1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề tài lễ hội kỳ yên đình thần an thái trung huyện cái bè tỉnh tiền giang qua góc nhìn văn hóa tâm linh

28 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lễ hội Kỳ Yên Đình Thần An Thái Trung Huyện Cái Bè Tỉnh Tiền Giang Qua Góc Nhìn Văn Hóa Tâm Linh
Tác giả Nguyễn Minh Phương
Người hướng dẫn PGS. TS Trần Hoài Anh
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn hóa học
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 401,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH TRƯỜNG ĐH VĂN HÓA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  BÀI TIỂU LUẬN KHOA VĂN HÓA HỌC Môn Phong tục và lễ hội dân gian Đề tài Lễ hội Kỳ Yên đình thần An Thái Trung huyện Cái Bè t[.]

Trang 1

BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐH VĂN HÓA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- -BÀI TIỂU LUẬN KHOA: VĂN HÓA HỌC Môn: Phong tục và lễ hội dân gian

Đề tài : Lễ hội Kỳ Yên đình thần An Thái Trung huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang qua góc nhìn văn hóa tâm linh

GVHD: PGS.TS TRẦN HOÀI ANH SVTH: Nguyễn Minh Phương - D19VH051

NĂM HỌC: 2022- TP.HCM

Trang 2

Tôi xin trân trọng cảm ơn quý Thầy Cô Khoa Văn hóa học – Trường Đạihọc Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình truyền đạt kiến thức và kỹ năngquý báu, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Khánh Tiết Đình Thần An Thái Trung, xã

An Thái Trung, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang và cư dân tại địa phương đã nhiệttình hỗ trợ, tạo điều kiện để tôi khảo sát, nghiên cứu và sinh hoạt tại địa phương

Tuy có nhiều cố gắng, nhưng bài tiểu luận không trách khỏi những thiếu sót.Kính mong PGS TS Trần Hoài Anh và những người quan tâm đến đề tài có ý kiếnđóng góp để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn

TP Hồ Chí Minh, ngày 5 tháng 5 năm 2022

Nguyễn Minh Phương

MỞ ĐẦU

Trang 3

1 Lý do chọn đề tài

Lễ hội được coi là “bảo tàng sống” nơi chứa đựng những giá trị văn hóa –lịch sử phong phú của từng tộc người, thể hiện mọi mặt từ đời sống đến kinh tế, là

sự gắn kết cộng đồng dân cư địa phương nói riêng và cả nước nói chung Việt Nam

là quốc gia đa dân tộc có kho tàng di sản vô cùng phong phú, đa dạng Đất nước cóhàng ngàn năm lịch sử, trải qua nhiều biến cố thăng trầm nhưng dòng chảy văn hóa

lễ hội vẫn mạnh mẽ đã và đang trở thành điểm tựa tinh thần của cộng đồng cư dânqua bao thế hệ

Tỉnh Tiền Giang là một tỉnh ven biển của đồng bằng sông Cửu Long, vừa cóvùng nông nghiệp trù phú, vừa có khu vực biển đảo liền kề với sự hỗ dung củanhiều tộc người đến sinh sống đã làm cho vùng đất này có nền văn hóa vô cùngđặc sắc Sự hội tụ của nhiều lễ hội văn hóa lịch sử lẫn lễ hội văn hóa truyền thốngnhư: Lễ giỗ Tứ Kiệt tại thị trấn Cai Lậy ngày 25 tháng 12 âm lịch, lễ giỗ TrươngĐịnh ngày 20 tháng 8 âm lịch, lễ Nghinh Ông ngày 9 tháng 3 âm lịch ở huyện GòCông Đông và lễ Kỳ Yên ngày 10, 11, 12 tháng 3 âm lịch ở đình thần An TháiTrung huyện Cái Bè,…cho thấy vùng đất này có nhiều lễ hội đa dạng và phongphú

