1 2 DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 02 STT HỌ VÀ TÊN MÃ SINH VIÊN 1 Nguyễn Thị Thu Thủy 19063157 2 Ngô Thị Phương Thảo 19063148 3 Nguyễn Thị Điệp 19063038 4 Nguyễn Bình Nhi 19063128 5 Hoàng Văn Hiệu 1906307[.]
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 02
BTTTT: Bộ Thông tin truyền thông
Cục QLCT&BVNTD: Cục Quản lí cạnh tranh và Bảo vệ người tieu dùng
UBND: Uỷ ban Nhân dân
Trang 3Mục lục
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÍ CỦA
SÀN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1
1 Khái quát chung về sàn thương mại điện tử 1
2 Đặc điểm của sàn thương mại điện tử 2
3 Quy định của pháp luật chung về trách nhiệm của sàn thương mại điện tử đối với người tiêu dùng 3
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA SÀN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG 7
1 Thực trạng về thực hiện các quy định của pháp luật 7
2 Những lợi ích của quy định về trách nhiệm của sàn thương mại điện tử mang lại cho người tiêu dùng 9
3 Bất cập còn tồn tại ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng 11
4 Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật thương mại điện tử 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 4CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÍ CỦA SÀN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1 Khái quát chung về sàn thương mại điện tử
1.1 Thương mại điện tử
Theo khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005, hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác
Trong khi đó, khoản 1 Điều 3 Nghị định 52/2013/NĐ-CP quy định, hoạt động thương mại điện
tử (TMĐT) là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác
Như vậy, thương mại điện tử bản chất vẫn là hoạt động mua bán hàng hoá nhưng thay vì diễn
ra trực tiếp thông qua hành vi của các cá nhân, tổ chức thì sẽ diễn ra trên mỗi trường Internet trên các nền tảng là các website bán hàng, mạng viễn thông được đăng ký theo quy định của pháp luật
1.2 Sàn thương mại điện tử
Sàn thương mại điện tử được hiểu là một kênh bán hàng trực tuyến được nhiều người bán hàng, chủ shop bán hàng hay các doanh nghiệp, công ty hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh hàng hóa, sản phẩm hàng hóa ưa chuộng và sử dụng nhiều nhất
Đây là một trong những hình thức kinh doanh online phổ biến nhất hiện nay, là biểu tượng của cuộc cách mạng công nghiệp hiện đại Các nền tảng thương mại điện tử ra đời như một giải pháp hữu ích và thiết thực cho người tiêu dùng Tạo môi trường giao dịch, mua bán trực tuyến thuận tiện cho cả người bán và người mua
Sàn giao dịch thương mại điện tử là một website thương mại điện tử cho phép các thương nhân,
tổ chức, cá nhân không phải chủ sở hữu của website có thể tiến hành toàn bộ hoặc một phần quy trình mua bán hàng hóa, dịch vụ trên website đó Ví dụ một số cái tên như Shopee, Lazada, Tiki, Sendo đang vô cùng thành công khi triển khai hình thức này
Định nghĩa sàn giao dịch thương mại điện tử được quy định cụ thể trong Điều 3 Nghị Định Số 52/2013/NĐ-CP về Thương mại điện tử Pháp luật quy định về sàn giao dịch thương mại điện
tử nêu rõ, nếu website cho phép các thương nhân, tổ chức, cá nhân khác đăng ký tài khoản,
Trang 5đăng tải thông tin, hình ảnh quảng cáo về doanh nghiệp, sản phẩm, dịch vụ để kinh doanh thì bắt buộc phải đăng ký dưới dạng sàn giao dịch thương mại điện tử
Tuy nhiên, hiện đăng ký sàn giao dịch TMĐT chỉ các thương nhân, tổ chức mới được tiến hành, không áp dụng cho cá nhân Do vậy, để website được duy trì, người thành lập cần đăng ký hình thức doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh cá thể Sau đó mới tiến hành bước tiếp theo là đăng ký website cung cấp dịch vụ TMĐT (sàn giao dịch TMĐT) Hồ sơ đăng ký website cung cấp dịch
vụ TMĐT theo hướng dẫn tại Điều 7 Thông tư số 12/2013/TT-BCT quy định thủ tục thông báo, đăng ký và công bố thông tin liên quan đến website thương mại điện tử
Căn cứ khoản 1 Điều 35 Nghị định 52/2013/NĐ-CP, thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ sàn giao dịch TMĐT là thương nhân, tổ chức thiết lập website TMĐT để các thương nhân, tổ chức, cá nhân khác có thể tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình mua bán hàng hóa, dịch
