Trong nhiều năm trở lại đây, công tác tuyên truyền về TN, TG đã làm tốt chức năng, nhiệm vụ đưa thông tin chính thống đến bạn đọc một cách nhanh chóng, kịp thời, chính xác giúp cho việc
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Trang 3Luận văn đã được sửa chữa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày……tháng… năm 2022
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học do tôi tự nghiên cứu dưới
sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Hồng
Nội dung, số liệu và kết quả nghiên cứu của luận văn là trung thực và có
cơ sở rõ ràng Phần tài liệu tham khảo, dẫn chứng trong luận văn được dẫn nguồn đầy đủ và chính xác Các kết luận của luận văn chưa từng được công
bố trong các công trình nghiên cứu khoa học khác
Tôi xin chịu trách nhiệm vè những nội dung, kết quả trong quá trình thực hiện nghiên cứu nội dung này
Hà Nội, ngày….tháng… năm 2022
Tác giả luận văn
Lê Thị Tuyết
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện Đề tài “Tuyên truyền Luật tín ngưỡng, tôn
giáo trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay” tôi đã nhận được rất nhiều sự
giúp đỡ, tạo điều kiện của các tập thể và cá nhân
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự chỉ dẫn nhiệt tình của các thầy, cô giảng viên Khoa Tuyên truyền, Học viện Báo chí tuyên truyền – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Đặc biệt, tôi xin ngỏ lời biết ơn sâu sắc nhất đến cô giáo kính yêu, TS Nguyễn Thị Hồng – người đã luôn sâu sát bên tôi, nhiệt tình hướng dẫn, chỉ dạy, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã học tập được từ cô một tinh thần nghiên cứu khoa học nghiêm túc, cẩn thận, tỉ mỉ, một thái độ làm việc vô cùng trách nhiệm Xin được gửi tới cô sự biết ơn và lòng kính trọng chân thành nhất
Xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã luôn động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này./
Hà Nội, ngày….tháng… năm 2022
Tác giả luận văn
Lê Thị Tuyết
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TUYÊN TRUYỀN LUẬT TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 12
1.1 Một số khái niệm cơ bản 12
1.2 Các yếu tố cấu thành của tuyên truyền Luật tín ngưỡng, tôn giáo 18
1.3 Sự cần thiết phải tuyên truyền Luật tín ngưỡng, tôn giáo 30
Chương 2: THỰC TRẠNG TUYÊN TRUYỀN LUẬT TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 39
2.1 Các yếu tố tác động đến tuyên truyền Luật TN, TG cho người dân trên địa bàn thành phố Hà Nội 39
2.2 Thành tựu và nguyên nhân của thành tựu trong công tác tuyên truyền Luật TN, TG trên địa bàn thành phố Hà nội hiện nay 44
2.3 Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong công tác tuyên truyền Luật TN, TG trên địa bàn Hà Nội hiện nay 66
Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TUYÊN TRUYỀN LUẬT TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN TỚI 73
3.1 Quan điểm tăng cường tuyên truyền Luật tín ngưỡng, tôn giáo 73
3.2 Giải pháp tăng cường tuyên truyền Luật tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn thành phố Hà Nội cho thời gian tới 81
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤ LỤC
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Đánh giá của người dân về tính kịp thời của việc tuyên truyền
Luật TN,TG trên Tạp chí Công tác Tôn giáo 61 Bảng 2.2: Tổng số tin bài đăng tải trên Trang thông tin điện tử btgcp.gov.vn
từ tháng 1/2018-12/2021 67
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Mức độ phù hợp của nội dung tuyên truyền về Luật TN, TG Error!
Bookmark not defined
Biểu đồ 2.2: Tổng hợp phiếu khảo sát thực trạng công tác tuyên truyền chính
sách, pháp luật về TN, TG trên Tạp chí Công tác Tôn giáo 61 Biểu đồ 2.3: Mô hình hóa tiêu chí đánh giá hiệu quả tuyên truyền pháp luật về
TN, TG cho người dân trên địa bàn thành phố Hà Nội 62
Trang 92020 có khoảng 45.000 cơ sở tín ngưỡng (hơn 3.000 di tích gắn với cơ sở TN,
TG, một số di tích được UNESCO công nhận là di sản thế giới); có 53 cơ sở đào tạo chức sắc các tôn giáo [13, tr 3] Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật đảm bảo quyền tự do TN, TG (TN, TG) cho mọi người dân Ngày 18/11/2016, Quốc hội đã thông qua Luật TN, TG; Luật
có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 Việc tuyên truyền, phổ biến nhằm đưa Luật TN, TG đi vào cuộc sống có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của mọi người dân, đặc biệt là đồng bào tôn giáo, củng cố niềm tin của chức sắc, tín đồ tôn giáo đối với Đảng, Nhà nước Việt Nam
Việc tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông trong đó có sự góp sức của các cơ quan thông tin thuộc Ban Tôn giáo Chính phủ đã truyền tải đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật về TN, TG của Nhà nước tới nhân dân cả nước nói chung và nhân dân trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng Đồng thời góp phần quan trọng trong việc hình thành, phát triển ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý trong nhân dân, tác động tích cực đến hành vi, lối sống, làm việc theo pháp luật của mỗi người dân trong đời sống xã hội; giúp người dân cập nhật những kiến thức pháp luật về TN, TG để một mặt tự điều chỉnh hành vi của mình theo đúng khuôn khổ của pháp luật, mặt khác biết sử dụng pháp luật như là một công cụ để bảo vệ mình khi cần thiết đặc biệt là khi
nó được áp dụng trong đồng bào các tôn giáo - một bộ phận không nhỏ trong cộng đồng Bởi vì số lượng hơn 26 triệu người trên cả nước và tại Hà Nội là
Trang 10hơn 80 vạn tín đồ, 2.500 chức sắc, hơn 5.000 chức việc, với nhiều thành phần
xã hội khác nhau “nhưng chủ yếu là tầng lớp nhân dân có điều kiện sống trung bình, trình độ dân trí thấp, dễ bị lợi dụng, lôi kéo nhằm thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch” [13, tr 5] Công tác tuyên truyền nói chung, tuyên truyền chính sách, pháp luật về TN, TG nói riêng được Đảng, Nhà nước thường xuyên quan tâm Điều này nhằm mục đích nhanh chóng đưa các chủ trương, chính sách, pháp luật về TN, TG của Đảng, Nhà nước vào cuộc sống, đồng thời phản ánh những bài học kinh nghiệm hay trong thực thi chính sách, pháp luật về tôn giáo Trong nhiều năm trở lại đây, công tác tuyên truyền về TN, TG đã làm tốt chức năng, nhiệm vụ đưa thông tin chính thống đến bạn đọc một cách nhanh chóng, kịp thời, chính xác giúp cho việc định hướng dư luận, nhất là những nội dung về chính sách, pháp luật
về TN, TG; những vụ, việc phức tạp về tôn giáo bị xử lý theo pháp luật có tính nhạy cảm, giúp bạn đọc hiểu đúng bản chất của vấn đề, phản bác lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực xấu lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo
để chống lại chính quyền và Nhân dân, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Cũng nhờ sự quan tâm đó mà tình hình sinh hoạt tôn giáo ở nước ta nói chung và tại Thủ đô Hà Nội nói riêng có nhiều khởi sắc, tác động không nhỏ đến đời sống văn hóa và chính trị xã hội
Lĩnh vực TN, TG luôn được coi là lĩnh vực hết sức nhạy cảm và phức tạp Do đó, công tác tuyên truyền về pháp luật TN, TG trong tín đồ, chức sắc, nhà tu hành, các tổ chức tôn giáo lại càng cần được sự quan tâm nhiều hơn Những năm qua, tuy tuy đã có nhiều khởi sắc, nhưng thực tế hiện nay nhận thức về chính sách, pháp luật TN, TG nói riêng trong nhân dân còn hạn chế Công tác tuyên truyền về pháp luật TN, TG cũng chưa thật hiệu quả Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến một bộ phận tín đồ các tôn giáo
đã bị kẻ xấu lợi dụng để xuyên tạc chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị
Trang 11Mặt khác, các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước thường xuyên lợi dụng
tự do TN, TG ở nước ta, đặc biệt là ở Thủ đô Hà Nội – nơi đầu não về chính trị của cả nước – để phá chống Đảng, chính quyền Trong xu thế hội nhập, mở cửa, các tôn giáo đều đẩy mạnh hoạt động truyền giáo; cùng với đó, người Việt Nam định cư ở nước ngoài về nước và người nước ngoài đến Việt Nam sinh sống, làm việc gia tăng, sẽ có nhiều hệ phái, tổ chức tôn giáo mới ở nước ngoài truyền bá vào Việt Nam, điều này gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước về TN, TG Do đó, tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về
Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Tuyên truyền Luật TN,
TG trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay” làm đề tài luận văn Thạc sĩ của
mình, với mong muốn nâng cao nhận thức về Luật TN, TG cho người dân trên địa bàn thành phố Hà Nội trong bối cảnh hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Nghiên cứu chung về TN, TG
Trong những năm vừa qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề TN,TG ở Việt Nam Liên quan đến lĩnh vực mà tác giả nghiên cứu, có một số công trình tiêu biểu sau:
- Nguyễn Hồng Dương (2004), Tôn giáo trong mối liên hệ văn hóa và
phát triển, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Tác giả đã phân tích vai trò của tôn
giáo trong mối liên hệ với văn hóa và phát triển xã hội, chú trọng đến đời sốpng tôn giáo và các hành vi tôn giáo trong hình thành nhân cách, lối sống
- Nguyễn Đức Lữ (chủ biên - 2008), Lý luận về tôn giáo và chính sách
tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Tác giả đã phân tích kỹ về chính
sách tôn giáo ở Việt Nam, bắt đầu từ quan điểm của Đảng về TN, TG và quá trình triển khai quan điểm đó thông qua các chính sách tôn giáo thời gian qua
- Đỗ Thị Minh Thúy (2010), Tín ngưỡng dân gian Hà Nội trong đời
sống văn hóa đô thị hiện nay, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Tác giả đã
phân tích các tín ngưỡng dân gian ở Hà Nội như tín ngưỡng đa thần, tín
Trang 12ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng phồn thực Góc nhìn của tác giả là các tín ngưỡng dân gian đó đang được thể hiện như thế nào trong đời sốngg văn hóa
đô thị hiện nay
- Ngô Đức Thịnh (2012), Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam,
Nxb Trẻ - Tp Hồ Chí Minh Công trình khoa học đề cập đến hệ thống tín ngưỡng của người Việt và đặc trưng văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam qua các biểu hiện: ước nguyện, niềm tin, hành vi, hoạt động cá nhân và cộng đồng
- Đặng Nghiêm Vạn (2012), Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở
Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Cuốn sách đã phân tích kỹ về bức
tranh tôn giáo ở Việt Nam, nguồn gốc và vai trò xã hội của các tôn giáo, thực trạng tôn giáo Việt Nam qua một số tôn giáo cơ bản như đạo Phật, Công giáo, đạo Hồi, đạo Tin lành, đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo Trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát xã hội học, tác giả đưa ra đặc trưng của tôn giáo Việt Nam hiện nay gồm: Xu thế hòa nhập mà không hợp nhất, mang tính đa thần; khó phân biệt được cái thiêng và cái tục; mang đậm tính dân tộc, vì dân vì nước; đời sống tôn giáo thay đổi cùng hoàn cảnh chính trị của đất nước
- Nguyễn Hoài Sanh (2013), Đời sống tín ngưỡng tôn giáo: những vấn
đề lý luận và thực tiễn cấp bách ở Việt Nam hiện nay Luận án Tiến sĩ Triết
học, Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam Tác giả luận án đã nghiên cứu về những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến đời sống TN, TG ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế Tác giả đề xuất các giải pháp xây dựng đời sống TN, TG ở Việt Nam, nhấn mạnh đến giải pháp tuyên truyền luật TN, TG sâu rộng cho mọi người dân
- Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2015), Văn hóa tôn giáo với
phát triển bền vững ở Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Cuốn sách là
tập hợp bài viết của các nhà khoa học về vấn đề văn hóa tôn giáo với phát triển bền vững ở Việt Nam, từ nhiều góc độ tiếp cận khác nhau: vai trò của tôn giáo, đặc điểm của tôn giáo, văn hóa tôn giáo, phát triển bền vững
Trang 13- Nguyễn Xuân Hà (2015), Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước về tín
ngưỡng ở Việt Nam (Đề tài khoa học cấp Bộ) Đề tài đã nêu lên những quan
điểm về tín ngưỡng và các loại hình tín ngưỡng ở Việt Nam Đề tài chia ra 4 loại hình tín ngưỡng: thờ cúng tổ tiên; thờ thần, thánh; tín ngưỡng nghề nghiệp và tín ngưỡng vòng đời Đề tài cũng đề cập đến một số nội dung trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng tại các cơ sở tín ngưỡng đã được xếp hạng di tích; công tác quản lý nhà nước ở một số địa phương tiêu biểu, qua đó chỉ ra được những tồn tại hạn chế và cũng đề xuất một số giải pháp cơ bản trong công tác quản lý
- Ban Tôn giáo Chính phủ (2016) “Khảo sát thực trạng tín ngưỡng dân
tộc Kinh - những giải pháp và kiến nghỉ” (Dự án điều tra, khảo sát cấp Bộ)
Dự án này cũng đã có những kết quả nghiên cứu, khảo sát ở một số địa phương cụ thể và bước đầu có những đánh giá, nhận xét về các loại hình tín ngưỡng ở Việt Nam như thờ cúng tổ tiên; thờ thần, thánh Dự án cũng đã chỉ
ra những bất cập trong công tác quản lý đối với tín ngưỡng trên các phương
tuyên truyền những giá trị tốt đẹp của tín ngưỡng chưa được chú trọng; tổ chức bộ máy làm công tác quản lý đối với hoạt động tín ngưỡng còn bất cập,
đã làm hạn chế công tác tham mưu đề xuất chính sách, pháp luật và hiệu lực hiệu quả quản lý hoạt động tín ngưỡng
- Trần Đăng Sinh (2017), Tôn giáo học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Đây là
cuốn sách về tôn giáo học ở bậc đại học tại các nước nói tiếng Anh, trình bày tôn giáo học như một bộ môn đa phương pháp (Polymethodic discipline) Người nghiên cứu phải làm quen với những phương pháp tiếp cận của các bộ môn khoa học chủ yếu có liên quan đến việc nhận biết bản chất của tôn giáo như cách tiếp cận nhân học, nữ quyền, hiện tượng học, triết học, tâm lí học,
xã hội học và thần học Cuốn sách mở ra nhiều viễn cảnh, nhiều con đường tìm tòi, nghiên cứu về đời sống tâm linh
Trang 14- Nguyễn Thanh Xuân – Lê Tâm Đắc (2019), Đời sống tôn giáo ở Việt
Nam thời kỳ đổi mới, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Cuốn sách tập hợp các bài viết
trong hội thảo cùng tên, trong đó có các nội dung: tác giả Nguyễn Lan Hiền
với bài Biến đổi tôn giáo ở Việt Nam hiện nay: nhân diện qua niềm tin tôn
giáo, hành vi tôn giáo và cộng đồng tôn giáo; tác giả Thiều Thị Hương, Xu hướng chuyển biến của đạo Tin lành ở Việt Nam hiện nay; tác giả Lê Thị
Liên, Biến đổi niềm tin của người Công giáo và sự tác động đến đời sống xã
hội… Tiếp cận ở nhiều khía cạnh, nhiều tôn giáo khác nhau nhưng các tác giả
đều thống nhất về việc biến đổi tình hình tôn giáo là quy luật tất yếu và thể hiện trong nhiều các hoạt động tôn giáo và hoạt động xã hội
2.2 Nghiên cứu chính sách, pháp luật về TN, TG và tuyên truyền chính sách, pháp luật về TN, TG
- Ban Tôn giáo Chính phủ (2002), Tập văn bản về tổ chức và đường
hướng hành đạo của các tôn giáo tại Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Đây là
công trình tập hợp các văn bản về tổ chức và hoạt động của các tôn giáo tại Việt Nam, có ý nghĩa lớn trong tuyên truyền chính sách, pháp luật về TN, TG sâu rộng cho mọi người dân, để người dân hiểu biết rõ hơn về lĩnh vực này
- Ban Tôn giáo Chính phủ (2012), Văn bản của Đảng và Nhà nước về
TN, TG, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Đây là tập hợp các văn bản của Đảng và Nhà
nước về TN, TG Thông qua đó, mọi người hiểu rõ hơn về quản điểm của Đảng và các chính sách pháp luật của Nhà nước ta liên quan đến vấn đề TN,
TG và quản lý hoạt động TN, TG ở Việt Nam
- Nguyễn Quang Hưng (2014), Quan điểm, chủ trương của Đảng, chính
sách pháp luật của Nhà nước Việt Nam về Công giáo qua các thời kỳ, Nxb
Tôn giáo, Hà Nội Trong cuốn sách này, tác giả đã khái quát một cách cơ bản các văn bản của Đảng, Nhà nước Việt Nam về Công giáo qua các thời kỳ, đồng thời luận giải, đánh giá việc thực hiện chủ trương chính sách đối với tôn giáo này tương ứng với tình hình tôn giáo ở Việt Nam
Trang 15- Nguyễn Thị Định (2015), Nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật -
Một số vấn đề cần quan tâm trong công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tổ chức tôn giáo, Nxb Tôn
giáo, Hà Nội Cuốn sách đã cho thấy việc tuyên truyền pháp luật về TN, TG cho chức sắc, tín đồ và mọi người dân cần có kỹ năng, cần quan tâm đến nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật trong công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tổ chức tôn giáo
- Ngô Thị Xuân Lan (2015), Công tác tuyên truyền về hoạt động TN,
TG trong hoạt động đối ngoại, Hà Nội Cuốn sách đã cho thấy việc tuyên
truyền pháp luật về TN, TG cho chức sắc, tín đồ và mọi người dân biết để chấp hành đúng pháp luật đã được triển khai sâu rộng không chỉ trong nước,
mà còn thông qua các hoạt động đối ngoại để khẳng định bản chất tốt đẹp của
xã hội ta về vấn đề TN, TG
- Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2016), Chính sách, Pháp
luật về tôn giáo, tín ngưỡng của Việt Nam: 25 năm nhìn lại, Nxb Lý luận
chính trị, Hà Nội Cuốn sách đã góp phần đánh giá, làm rõ thành tựu và hạn chế của chính sách, pháp luật về tôn giáo, tín ngưỡng của nước ta từ năm
1990 đến nay, khẳng định những nội dung còn giá trị, những nội dung cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế của đất nước; cung cấp cơ sở khoa học cho việc soạn thảo và ban hành Luật TN, TG năm 2016
- Ban Tôn giáo Chính phủ (2017), Tài liệu giới thiệu Luật TN, TG, Nxb
Tôn giáo, Hà Nội Sách đã giới thiệu về Luật TN, TG với những nội dung cơ bản: I Sự cần thiết ban hành Luật TN, TG II Mục tiêu, quan điểm chỉ đạo xây dựng luật III Quá trình xây dựng IV Bố cục của Luật Công trình này
có tác động tích cực trong tuyên truyền Luật TN, TG cho mọi người dân hiện nay
- Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hà Nội - Viện Nghiên tôn giáo,
tín ngưỡng (2018), Sổ tay công tác tôn giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Công
Trang 16trình tuy viết dưới dạng sổ tay nhưng đã giới thiệu được khái quát quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước về TN, TG; về vị trí vai trò của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam đối với công tác tôn giáo và đặc biệt đã trình bày một cách khái quát về các tôn giáo trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Thu Phương (2020), Luật TN, TG - quy định hoạt động TN, TG -
quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân, Nxb Lao động, Hà Nội Cuốn
sách dài 400 trang đã thông tin đến bạn đọc nội dung nội dung Luật TN, TG cũng như các văn bản về điều chỉnh hoạt động TN, TG; điều chỉnh cơ cấu, tổ chức của cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo
Ngoài ra, một số văn bản khác cũng được chúng tôi quan tâm như: Ban
Chấp hành Trung ương (2015), Báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị
quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác tôn giáo, Hà Nội; Ban Tôn giáo Chính phủ (2015), Báo cáo tổng kết 10 năm thực
hiện Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg ngày 04/02/2005 của Thủ tướng Chính phủ
về một số công tác đối với đạo Tin lành, Hà Nội; Bộ Nội vụ (2015), Báo cáo
Tổng kết 10 năm thực hiện Pháp lệnh TN, TG, Hà Nội; Ban Tôn giáo Chính
phủ (2016), Kết quả công tác thi hành pháp luật về TN, TG trong 5 năm
(2012-2016); UBND thành phố Hà Nội (12/2017), Kế hoạch tuyên truyền, phổ biến pháp luật về lĩnh vực TN, TG trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2017 – 2021; Ban Tôn giáo thành phố Hà Nội (04/12/2018), Báo cáo
tình hình tôn giáo và kết quả công tác quản lý nhà nước về tôn giáo năm
2018, phương hướng nhiệm vụ năm 2019
Nhìn chung, các công trình đã đề cập đến nhiều khía cạnh của vấn đề
TN, TG ở nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, các công trình nêu trên chưa đi sâu nghiên cứu về tuyên truyền Luật TN, TG chômị người dân trên địa bàn thành phố Hà Nội; chưa có khảo sát mức độ tiếp cận và mức độ phù hợp của thông tin tuyên truyền, đặc biệt là qua các cơ quan truyền thông của Ban Tôn giáo Chính phủ - cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực tôn giáo
Trang 173 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Việc nghiên cứu nhằm mục đích xác định quan điểm và giải pháp tăng cường tuyên truyền Luật TN, TG cho chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo và người dân trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay, trên cơ sở
hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về TN, TG và thực tiễn hoạt động tuyên truyền Luật TN, TG của các phương tiện truyền thông
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về tuyên truyền Luật TN, TG
- Phân tích thực trạng tuyên truyền Luật TN, TG trên địa bàn thành phố
Hà Nội
- Đề xuất quan điểm, giải pháp tăng cường tuyên truyền Luật TN, TG trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn tiếp theo
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tuyên truyền Luật TN, TG trên trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay
5 Cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
- Đề tài triển khai trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng về TN, TG và công tác TN, TG ở Việt Nam
- Cơ sở thực tiễn của đề tài là việc tuyên truyền Luật TN, TG trên trên
địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay
Trang 185.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phương pháp này được sử dụng
nhằm khái quát, hệ thống hóa, bổ sung lý thuyết về tuyên truyền Luật TN,TG nói chung, tuyên truyền Luật TN,TG ở thành phố Hà Nội nói riêng trong tình hình hiện nay
- Phương pháp thống kê, tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng
nhằm phân tích các số liệu khảo sát được hoạt động tuyên truyền Luật TN,TG
ở Hà Nội hiện nay để rút ra ưu điểm, hạn chế của các cơ quan truyền thông thuộc Ban Tôn giáo Chính phủ, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp khắc phục hạn chế, nâng cao hiệu quả cho 2 cơ quan này
- Phương pháp điều tra xã hội học: Phương pháp này tiến hành thông
qua việc xây dựng bảng hỏi, phát phiếu điều tra tới các đối tượng cần khảo sát
để đánh giá hoạt động tuyên truyền Luật TN, TG ở Hà Nội hiện nay Phương pháp này tác giả luận văn sử dụng để đánh giá thực trạng tuyên truyền tại Tạp chí Công tác tôn giáo Tác giả đã phát 250 phiếu thu thập thông tin khảo sát các đối tượng tuyên truyền là chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo và người dân trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phương pháp này tác giả luận văn sử
dụng để đánh giá thực trạng tuyên truyền chủ yếu đối với trang tin điện tử
btgcp.gov.vn của Ban Tôn giáo Chính phủ Tác giả phỏng vấn sâu 02 cán bộ
làm công tác tôn giáo và 01 nhà nghiên cứu tại Ban Tôn giáo Chính phủ
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác tuyên truyền Luật TN,TG trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay, trong đó có khảo sát tạp chí Công tác tôn giáo và Trang tin điện tử của Ban tôn giáo Chính phủ
Luận văn làm rõ những thành tựu, hạn chế trong công tác tuyên truyền Luật TN,TG trong thời gian qua; đồng thời nêu được các nguyên nhân của
Trang 19thành tựu, hạn chế đó
Xác định phương hướng, đề xuất giải pháp phát huy hiệu quả công tác tuyên truyền Luật TN,TG trên địa bàn thành phố Hà Nội thời gian tới
7 Những đóng góp khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Về phương diện lý luận: Luận văn góp phần làm phong phú thêm lý
luận về TN, TG và vai trò của tuyên truyền pháp luật về TN, TG trên các
phương tiện truyền thông
- Về phương diện thực tiễn: Luận văn góp phần làm sáng tỏ thực trạng;
đề xuất quan điểm và giải pháp có tính khả thi để tăng cường tuyên truyền Luật TN, TG trên các phương tiện truyền thông trong đó có Tạp chí Công tác
tôn giáo và trang thông tin điện tử btgcp.gov.vn cho các chức sắc, chức việc,
tín đồ tôn giáo và cán bộ làm công tác tôn giáo các cấp, người làm báo về tôn giáo và người dân trên trên địa bàn thành phố Hà Nội Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong lĩnh vực báo chí và tôn giáo
8 Kết cấu của luận văn
Luận văn có kết cấu ngoài các phần: mở đầu, kết luận và danh mục tài
liệu tham khảo, nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Tuyên truyền Luật TN, TG – một số vấn đề lý luận
Chương 2: Tuyên truyền Luật TN, TG trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay
Chương 3: Quan điểm, giải pháp và khuyến nghị tăng cường tuyên truyền Luật TN, TG cho người dân trên trên địa bàn thành phố Hà Nội thời gian tới
Trang 20Chương 1 TUYÊN TRUYỀN LUẬT TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO –
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm TN, TG
1.1.1.1 Khái niệm tín ngưỡng
Từ trước tới nay đã có nhiều ý kiến khác nhau khi đề cập tới khái niệm tôn giáo và tín ngưỡng Có người cho rằng tín ngưỡng với tôn giáo là một khái niệm chung, có người cho rằng tín ngưỡng nằm trong phạm trù tôn giáo, hoặc dưới phạm trù tôn giáo trong bậc thang phát triển của nhận thức về tôn
giáo Nhưng quan điểm được nhiều người công nhận đã chỉ ra: Tín ngưỡng là
hệ thống những niềm tin, là sự ngưỡng vọng của con người vào cái “siêu nhiên” hay còn gọi là “cái thiêng” để giải thích thế giới với ước muốn mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng Theo cách hiểu này thì tín ngưỡng đôi khi cũng được hiểu là tôn giáo Có điều, tín ngưỡng mang tính dân gian, gắn với sinh hoạt văn hóa dân gian Trong cách hiểu này thì tín ngưỡng có sự hòa nhập giữa thế giới thần linh và con người, nơi thờ cúng và nghi lễ còn phân tán, không có những quy định chặt chẽ và sắc nét “Người theo tín ngưỡng thường không có tổ chức hoặc có tổ chức cũng chỉ ở dạng sơ khai nhất Tín ngưỡng cũng không có hệ thống giáo lý mà dựa vào các huyền thoại, thần tích, truyền thuyết, từ các điển tích truyền miệng Trong những điều kiện nhất định đôi khi tín ngưỡng lại có thể chuyển hóa thành tôn giáo” [41, tr 37-38]
Có ý kiến cho rằng bản chất của tín ngưỡng là niềm tin và thực hành nghi lễ “Tín ngưỡng là niềm tin và sự ngưỡng mộ của con người vào lực lượng siêu nhiên, thần bí, hoặc do con người tưởng tượng ra những vị thần linh đến mức họ cho rằng những lực lượng ấy có ảnh hưởng, chi phối đời sống, số phận của con người và gây thành một nếp sống xã hội theo niềm tin
thiêng liêng ấy”[19, tr 8 ] “Trong tín ngưỡng phải có yếu tố thiêng liêng liên
Trang 21quan đến một thế giới vô hình, đến những siêu linh, mà chính con người tưởng tượng và sáng tạo ra nó” [53, tr 67] Tín ngưỡng chính là sự cảm nhận
của con người về thế giới mà họ đang sống, về cuộc sống xung quanh họ và
về vị trí của bản thân họ trong thế giới đó
Trong Luật TN, TG số 02/2016/QH14 ngày 18/11/2016, tại điều 2 có ghi rõ: Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: 1 Tín ngưỡng là
niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá
nhân và cộng đồng 2 Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thờ cúng tổ tiên,
các biểu tượng linh thiêng; tưởng niệm và tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng; các lễ nghi dân gian tiêu biểu cho những giá trị lịch sử,
văn hóa, đạo đức xã hội 3 Lễ hội tín ngưỡng là hoạt động tín ngưỡng tập thể
được tổ chức theo lễ nghi truyền thống nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của
cộng đồng 4 Cơ sở tín ngưỡng là nơi thực hiện hoạt động tín ngưỡng của
cộng đồng như đình, đền, miếu, nhà thờ dòng họ và những cơ sở tương tự khác [9, tr 16] Nhà nước bảo hộ cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo và tài sản hợp pháp của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm trong Luật TN, TG:
“Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ
nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng” [9, tr 6]
1.1.1.2 Khái niệm tôn giáo
Cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm tôn giáo Theo tác giả
Vũ Văn Chung trong luận án tiến sĩ, các nhà thần học đưa ra khái niệm “Tôn giáo chính là mối liên hệ giữa thần thánh và con người”; cũng có khái niệm mang dấu hiệu đặc trưng của tôn giáo như: “Tôn giáo chính là niềm tin vào cái siêu nhiên”; Một số nhà tâm lý học khi nói tới tôn giáo lại cho rằng “Tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong nỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự
cô đơn, nếu anh chưa từng cô đơn thì anh chưa bao giờ có tôn giáo”; Khái
Trang 22niệm về tôn giáo của C.Mác đã đưa ra: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, nó là tinh thần của trật tự không có tinh thần”, đây là khái niệm mang bản chất xã hội của tôn giáo; Ph.Ăngghen quan niệm về tôn giáo: “Tôn giáo là sự phản ánh hoang đường vào trong đầu óc con người những lực lượng bên ngoài, cái mà thống trị họ trong đời sống hàng ngày …” khái niệm này thiên về khía cạnh nguồn
gốc của tôn giáo; lại có ý kiến khác cho rằng: Tôn giáo là một hình thái ý thức
xã hội bao gồm những quan niệm dựa trên cơ sở niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, nó được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trần thế cũng như ở thế giới bên kia [31, tr 92]
Trong luận văn này tác giả sử dụng khái niệm tôn giáo theo Khoản 1 Điều 2 Luật TN, TG năm 2016: “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại
với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức” [ 9, tr 7 ]
1.1.2 Luật TN, TG
Đó là những văn bản của Nhà nước tạo hành lang pháp lý ổn định, nhất quán để thực hiện thống nhất công tác quản lý nhà nước về TN, TG nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động TN, TG; bảo đảm quyền tự do TN, TG của mọi người phù hợp với thực tiễn đời sống TN, TG ở Việt Nam; đáp ứng nhu cầu của chức sắc, tín đồ các tôn giáo Mặt khác, khuyến khích các tôn giáo tích cực tham gia vào các phong trào thi đua yêu nước, lao động sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội; đấu tranh ngăn chặn những hoạt động lợi dụng quyền tự do tôn giáo để chống phá Nhà nước và Nhân dân, góp phần bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
Trước hết, Pháp lệnh số 21/2004/PL-UBTVQH11 ngày 18/6/2004, quy định về hoạt động TN, TG ở Việt Nam Trong đó có những điều quy định chung về quyền tự do TN, TG; theo hoặc không theo một tôn giáo nào của
Trang 23người dân; về việc các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật Chức sắc, nhà
tu hành và công dân có TN, TG được hưởng mọi quyền công dân và có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ công dân Chức sắc, nhà tu hành có trách nhiệm thường xuyên giáo dục cho tín đồ lòng yêu nước, thực hiện quyền, nghĩa vụ công dân và ý thức chấp hành pháp luật
Tiếp tục kế thừa và phát triển những quy định của các bản Hiến pháp trước đây về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, Hiến pháp năm 2013 đã có những đổi mới quan trọng đặc biệt liên quan đến quyền
tự do TN, TG Cụ thể: Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật (Điều 14 Hiến pháp), “mọi người có quyền tự do
TN, TG” (Điều 24 Hiến pháp) Để cụ thể hóa nguyên tắc hiến định này; đồng thời trên cơ sở thực tiễn triển khai thi hành Pháp lệnh TN, TG năm 2004, ngày 18/11/2016, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV, Luật TN, TG đã được Quốc hội biểu quyết thông qua, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 Trong xu thế đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, Việt Nam ngày càng tích cực việc hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến tôn giáo Đây là việc làm rất cần thiết, cần được đặt ở thứ tự ưu tiên Luật TN, TG được biểu quyết thông qua, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất điều chỉnh trực tiếp lĩnh vực TN,
TG hiện nay Đây Luật có nhiều điểm mới, tiến bộ thể hiện rõ nét và đầy đủ quyền tự do TN, TG; hoạt động TN, TG; tổ chức tôn giáo….phù hợp với đời sống TN, TG hiện nay cũng như nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này Một trong những nội dung cơ bản trong Luật và thể hiện
rõ nét quyền tự do TN, TG là quy định về quyền và nghĩa vụ của các cơ quan,
tổ chức, cá nhân trong các hoạt động TN, TG
1.1.3 Khái niệm tuyên truyền
Thuật ngữ tuyên truyền từ lâu đã được sử dụng một cách phổ biến,
nhằm biểu đạt các hoạt động cụ thể như: ngôn ngữ, hình ảnh, đạo cụ âm thanh, nhằm mục đích tác động đến suy nghĩ, tư tưởng và tâm tư, tình cảm
Trang 24của đối tượng, hướng họ hành động theo một khuynh hướng đã định ra Theo tiếng La - tinh Tuyên truyền có nghĩa là truyền bá, truyền đạt một quan điểm nào đó Trong tác phẩm “Người tuyên truyền và cách tuyên truyền”
Theo từ điển Tiếng Việt, tuyên truyền là “ phổ biến, giải thích rộng rãi
để thuyết phục mọi người tán thành, ủng hộ, làm theo”[38, tr.1367] Thuật ngữ “tuyên truyền” theo tiếng Latinh là “propaganda”, tức là phổ biến, truyền
bá, truyền đạt một quan điểm nào đó Như vậy, tuyên truyền là một hoạt động chỉ xuất hiện, tồn tại trong xã hội loài người, bởi chỉ có con người mới có nhu cầu trao đổi tư tưởng, văn hóa và chỉ có con người mới có khả năng trao truyền tư tưởng, văn hóa cho nhau
Về cơ bản, đối với chủ nghĩa Mác - Lênin, tuyên truyền là quá trình đưa lý luận vào thực tiễn Tuyên truyền là giải thích, phổ biến một tư tưởng, học thuyết, lý luận chính trị nào đó Thuật ngữ tuyên truyền có hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, tuyên truyền là sự truyền bá những quan điểm, tư tưởng về chính trị, triết học, khoa học, nghệ thuật… nhằm biến những quan điểm, tư tưởng ấy thành ý thức xã hội, thành hành động cụ thể của quần chúng Theo nghĩa hẹp, tuyên truyền là truyền bá những quan điểm
lý luận nhằm xây dựng cho quần chúng một thế giới quan nhất định, phù hợp với lợi ích của chủ thể tuyên truyền và kích thích những hoạt động thực tế phù hợp với thế giới quan ấy Khi bàn về người tuyên truyền và cách tuyên truyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết : “Tuyên truyền là đem một việc gì đó, nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân tin, dân làm Nếu không đạt được mục đích đó là tuyên truyền thất bại” [24, tr.162] Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân tin, dân làm Tuyên truyền là phổ biến, giải thích rộng rãi để thuyết phục mọi người tán thành, ủng hộ làm theo
Như vậy, tuyên truyền là một dạng hoạt động xã hội đặc biệt, có tính lịch sử cụ thể Bởi lẽ hoạt động tuyên truyền là giải thích, phổ biến, vận dụng những giá trị do hoạt động lý luận đã đúc kết và khái quát từ hoạt động thực tiễn Tuy nhiên, hoạt động tuyên truyền không chỉ phổ biến lý luận mà còn phát triển lý luận, bởi tuyên truyền không chỉ phổ biến đơn thuần những kết
Trang 25luận của khoa học mà còn cụ thể hóa chúng, làm cho chúng phong phú hơn
Tuyên truyền là một trong ba bộ phận cấu thành, hay ba hình thái của công tác tư tưởng (bao gồm: công tác lý luận, công tác tuyên truyền và công tác cổ động) Các hình thái này tương đương với 3 quá trình cơ bản: quá trình sáng tạo hệ tư tưởng và vận dụng hệ tư tưởng đề ra đường lối, chính sách (sản xuất hệ tư tưởng); quá trình truyền bá hệ tư tưởng và đường lối, chính sách (tái sản xuất hệ tư tưởng); quá trình biến hệ tư tưởng, đường lối, chính sách thành hiện thực Công tác tuyên truyền là một mắt khâu quan trọng trong hệ thống công tác tư tưởng của Đảng và có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với hai mắt khâu còn lại là công tác nghiên cứu lý luận và công tác cổ động Tuyên truyền được chia thành các lĩnh vực nhiệm vụ: Tuyên truyền chính trị; tuyên truyền kinh tế; tuyên truyền văn hóa; tuyên truyền an ninh quốc phòng; tuyên truyền đối ngoại…
Khái niệm chung nhất mà tác giả rút ra: tuyên truyền được hiểu là hoạt
động có mục đích của chủ thể nhằm truyền bá những tri thức, giá trị tinh thần, tư tưởng đến đối tượng, biến những kiến thức, giá trị tinh thần đó thành nhận thức, niềm tin, tình cảm của đối tượng, thôi thúc đối tượng hành động theo những định hướng, những mục tiêu do chủ thể tuyên truyền đặt ra
1.1.4 Tuyên truyền Luật TN, TG
Tuyên truyền Luật TN, TG là hoạt động truyền bá, phổ biến Luật TN, TG tới các chức sắc, chức việc, tín đồ, nhà tu hành tôn giáo và toàn thể người dân biết luật, hiểu luật để các đối tượng ủng hộ, chấp hành đúng luật định Hoặc có thể hiểu là những thông tin được thể hiện bằng cách mở các lớp tập huấn, bằng tài liệu phân phát, tin tức, bài viết đăng trên các báo, tạp chí đã góp phần chuyển tải nội dung các văn bản của Đảng, pháp luật của Nhà nước về TN, TG đến cán
bộ, đảng viên và Nhân dân, trong đó có đồng bào các tôn giáo; giúp đồng bào hiểu được chính sách tự do TN, TG của Đảng, Nhà nước, tạo sự đồng thuận trong xã hội; cảnh giác trước âm mưu của các thế lực xấu, lợi dụng quyền tự do
Trang 26TN, TG để lôi kéo người dân nhẹ dạ cả tin, chống lại Nhà nước, đi ngược lại chính sách đại đoàn kết dân tộc [10, tr 112-113]
Công tác tuyên truyền chính sách, pháp luật về TN, TG cho đồng bào theo TN, TG và toàn thể người dân hiện nay là một nhiệm vụ luôn được Đảng
và Nhà nước ta quan tâm, chú trọng Điều này được thể hiện rất rõ trong Nghị quyết 25/NQ-TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
IX Về công tác tôn giáo khẳng định “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong cán bộ, đảng viên, Nhân dân, đặc biệt là trong chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ tôn giáo” [9, tr 36] Cũng trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định công tác dân tộc, tôn giáo là vấn đề chiến lược có tầm quan trọng đặc biệt; các chính sách dân tộc, tôn giáo được Đảng
và Nhà nước hết sức quan tâm
Phương tiện truyền thông là một kênh quan trọng để tuyên truyền các chủ trương, chính sách, pháp luật của Ðảng, Nhà nước về TN, TG đến cộng đồng Hiện nay ở Việt Nam có gần 800 cơ quan báo chí, 67 đài phát thanh - truyền hình Về các tôn giáo, hiện mỗi tôn giáo đều có ấn phẩm riêng Thực hiện các nghị quyết của Ðảng, Quốc hội về công tác, chính sách dân tộc, tôn giáo, thời gian qua, Bộ Thông tin và Truyền thông đã tập trung phủ sóng, số hóa các chương trình phát thanh, truyền hình, tăng cường thời lượng tin/bài trên báo chí, thông tin, tuyên truyền hướng về cơ sở, nâng cao chất lượng tin bài nhằm đẩy mạnh phổ biến các quan điểm, chủ trương của Ðảng, Nhà nước tới cán bộ, Nhân dân, đồng bào tôn giáo, nhất là với các chức sắc, tín đồ tôn giáo Ngoài các ấn phẩm chuyên môn
1.2 Các yếu tố cấu thành của tuyên truyền Luật TN, TG
1.2.1 Chủ thể và đối tượng tuyên truyền
1.2.1.1 Chủ thể tuyên truyền
Công tác tôn giáo là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, do đó chủ thể tuyên truyền là toàn Đảng, toàn bộ hệ thống chính trị và trách nhiệm trước hết
Trang 27thuộc về Ban Tôn giáo Chính phủ - cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo, trực thuộc Bộ Nội vụ Do đó có thể hiểu: chủ thể tuyên truyền về lĩnh vực TN,
TG bao gồm toàn thể đảng viên của Đảng, đội ngũ cán bộ tư tưởng chuyên trách, bí thư, cấp uỷ của cả hệ thống chính trị nói chung và của các cơ quan quản lý về công tác TN, TG nói riêng
- Cơ quan quản lý nhà nước về công tác TN, TG chính là Ban Tôn giáo Chính phủ Đây là cơ quan (trước đây trực thuộc Chính phủ, nay trực thuộc
Bộ Nội vụ) thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về lĩnh vực TN, TG trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc lĩnh vực TN, TG theo quy định của pháp luật Đồng thời có chức năng, tổ chức, định hướng tuyên truyền về chính sách tôn giáo và công tác tôn giáo
- Ban Tôn giáo, Phòng Tôn giáo các tỉnh, thành phố có trách nhiệm tổ
nước, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, phát huy giá trị văn hoá tốt đẹp của các lễ hội và truyền thống tốt đẹp của đồng bào tôn giáo Đồng thời giúp đồng bào tôn giáo thực hành đức tin của mình đúng pháp luật, thấy được quyền hạn và trách nhiệm công dân của mình đối với đất nước
- Các cơ quan chức năng như: Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Tuyên giáo Trung ương và các ngành chức năng khác làm nhiệm vụ tuyên huấn xây dựng kế hoạch và định hướng cho công tác tuyên truyền Các cơ quan này cũng có chức năng tổ chức và phối hợp với các cơ quan báo chí để
có kế hoạch định hướng tuyên truyền về công tác TN, TG cho từng giai đoạn
cụ thể theo từng lĩnh vực liên quan
1.2.1.2 Đối tượng tuyên truyền
Cán bộ làm công tác tôn giáo, các chức sắc, chức việc, tín đồ, nhà tu hành tôn giáo và toàn thể người dân Trong đó:
- Cán bộ làm công tác tôn giáo: Đối tượng này vừa là chủ thể tuyên truyền, nhưng đồng thời cũng chính là những đối tượng đầu tiên cần phải
Trang 28được tuyên truyền về chính sách, pháp luật về TN, TG Điều này rất quan trọng, giúp cho hiệu quả tuyên truyền tăng lên khi bản thân mỗi cán bộ làm công tác TN, TG đứng ở vị trí chủ thể tuyên truyền Việc am hiểu, nắm chắc
về chính sách, pháp luật TN, TG là điều cần thiết đối với người đi tuyên truyền, quyết định tới hiệu quả vận động quần chúng thực thi pháp luật Việc tuyên tuyền về chính sách TN, TG và công tác TN, TG là một trong những nội dung của công tác quản lý nhà nước về TN, TG, là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên
- Tín đồ tôn giáo: Theo Luật TN, TG thì tín đồ là người tin, theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo đó thừa nhận [9, tr.7] Tuy nhiên, đối với mỗi tôn giáo do giáo lý, giáo luật, cách thức hành đạo khác nhau nên quy định
về tiêu chí tín đồ của mình cũng khác nhau Tín đồ tôn giáo ở Việt Nam có những điểm chung sau: Tín đồ tôn giáo là bộ phận quần chúng có niềm tin tôn giáo sâu sắc Tín đồ tôn giáo luôn chịu sự chi phối của thần quyền, giáo lý, giáo luật và lễ nghi của tôn giáo Trong lối sống, nếp sống của tín đồ tôn giáo
có nét riêng, sinh hoạt tôn giáo được coi như là nét sinh hoạt văn hoá của mỗi tín đồ và cộng đồng tôn giáo Tín đồ tôn giáo ở Việt Nam đa số là người lao động, có tinh thần yêu nước, luôn gắn bó với dân tộc
Tín đồ tôn giáo ở Việt Nam gồm nhiều thành phần xã hội, nhưng đa số
là nhân dân lao động, trong đó chủ yếu là nông dân Vì vậy, giữa chức sắc, tín
đồ các tôn giáo có sự khác biệt đáng kể về trình độ văn hoá, kiến thức xã hội, cũng như hoàn cảnh sống Đa số tín đồ tôn giáo ở Việt Nam chưa thực sự thông hiểu về giáo lý tôn giáo mà họ tin theo Trong khi đó, việc tham gia thực hành các nghi lễ TN, TG lại khá thường xuyên; đa số tín đồ tôn giáo ở Việt Nam sùng đạo, gắn bó với giáo hội và tham gia các sinh hoạt tôn giáo một cách tích cực Đây là vấn đề cần quan tâm để có những giải pháp tuyên truyền, vận động quần chúng hoạt động tôn giáo tuân thủ pháp luật Nhìn chung, tín đồ tôn giáo ở Việt Nam có tinh thần yêu nước, có ý thức dân tộc,
có nhiều đóng góp trong quá trình phát triển của lịch sử đất nước, được thể hiện rõ trong sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo
Trang 29- Chức sắc, chức việc, nhà tu hành: Theo Luật TN, TG quy định, chức sắc là tín đồ được tổ chức tôn giáo phong phẩm hoặc suy cử để giữ phẩm vị trong tổ chức Chức việc là người được tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo bổ nhiệm, bầu cử hoặc suy cử để giữ chức vụ trong tổ chức Nhà tu hành là tín đồ xuất gia, thường xuyên thực hiện nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật và quy định của tổ chức tôn giáo
Theo đó, chức sắc tôn giáo cần hội đủ 3 yếu tố: Một là, chức sắc trước hết phải là tín đồ của một tôn giáo - là loại “tín đồ đặc biệt” Hai là, họ phải là người có chức vụ nhất định trong tổ chức tôn giáo Bởi vì, tổ chức tôn giáo chính là nền “hành chính đạo”, điều hành, quản lý toàn bộ hoạt động tôn giáo
và gắn với đó là những vị trí cao thấp khác nhau (chức vụ) do mỗi người đảm trách Ba là, họ còn phải có phẩm sắc (phẩm trật) tôn giáo, được tổ chức tôn giáo suy tôn, thừa nhận và cho hưởng theo giáo lý, giáo luật chiểu theo công trạng, công lao tu tập, đạo hạnh, thời gian tu tập và cống hiến của họ cho tôn giáo đó Với cách hiểu này, nội hàm của khái niệm chức sắc tôn giáo không chỉ bao gồm những người có chức vụ trong tôn giáo, mà còn có cả những người có trọng trách trong hành đạo và truyền đạo Truyền đạo là bổn phận của mọi tín đồ, nhưng với tín đồ không được đào tạo, không phải là nhà hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp và bán chuyên thì những người tín đồ bình thường không thể có khả năng lớn như chức sắc của họ Theo định nghĩa này, chức sắc tôn giáo chính là những đối tượng đặc biệt quan trọng mà công tác tôn giáo, chủ thể tuyên truyền phải có sự quan tâm thường xuyên Điều đó lý giải tại sao các cơ quan làm công tác tôn giáo khi nói đến chức sắc tôn giáo thường bao gồm cả chức việc tôn giáo và các nhà tu hành
Ngoài những đặc điểm chung của quần chúng tín đồ, chức sắc tôn giáo còn có thêm những đặc điểm riêng Chức sắc, chức việc, nhà tu hành tôn giáo
là rường cột trong tổ chức, hoạt động tôn giáo, chăm lo đời sống tôn giáo của tín đồ Chức sắc, nhà tu hành có vị trí, vai trò quan trọng trong các hoạt động
Trang 30tôn giáo và tổ chức giáo hội, có ảnh hưởng lớn tới quần chúng tín đồ, ở một
số tôn giáo, chức sắc còn có tính “Thánh thiêng” (chức sắc Công giáo) Chức sắc của mỗi một tôn giáo có những đặc điểm riêng được quy định bởi giáo lý, giáo luật, hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đó, có thứ bậc, phẩm cấp, tên gọi khác nhau Chức sắc, nhà tu hành ở nước ta sinh hoạt trong các hệ thống tổ chức chặt chẽ của giáo hội, nhiều người có trình độ văn hoá,
có sự hiểu biết sâu sắc về giáo lý, luật lệ, lễ nghi tôn giáo của họ Đại đa số chức sắc tôn giáo ở Việt Nam có tinh thần dân tộc, đồng tình với lối sống “tốt đời, đẹp đạo”, hoạt động theo đường hướng hành đạo tiến bộ, mong muốn được hoạt động tôn giáo bình thường trong khuôn khổ luật pháp Họ có vị thế trong xã hội, là những người được bộ phận người dân (tín đồ) ủng hộ Họ là những người có vai trò quyết định trong xây dựng mối quan hệ giữa tôn giáo
và nhà nước Đối thoại, hòa hợp hay trung lập, không hợp tác trong mối quan
hệ nhà nước và tôn giáo đều do đội ngũ chức sắc/chức việc quyết định
- Nhân dân: bao gồm những người không theo TN, TG nào Đây là đối tượng cần được tuyên truyền Luật TN, TG để kiểm tra, giám sát việc thực hiện hoạt động TN, TG tuân thủ pháp luật trên tinh thần “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” như nội dung của Đại hội Đảng lần thứ XIII
1.2.2 Nội dung tuyên truyền
Nội dung tập trung tuyên truyền gồm những quy định trong Luật TN,TG năm 2017 và có hiệu lực từ ngày 01/1/2018 về lĩnh vực TN, TG của Việt Nam bao gồm có 09 chương với 68 điều Nội dung tuyên truyền Luật này chú trọng các vấn đề cơ bản như sau:
Thứ nhất, trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng
- Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do TN, TG của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật
Trang 31- Nhà nước tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của TN,
TG, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng đáp ứng nhu cầu tinh thần của Nhân dân
- Nhà nước bảo hộ cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo và tài sản hợp pháp của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo
Thứ hai, trách nhiệm của Mặt trận tổ quốc Việt Nam
- Tập hợp đồng bào theo TN, TG và đồng bào không theo TN, TG xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
- Phản ánh kịp thời ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của Nhân dân về các vấn đề có liên quan đến TN, TG với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
- Tham gia xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về TN, TG; phản biện
xã hội đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước có liên quan đến
TN, TG theo quy định của pháp luật
- Tham gia tuyên truyền, vận động chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín
đồ, người theo TN, TG, các tổ chức tôn giáo và Nhân dân thực hiện pháp luật
về TN, TG
- Giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về TN, TG
Thứ ba, các hành vi bị nghiêm cấm
- Phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do TN, TG
- Ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo TN,
TG
- Xúc phạm TN, TG
- Hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo:
+ Xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn
xã hội, môi trường;
+ Xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;
Trang 32+ Cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân
Ngoài ra công tác tuyên truyền cũng chú trọng một số vấn đề quan trọng trọng việc thực hiện Luật TN, TG liên quan đến:
- Việc đăng ký hoạt động tín ngưỡng, thông báo danh mục hoạt động tôn giáo được thay đổi theo hướng chỉ đăng ký, thông báo lần đầu với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, những nội dung không có trong văn bản đăng ký hoặc thông báo sẽ đăng ký, thông báo bổ sung Một số nội dung hoạt động chỉ cần thông báo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để các cơ quan này biết, thực hiện trách nhiệm phối hợp với người đại diện, các tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc để các hoạt động tôn giáo diễn ra đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn, bảo vệ môi trường
Người đại diện cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có trách nhiệm thông báo: lễ hội tín ngưỡng định kỳ; về khoản thu, mục đích sử dụng khoản thu từ việc tổ chức lễ hội tín ngưỡng; hoạt động của cơ sở đào tạo; người được phong phẩm hoặc suy cử; thuyên chuyển chức sắc, chức việc, nhà
tu hành; cách chức, bãi nhiệm chức sắc, chức việc; hội nghị thường niên
- Việc thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực TN, TG Luật
TN, TG quy định rõ hơn về thanh tra chuyên ngành tôn giáo; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện; xử lý vi phạm trong lĩnh vực TN, TG và một số biện pháp chế tài khác như đình chỉ, giải thể
- Trách nhiệm, thẩm quyền của các bộ, ngành, UBND, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong công tác tôn giáo và quản lý hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; trách nhiệm của MTTQ và các đoàn thể trong việc tập hợp đồng bào có TN, TG và đồng bào không có TN, TG trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và các quy định cụ thể hơn về nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong thực hiện quyền tự do
TN, TG
1.2.3 Phương thức tuyên truyền Luật TN, TG
1.2.3.1 Khái niệm
Trang 33Phương thức là từ ghép giữa phương pháp và hình thức tạo thành Phương pháp là các cách thức, đường lối có tính hệ thống được đưa ra để giải quyết một vấn đề nào đó, chính là những cách thể hiện, hay thực hiện một vấn
đề nào đó
Phương pháp: Thuật ngữ phương pháp có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp
methodos có nghĩa là con đường, công cụ nhận thức Trong tiếng Anh methos
có nghĩa là cách thức, phương pháp Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa: “Phương pháp là hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một hoạt động có mục đích” [38, tr.793] Theo các nhà nghiên cứu, phương pháp được hiểu trên ba phương diện (1) là một tập hợp các thủ thuật, các quy trình, thao tác trong việc nắm chắc mặt thực tế hay lý thuyết mà chủ thể phải tuân theo trong khi giải quyết một nhiệm vụ cụ thể; (2) là một hệ thống các thao tác khi làm việc trên một thiết bị nhất định, là các thủ thuật của quá trình nghiên cứu khoa học hay trình bày tài liệu, của sự lựa chọn nghệ thuật đánh giá tổng hợp tài liệu từ các quan điểm, lý tưởng thẩm mỹ khác nhau: (3), là cách thức xây dựng và chứng minh một hệ thống tri thức triết học Phương pháp của triết học Mác-Lênin là phương pháp duy vật biện chứng
Như vậy, có thể hiểu phương pháp là hệ thống các nguyên tắc điều
chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn xuất phát từ các quy luật vận động của khách thể đã được nhận thức
Phương pháp là ý thức về hình thức vận động bên trong của nội dung Phương pháp phụ thuộc nội dung, nội dung nào thì phương pháp ấy Phương pháp gắn liền với hoạt động có ý thức của con người, phản ánh hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người Phương pháp là sản phẩm của ý thức con người, được hình thành từ thực tiễn, phản ánh thực tiễn, do thực tiễn quy định, nhưng phương pháp quyết định sự thành bại của hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn Trên cơ sở điều kiện khách quan, phương pháp càng đúng đắn, phù hợp thì càng tạo điều kiện cho hoạt động của chủ thể đạt hiệu quả cao
Trang 34Hình thức: Theo các nhà khoa học, hình thức là phương thức biểu hiện
của nội dung, là kết cấu của các mặt, các yếu tố, các bộ phận và các quá trình tạo thành sự vật Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, “hình thức
là toàn thể những gì làm thành mặt bề ngoài của sự vật, là cái chứa đựng nội dung; là cách thể hiện, cách tiến hành một hoạt động” [38, tr.427]
Trong lĩnh vực giáo dục học, khái niệm hình thức thường được xem xét chủ yếu từ góc độ tổ chức quá trình giáo dục, theo đó người ta sử dụng thuật ngữ hình thức tổ chức dạy học Các nhà giáo dục đã đưa ra định nghĩa hình thức tổ chức dạy học là phương thức tác động qua lại giữa người dạy và người học, trong đó nội dung, phương pháp dạy học được thực hiện
Từ những khái niệm trên, có thể hiểu: phương thức tuyên truyền Luật
TN, TG là các cách thức, đường lối có tính hệ thống được đưa ra để tuyên truyền Luật TN, TG một các có hiệu quả Khi nói đến phương thức tuyên
truyền Luật TN, TG là nói đến phương pháp, hình thức tuyên truyền
1.2.3.2 Đặc điểm
Tuyên truyền Luật TN, TG không đặt vấn đề tuyên truyền về “Chủ nghĩa
vô thần khoa học” trong các cơ sở tôn giáo và đấu tranh với tư tưởng tôn giáo
Xác định rõ điều này để tránh ngộ nhận về chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng và đảm bảo quyền tự do TN, TG; nghiêm cấm sự phân biệt đối xử vì lý do TN, TG; không chống tôn giáo, nhưng kiên quyết chống sự lợi dụng tôn giáo vì mục đích chính trị phi tôn giáo Đồng thời, tôn trọng đức tin tôn giáo của tín đồ, tránh xúc phạm tới tình cảm tôn giáo của họ; cần có sự hiểu biết nhất định về giáo lý, giáo luật, lễ nghi của từng tôn giáo, nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
về tôn giáo để có phương pháp vận động phù hợp
Trọng tâm của tuyên truyền Luật TN, TG là vận động quần chúng theo
TN, TG thực hiện đức tin của mình theo pháp luật Công tác này phải nằm trong cuộc vận động toàn dân vì mục tiêu chung: xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh,
Trang 35dân chủ, công bằng, văn minh; trong các phong trào chung của toàn dân, gắn với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Nhà nước không phân biệt đối xử
vì lí do TN, TG; phát huy vai trò, trí tuệ, sự sáng tạo của mỗi người dân, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng
Công tác vận động quần chúng phải thông qua việc thực hiện tốt chính sách kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng và hệ thống pháp luật; bảo đảm lợi ích vật chất và tinh thần, không ngừng nâng cao đời sống mọi mặt của đồng bào tôn giáo Vận dụng phương pháp công tác dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong vận động quần chúng có tôn giáo “Trước nhất là phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng: Việc đó là lợi ích cho họ
và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được Điểm thứ hai là bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với nhân dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh của địa phương, rồi động viên và tổ chức nhân dân ra thi hành Trong lúc thi hành phải theo dõi, giúp
đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân Khi thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng” [24, tr 698-699]
Trong công tác vận động quần chúng tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở cán bộ khi tiếp xúc với đồng bào các tôn giáo cần phải thực sự “tôn trọng tín ngưỡng, phong tục tập quán của đồng bào; đi sát với quần chúng, hiểu rõ tâm trạng của quần chúng, giúp đỡ quần chúng thiết thực giải quyết những thắc mắc và những khó khăn trong đời sống hàng ngày” [25, tr 134] Làm công tác tôn giáo là luôn phải quan tâm đến mọi sự kiện liên quan đến đồng bào tôn giáo, tránh cách hiểu giản đơn công tác quản
lý tôn giáo về mặt nhà nước chỉ là giữ cho tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật Cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo phải là người am hiểu giáo lý, giáo luật của các tôn giáo để khi giao tiếp, giải quyết công việc, nói được “ngôn ngữ tôn giáo” với quần chúng có tôn giáo
Hình thức tuyên truyền Luật TN, TG cũng đặc biệt Có thể kết hợp, đa dạng các hình thức vận động như: tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục; tranh
Trang 36thủ chức sắc tôn giáo, nhà tu hành; xây dựng điển hình tập hợp quần chúng tín
đồ trong các phong trào thi đua yêu nước; phối hợp giữa chính quyền với Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp trong công tác vận động quần chúng tôn giáo… - Tuyên truyền, vận động gián tiếp thông qua các phương tiện truyền thông, báo chí, tờ rơi, tài liệu… hoặc vận động trực tiếp qua thăm hỏi, gặp gỡ, tiếp xúc, đối thoại, trao đổi, mở lớp bồi dưỡng về chính sách, pháp luật, kiến thức an ninh, quốc phòng cho chức sắc, nhà tu hành, cốt cán trong tôn giáo Tổ chức các hình thức giao lưu văn hóa, thể thao, hội nghị tôn vinh những mô hình, điển hình, các cá nhân chức sắc, nhà tu hành, tín đồ tôn giáo tiêu biểu Vận động tập trung và vận động cá biệt; vận động bằng phương pháp kinh tế, hành chính, quản lý
Bản chất của tuyên truyền nói chung và tuyên truyền pháp luật TN,TG nói riêng là tác động vào ý thức của người nghe, người đọc để làm thay đổi nhận thức dẫn tới thực hiện hành vi Để tác động vào ý thức của người nghe, người đọc thì thông tin pháp luật được tuyên truyền phải được lặp đi lặp lại nhiều lần để người nghe, người đọc, nhìn thấy và nhớ
Hiện nay, tuyên truyền trên phương tiện thông tin đại chúng là một trong những hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật được quy định tại Điều 11
và 14 Luật Phổ biến giáo dục pháp luật Theo đó, báo, đài phát thanh, đài truyền hình cấp tỉnh xây dựng chương trình, chuyên trang, chuyên mục về pháp luật; đa dạng hóa các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật để phổ biến các quy định của pháp luật, tình hình thi hành pháp luật và các thông tin khác
về pháp luật Phương tiện thông tin đại chúng là phương tiện được cơ quan báo chí sử dụng để cung cấp, truyền dẫn thông tin tới đông đảo công chúng bao gồm các đài phát thanh, đài truyền hình, báo in, báo điện tử và trang/cổng thông tin điện tử (Điều 3 Thông tư 38/2017/TT-BTTTT ngày 13/12/2017)
Hình thức tuyên truyền pháp luật trên phương tiện thông tin đại chúng hiện nay đặc biệt là đài phát thanh và báo in khó có thể đo lường được số lượng người nghe, nhìn cụ thể và ai là người tiếp cận được thông tin cần
Trang 37quảng cáo/tuyên truyền Hiện nay, làn sóng công nghệ số đã len lỏi vào từng
cá nhân mạng internet, Facebook, Zalo, YouTube khi người dùng click vào bất cứ thông tin gì đều có thể biết chính xác trong một giờ, một ngày, một tháng, một năm có bao nhiêu người quan tâm đến thông tin đó và người xem thông tin là ai? Do vậy, đối với lĩnh vực TN,TG hiện nay, việc tuyên truyền pháp luật trên phương tiện thông tin đại chúng thực sự chưa có nhiều cách làm mới Ngược lại, việc quản lý nhà nước về TN, TG lại đang đứng trước muôn vàn thách thức bởi việc lợi dụng mạn xã hội để xuyên tạc nhằm bôi xấu chế độ, để truyền đạo trái pháp luật
Thực tế hiện nay, để có thể đạt hiệu quả cao trong việc tuyên truyền pháp luật về TN, TG, chủ thể tuyên truyền vẫn sử dụng cách thức truyền thống mặc dù cách này có độ bao phủ hẹp và tốn kém, đó là tổ chức các hội thi tìm hiểu pháp luật và qua phổ biến chuyên đề Bên cạnh đó còn sử dụng báo in, tờ rơi, trang thông tin điện tử như là một công cụ khá hữu hiệu Tuy vậy, xét về lâu dài thì các phương tiện thông tin đại chúng sẽ là phương tiện mang lại hiệu quả tiềm năng nhất, trang thông tin điện tử thể áp dụng sự tiến
bộ của công nghệ 4.0 để lưu trữ thông tin tuyên truyền dưới nhiều dạng khác nhau nhằm giúp đối tượng tuyên truyền có thể chủ động tiếp cận thông tin tuyên truyền mọi lúc, mọi nơi
1.2.4 Kết quả tuyên truyền
Kết quả là “cái đạt được, thu được trong một công việc hoặc một quá trình tiến triển của sự vật” [38, tr 627] Kết quả tuyên truyền là những biến đổi thu được sau quá trình tác động bằng những phương thức khác nhau của chủ thể tuyên truyền tới đối tượng tuyên truyền Kết quả của tuyên truyền pháp luật TN, TG là những thay đổi, chuyển biến và nâng cao về nhận thức về việc thực hành đức tin đi đôi với chấp hành pháp luật về lĩnh vực này Đồng thời hình thành niềm tin, bồi dưỡng và xây dựng tình cảm, ý chí, cổ vũ và thôi thúc yêu cầu, nhiệm vụ tuyên truyền đặt ra; nâng cao nhận thức, thái độ, hành
vi tuân thủ pháp luật của, nâng cao mức độ tạo ra những hiệu ứng xã hội phù hợp với mong đợi của chủ thể tuyên truyền – đó là thay đổi được nhận thức,
Trang 38thái độ và hành vi của công chúng – nhóm đối tượng tuyên truyền phù hợp với mục đích tuyên truyền
Thời gian qua, công tác tuyên truyền đã thể hiện vai trò là mũi nhọn xung kích, là vũ khí sắc bén trong việc cung cấp và định hướng thông tin trước những diễn biến phức tạp, khó lường của tình hình tôn giáo trong nước
và quốc tế; đã góp phần quan trọng tạo sự thống nhất nhận thức về tôn giáo trong Đảng, đồng thuận trong xã hội, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới Kết quả của công tác tuyên truyền chính là cổ vũ, động viên nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng từ đó xác định trách nhiệm của mình trong quá trình thực hiện chính
sách, pháp luật về TN, TG
1.3 Sự cần thiết phải tuyên truyền Luật TN, TG
1.3.1 Tác động đa chiều từ bối cảnh xã hội
1.3.1.1 Tác động từ tình hình thế giới
Một trong những đặc điểm lớn nhất của tình hình thế giới hiện nay là
sự phát triển "kiểu dòng thác" chưa từng có trong lịch sử loài người, điều này xuất phát từ thành tựu của cuộc cách mạng thời công nghệ 4.0 Toàn cầu hóa không chỉ làm các quốc gia xích lại gần nhau, chi phối lẫn nhau mà đã góp phần tích cực trong việc phát triển khoa học, kỹ thuật, tăng trưởng kinh tế, mang thế giới xích lại gần nhau bằng hệ thống số, thông tin đã và đang biến đổi sâu rộng không những cơ cấu chính trị, mô hình kinh tế, tổ chức xã hội
đề nằm trong sự vận động chung của bối cảnh thế giới hiện nay Hoạt động quốc tế của các tôn giáo trên thế giới diễn biến đa dạng và phong phú Trong quá trình tồn tại và phát triển, tôn giáo đang là một vấn đề được nhiều quốc gia quan tâm Sự can thiệp ngày một rõ hơn của các tổ chức tôn giáo vào đời sống kinh tế - chính trị, văn hóa, xã hội ở từng quốc gia, khu vực cũng như trên toàn thế giới là mối quan tâm của nhiều nhà hoạt động chính trị Sự xuất hiện các hiện tượng tôn giáo mới cũng là vấn đề mang tính toàn cầu
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, xu thế chính trị hóa tôn giáo càng gia tăng
Trang 39và có những biểu hiện mới hết sức phức tạp Các phần tử dân tộc cực đoan, chủ nghĩa ly khai cũng dựa vào tôn giáo, sử dụng tôn giáo cho mục tiêu chính trị của mình Các tôn giáo, nhất là các tôn giáo lớn đang muốn tham gia nhiều hơn vào đời sống chính trị, xã hội Tổ chức giáo hội của các tôn giáo với tư cách là người đại diện cho đức tin của nhiều triệu tín đồ, có trong tay cơ sở vật chất khổng lồ cũng luôn thể hiện rõ chính kiến riêng trong các vấn đề về dân tộc, tôn giáo, kinh tế, xã hội, an ninh, đây cũng là nguyên nhân tạo ra các cuộc đụng
độ, va chạm liên quan đến tôn giáo, sắc tộc ngày càng gia tăng trên thế giới (như Tin Lành ở Bắc Ailen, Công giáo và Hồi giáo ở Philippin, hay ở các khu vực Hồi giáo khác) Tôn giáo còn được sử dụng vào trong chính sách chính trị, đối ngoại, kinh tế ở một số nước lớn Cùng với sự gia tăng nghèo đói, thất ghiệp, ô nhiễm môi trường thì khủng hoảng về lối sống, đạo đức cũng ngày một gia tăng Bối cảnh đó tạo cơ hội thuận lợi để tôn giáo thể hiện vai trò của mình khi lên tiếng bảo vệ người nghèo, bảo vệ môi trường và hoà bình thế giới
Bối cảnh toàn cầu hóa mở ra cho các nước cơ hội giao lưu hợp tác Hoạt động tín ngưỡng cũng không nằm ngoài guồng quay chung đó Trước kia chỉ ở trong phạm vi một nước thì giờ đây tín ngưỡng đó đã theo chân người dân đi khắp thế giới và làm bệ đỡ về mặt tinh thần cho cộng đồng dân tộc ở đó Điều đó cũng đồng nghĩa tín ngưỡng của Việt Nam, nhất là tín ngưỡng thờ Mẫu và thờ cúng tổ tiên, thờ các Vua Hùng đã có mặt cùng với cộng đồng người Việt Nam ở nhiều nước Ngược lại Việt Nam đang và sẽ đón nhận tín ngưỡng của cộng đồng các nước khác, mà tín ngưỡng trong cộng đồng người Hoa là điển hình Sự phát triển của khoa học kỹ thuật làm giảm đi
sự độc quyền bất cứ một tôn giáo, tín ngưỡng nào trong “cung ứng các dịch vụ” tâm linh, thay vào đó thúc đẩy tín ngưỡng tận dụng Internet để quảng bá các hoạt động tâm linh thu hút cộng đồng tham dự Trong bối cảnh đó người dân và tín đồ các tôn giáo có điều kiện tiếp cận, nhận thức sâu hơn, toàn diện hơn về TN, TG của họ và có sự so sánh giữa các tôn giáo, tín ngưỡng trong cùng môi trường hoạt động Người dân có quyền lựa chọn những niềm tin tín
Trang 40ngưỡng khác nhau
1.3.1.2 Tác động từ bối cảnh xã hội trong nước
Toàn cầu hóa, bên cạnh cơ hội cho mỗi quốc gia trong quá trình phát triển còn có sự xâm nhập và ảnh hưởng của rất nhiều luồng tư tưởng, văn hóa,
TN, TG khác nhau làm chuyển biến sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội trong đó có đời sống TN, TG Trong điều kiện như vậy cơ hội cho các tôn giáo thâm nhập và lan tỏa tiếp tục gia tăng Niềm tin và thực hành tôn giáo không còn đóng khung trong một địa bàn, quốc gia mà mở rộng ra ngoài biên giới lãnh thổ, chịu sự chi phối, tác động của cộng đồng quốc tế, Việt Nam cũng không nằm ngoài guồng quay đó Theo sự biến động và phát triển chung của đất nước, hoạt động tôn giáo cũng có những bước chuyển tích cực Sau hơn 15 năm thực hiện Pháp lệnh TN, TG, đến năm 2020 Việt Nam có 41 tổ chức tôn giáo thuộc 16 tôn giáo được công nhận [11, tr.16]
Xã hội phát triển về mọi mặt, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao, an ninh chính trị được giữ vững, công bằng, dân chủ phát huy
đã tạo dựng niềm tin của nhân dân nói chung và đồng bào tôn giáo nói riêng đối với Đảng, với Nhà nước cùng mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội Đồng thời, việc thực hiện tốt chính sách về kinh tế, văn hóa, xã hội, TN, TG ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng chiến lược đã rút ngắn khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, miền đảm bảo tốt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số và vùng chiến lược Điều này đã tạo dựng được động cơ, ý chí, sự đồng thuận và quyết tâm cho mọi tầng lớp nhân dân trong đó có đồng bào tôn giáo phát huy tinh thần vì sự phát triển chung của đất nước, đồng thời hạn chế tối đa các chức sắc, tín đồ cực đoan lợi dụng
kẽ hở của hệ thống chính trị để tổ chức các hoạt động tôn giáo, hoạt động xã hội vi phạm pháp luật Thông qua các hoạt động tôn giáo, hoạt động xã hội, chức sắc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo nâng cao ý thức về quyền và nghĩa
vụ công dân, phát huy giá trị đạo đức tôn giáo và đóng góp nguồn lực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, đấu tranh hiệu quả với các hoạt động lợi