Là người con sinh ra và lớn lên ở vùng đất Cái Bè bạt ngàn cây trái, tôi đã

có nhiều cơ hội tham dự các lễ hội truyền thống ở quê mình, trong đó có lễ hội KỳYên tại xã An Thái Trung luôn thu hút cộng đồng tham dự bởi các hoạt động tínngưỡng mang tính chất dung hòa nhiều nền văn hóa trong khu vực đã tạo nên một

lễ hội vô cùng đặc sắc Để tìm hiểu lễ hội Kỳ Yên đặc sắc như thế nào, tôi thực

hiện nghiên cứu đề tài: “Lễ hội Kỳ Yên tại đình thần An Thái Trung, huyện Cái Bè,

tỉnh Tiền Giang qua góc nhìn văn hóa tâm linh” nhằm mục đích tìm hiểu và khai

thác các giá trị của lễ hội và từ đó đưa ra các biện pháp bảo tồn và phát huy nhữnggiá trị nhân văn mà lễ hội mang lại cho cộng đồng địa phương

Trang 4

2 Mục đích nghiên cứu

Đình thần An Thái Trung là ngôi đình điển hình của huyện Cái Bè dựa trênhai góc nhìn cơ bản là biến đổi văn hóa và lễ tục xã hội đã phần nào phát họa bứctranh cụ thể của sự vận động và biến đổi của thiết chế văn hóa của đình làng Nam

bộ trong bối cảnh hiện nay

Đề tài với mục đích nghiên cứu đi từ giới thiệu tổng quan về lễ hội qua đótìm ra những giá trị vật chất lẫn tinh thần mà cộng đồng người dân địa phương trảinghiệm được thông qua tương tác hai chiều với lễ hội

Đồng thời, nghiên cứu này góp phần cung cấp minh chứng cụ thể cho cácnghiên cứu tiếp theo về lễ nghi và đời sống văn hóa nông thôn Nam bộ trong thờigian tới

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

3.1 Các công trình nghiên cứu trước năm 1975

Trước năm 1975, có: công trình Việt Nam phong tục của Phan Kế Bínhđược xuất bản năm 1915 và tái bản 2005, Nxb Văn học; Toan Ánh với bộ Nếp cũ,Nxb Trẻ, 2005;

3.2 Các công trình nghiên cứu sau năm 1975

Sau năm 1975, các công trình nghiên cứu về lễ hội cổ truyền và văn hóa dângian với một số tác phẩm tiêu biểu như: Nguyễn Duy Hinh với Tín ngưỡng Thànhhoàng Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, 1996; Tín ngưỡng dân gian Việt Nam do

Lê Như Hoa chủ biên, Nxb Văn hóa thông tin, 2001; Nguyễn Hữu Hiếu có Tìmhiểu văn hóa tâm linh Nam bộ, Nxb Trẻ, 2004; Ngô Đức Thịnh với Tín ngưỡng vàvăn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, Nxb Trẻ, 2012; Văn hóa dân gian người Việt ởNam bộ của Thanh Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh, Nxb ThờiĐại, 2012; Đình Nam Bộ - tín ngưỡng và nghi lễ, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1993 doHuỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường, Hồ Tường biên soạn; Đình Nam Bộ,xưa và nay Nxb Đồng Nai, 1999 của Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường;

Trang 5

Sơn Nam có Đình miếu và lễ hội dân gian miền Nam, Nxb Trẻ, 2014; Tìm hiểumột số hiện tượng văn hóa dân gian Bến Tre, Nxb Khoa học xã hội, 1997 của tácgiả Nguyễn Chí Bền;

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là lễ Kỳ Yên tại đình thần An Thái Trung, huyện Cái Bè,tỉnh Tiền Giang Chủ thể nghiên cứu là những người tham gia lễ hội Khách thểnghiên cứu là những nhà quản lý và chính sách bảo tồn

Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về đối tượng nghiên cứu

Chương 2: Diễn trình lễ hội Kỳ yên đình thần An Thái Trung

Chương 3: Phương hướng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của lễ hội

Trang 6

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG

NGHIÊN CỨU

1 Cơ sở lý luận

1.1 Khái niệm lễ hội

Lễ hội là những giá trị văn hóa dân gian của cộng đồng, sản phẩm tinh thầncủa con người qua quá trình hình thành và phát triển trong tiến trình lịch sử Trong

xu thế hiện đại hóa, công nghiệp hóa ngày nay, lễ hội phần nào biến đổi và thíchnghi với đời sống hiện đại nhưng vẫn còn giữ lại truyền thống, tập tục nhất định.Vai trò quan trọng của lễ hội là sự gắn kết con người, kết hợp hài hòa giữa tâm linh(lễ nghi) và những hoạt động vui chơi giải trí (hội) Ở Việt Nam lễ hội gắn liền vớilàng xã như một thành tố không thể thiếu vắng trong đời sống và đình được xemnhư cơ sở thờ tự phổ biến để tiến hành các nghi thức trong cộng đồng Vì nhữngnguyên do đó lễ hội được xem là mối quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứukhi nghiên cứu về văn hóa về dân tộc

Nguồn gốc của “lễ” xuất xứ từ Trung Hoa được xem là bước chuyển từ thờthần tô tem sang thờ thần tổ tông nhất nguyên diễn ra vào thời Ân, hoàn thành vàothời nhà Chu (thế kỉ thứ 12 trước công nguyên) Việc cúng tế trong thị tộc Chukhông chỉ dành cho trong gia đình mà còn cả người ngoài thị tộc, tất cả đều phảinộp vật phẩm gọi là lễ tế (lễ vật) Tuy nhiên sau khi tế lễ thì vật phẩm thụ hưởngdành riêng cho người trong gia tộc Chu và phân chia theo thứ bậc sang hèn, nhữngngười ngoài thị tộc thì không được chia phần Thời điểm này thì ý nghĩa chính của

lễ chỉ được hiểu là lễ vật của các gia đình quý tộc nhằm cúng tế thần tổ tông, người

ta gọi là tế lễ với hành vi tế thần tổ tông và cầu phúc Dần về sau thì “lễ” đượcdùng rộng hơn là “lề lối phân chia sự đóng góp và hưởng thụ vật cúng” cho ta thấy

lễ là hình thức phép tắc để phân biệt trên dưới, hèn sang, thứ bậc lớn nhỏ trong xãhội khi đã phân hóa thành đẳng cấp Qua hành vi cúng tế cho ta thấy lễ là “hình

Trang 7

thức biểu thị mối quan hệ giữa con người với môi sinh tự nhiên của nó” (ĐoànVăn Chúc, 1994, tr.131) Định nghĩa về “hội” là cuộc vui tổ chức cho đông đảongười tham dự, theo phong tục hoặc nhân dịp đặc biệt tại một địa điểm nào đó đểmọi người cùng vui chơi với nhau (Hoàng Lương, 2002, tr.12).

Khái niệm chung về lễ hội được các học giả nước ngoài định nghĩa cơ bảnnhư Satanley Tambiah định nghĩa: “ritual” hay nghỉ lễ (gồm yếu tố trong lễ hội), làmột cách thông tin quan trọng của biểu tượng, bao gồm những chuỗi ngôn từ vàhành động như thể thức và thường quy hóa, tương đối ít thay đổi, cô đọng về mặt ýnghĩa và ý nghĩa của nhiều hành vi và biểu tượng trùng lặp nhau Ngoài ra, theoAlessandro Falasi giải thích và định nghĩa lễ hội như sau: “Festival” có nghĩa là “lễhội” bắt nguồn từ tiếng Latinh “festum” ban đầu có nghĩa là sự vui chơi, vui mừng,hân hoan của công chúng (Phan Đăng Nhật và các tác giả khác, 1992, tr.14)

Ở Việt Nam hình ảnh về lễ hội đã xuất hiện trên những chạm khắc của trốngđồng Đông Sơn ở nước ta có niên đại hàng ngàn năm về trước biểu tượng cho nềnvăn hóa Đông Sơn “Trên mặt của trống đồng Đông Sơn có hình mặt trời, rồi tiếp đến

là hình chim, hình người, hoa văn khác như chuyển động quay quanh mặt trời” đóđược xem như hiện tượng hình thành các lễ hội tín ngưỡng dân gian về sau (Lê NgọcCanh, 1999, tr.531)

Điều này cho chúng tôi thấy hình ảnh về lễ hội đã xuất hiện từ rất lâu, mặc

dù vậy thời gian nêu lên định nghĩa của lễ hội thì không được xác định cụ thể,trước khi thực dân Pháp xâm lược thì hội làng Việt Nam đã được ghi chép trongcác sách như Đại Nam nhất thống chí, Sơn Tây tỉnh chí Do vậy đã có một số nhànghiên cứu Việt Nam như Phan Kế Bính, Toan Ánh, Cao Huy Đỉnh chỉ công bốcác chuyên khảo đề cập đến một phần hoặc chỉ giới thiệu sơ lược, miêu tả lễ hội

Hầu hết các công trình tiếp cận về lễ hội thường tiếp cận ở hai phần bao gồmphần lễ và hội trong đó có tác giả Thu Linh - Đặng Văn Lung (1984) trong sách Lễhội truyền thống và hiện đại; Lê Ngọc Canh trong sách Văn hóa dân gian – nhữngthành tố (1999), hay tác giả Hoàng Lương trong quyển Lễ hội truyền thống của các

Trang 8

dân tộc Việt Nam (2000) Tuy nhiên vẫn theo nhận định chung, lễ hội có hai phầnnhưng là một tổ hợp không thể tách rời nhau thông qua nhận định tác giả Bùi Thiếttrong sách Tự điển lễ hội có viết: “Lễ là phần tín ngưỡng là phần thế giới tâm linhsâu lắng nhất của con người, là phần đạo; còn hội là phần tập trung vui chơi giảitrí, là phần đời sống văn hóa thường nhật, phần đời của mỗi con người, của cộngđồng Hội gắn với lễ và chịu sự quy định của lễ, có lễ mới có hội” (Bùi Xuân Mỹ,Bùi Thiết và Phạm Minh Thảo, 1996, tr 52).

Từ đó việc phân tách hai phần lễ và hội độc lập trong nghiên cứu sẽ dẫn đến

hệ quả không nhìn thấy được mối quan hệ tương tác hữu cơ giữa hai thành tố này.Trong luôn khổ luận văn, chúng tôi coi cả hai là những bộ phận cấu thành cơ bảncủa nghi thức lễ hội

Theo tác giả Ngô Đức Thịnh “Lễ hội cổ truyền là một hiện tượng văn hóadân gian tổng thể”, “lễ hội là một hình thức diễn xướng tâm linh” và diễn giải:Tính tổng thể của lễ hội không phải là một thực thể “chia đôi” như người ta quanniệm mà nó hình thành trên cơ sở cốt lõi một nghi lễ, tín ngưỡng nào đó rồi từ đónảy sinh và tích hợp các hiện tượng văn hóa phát sinh để tạo nên một tổng thể lễhội Vì vậy, phần lễ và phần gốc rễ chủ đạo, phần hội là phần phát sinh và tích hợp(Ngô Đức Thịnh, 2007, tr.336)

Từ những phân tích trên có thể đưa ra nhận định lễ hội là khái niệm khôngthể tách rời nhau, trong lễ có hội và ngược lại Lễ là sinh hoạt văn hóa mang tínhchất cộng đồng thể hiện mối quan hệ của con người đối với tự nhiên và xã hội,cùng với lễ thì yếu tố con người với nhu cầu vui chơi giải trí cũng quan trọngkhông kém, hội được xem như phần phát sinh để tạo nên một tổng thể lễ hội trọnvẹn Vậy lễ hội biểu thị hành vi, thái độ, ứng xử của con người với những đốitượng như thần linh, lực lượng siêu nhiên trở thành thần linh thông qua hình thứcdiễn xướng tâm linh

Theo tác giả Ngô Đức Thịnh lễ hội Kỳ yên tại đình: Phần lễ là nghi thức tônvinh Thần Hoàng Bổn Cảnh, các bậc Tiền hiền, Hậu hiền có công xây dựng, mở

Trang 9

mang, bảo vệ vùng đất cùng lễ cầu an mong cho cuộc sống an lành, ấm no, hạnhphúc, mùa màng bội thu; phần hội là phần vui chơi giải trí, gắn kết cộng đồng.

1.2 Khái niệm về Đình và Lễ hội Kỳ Yên

Đình là một thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến trong đời sống hàng ngàycủa cộng đồng người dân địa phương Đời sống xã hội Việt Nam từ thuở xưa đãsống theo hệ thống từ làng xã, mỗi làng đều có đình làng là nơi thờ cúng nhữngbậc tiền nhân có công khai phá và giữ gìn vùng đất được trù phú phát triển Tuynhiên, nguồn gốc và xuất xứ của đình vẫn chưa có một nghiên cứu khoa học nàoxác nhận thời gian cụ thể

Theo nghiên cứu của nhóm tác giả Trương Ngọc Tường - Huỳnh NgọcTrảng đình xuất hiện từ thời nhà Trần với ý nghĩa là trạm dừng chân cho người quađường Sách Đại Việt sứ ký toàn thư có ghi chép thêm ngoài chức năng trên, đìnhcòn có chức năng tín ngưỡng qua chiếu dụ của vua Trần Thái Tông: “Thượnghoàng xuống chiếu rằng trong nước ta, phàm chỗ nào có đình trạm đều phải tôtượng Phật để thờ” tuy nhiên tín ngưỡng chỉ là phần phụ vì giai đoạn này Phật giáophát triển; đình làng còn nắm giữ vai trò quan trọng trong đời sống thời bấy giờ(Trương Ngọc Tường, Huỳnh Ngọc Trảng, 1998, tr.08)

Thông qua tự điển Hán - Việt của tác giả Đào Duy Anh (1931), định nghĩađình là “Nhà trạm cho người đi đường nghỉ” xác định chức năng chính của đình lànơi sử dụng chung của nhân dân được dùng như làm nơi nghỉ ngơi cho khách lỡđường, lâu dần thì là nơi lui tới thường xuyên của nhiều người do vậy thì đình đãtrở thành nơi chung dành để thờ cúng những anh hùng, tiền hiền, hậu hiền có côngkhai phá nên vùng đất mới

Năm 1993 nhóm tác giả Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường, HồTường qua nhiều khảo sát và nghiên cứu có đề cập thêm chức năng của đình: rằngđình là thứ “công sở” của thôn, là điểm canh của đội dân phòng và là nơi thờ Tiên

Sư (hiểu là nơi thờ bậc Thầy của nghề làm hương chức) Trong thiết chế của làng,

Trang 10

đình là cơ sở tín ngưỡng có tính chất chính thống nhất (Huỳnh Ngọc Trảng cb,

1993, tr.18)

Về thời điểm có mặt và xác định ý nghĩa của đình trong đời sống cộng đồngthì trong sách “Lễ hội cổ truyền của người Việt, cấu trúc và thành tố” của NguyễnChí Bền cho rằng “Giới nghiên cứu vẫn chưa có sự thống nhất về thời điểm xuấthiện của ngôi đình làng trong lịch sử Vì vậy, cũng thật khó khăn khi xác định thờiđiểm nào ngôi đình có trong cấu trúc lễ hội cổ truyền của người Việt với tư cách làmột thành tố hiện hữu” như vậy đình xuất hiện khá lâu, gắn bó lâu dài trong cuộcsống cư dân Việt, là nơi thờ tự chung của cộng đồng cư dân địa phương trong làng

Lễ Kỳ an được Phan Kế Bính miêu tả “Lễ Kỳ an dùng toàn đồ vàng mã, nơithì dân làng làm lễ một buổi, nơi thì mời nhà sư vào môn đạo trường cúng cấp bađêm ngày hoặc bảy đêm ngày” đây được xem là tục lệ của làng cầu mong quốcthái dân an, cuộc sống ấm no hạnh phúc (Phan Kế Bính, 2005, tr.108)

Theo tác giả Phan Kế Bính cho rằng thời gian tiến hành lễ thường vào cuốixuân đầu hạ vì mùa này có nhiều dịch khí, tục tin là quỷ thần thường quấy phá dânlàng hoặc đó là thời điểm nông nhàn trong mùa vụ để người dân tham gia lễ hội vàvui chơi giải trí sau một năm làm việc vất vả Vì vậy, người dân thường làm lễ vớinhiều nghi thức với mục đích xua đuổi những điều không tốt, cầu mong người dân

Trang 11

có cuộc sống ấm no, hạnh phúc Lễ thường diễn ra từ hai đến ba ngày, trong lễ cóbao gồm hội với nhiều trò chơi vui nhộn nhằm cho dân làng giao lưu tăng tínhđoàn kết trong cộng đồng (Phan Kế Bính, 2005, tr108).

Vậy có thể thấy Lễ Kỳ yên với phần lễ bao gồm các lễ chính là lễ “cầu an”mong thần linh phù hộ cho người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, con ngườitránh khỏi những thiên tai, dịch bệnh, lễ cúng thần Thành hoàng, Tiền hiền, Hậuhiền người có công mở mang, xây dựng vùng đất phát triển, cùng với các hoạtđộng vui chơi giải trí trong phần hội đã làm nên một lễ hội Kỳ yên thật ý nghĩa đốivới cộng đồng người dân địa phương nơi họ sinh sống

2 Tổng quan về đối tượng nghiên cứu 2.1 Vị trí địa lý, cư dân, kinh tế

Xã An Thái Trung là một xã hành chính của huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang,diện tích của xã là 19,56 km² chia thành 5 ấp gồm ấp 1, ấp 2, ấp 3, ấp 4, ấp 5 vớitổng dân số hơn 20.000 người UBND xã nằm tại ấp 1

Dân cư của xã sống chủ yếu là trồng vườn và buôn bán trái cây tại các chợnông sản Ngoài ra, khi đường cao tốc Trung Lương – Mỹ Thuận hoàn thành thìđời sống của người dân tại xã có phần khởi sắc hơn

Đình thần An Thái Trung nằm tại ấp 2 xã An Thái Trung, nằm gần trườngmần non Hoa Mai với tổng diện tích 326 m², được xây dựng bằng gỗ và nền đúc bêtông, hiện tại đình có ông Từ Đình và hai cô làm nhang bán để tạo kinh tế chođình

2.2 Lịch sử hình thành và phát triển

Đình thần An Thái Trung được hình thành từ nằm 1670, do ông Hương CảSao thành lập cùng người dân để thờ phượng Thần Hoàng Bổn Cảnh và các Tiênhiền, Hậu hiền, ngày 11 tháng 3 âm lịch là ngày mất của Thần nên được chọn làmngày lễ chính

10

Trang 12

Ngày trước, đình nằm ở gần bờ sông cầu Rạch Chanh do chiến tranh nênđình thần đã bị tàn phá Sau năm 1900 đình được dựng lại và dời vào sâu bên trongcũng là vị trí hiện tại.

CHƯƠNG 2: DIỄN TRÌNH LỄ HỘI KỲ YÊN ĐÌNH THẦN AN THÁI

Đây là nghi thức rước sắc thần du ngoạn trong xóm làng để nhân dân đượcdâng cúng các lễ vật và cầu mong sự phù hộ, che chở của thần Lễ này do một ôngPhó bái đình phụ trách chung Bắt đầu lễ Du thần thì đội múa lân mở đường, sau

đó là học trò lễ, đội quân khiêng kiệu sắc thần, ban nhạc lễ và một số chức việctrong đình, cuối cùng là nhân dân và du khách Đoàn du thần đi theo lộ trình nhấtđịnh: xuống sông Rạch Chanh ở trước đình rồi đến cồn Cái Sơn, quay về lên đấtliền và du thần 3 vòng chợ An Thái Trung, sau đó lên xe đến UBND xã An TháiTrung Trong UBND xã An Thái Trung đã lập sẵn một bàn hương án ở trước sân,

Trang 13

đoàn du thần sẽ thắp hương ở bàn hương án này, đi quanh 3 vòng sau đó đi quađền thờ liệt sĩ của xã, nằm trong UBND xã, chỉ cách một dãy nhà tiếp dân Sau khithực hiện các nghi thức cần thiết, đoàn lên xe trở về chợ An Thái Trung rồi xuốngghe tiếp tục theo sông Rạch Chanh đến xã An Hữu (cũng trong cồn Cái Sơn) rồiquay về đình Lễ Du thần kéo dài khoảng 3 giờ, kết hợp nhiều loại phương tiệnnhư: ghe, xuồng máy, xe và có nhiều người tham gia Nơi đoàn du thần đi qua nếuđường sông thì hai bên bờ nhân dân đốt đuốc lá dừa, bày bàn hương án; đường bộthì chỉ bày bàn hương án với những phẩm vật mang tính đặc sản của địa phương đểtiếp giá nghinh thần mà người dân nghĩ là tốt nhất, trang trọng nhất.

Đến đình, phải cử hành thêm nghi thức an vị, gồm: một tuần hương, ba tuầnrượu và một tuần trà, rồi mới đưa tráp đựng sắc phong để trên bàn thờ thần nơichính điện

Củ sát tế phẩm: kiểm lại đồ cúng.

Tuần hương: dâng hương.

Tuần rượu thứ nhất: dâng rượu lần nhất.

Trang 14

Đọc văn tế chữ Hán: cầu nguyện thần Thành hoàng phù trợ sao cho mưa thuận gió hoà, quốc thái dân an,

Tuần rượu thứ hai: dâng rượu lần hai.