vụ trên đó
Việc tổ chức giao dịch trên sàn TMĐT được diễn ra dưới các hình thức:
• Website cho phép người tham gia được mở các gian hàng trên đó để trưng bày, giới thiệu hàng hóa hoặc dịch vụ;
• Website cho phép người tham gia được lập các website nhánh để trưng bày, giới thiệu hàng hóa hoặc dịch vụ;
• Website có chuyên mục mua bán trên đó cho phép người tham gia đăng tin mua bán hàng hóa và dịch vụ;
• Các loại website khác do Bộ Công Thương quy định
Hiện nay, hình thức tạo lập website cho phép phép người tham gia được mở các gian hàng trên
đó để trưng bày, giới thiệu hàng hóa hoặc dịch vụ đang rất phổ biến Người tham gia trưng bày, giới thiệu hàng hoá có thể phải đăng ký thành lập doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh theo quy định Tại Việt Nam, một số website về sàn giao dịch thương mại điện tử lớn là: Tiki, Shopee, Lazada, Sendo…
2 Đặc điểm của sàn thương mại điện tử
• Sàn giao dịch thương mại điện tử là hình thức mà tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh dịch
vụ, hoạt động với tư cách là người môi giới
• Có rất nhiều phương thức giao dịch tại sàn giao dịch điện tử
• Thiết lập các quy tắc cho các thành viên của sàn và có thể áp dụng các hình phạt đối với các thành viên vi phạm
• Số lượng người mua, người bán và nhà cung cấp tham gia rất lớn
Trang 6• Người tham gia có thể là người bán, người mua hoặc cả hai
• Thể hiện mối quan hệ cung cầu hàng hóa của thị trường Giá hình thành trên sàn giao dịch thương mại điện tử là giá chung cho sản phẩm trên thị trường
• Tất cả các quá trình giao dịch mua bán, đàm phán, thương lượng và thanh toán đều được thực hiện trực tuyến trên Internet
• Người mua, người bán có thể tham gia giao dịch tại sàn mọi lúc mọi nơi
• Hàng hóa và dịch vụ được giao dịch rất đa dạng và phong phú, cả vô hình và hữu hình
• Thực hiện trao đổi thông tin và kết nối khách hàng
• Thành viên tham gia sàn giao dịch được khai thác thông tin về thị trường, sản phẩm, chính sách …
3 Quy định của pháp luật chung về trách nhiệm của sàn thương mại điện tử đối với người tiêu dùng
3.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử
Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, được sử dụng lâu dài và được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật, được bảo đảm thực hiện bằng cường chế của nhà nước Như vậy, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử là những quy phạm pháp luật đặc thù điều chỉnh hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói chung được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước và được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế
Trong thương mại truyền thống, hành vi tiêu dùng của NTD được thể hiện bằng cách thức trực tiếp, đến tận nơi, nhìn tận mắt và sờ tận tay Có thể xác định được chủ thể kinh doanh là ai, kiểm tra được nguồn gốc, xuất xứ và chất lượng của sản phẩm Do vậy, về cơ bản, NTD đã có những nhận định và thông tin ban đầu về việc quyết định có giao kết hợp đồng hay không
Ngược lại, đặc trưng của TMĐT là tính gián tiếp của giao dịch Mọi hoạt động từ chào bán, đăng tải thông tin, đến giao kết hợp đồng đều được thực hiện thông qua dữ liệu điện tử và đường truyền internet Bên bán và bên mua không biết nhau từ trước, hàng hóa, dịch vụ chỉ được thể hiện bằng hình ảnh và những thông tin mà bên bán cung cấp trên các trang web bán hàng hoặc
Trang 7những trang web cho phép bán hàng khác NTD chưa thể xác định được chất lượng, nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm Do vậy, NTD càng bị yếu thế về mặt thông tin
Do vậy, bảo vệ quyền lợi NTD trong TMĐT so với thương mại truyền thông cần được quan tâm sát sao hơn và bảo vệ toàn diện hơn trên nhiều khía cạnh Nổi bật chính là việc bảo vệ thông tin cá nhân của NTD và bảo vệ quyền được thông tin của NTD trong giao dịch với tổ chức, cá nhân kinh doanh theo phương thức TMĐT
3.2 Nội dung pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử
Lợi ích của TMĐT đã quá rõ ràng: giúp doanh nghiệp nắm được thông tin phong phú về thị trường và đối tác; giảm chi phí sản xuất, chi phí bán hàng và tiếp thị; thông qua internet giúp NTD và các doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian và chi phí giao dịch Do đó, ý thức được tầm quan trọng của TMĐT, ngày 29/11/2005, Quốc hội nước ta đã ban hành Luật Giao dịch điện tử
và nhằm cụ thể hóa những quy định của Luật giao dịch điện tử về TMĐT, ngày (09/06/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 57/2006/NĐ-CP về TMĐT, trong đó tập trung quy định giá trị pháp lý của chứng từ điện tử và việc sử dụng chúng trong hoạt động thương mại
Tuy nhiên, tại thời điểm đó, vấn đề về bảo vệ quyền lợi NTD trong giao dịch điện tử vẫn chưa được chú trọng, cụ thể cả Luật giao dịch điện tử 2005 và Nghị định 57/2006/NĐ-CP về TMĐT đều không có quy định rõ ràng về trách nhiệm bảo vệ quyền lợi NTD trong giao dịch điện tử Luật bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010 được ban hành cũng không có một quy định cụ thể nào liên quan bảo vệ NTD trong TMĐT, mà chỉ đề cập đến bảo vệ quyền lợi NTD nói chung Để
cụ thể hóa luật, Nghị định 99/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ quyền lợi
NTD được ban hành lần đầu tiên để cập đến việc giao kết hợp đồng từ xa, là tiền đề cho các quy định liên quan đến TMĐT sau này
Sau đó, một loạt các văn bản pháp luật tiếp tục được ban hành có điều chỉnh những vấn đề liên quan đến TMĐT như: Nghị định 52/2013/NĐ-CP về TMĐT thay thế cho Nghị định 57/2006/NĐ-CP về TMĐT; Nghị định 185/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo
vệ quyền lợi NTD; Thông tư 47/2014/TT-BCT của BCT ngày 05/12/2014 quy định về quản lý website TMĐT Như vậy, có thể thấy pháp luật về bảo vệ NTD trong hoạt động TMĐT được ghi nhận rải rác ở các văn bản pháp luật khác nhau, đặc biệt liên quan đến tính đặc thù của
Trang 8TMĐT là các giao dịch được xác lập thông qua việc truyền tải dữ liệu qua mạng internet và tập trung quy định về các nội dung sau:
Một là, quy định nguyên tắc xác định nghĩa vụ bảo vệ quyền lợi NTD trong hoạt động TMĐT
Đây được xem là một trong những nội dung cơ sở, là tiền đề để xây dựng pháp luật về bảo vệ NTD nói chung và bảo vệ NTD trong TMĐT nói riêng Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi NTD là
tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong hoạt động bảo vệ NTD, Dựa trên những nguyên tắc này, các
tổ chức, cá nhân và cộng đồng xã hội thực hiện các hoạt động bảo vệ NTD hợp lý, phù hợp với quy định của pháp luật Những nguyên tắc này được quy định tại Điều 4 Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010
Hai là, quy định về bảo vệ thông tin của NTD trong TMĐT
Nội dung này được xem là nội dung quan trọng nhất trong vấn đề bảo vệ NTD trong TMĐT, Bởi tỉnh đặc thù của TMĐT là hoạt động giao kết hợp đồng được diễn ra trong không gian ảo, được mã hóa thành dữ liệu điện tử vô hình mà NTD không thể nắm bắt và quan sát được Với một môi trường không gian mang rộng lớn, kết nối toàn cầu như vậy, tiềm ẩn những rủi ro về
an ninh mạng và an toàn thông tin người dùng là vô cùng lớn Giống như giao kết hợp đồng thông thường, các bên phải đưa ra những thông tin cá nhân để xác lập tư cách chủ thể và để xác lập được giao dịch thì giao kết hợp đồng TMĐT cũng vậy, chỉ có khác biệt về cách thức thực hiện và truyền tải nội dung Theo đó, một khi đã xác định giao kết hợp đồng điện tử, nhập dữ liệu về thông tin cá nhân để xác lập giao dịch thì NTD phải đối mặt với nguy cơ bị tiết lộ thông tin, đánh cắp thông tin và giả mạo thông tin cá nhân từ những tin tặc hoạt động trong lĩnh vực mạng Bởi vậy, yêu cầu về bảo vệ an toàn thông tin NTD trong TMĐT là cần thiết và vô cùng cấp bách Nội dung này được quy định tại hầu hết các văn bản có liên quan đến TMĐT như: Luật Giao dịch điện tử 2005; Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010; Nghị định 52/2013/NĐ-CP; Luật An toàn thông tin mạng 2015
Ba là, quy định trách nhiệm của tổ chức cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đổi NTD trong TMĐT
