1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Báo cáo môn luật so sánh so sánh về hình thức và điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo pháp luật việt nam và pháp luật mỹ

23 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So sánh về hình thức và điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Mỹ
Người hướng dẫn Nguyễn Tống Ngọc Như
Trường học Trường Đại Học Cần Thơ
Chuyên ngành Luật
Thể loại Báo cáo môn
Năm xuất bản 2022
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 252,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA LUẬT Cần Thơ, tháng 11 năm 2022 Cần Thơ, tháng 10 năm 2021 Cần Thơ, tháng 10 năm 2022 Cần Thơ, tháng 10 năm 2021 Cần Thơ, tháng 10 năm 2022 Cần Thơ, tháng 10 năm 2021 Cần T[.]

Trang 1

Cần Thơ, tháng 11 năm 2022 Cần Thơ, tháng 10 năm 2021 Cần Thơ, tháng 10 năm 2022 Cần Thơ, tháng 10 năm 2021 Cần Thơ, tháng 10 năm 2022

BÀI BÁO CÁO MÔN LUẬT SO SÁNH

Trang 2

MỤC LỤC

1 Khái niệm hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Mỹ 1

1.1 Khái niệm hợp đồng theo pháp luật việt nam 1

1.2 Khái niệm hợp đồng theo pháp luật Mỹ 1

2 Hình thức hợp đồng theo pháp luật việt Nam và pháp luật Mỹ 2

2.1 khái quát chung về hình thức hợp đồng 2

2.2 Sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam và pháp luật Mỹ 2

2.3 Nội dung của hợp đồng 4

2.4 So sánh hình thức hợp đồng theo pháp luật việt Nam và pháp luật Mỹ 4

3 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo pháp luật Việt Nam 5

3.1 Điều kiện về chủ thể 5

3.2 Điều kiện về sự tự nguyện của người tham gia hợp đồng 6

3.3 Điều kiện về mục đích và nội dung của hợp đồng 7

3.4 Điều kiện về hình thức 8

4 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo pháp luật Mỹ 8

4.1 Thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ hợp đồng (Đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng) 8

4.2 Năng lực chủ thể giao kết hợp đồng 9

4.2.1 Tuổi chịu trách nhiệm pháp lý và vấn đề năng lực của người chưa thành niên 9

4.2.2 Hợp đồng giao kết với người hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự 9

4.3 Thống nhất ý chí giữa các bên 9

4.4 Nghĩa vụ đối ứng 10

4.5 Tính hợp pháp của hợp đồng 10

4.6 Điều kiện về hình thức 11

5 Điểm tương đồng và khác biệt về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và Mỹ 11

6 Kiến nghị rút ra từ việc so sánh về hình thức và điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và Mỹ 14

Trang 3

6.1 Kiến nghị về hình thức của hợp đồng của BLDS và hiệu lực của hợp đồng khi vi phạm về hình thức 146.2 Kiến nghị về thời điểm giao kết và hiệu lực của hợp đồng dân sự 146.3 Kiến nghị về độ tuổi tham gia giao kết hợp đồng trong một số lĩnh vực nhằm bảo

DANH SÁCH THÀNH VIÊN

Mục 6, kết luận, thuyết trìnhHoàn thành tốt

6 Nguyễn Minh Tố Mỹ

Lan Hương C2100124 Hoàn thành tốtMục 2

Hoàn thành tốt

Trang 5

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

Trang 6

SO SÁNH VỀ HÌNH THỨC VÀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT MỸ

1 Khái niệm hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Mỹ

1.1 Khái niệm hợp đồng theo pháp luật việt nam

Pháp luật hợp đồng Việt Nam trải qua các thời kỳ hình thành và phát triển với cácquan điểm và khái niệm khác nhau về hợp đồng Khái niệm hợp đồng theo Bộ luật dân sựnăm 1995, được quy định tại Điều 395 theo đó: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữacác bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Khái niệm nàyvẫn được giữ nguyên theo Bộ luật đến sự năm 2005, nhưng mang một ý nghĩa khái quátcho tất cả các loại hợp đồng trong lĩnh vực đời sống sinh hoạt kinh doanh thương mại vàlao động Đến BLDS 2015 ra đời đã thể hiện đầy đủ bản chất của hợp đồng khi thay thếcụm từ “hợp đồng dân sự” trong BLDS 2005 thành cụm từ “hợp đồng” đây là sự thỏathuận giữa các bên mà sự thỏa thuận đó làm phát sinh quan hệ giữa các bên trong hợpđồng

1.2 Khái niệm hợp đồng theo pháp luật Mỹ

Thuật ngữ hợp đồng (contract) được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau theo pháp luật

Mỹ thể hiện nguồn gốc thông luật (commom law) được du nhập từ nước Anh Nhìnchung, hợp đồng là một hoặc nhiều lời hứa đó luật pháp quy định thừa nhận như là nhữngnghĩa vụ, nếu vi phạm thì pháp luật về có những chế tài nhất định Bản chất của hợp đồng

là sự thoả thuận hay lời hứa có hiệu lực bắt buộc Sự thoả thuận hay lời hứa có thể làmhoặc không làm một hoặc một số hành vi nhất định Tuy nhiên, không phải tất cả các lờihứa và sự thỏa thuận đều là hợp đồng Lời hứa hay mục đích thỏa thuận là hợp đồng chỉkhi pháp luật chấp nhận có hiệu lực

Như vậy, về bản chất khái niệm hợp đồng theo pháp luật Mỹ về cơ bản không khác sovới khái niệm hợp đồng theo pháp luật Việt Nam khi thừa nhận sự thỏa thuận của các bêntrong hợp đồng và quy định chỉ khi những thoả thuận đó có hiệu lực bắt buộc thì mới coi

đó là hợp đồng Nhưng về thuật ngữ "hợp đồng" có sự tương đồng giữa hệ thống phápluật Việt Nam và Mỹ đều này là phù hợp với đa số các quốc tiến bộ trên thế giới Thêmvào đó, hợp đồng của Mỹ mang đặc điểm chung của hệ thống luật thông lệ, trong khiquan điểm hợp đồng của luật Việt Nam mang đặc điểm của hệ thống dân luật, nên trongmột số trường hợp, theo pháp luật nước này là hợp đồng mà pháp luật nước kia khôngđược coi là hợp đồng

Trang 7

Tóm lại, theo pháp luật Việt Nam hay pháp luật Mỹ đều thừa nhận sự thỏa thuận chính

là yếu tố cơ bản của hợp đồng qua đó thể hiện ý chí của các bên trong hợp đồng Thỏathuận không đồng nghĩa với hợp đồng nhưng hợp đồng thì đương nhiên là thỏa thuận vìhợp đồng bao hàm sự thoả thuận Sự thoả thuận chi được coi là hợp đồng nếu nó có đầy

đủ những yếu tố cơ bản của hợp đồng,

2 Hình thức hợp đồng theo pháp luật việt Nam và pháp luật Mỹ

2.1 khái quát chung về hình thức hợp đồng

Hình thức hợp đồng là sự thể hiện ra bên ngoài sự thoả thuận của các bên trong việclàm phát sinh, thay đổi và chấm dứt quyền và nghĩa vụ Hình thức được thể hiện dướidạng lời nói (hay còn gọi là hợp đồng miệng), hình thức bằng văn bản và hình thức đượcthể hiện bằng hành vi cụ thể

2.2 Sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam và pháp luật Mỹ

Nguyên tắc chung của pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ là khi pháp luật khôngquy định hợp đồng phải giao kết bằng một hình thức nhất định thì hợp đồng có thể đượcgiao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể

Pháp luật Việt Nam và pháp luật Mỹ quy định hình thức văn bản được áp dụng với hợpđồng liên quan đến bất động sản, hoặc do tính chất đặc thù của một số loại hợp đồngtrong dân sự, thương mại

Điều 401, Bộ luật dân sự 2015 đã quy định:

“1 Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành

vi cụ thể, khi pháp luật không quy định đối với loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.2 Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng kí hoặc phải xin phép thì phải tuân theo các quy định đó”.

Pháp luật Hoa Kỳ: Hợp đồng có thể tồn tại dưới hình thức văn bản, bằng lời nói hoặcthông qua hành vi của các bên Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, hợp đồngphải tồn tại bằng văn bản nếu không sẽ không được Tòa án thừa nhận hiệu lực pháp lý:(1) Hợp đồng liên quan đến đất đai; (2) Hợp đồng có thời hạn thực hiện từ một năm trởlên kể từ thời điểm được xác lập; (3) Nghĩa vụ bảo đảm hoặc nghĩa vụ thứ cấp, là nghĩa

vụ phát sinh của nghĩa vụ cơ sở, như: nghĩa vụ trả nợ thay hoặc thực hiện nghĩa vụ thay

Trang 8

cho người khác nếu người này không trả được nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ trừ trường hợpngười bảo đảm xác lập nghĩa vụ thứ cấp để bảo đảm cho lợi ích riêng hoặc cam kết củangười quản lý di sản thừa kế của người chết trả nợ thay cho người chết; (4) Nghĩa vụđược xác lập khi kết hôn bao gồm cả hợp đồng xác định quyền sở hữu của vợ chồng trướckhi kết hôn; (5) Hợp đồng mua bán hàng hóa có giá trị từ 500 USD trở lên (Điều 2-201của UCC), hợp đồng thuê hàng hóa có tổng số tiền thanh toán trừ khoản thanh toán choquyền chọn gia hạn hợp đồng hoặc mua từ 1.000 USD trở lên (Điều 2A-201 của UCC).

Hậu quả pháp lý trong trường hợp hợp đồng không tuân thủ quy định về hình thức làTòa án không thừa nhận hiệu lực pháp lý của hợp đồng Song, Tòa án cũng đưa ra cácngoại lệ và khi đó, hiệu lực của hợp đồng vẫn được thừa nhận, các trường hợp đó là: (1)Khi các bên đã thực hiện một phần nghĩa vụ; (2) Nếu bên có nghĩa vụ khai nhận trong quátrình tố tụng về việc có tồn tại nghĩa vụ thì hợp đồng bằng lời nói cũng vẫn được thừanhận; (3) Trong trường hợp áp dụng học thuyết cam kết không thể từ bỏ Bên cạnh đó,UCC quy định hợp đồng mua bán hàng hóa theo đặt hàng riêng của khách hàng và hànghóa này không phù hợp để bán lại cho người khác trong điều kiện thương mại bìnhthường của người bán, hợp đồng giữa hai thương nhân được xác nhận trong một bản ghinhớ vẫn có khả năng được công nhận hiệu lực mặc dù tồn tại bằng lời nói

Luật hợp đồng Mỹ chấp nhận hợp đồng chỉ cần có chữ ký của một bên có nghĩa vụ thìhợp đồng đó vẫn có giá trị pháp lý Còn pháp luật Việt Nam quy định rõ hợp đồng bằngvăn bản phải có chữ ký của hai bên mới được coi là đã giao kết

Đối với hợp đồng điện tử, pháp luật Việt Nam và pháp luật Mỹ đều thừa nhận hìnhthức pháp lý của hợp đồng này có giá trị như hợp đồng bằng văn bản, do vậy, ngoàinhững quy định riêng biệt do tính đặc thù của loại hợp đồng điện tử thì các quy định khácđối với hợp đồng văn bản truyền thống cũng được áp dụng đối với hợp đồng điện tử

Về giá trị pháp lý của hình thức hợp đồng Pháp luật Việt Nam quy định trong cáctrường hợp hình thức hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng nên nếu các bênkhông tuân thủ hình thức về hợp đồng thì hợp đồng đó sẽ vô hiệu Pháp luật Mỹ cũngthừa nhận hình thức văn bản của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trongmột số trường hợp nhưng cách xử lý hợp đồng vô hiệu khác với pháp luật Việt Nam

Trang 9

2.3 Nội dung của hợp đồng

Tương tự như pháp luật Việt Nam, pháp luật Mỹ cũng không quy định cụ thể nội dungbắt buộc phải có trong hợp đồng, do đó các bên được tự do thỏa thuận nhưng cũng phảiđảm bảo tính hợp pháp Nhưng hệ thống luật thông lệ cũng như pháp luật Mỹ vì ít nhữngđiều khoản tùy nghi, nên nội dung của hợp đồng phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bênkhi giao kết hợp đồng Trong khi đó, theo pháp luật Việt Nam, nếu các bên không thoảthuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì những điều khoản tương ứng được quy địnhtrong luật thực định được áp dụng Quy định về hợp đồng mẫu, pháp luật hai nước có một

số điểm quy định tương đối giống nhau nhằm hạn chế quyền của bên chủ động đưa rađiều khoản giao kết bất lợi cho bên kia do vị thế bất bình đẳng giữa các bên Trong việcgiải thích, xác định nội dung các điều khoản của hợp đồng, về nguyên tắc chung, phápluật hai nước dựa vào ý chí chung của hai bên để giải thích hợp đồng

2.4 So sánh hình thức hợp đồng theo pháp luật việt Nam và pháp luật Mỹ

Ở Mỹ, pháp luật không có quy định chung về hình thức của hợp đồng Có nghĩa làhoàn toàn không có yêu cầu hợp đồng phải được lập thành văn bản và có chữ kí của cácbên để hợp đồng đó có hiệu lực pháp lí Về nguyên tắc, kể cả những hợp đồng phức tạphoặc có giá trị lớn đều có thể được kí bằng lời nói và đều phát sinh hiệu lực ràng buộc cácbên, nếu có bằng chứng về sự tồn tại của thoả thuận và những điều khoản của hợp đồngnày Tuy nhiên, một số bang ban hành luật thành văn, trong đó yêu cầu một số loại hợpđồng bắt buộc phải lập thành văn bản Các đạo luật này đều theo khuôn mẫu của một đạoluật ra đời từ thế kỉ XVII ở nước Anh mang tên Đạo luật chống gian lận.(11) Khi áp dụngđạo luật này, một thỏa thuận nếu không kí bằng văn bản thì không có hiệu lực thi hành,cho dù nó đáp ứng đầy đủ những điều kiện của một hợp đồng như có đề nghị giao kết hợpđồng, chấp nhận đề nghị, nghĩa vụ đối ứng… và có đến hàng tá nhân chứng sẵn sàng xácnhận là các bên đã đạt được thỏa thuận Nhìn chung, các loại thỏa thuận sau đây thuộcphạm vi điều chỉnh của đạo luật này, tức là bắt buộc phải lập thành văn bản: 1) Thỏathuận mua bán hàng hoá có giá trị từ 500 USD trở lên hoặc tài sản vô hình có giá trị trên5.000 USD; 2) Thỏa thuận mua bán đất đai; 3) Thỏa thuận không được thực hiện đầy đủtrong vòng 01 năm kể từ ngày xác lập; 4) Thỏa thuận bảo lãnh nợ thay cho người khác; 5)Thỏa thuận về của hồi môn hoặc cấp dưỡng cho con; 6) Thỏa thuận cho thuê tài sản vớigiá trị hợp đồng từ 1.000 USD trở lên Như vậy, theo pháp luật Mỹ, hình thức hợp đồng

do các bên tự định đoạt Các quy định về hình thức văn bản của hợp đồng chỉ bảo vệnhững lợi ích công cần thiết, tránh các hiện tượng gian dối, lừa đảo.(12) Tòa án chỉ canthiệp buộc bên có nghĩa vụ phải thực hiện cam kết của mình, nếu các quy định về hình

Trang 10

thức đã được tuân thủ Pháp luật Mỹ còn quy định những trường hợp ngoại lệ khi hợpđồng không tuân thủ hình thức văn bản nhưng vẫn có hiệu lực pháp lí.

Ở Việt Nam, tại Điều 119, BDS 2015 hình thức của hợp đồng cũng là hình thức củagiao dịch dân sự:

1 Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theoquy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản

2 Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có côngchứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.”

Như vậy, về cơ bản, cả pháp luật Mỹ và Việt Nam đều cho phép giao kết hợp đồngdưới bất cứ hình thức nào, nếu không có yêu cầu luật định về hình thức văn bản Sự khác

biệt là ở chỗ: Thứ nhất, Mỹ khái quát hoá các trường hợp bắt buộc phải lập văn bản hợp

đồng, còn Việt Nam chỉ quy định chung chung là pháp luật sẽ quy định loại hợp đồng

phải được giao kết bằng hình thức nhất định Thứ hai, nếu như ở Mỹ, các loại hợp đồng

bắt buộc phải kí bằng văn bản được liệt kê cụ thể ở một văn bản pháp luật của bang nhằmchống các hành vi gian dối thì ở Việt Nam, hình thức văn bản của hợp đồng là do các vănbản pháp luật chuyên ngành quy định trong từng lĩnh vực cụ thể Vì thế, ở Việt Nam khó

có thể xác định một cách tổng quát những loại hợp đồng nào phải kí bằng văn bản, với

mỗi loại hợp đồng cần phải tìm quy định trong văn bản pháp luật chuyên ngành Thứ ba,

ở Mỹ, vi phạm về hình thức khiến hợp đồng không thể thực thi được (unenforceable), tức

là tòa án sẽ không can thiệp buộc thực thi hợp đồng; còn ở Việt Nam, vi phạm hình thức

có thể dẫn đến hậu quả làm hợp đồng vô hiệu nếu pháp luật có quy định Thực tiễn giảiquyết các tranh chấp hợp đồng thời gian qua cho thấy toà án đã tuyên bố nhiều hợp đồng

bị vô hiệu do vi phạm về hình thức (ví dụ: hợp đồng mua bán nhà không có công chứng,chứng thực hợp lệ)

3 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo pháp luật Việt Nam

3.1 Điều kiện về chủ thể

Chủ thể của giao dịch dân sự có thể là cá nhân hoặc pháp nhân Dù là cá nhân hay phápnhân đều cần có năng lực hành vi dân sự Đối với cá nhân thì năng lực hành vi là năng lựcthể hiện ý chí riêng và nhận thức được hành vi của họ Cá nhân có thể tự mình xác lậpgiao dịch, thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình Đồng thời cá nhân có thể hoàn toàn tựchịu trách nhiệm trong giao dịch dân sự đó Đối với năng lực hành vi dân sự của cá nhân

Trang 11

được quy định từ Điều 16 đến Điều 24 bộ luật dân sự năm 2015 Đối với chủ thể là Phápnhân thì khi pháp nhân tham gia vào giao dịch dân sự thông qua người đại diện của họ(đại diện theo pháp luật, theo uỷ quyền) Người đại diện xác lập, thực hiện giao dịch dân

sự nhân danh người được đại diện Các quyền, nghĩa vụ do người đại diện xác lập làmphát sinh quyền, nghĩa vụ của pháp nhân Tuy nhiên pháp nhân chỉ tham gia các giao dịchdân sự phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình Người đại diện xác lập giao dịch dân

sự làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của pháp nhân trong phạm vi nhiệm vụ của chủ thể đóđược điều lệ hoặc pháp luật quy định

3.2 Điều kiện về sự tự nguyện của người tham gia hợp đồng

Người tham gia giao dịch hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện Tự nguyện là hành vichủ thể tham gia giao dịch nắm được hành vi của mình và tự chủ về hành vi đấy, không

có sự cưỡng ép hay ép buộc Một số trường hợp giao dịch dân sự xác lập không có sự tựnguyện sẽ không được pháp luật công nhận và bị coi là vô hiệu Đó là các trường hợp vôhiệu do giả tạo; do nhầm lẫn; do bị lừa dối, bị đe doạ, cưỡng ép; do xác lập tại thời điểm

mà không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, hợp đồng bị coi là được xác lập thiếu yếu

tố tự nguyện nếu thuộc một trong năm trường hợp sau đây:

Hợp đồng giả tạo (Điều 124):

Là hợp đồng được lập ra nhưng không phản ánh đúng bản chất của quan hệ đích thựcgiữa các bên, thể hiện ở việc các bên xác lập hợp đồng để che đậy một giao dịch khác haymột hành vi trái pháp luật của một hoặc các bên

Hợp đồng được xác lập do nhầm lẫn (Điều 126):

Đó là việc một hoặc các bên hình dung sai về sự việc, chủ thể, đối tượng hoặc các nộidung của hợp đồng nên đã xác lập hợp đồng trái với ý nguyện đích thực của mình Ví dụ:người mua bảo hiểm tưởng là khi mua bảo hiểm thì được hưởng tiền bảo hiểm trong mọitrường hợp có rủi ro, nhưng thực tế là điều khoản bảo hiểm đã có những loại trừ nên một

số loại rủi ro sẽ không được bảo hiểm Pháp luật Việt Nam chỉ chấp nhận hợp đồng vôhiệu do nhầm lẫn về nội dung của hợp đồng

Hợp đồng xác lập do bị lừa dối (Điều 127):

Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làmcho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch

Ngày đăng: 20/04/2023, 14:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w