài chính vi mô về phạm vi tiếpcận và các dịch vụ cung ứng, đặc biệt là các dịch vụ về tín dụng và tiết kiệmtrong những năm qua đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu vốn cho phát triểnkinh tế và công cuộc giảm nghèo Nhà nước và Chính phủ đã có những độngthái hết sức tích cực đối với sự phát triển tài chính vi mô ở Việt Nam Và đốitượng của hoạt động tài chính vi mới đã được pháp luật quy định