Tuần rượu thứ ba: dâng rượu lần ba.

Hiến quả phẩm: dâng trái cây.

Hiến bỉnh: dâng bánh.

Tuần trà: dâng trà

Ẩm phước: giống như lễ "thụ tộ" miền Bắc, tức Ban tế tự được thừa hưởng

lễ vật đã dâng cúng, xem như đây như là lộc của thần ban

Hóa văn tế: có nghĩa đốt văn tế Có đình giữ đến xong lễ đoàn cả mới đốt

1.4 Lễ Túc yết, Chánh tế

Ở Đình Thần An Thái Trung, lễ Túc yết diễn ra vào lúc một giờ đêm ngày

11 tháng 03 âm lịch (tức ngày thứ hai của đại lễ) Ban quản trị đình đã tề tựu đông đủ

để bắt đầu cúng túc yết Chịu trách nhiệm chính ở buổi lễ cúng là ông Chánh tế

- cũng là trưởng ban quản trị đình Lễ cúng gồm một mâm xôi, một trái cây, mộtmâm trầu cau, một đĩa muối, gạo Ngoài ra còn có những lễ vật khác do nhân dânmang đến dâng cúng

Bắt đầu vào lễ, ông Chánh tế đến dâng hương trước bàn thờ, rồi lần lượt cácthành viên trong Ban quản trị thay nhau vào lễ Kế đến là phần "Khởi chinh cổ",sau khi đánh ba hồi trống và ba hồi chiêng mõ Ban nhạc lễ với các nhạc cụ dân tộcbắt đầu trỗi lên, lễ dâng hương, chuốc tửu, tiệm trà bắt đầu Sau cùng, bản văn tế(văn chúc) được mang đến trước bàn thờ Người được cử quỳ xuống "đọc văn",trong khi ban nhạc lễ trỗi nhạc phụ họa Dứt bài văn tế, ông Chánh tế đốt bản vănnày và một ít giấy tiền vàng bạc, phần nghi thức lễ túc yết coi như đã xong

Lễ Chánh tế tiếp tục phần Lễ vào lúc 0 giờ ngày 12 tháng 3 với nghi thứccũng giống Lễ Túc yết chỉ khác một chút Nếu lễ Túc yết có mục đích nghinh thần

Ngày đăng: 20/04/2023, 08:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Đoàn Văn Chúc, Những bài giảng về văn hóa, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài giảng về văn hóa
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
2.Hoàng Lương, Lễ hội truyền thống của các dân tộc Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội truyền thống của các dân tộc Việt Nam
Nhà XB: Nxb Đại học Quốcgia
3.Lê Ngọc Canh, Văn hóa dân gian những thành tố, Nxb Văn hóa – Thông tin, Trường Cao đẳng Văn hóa Tp. Hồ Chí Minh, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian những thành tố
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
4.Thu Linh – Đặng Văn Lung, Lễ hội truyền thống và hiện đại, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội truyền thống và hiện đại
Nhà XB: Nxb Văn hóa
5.Bùi Thiết, Từ điển Lễ hội Việt Nam, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Lễ hội Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa
6.Ngô Đức Thịnh, Những giá trị của lễ hội cổ truyền trong đời sống xã hội hiện nay, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 3, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giá trị của lễ hội cổ truyền trong đời sống xã hội hiện nay
8.Ngô Đức Thịnh, Về tín ngưỡng và Lễ hội cổ truyền, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tín ngưỡng và Lễ hội cổ truyền
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
9.Đào Duy Anh, Từ điển Hán Việt, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1931 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
10.Nguyễn Chí Bền, Lễ hội cổ truyền của người Việt Nam, cấu trúc và thành tố, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội cổ truyền của người Việt Nam, cấu trúc và thành tố
Nhà XB: NxbKhoa học xã hội
11.Huỳnh Ngọc Trảng – Trương Ngọc Tường, Đình Nam bộ xưa và nay, Nxb Văn hóa – Văn nghệ, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đình Nam bộ xưa và nay
Nhà XB: Nxb Vănhóa – Văn nghệ
12.Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục (1915), Nxb Văn học, Hà Nội, tái bản 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục (1915)
Tác giả: Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1915
13.Phan Đăng Nhật, Lễ hội cổ truyền, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội cổ truyền
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w