Có một số ý kiến cho rằng đây mới là điểm nhấn của pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD nói chung và bảo vệ quyền lợi NTD trong hoạt động TMĐT nói riêng Bởi lẽ, đặc thù của kinh doanh TMĐT là việc người bản và người mua không trực tiếp “mặt đối mặt” với nhau mà thực hiện thông qua mạng internet hoặc các mạng viễn thông khác, được mã hóa bằng dữ liệu điện
tử Như vậy, trách nhiệm và nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đổi với NTD
Trang 9càng phải đặt lên hàng đầu Nếu các chủ thể kinh doanh có ý thức tuân thủ đúng quy định của pháp luật về trách nhiệm của mình thì sẽ tạo được môi trường kinh doanh hiện đại, thuận tiện, hợp lý, phù hợp với xu hướng kinh doanh chung của thế giới, và quyền lợi của NTD luôn được bảo đảm Ngược lại, nếu các chủ thể kinh doanh không tuân thủ quy định của pháp luật, không làm tròn trách nhiệm của mình thì sẽ là một bất lợi lớn đối với quyền lợi của NTD nói riêng và của toàn xã hội nói chung khi những hành vi vi phạm ngày càng gia tăng theo chiều hướng tinh
vi hơn, tồi tệ hơn, ảnh hưởng đến môi trường và đạo đức kinh doanh của thị trường
Bốn là, quy định về xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD trong TMĐT
Pháp luật hiện đang quy định có các hình thức xử lý vi phạm đối với hành vi vi phạm của các
tổ chức, cá nhân kinh doanh trong hoạt động TMĐT như sau: xử lý kỷ luật; xử lý vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự tùy thuộc vẫn mức độ nghiêm trọng của hành vi Ngoài ra còn phải bồi thường thiệt hại nếu có thiệt hại xảy ra và một số hình phạt bổ sung khác
Năm là, quy định trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân khác trong việc tham gia bảo vệ quyền lợi NTD trong TMĐT
Bảo vệ quyền lợi NTD trong TMĐT là trách nhiệm không chỉ của các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ mà còn của các tổ chức, các nhân khác trong xã hội, cụ thể là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các tổ chức xã hội và chính mỗi cá nhân trong xã hội Pháp luật hiện hành đã có những quy định chung về trách nhiệm bảo vệ quyền lợi NTD của hệ thống các cơ quan nhà nước ở Trung ương như: Bộ quản lý chuyên ngành là BCT và các Bộ liên quan phối hợp thực thực hiện như BTTTT, Bộ Công an, Bộ Y tế, Trực thuộc Bộ có các Cục quản lý chuyên môn như QLCT&BVNTD (BCT); Cục TMĐT và kinh tế số (BCT); ở địa phương, trách nhiệm quản lý chung được giao cho UBND các cấp và Sở Công thương các cấp Trách nhiệm cụ thể được quy định tại chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan, đơn vị này
Ngoài hệ thống cơ quan nhà nước thì các tổ chức xã hội là một cơ chế tham gia bảo vệ quyền lợi NTD trong TMĐT Các tổ chức này được gọi chung là Hội bảo vệ quyền lợi NTD và cũng được xây dựng từ Trung ương tới địa phương, hoạt động theo điều lệ và tự chủ về tài chính với hoạt động chính là tư vấn, hỗ trợ NTD trong giải quyết vi phạm quyền lợi
Trang 10CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA SÀN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
1 Thực trạng về thực hiện các quy định của pháp luật
Những năm gần đây, thương mại điện tử (TMĐT) phát triển mạnh mẽ và trở thành kênh phân phối hiện đại với nhiều tiện ích, được nhiều người tiêu dùng lựa chọn Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích thiết thực thì hoạt động TMĐT vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro khi hàng giả, hàng nhái,… xuất hiện khiến người tiêu dùng hoang mang Do đó các cơ quan chức năng cần tăng cường công tác quản lý, cũng như có những chế tài xử phạt rõ ràng nhằm đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng
Thương mại điện tử về cơ bản là việc ứng dụng các phương tiện điện tử vào hoạt động kinh doanh, thương mại Hiện nay, mạng lưới Internet phát triển và phổ cập rộng rãi, tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh trực tuyến phát triển và mang lại cho chủ thể kinh doanh những giá trị và lợi ích to lớn Chủ thể tham gia hoạt động thương mại điện tử bên cạnh việc tuân thủ các quy định trực tiếp về Thương mại điện tử, còn phải thực hiện các quy định pháp luật liên quan khác như đầu tư kinh doanh, thương mại, dân sự Do đó, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về Thương mại điện tử trở nên cần thiết và cấp bách Pháp luật về thương mại điện tử được xem là công cụ pháp lý bảo vệ, định hướng chủ thể kinh doanh, tạo ra môi trường kinh doanh thông qua Thương mại điện tử an toàn Trên cơ sở quy định của pháp luật các chủ thể xác định được các quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp nhất với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của mình khi có tranh chấp xảy ra Các quy định về trách nhiệm pháp lý của sàn thương mại điện tử trong bảo vệ người tiêu dùng được ghi rõ trong nhiều các văn bản luật khác nhau nhưng rõ nét hơn cả là Luật Đầu tư 2020, Luật Doanh nghiệp 2020 Các quy định này định hướng cho sự phát triển chung của sàn thương mại điện tử mà vẫn bảo đảm việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Qua theo dõi, Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng ghi nhận các sàn thương mại điện tử làm việc khá nghiêm túc, các chính sách với người tiêu dùng được công khai, minh bạch Hầu hết các vụ việc khiếu nại giải quyết không thành công đều liên quan đến các cá nhân hoặc hộ kinh doanh nhỏ lẻ trên các sàn thương mại điện tử
Bà Đỗ Trúc Quỳnh, đại diện sàn thương mại điện tử Shopee cho hay, trong thời gian qua, Shopee đã áp dụng chính sách hỗ trợ người tiêu dùng theo cam kết đảm bảo cung cấp trải nghiệm mua sắm trực tuyến bảo mật, an toàn Bên cạnh đó, các ngân hàng sẽ thanh toán cho
Trang 11người bán khi đơn hàng được xác nhận, người mua nhận được hàng trong tình trạng tốt và không có bất kỳ khiếu nại nào kèm theo Hơn nữa, Shopee còn áp dụng chính sách trả hàng hoàn tiền nên người mua có quyền trả hàng hoàn tiền sản phẩm trong trường hợp có những khiếu nại về chất lượng sản phẩm Đối với người bán, Shopee cũng thường xuyên sàng lọc danh sách, đảm bảo người bán không vi phạm chính sách bán hàng nhằm góp phần bảo vệ người mua trên sàn thương mại điện tử
Ngoài ra, trong Nghị định 85/2021/NĐ-CP cũng đã tăng cường trách nghiệm của các sàn thương mại điện tử trong việc phối hợp xử lý các phản ánh, khiếu nại của người dùng Hiện tại, các sàn thương mại điện tử lớn như Shopee hay Lazada, người dùng có thể báo xấu hoặc đánh giá mức
độ uy tín của người bán hàng trên các sàn này Riêng những người bán có điểm phạt cao sẽ bị đánh giá kém uy tín và ít được hỗ trợ khi bán hàng trên sàn thương mại điện tử Với các thông tin vi phạm, các sàn thương mại điện tử phải gỡ bỏ trong vòng 24 giờ sau khi nhận được quyết định từ cơ quan quản lý nhà nước Các sản phẩm vi phạm quyền sở hữu trí tuệ cũng sẽ bị gỡ
bỏ
Tuy nhiên, thực hiện các quy định của pháp luật còn gặp nhiều bất cập:
Thứ nhất, bên cạnh website TMĐT, các mạng xã hội, đặc biệt là Facebook, được sử dụng rất
phổ biến ở Việt Nam Hiện số người sử dụng các diễn đàn mạng xã hội để mua sắm trực tuyến cũng gia tăng Số doanh nghiệp sử dụng nền tảng di động như kênh liên lạc giữa nhà bán lẻ và người tiêu dùng ngày càng tăng Do đó, quản lý các mạng xã hội kinh doanh TMĐT cũng như nền tảng di động cũng không kém phần cấp thiết Thực tế cho thấy, Cơ quan chức năng cũng chưa có quy định rõ ràng đối với danh sách các website TMĐT khuyến cáo người tiêu dùng thận trọng; thiếu hướng dẫn chi tiết về quy trình giao kết hợp đồng mua hàng trực tuyến cũng như những cảnh báo cần thiết đối với người tham gia loại hình dịch vụ này
Thứ hai, quy định hiện hành cho phép Bộ Công thương công bố công khai trên cổng thông tin
Quản lý hoạt động TMĐT danh sách các website TMĐT bị phản ánh về việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật Đây là điều kiện quản lý nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh hay là
cơ sở để cạnh tranh không lành mạnh xuất hiện? Quy định hiện hành không giới hạn những người có quyền phản ánh website có dấu hiệu vi phạm pháp luật, cũng không quy định chi tiết quy chế xác thực, dẫn tới rủi ro các đối thủ cạnh tranh lợi dụng phản ánh lẫn nhau
Thứ ba, trường hợp thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ TMĐT (các sàn TMĐT nói chung,
nền tảng mạng xã hội nói riêng) thực hiện dịch vụ cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ của