TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA QUẢN TRỊ Tiểu luận Môn ĐẠO ĐỨC KINH DOANH Đề tài DOANH NGHIỆP VÀ VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG Giảng viên bộ môn TS Lê Việt Hưng Mã lớp học phần 22C1MAN50202104 H[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ
Tiểu luận Môn: ĐẠO ĐỨC KINH DOANH
Đề tài
DOANH NGHIỆP VÀ VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG
Giảng viên bộ môn: TS Lê Việt Hưng
Mã lớp học phần : 22C1MAN50202104
Họ và tên sinh viên : Lương Quốc Bảo - 31201023633 Nguyễn Hoàng Nguyên – 31201021224
Võ Thanh Thảo - 31201021413 Lớp : ADC03
Thành phố Hồ Chí Minh, 2022
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế và là một chủ thể tích cực trong xã hội, nên không thể không đặt ra vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với môi trường và xã hội Không nên chỉ dừng lại ở các nghĩa vụ về đạo đức hay giá trị về mặt hình ảnh, mà cần đặt trách nhiệm của doanh nghiệp với môi trường và xã hội như là trách nhiệm thực chất và nội tại Môi trường và xã hội cung cấp các tư liệu sản xuất đầu vào và là nơi tiêu thụ các sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp, nghĩa là doanh nghiệp tồn tại và phát triển được khi ở trong lòng môi trường xã hội như cá trong môi trường nước vậy, và do đó, trách nhiệm của doanh nghiệp cần được coi là trách nhiệm của doanh nghiệp với chính mình và chủ động thực hiện với tính
tự giác cao
Trách nhiệm của doanh nghiệp không chỉ trong việc chấp hành các quy định pháp luật về bảo
vệ môi trường, về khai thác tài nguyên mà còn cần nhấn mạnh hơn trong việc chủ động triển khai các giải pháp về đổi mới sáng tạo, về cải tiến công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực để đảm bảo luôn tận dụng và tối ưu hiệu quả việc sử dụng nguyên liệu đầu vào của chu trình sản xuất Làm tốt nhiệm vụ này sẽ tạo ra lợi ích song hành của cả doanh nghiệp và môi trường và
xã hội, vừa giúp doanh nghiệp tối ưu chi phí và lợi nhuận, vừa bảo vệ môi trường, vừa đưa xã hội tiến sâu hơn và các thực hành phát triển bền vững
Trong các điều kiện khan hiếm về nguồn lực, doanh nghiệp có quyền và cần phải đưa ra các lựa chọn để phát triển, và trách nhiệm của doanh nghiệp là phải đưa ra lựa chọn của mình trên
cơ sở cân nhắc lợi ích của môi trường, lợi ích của xã hội Doanh nghiệp tuyệt đối không thể vì lợi ích cục bộ, của riêng mình mà bỏ qua lợi ích của môi trường và xã hội
Trong bối cảnh của nền kinh tế Việt Nam hiện tại, vẫn còn tồn tại những yếu điểm dẫn tới sự mâu thuẫn giữa lựa chọn dài hạn và lợi ích ngắn hạn, và buộc doanh nghiệp phải cân nhắc và chấp nhận hy sinh lợi ích ngắn hạn để đổi lấy lợi ích dài hạn Nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng đủ tiềm lực và nhận thức một cách đầy đủ để nhận ra và lựa chọn theo con đường đó
Điều đáng buồn là nhiều doanh nghiệp đang chấp nhận đổi lợi ích dài hạn để chọn lợi ích ngắn hạn, nên chấp nhận hy sinh cả vấn đề về môi trường và xã hội để vì miếng cơm manh áo hàng ngày Để có thể điều chỉnh, đòi hỏi quyết tâm rất lớn từ cả cộng đồng và bản thân mỗi doanh nhân Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không phải là câu chuyện có thể giải quyết
Trang 3trong ngày một ngày hai mà phải là một quá trình đồng hành và nỗ lực, phải là dòng nước xuôi về biển cả để không ai có thể đi ngược dòng
THỰC TRẠNG
Theo số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tỷ lệ các khu công nghiệp có trạm
xử lý nước thải tập trung chỉ chiếm 66%, nhiều khu công nghiệp đã đi vào hoạt động mà hoàn toàn chưa triển khai xây dựng hệ thống xử lý nước thải hoặc có nhưng không vận hành, hay vận hành không hiệu quả hoặc xuống cấp Trong khi đó, theo ước tính có khoảng 70% trong
số hơn một triệu mét khối nước thải hằng ngày, đêm phát sinh từ các khu công nghiệp được
xả thẳng ra nguồn tiếp nhận mà không qua xử lý
Ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp điển hình là khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, gồm Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bình Dương được xem là khu vực tập trung nhiều khu công nghiệp và dự án FDI lớn nhất cả nước, mặc dù tỷ lệ xây dựng hệ thống
xử lý nước thải tập trung ở khu vực này khá cao, nhưng tình trạng vi phạm các quy định về môi trường vẫn thường xuyên xảy ra Bởi vậy không có gì lạ khi nhiều kênh rạch ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, như Tham Lương, Ba Bò, Thầy Cai, An Hạ… đang được coi là những dòng kênh bị ô nhiễm nghiêm trọng vì dòng chảy chở theo lượng nước thải khổng lồ và rác thải đủ loại từ các hoạt động sản xuất công nghiệp cũng như sinh hoạt
Ô nhiễm không khí, thường chủ yếu tập trung tại các khu công nghiệp cũ, do các khu công nghiệp này đang xử dụng công nghệ cũ, lạc hậu hay chưa xây dựng hệ thống xử lý khí thải ra môi trường Trong khi các khu công nghiệp mới do được đầu tư công nghệ hiện đại, nên hệ thống xử lý nước thải ra môi trường được bảo đảm hơn Tuy nhiên, tất cả do ý thức con người
mà tình trạng ô nhiễm không có xu hướng giảm Ô nhiễm không khí tại các khu công nghiệp chủ yếu là bụi, một số khu công nghiệp có biểu hiện ô nhiễm CO2, SO2 và tiếng ồn
Thời gian qua, nhiều doanh nghiệp trong khu C Khu công nghiệp (KCN) Nam Phổ Yên, thuộc phường Trung Thành (TP Phổ Yên) thường xuyên xả khói và bụi ra môi trường, gây ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt của người dân xung quanh Mặc dù vấn đề này người dân đã kiến nghị đến các cấp chính quyền địa phương, nhưng đến nay vẫn chưa được khắc phục Khu C KCN Nam Phổ Yên do Công ty TNHH Đầu tư phát triển hạ tầng Lệ Trạch (Đài Loan) làm chủ đầu tư và đi vào hoạt động từ năm 2008 Đến nay, tại đây có 8 doanh nghiệp đang hoạt động Theo người dân sống gần khu vực này, môi trường xung quanh đang bị ảnh hưởng
Trang 4nhiều nhất từ khói, bụi và tiếng ồn từ các phân xưởng sản xuất nhựa của Công ty TNHH nhựa Minh Hằng và nhà máy sản xuất gỗ ván dăm của Công ty TNHH Vân Huyền
Tìm hiểu thực tế vào khoảng 10 giờ sáng ngày 26/7/2022, chúng tôi thấy ống khói từ một trong số các nhà máy sản xuất gỗ ván dăm đang xả khói màu đen, có mùi hắc ra bên ngoài Khói theo gió bay khắp nơi và len lỏi vào các khu dân cư đã trở thành nỗi ám ảnh của nhiều người dân
Là hộ dân thường xuyên phải chịu ảnh hưởng từ những ống khói này, ông Nguyễn Văn Phố bức xúc: Hầu như ngày nào, nhà máy sản xuất gỗ ván dăm cũng xả khói có màu đen ra môi trường, nhất là vào buổi trưa Khói theo gió bay vào nhà tôi có mùi khét rất khó chịu và thường gây cay mắt, rát mũi Không chỉ có khói, tiếng máy móc, động cơ từ các các xưởng gỗ chạy rầm rầm suốt ngày, thậm chí thâu đêm, khiến người dân ngủ không yên giấc
Cùng với khí thải của nhà máy sản xuất gỗ, bụi đá, bột nhựa từ nhà máy sản xuất nhựa của Công ty TNHH nhựa Minh Hằng cũng phát tán ra không khí Bà Lê Thị Hà, người dân tổ dân phố Hưng Thịnh, phường Trung Thành, phản ánh: Bụi của Công ty nhựa Minh Hằng có khả năng đã không được xử lý triệt để trong khi sản xuất Vì thế, không khí quanh nhà máy lúc nào cũng mờ đục, còn người dân chúng tôi thường xuyên phải đóng kín cửa để tránh khói bụi nhưng cũng không thấm vào đâu
Khí thải và bụi từ các nhà máy nói trên không những ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của 5
hộ dân tổ dân phố Hưng Thịnh mà còn ảnh hưởng đến hàng chục hộ của tổ dân phố Phú Thịnh, phường Trung Thành Ông Trần Văn Sỹ, tổ trưởng tổ dân phố Phú Thịnh, cho hay: Bụi
và khói từ các nhà máy trên theo gió len lỏi vào hầu hết các gia đình cách đó đến 200m, 300m Ngoài 2 nhà máy trên, hằng ngày, chúng tôi cũng phải ngửi mùi sơn và nghe tiếng ồn
từ nhà máy thi công khung thép tiền chế trong KCN
Tìm hiểu chúng tôi được biết, hiện nay, Khu C KCN Nam Phổ Yên vẫn chưa được đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung Điều này khiến cho người dân thêm lo lắng về nguy
cơ ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt
Theo ông Trần Quang Phong, Chủ tịch UBND phường Trung Thành: Trước phản ánh của người dân về nguy cơ ô nhiễm môi trường, trong các kỳ họp HĐNĐ của phường và TP Phổ Yên, chúng tôi đã nhiều lần kiến nghị đến các đại biểu HĐND Theo đó, vừa qua, tỉnh đã chỉ đạo các sở, ngành có liên quan phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức kiểm tra hệ thống xử lý chất thải của các đơn vị, doanh nghiệp hoạt động trong KCN Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có thông báo kết quả kiểm tra và hướng khắc phục, giải quyết
Trang 5Nước thải của khu công nghiệp (KCN) gồm hai loại chính: Nước thải sinh hoạt từ các khu văn phòng và nước thải sản xuất từ các nhà máy sản xuất trong khu công nghiệp Đặc tính nước thải sinh hoạt thường là ổn định so với nước thải sản xuất
Nước thải sinh hoạt ô nhiễm chủ yếu bởi các thông số BOD5, COD, SS, Tổng N, Tổng P, dầu
mỡ - chất béo Trong khi đó các thông số ô nhiễm nước thải công nghiệp chỉ xác định được ở từng loại hình và công nghệ sản xuất cụ thể
Nước thải từ các KCN có thành phần đa dạng, chủ yếu là các chất lơ lửng, chất hữu cơ, dầu
mỡ và một số kim loại nặng Khoảng 70% trong số hơn 1 triệu m3nước thải/ngày từ các KCN được xả thẳng ra các nguồn tiếp nhận không qua xử lý đã gây ra ô nhiễm môi trường nước mặt Chất lượng nước mặt tại những vùng chịu tác động của nguồn thải từ các KCN đã suy thoái, đặc biệt tại các lưu vực sông: Sông Đồng Nai, sông Thị Vải, sông Sài Gòn
Thành phần nước thải các KCN phụ thuộc vào ngành nghề của các cơ sở sản xuất trong KCN Chất lượng nước thải đầu ra của các KCN phụ thuộc rất nhiều vào việc nước thải có được xử
lý hay không Tính đến tháng 9/2021, có 218 KCN đã xây dựng xong hệ thống xử lý nước thải tập trung, với tổng công suất xử lý nước thải đạt hơn 950.000 m3/ngày đêm, chiếm 75% tổng số KCN đã vận hành; 34 KCN đang xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung; vẫn còn rất nhiều KCN đã đi vào hoạt động mà hoàn toàn chưa triển khai xây dựng hạng mục này Bên cạnh đó, nhiều KCN đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung nhưng tỷ lệ đấu nối của các doanh nghiệp trong KCN còn thấp Nhiều nơi doanh nghiệp xây dựng hệ thống xử lý nước thải cục bộ nhưng không vận hành hoặc vận hành không hiệu quả Thực trạng trên đã dẫn đến việc phần lớn nước thải của các KCN khi xả thải ra môi trường đều có các thông số ô nhiễm cao hơn nhiều lần so với QCVN
Hàm lượng cặn lơ lửng trong nước thải KCN thường xuyên vượt ngưỡng cho phép Kết quả phân tích mẫu nước thải từ các KCN cho thấy, nước thải các KCN có hàm lượng các chất lơ lửng (SS) cao hơn QCVN từ 2 lần Giá trị các thông số BOD5 con tạ; cống xả các KCN thường ở mức khá cao
Mỗi năm trung bình ở Việt Nam có 15 triệu tấn rác được thải ra, trong đó rác thải công nghiệp chiếm 17% Lượng rác có tính nguy hại do hoạt động công nghiệp thải ra khoảng 130.000 tấn, 75% phát sinh từ các khu kinh tế trọng điểm phía Nam và từ hai thành phố lớn Hà Nội và Hồ Chí Minh 25% Theo số liệu của Sở TN&MT&NĐ Hà Nội, trong năm 2005, mỗi ngày Hà Nội phải gánh 312 tấn rác thải công nghiệp không nguy hại và 59,3 tấn rác thải công nghiệp nguy hại cộng với 1,65 tấn rác thải y tế nguy hại
Trang 6Hàng năm các nhà máy trong KCN - KCX trên địa bàn TP HCM thải ra 62.726,4 tấn chất thải rắn nếu tính luôn các nhà máy ngoài các KCN thì tải lượng chất thải rắn thải ra là 667.137,1 tấn/năm, các nhà máy tại các KCN trên địa bàn tỉnh Bình Dương hàng ngày thải ra khoảng 82 tấn chất thải rắn Tại Đồng Nai phát triển công nghiệp đã và đang có ảnh hưởng nhất định đến môi trường sống Tỉnh chỉ có một khu xử lý chất thải rắn ở Tràng Dài, các khu vực xử lý khác đang lập dự án nhưng chưa được đầu tư, trong khi mức độ chất thải của các KCN trên địa bàn ngày càng gia tăng Phương án xử lý rác thải công nghiệp ở Việt Nam chưa tốt, hiện xử lý và tiêu hủy không an toàn Chất thải được tạm giữ tại các cơ sở hoặc bán lại cho các điểm tái chế không đảm bảo yêu cầu, hoặc mang chôn lấp chung với rác sinh hoạt tại bãi rác tập trung
NGUYÊN NHÂN
Trong những năm qua, việc bảo vệ môi trường khu công nghiệp vẫn là một vấn đề nóng được
xã hội quan tâm Với tốc độ phát triển kinh tế nhanh hiện nay, số lượng các khu công nghiệp được thành lập để thực hiện thu hút các dự án đầu tư công nghiệp đang ngày càng gia tăng Điều này đã tạo thêm nhiều áp lực cho môi trường Các quy định về bảo vệ môi trường được ban hành đã góp phần cải thiện đáng kể công tác bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp Tuy nhiên, hiện một số khu công nghiệp thực hiện chưa tốt công tác bảo vệ môi trường, gây ô nhiễm môi trường trong quá trình hoạt động, làm ảnh hưởng xấu đến cộng đồng dân cư sống tại khu vực lân cận Nguyên nhân gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp có thể đó là:
Việc quy hoạch phát triển các khu công nghiệp tại một số địa phương còn thực hiện tràn lan trong khi khả năng thu hút nguồn vốn đầu tư thấp, năng lực tài chính còn hạn chế dẫn đến việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng còn hạn chế Các khu công nghiệp chưa có sự ưu tiên xây dựng hệ thống xử lý chất thải, một số khu công nghiệp thậm chí còn không có hệ thống xử lý rác thải mà đổ trực tiếp ra môi trường
Các chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật Nhận thức về bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất, kinh doanh trong khu công nghiệp còn hạn chế, nhiều chủ cơ sở hiểu chưa
rõ, chưa chính xác và thậm chí không cập nhật các quy định của pháp luật hiện hành trong công tác bảo vệ môi trường
Nhiều doanh nghiệp đã xây dựng hệ thống xử lý chất thải, cam kết bảo vệ môi trường nhưng lại không thực hiện nghiêm túc dẫn đến tình trạng ô nhiễm trầm trọng hơn Ban quản lý môi trường tại các địa phương chưa có sự quan tâm đầy đủ đến vấn đề này Hầu hết Ban quản lý,
Trang 7khu công nghiệp mới chỉ tập trung vào những vấn đề thu hút đầu tư, chưa quan tâm đến công tác quản lý môi trường khu công nghiệp Các công tác thanh tra giám sát còn chưa hiệu quả, các cơ quan còn chậm trễ trong việc kiểm soát và đôn đúc các chủ doanh nghiệp trong bảo vệ môi trường
TÁC ĐỘNG
Ô nhiễm môi trường công nghiệp đã và đang ảnh hưởng tới sức khỏe của cộng đồng dân cư
mà những người công nhân lao động là những người bị ảnh hưởng trực tiếp Họ phải tiếp xúc với các yếu tố độc hại như ô nhiễm nhiệt, bụi, ồn, hơi khí độc…
Kết quả điều tra về môi trường và sức khỏe của trên 208 công nhân nhà máy cơ khí và nhà máy hợp kim sắt Thái Nguyên cho thấy: 58,7% số công nhân có biểu hiện viêm phế quản cấp, 2,9% có biểu hiện hội chứng nhiễm độc SO2 Đối với sức khỏe của công nhân ngành hóa chất phân bón, điện hóa, cao su, chất tẩy rửa, hóa chất bảo vệ thực vật và hóa chất cơ bản cho thấy: bệnh đường hô hấp, tai mũi họng và bệnh dị ứng chiếm từ 35,2 đến 65%
Từ năm 1976 đến 1990 mới chỉ có 5.497 trường hợp mắc bệnh nghề nghiệp, nhưng đến 2004
số người mắc bệnh đã tăng lên gấp 3 lần với tổng số 21.597 người Dự báo số người mới mắc bệnh nghề nghiệp đến năm 2010 là trên 30 ngàn Tổng số tiền chi cho trợ cấp bệnh nghề nghiệp từ 2000 -2004 là hơn 50 tỷ đồng
Ô nhiễm môi trường công nghiệp không chỉ tác động trong môi trường lao động mà còn tác động tới cộng đồng dân cư xung quanh các khu công nghiệp qua việc thải các chất độc hại vào không khí, nguồn nước và đất Tỷ lệ chết sơ sinh, dị tật thai nhi và mắc các bệnh về đường hô hấp, tim mạch và ung thư ngày càng tăng Nước thải của các nhà máy xí nghiệp chứa nhiều yếu
tố nguy hại như các kim loại nặng, các hóa chất có khả năng gây biến đổi gen không qua xử lý được thải trực tiếp ra các dòng sông, ao hồ là yếu tố gây các bệnh tật tại các khu dân cư
Nghiên cứu trên 2.000 người dân sống quanh vùng mỏ chì-kẽm Lang Hích Thái Nguyên cho thấy có 138 người có biểu hiện bị nhiễm độc chì mạn tính Tại cộng đồng dân cư quanh mỏ Bản Thi Bắc Kạn cũng có nhiều người bị nhiễm độc chì Chỉ số IQ của trẻ em ở vùng này thấp hơn vùng khác Xét nghiệm nước sinh hoạt, nước thải, không khí, thực phẩm cá nhiều mẫu có hàm lượng chì cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần Tại cộng đồng dân sống quanh
mỏ mangan huyện Trùng Khánh Cao Bằng, mỏ thiếc Sơn Dương Tuyên Quang nhiều người
bị thâm nhiễm kim loại nặng trong cơ thể Tại một số vùng khai thác vàng từ lâu lưu hành một loại dịch bệnh lạ với các triệu chứng thần kinh giống như bệnh do thiếu vitamin B1, nhưng đó
Trang 8chính là bệnh nhiễm độc thủy ngân do quá trình khai thác, tinh luyện vàng bừa bãi gây ra Người ta đã thấy hàm lượng thuỷ ngân trong tóc, máu, nước tiểu ở những người bệnh này cao hơn nhiều so với ngưỡng sinh học Người ta cũng xác định được hiện tượng tích luỹ thủy ngân và khuếch đại sinh học trong các động vật thuỷ sinh qua chuỗi thức ăn
Số bệnh nhân vào điều trị tại Bệnh viện K tăng từ 7.621 ca trong 2 năm 1997 và 1998 đến 7.712 trường hợp chỉ trong năm 2001 Số bệnh nhân ung thư mới tăng, năm 2001 tăng gấp 1,7 lần so với năm 1997 - 1998 Hiện tượng làng ung thư như Thạch Sơn Phú Thọ, Minh Đức Hải Phòng hay Phú Lộc, Hoàng Dư tuy rằng chưa được nghiên cứu khẳng định nhưng cũng cho thấy ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường nói chung và môi trường công nghiệp nói riêng tới sức khỏe người dân là đáng báo động
Thời gian công nghiệp hóa, đô thị hóa ở Việt Nam còn rất ngắn so với nhiều nước, nhưng độ bền vững của môi trường lại thuộc loại thấp Việt Nam đứng thứ 127 trong bảng xếp hạng chỉ
số bền vững môi trường năm 2005 và chỉ đứng thứ 8 trong các nước ASEAN, đứng sau cả Myanmar, Lào và Campuchia Chỉ số bền vững môi trường của Việt Nam thấp do tình trạng ô nhiễm môi trường còn nặng và tài nguyên thiên nhiên bị tàn phá nghiêm trọng mà chưa có giải pháp hữu hiệu để khắc phục Hiện nay, rất nhiều khu dân cư phải hứng chịu sự ô nhiễm từ các nhà máy nhưng có rất ít nghiên cứu đánh giá có hệ thống ảnh hưởng của nó tới sức khỏe cộng đồng mà chỉ được tiến hành khi có vấn đề về sức khỏe do đó mất đi cơ hội phòng ngừa các tác hại Việc đo đạc các yếu tố độc hại trong môi trường, khám bệnh khi đã xuất hiện bệnh thường không có tác dụng phòng ngừa mà chỉ giải quyết vấn đề hiện tại, bởi vì phần lớn tác hại lên sức khỏe cần có thời gian nhất định
TRÁCH NHIỆM, LỢI ÍCH CỦA DOANH NGHIỆP KHI ĐẦU
TƯ VÀO BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ TĂNG TRƯỞNG XANH
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không phải là câu chuyện có thể giải quyết trong ngày một ngày hai mà phải là một quá trình đồng hành và nỗ lực
Luật bảo vệ môi trường năm 2020 ra đời đã có sự thay đổi rất lớn về kỹ thuật lập pháp và nguyên tắc về bảo vệ môi trường Các yếu tố về phát triển bền vững và gắn môi trường với sự phát triển của kinh tế và xã hội đã được thể hiện rất rõ Cụ thể, Luật bảo vệ môi trường năm
2020 không chỉ đơn thuần là một đạo luật chống lại các hành vi gây ô nhiễm môi trường mà
đã tiến xa hơn, trở thành cơ sở pháp lý cho các giải pháp thực hành phát triển bền vững
Là một tế bào của nền kinh tế, trách nhiệm của doanh nghiệp có thể chỉ ra mấy nhóm như sau: Nhóm thứ nhất là việc chủ động xây dựng các đánh giá về khả năng tác động của dự án đối với môi trường, thể hiện rõ qua trách nhiệm lập báo cáo đánh giá tác động môi trường khi
Trang 9triển khai các dự án đầu tư Đây là biện pháp chủ động nhằm phát hiện các yếu tố có khả năng gây nguy hại tới môi trường và đề xuất các giải pháp để ngăn ngừa, xử lý chất thải và khắc phục sự cố môi trường Báo cáo đánh giá tác động môi trường phải được gửi tới cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đánh giá và phê duyệt trước khi triển khai dự án
Nhóm thứ hai là xin cấp giấy phép môi trường, tức là doanh nghiệp cần phải xin phép cơ quan Nhà nước và chỉ được thực hiện khi được cơ quan Nhà nước cấp phép đối với một số lĩnh vực kinh doanh có điều kiện, có tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ô nhiễm môi trường
Nhóm thứ ba là trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp và tổ chức cá nhân liên quan đến các yếu tố môi trường Việc cung cấp thông tin sẽ được thực hiện bằng hình thức cung cấp cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi được yêu cầu, và hình thức công khai thông tin về môi trường theo quy định trên cổng thông tin của cơ quan, tổ chức hoặc bằng hình thức khác, bảo đảm thuận tiện cho đối tượng có liên quan tiếp nhận thông tin Bên cạnh
đó, chủ dự án đầu tư, cơ sở có trách nhiệm lập và gửi báo cáo công tác bảo vệ môi trường đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
Nhóm thứ tư là trách nhiệm của doanh nghiệp về phòng ngừa sự cố, ứng phó với sự cố về môi trường Doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện yêu cầu về kế hoạch, biện pháp, trang thiết bị phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường theo quy định của pháp luật; Thực hiện chế độ kiểm tra thường xuyên, áp dụng phương án, biện pháp quản lý, kỹ thuật nhằm loại trừ, giảm thiểu nguy cơ xảy ra sự cố môi trường Doanh nghiệp gây ra sự cố môi trường có trách nhiệm ứng phó sự cố môi trường, chi trả chi phí ứng phó sự cố môi trường
Nhóm thứ năm là trách nhiệm của doanh nghiệp liên quan đến việc bồi thường thiệt hại Doanh nghiệp gây thiệt hại về môi trường phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do mình gây
ra, đồng thời phải chi trả toàn bộ chi phí xác định thiệt hại và thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định
Nhóm thứ sáu là các vấn đề khác, như thực hiện các trách nhiệm về nộp phí bảo vệ môi trường, kỹ quỹ bảo vệ môi trường, chi trả dịch vụ hệ sinh thái tự nhiên, tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường…
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp vẫn “vô tư” xả thải ra ngoài môi trường Xả rác thải ra môi trường hay không hoàn thiện báo cáo đánh giá tác động môi trường đều là những hành vi vi phạm pháp luật
Theo số liệu thống kê cho thấy, tuyệt đại đa số doanh nghiệp Việt Nam nằm ở quy mô vừa và nhỏ, với tiềm lực về tài chính và công nghệ rất thấp Nếu thực hiện đầy đủ các biện pháp bảo
Trang 10vệ môi trường sẽ tạo nên gánh nặng về chi phí rất lớn Do đó, hầu hết các doanh nghiệp đều tìm cách trốn tránh các nghĩa vụ về bảo vệ môi trường để tiết kiệm chi phí
Bên cạnh đó, khả năng thực thi pháp luật về môi trường còn tồn tại nhiều bấp cập Có quá nhiều hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, dẫn tới xử lý không xuể, và hệ quả là các chế tài xử lý bị nhờn, bị coi thường
Trong nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn sẽ đòi hỏi mức độ đầu tư của Nhà nước phải lớn hơn nữa, lớn hơn so với đầu tư của doanh nghiệp Không ai có thể thay thế vai trò của nhà nước trong việc tạo ra những mắt xích kết nối để khép kín vòng tuần hoàn của nền sản xuất
Và vấn đề quan trọng mà các doanh nghiệp cũng cần phải lưu ý là kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn đã trở thành một xu thế không thể đảo ngược, trở thành một tất yếu mà tất cả chúng ta sẽ phải theo Doanh nghiệp nào không chuẩn bị đón nhận và không sẵn sàng đón nhận thì sẽ bị đào thải
Khi doanh nghiệp tăng cường đầu tư vào hoạt động BVMT và tăng trưởng xanh sẽ mang lại những lợi ích hết sức tích cực cho chính doanh nghiệp và cộng đồng, quốc gia
Thứ nhất, lợi ích đối với chính doanh nghiệp: Việc thực hiện đầu tư cho BVMT sẽ giúp các doanh nghiệp có môi trường làm việc an toàn, mang đến lợi ích về sức khỏe cho cán bộ công nhân viên được đảm bảo, từ đó cán bộ yên tâm công tác, bảo đảm năng suất lao động Bên cạnh đó, việc tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật môi trường sẽ giúp doanh nghiệp không gặp rủi ro về pháp lý, thanh kiểm tra và chế tài xử phạt Đặc biệt, trong dài hạn khi doanh nghiệp đầu tư bài bản, có hệ thống vào công tác BVMT sẽ gúp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh do giảm thiểu chi phí sử dụng các dạng tài nguyên thiên nhiên (ví dụ giảm thiểu chi phí sử dụng nước, tái sử dụng các chất thải bỏ, xử lý biogas giúp giảm chi phí về nhiên liệu…), điều này sẽ góp phần làm tăng “lợi nhuận – động lực chính của doanh nghiệp” trong nền kinh tế thị trường Một lợi ích dài hạn nữa mà các doanh nghiệp có được là hình ảnh và thương hiệu của doanh nghiệp sẽ tăng lên Sử dụng các nhãn sinh thái, nhãn tiết kiệm năng lượng, nhãn sản phẩm đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường đã được nhiều doanh nghiệp sử dụng và xem như là một công cụ để hấp dẫn “khách hàng”
Thứ hai, lợi ích đối với cộng đồng và đất nước: Mỗi một doanh nghiệp có thể được xem như một “tế bào” của nền kinh tế của mỗi quốc gia Kết quả hoạt động của mỗi doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến người dân hoặc địa phương - nơi doanh nghiệp đặt trụ sở hoạt động
và xa hơn nữa là đến cả đất nước Do đó, khi doanh nghiệp tăng cường đầu tư cho công tác