Dù vậy, vẫn có những nghiên cứu và báo cáo nhanh được công bố liên quan đến dịch bệnh Covid-19, nghiên cứu truyền thông về sức khỏe và một số nghiên cứu cụ thể về thông điệp trên báo mạn
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TRẦN CHÚC LINH
THỰC TRẠNG ĐƯA TIN
VỀ DỊCH BỆNH VIÊM ĐƯỜNG HÔ HẤP CẤP (COVID-19)
TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ HIỆN NAY (Khảo sát trên báo điện tử dantri.com.vn và suckhoedoisong.vn từ
1/1/2020 đến 31/12/2020)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI - 2022
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TRẦN CHÚC LINH
THỰC TRẠNG ĐƯA TIN
VỀ DỊCH BỆNH VIÊM ĐƯỜNG HÔ HẤP CẤP (COVID-19)
TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ HIỆN NAY (Khảo sát trên báo điện tử dantri.com.vn và suckhoedoisong.vn từ
1/1/2020 đến 31/12/2020)
Ngành: Xã hội học
Mã số: 8310301
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS NGUYỄN THỊ TỐ QUYÊN
HÀ NỘI - 2022
Trang 3Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Chủ tịch Hội đồng
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu và tài liệu được sử dụng trong đề tài được lấy từ nhiều
nguồn tài liệu đáng tin cậy và là kết quả của quá trình tiến hành
nghiên cứu của tôi Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về đề tài
luận văn của mình
Tác giả luận văn
Trần Chúc Linh
Trang 5Để hoàn thành chương trình học và đề tài luận văn, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới trường Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã tạo điều kiện cho tôi
có môi trường học tập tốt trong suốt thời gian tôi học tập, nghiên cứu tại đây
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn tới PGS,TS Nguyễn Thị Tố Quyên – Quyền Trưởng khoa Xã hội học và Phát triển - Học viện Báo chí và Tuyên truyền, đã nhiệt tình giúp đỡ, đồng hành với tôi trong suốt quá trình nghiên cứu cũng như trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong Khoa Xã hội học và Phát triển - Học viện Báo chí và Tuyên truyền, đồng nghiệp và bạn bè
đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cám ơn!
Tác giả luận văn
Trần Chúc Linh
Trang 7MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 20
1.1 Một số khái niệm đặt cơ sở nghiên cứu 20
1.2 Các lý thuyết áp dụng trong đề tài 29
1.3 Quan điểm của Đảng và chính sách của nhà nước về dịch bệnh Covid-19 và truyền thông liên quan đến dịch bệnh Covid-19 37
Chương 2: NỘI DUNG TRUYỀN THÔNG COVID-19 TRÊN 02 TỜ BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ DÂN TRÍ VÀ SỨC KHỎE & ĐỜI SỐNG 43
2.1 Khái quát về các báo mạng điện tử và mẫu nghiên cứu 43
2.2 Các nội dung liên quan đến Covid-19 được đăng tải trên 02 báo mạng điện tử (dantri.com và suckhoedoisong.vn) 52
2.3 Thông tin về ca mắc, ca hồi phục, ca tử vong liên quan đến Covid-19 được đăng tải trên hai tờ BMĐT 56
2.4 Thông tin về hoạt động phòng chống dịch bệnh được đăng tải trên BMĐT 63
2.5 Các nội dung khác liên quan đến dịch bệnh Covid-19 được truyền thông trên BMĐT 72
Tiểu kết chương 2 86
Chương 3: HÌNH THỨC THỂ HIỆN CÁC NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN DỊCH BỆNH COVID-19 TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ 87
3.1 Chuyên mục và thể loại bài đăng có nội dung liên quan đến dịch bệnh Covid-19 trên báo mạng điện tử 87
3.2 Hình thức thể hiện các thông tin về Covid-19 trên hai tờ báo mạng điện tử 90
Tiểu kết chương 3 107
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 109
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
PHỤ LỤC 119
Trang 8Bảng 2.1: Số lượng tin, bài theo khu vực của các bài BMĐT; đơn vị: bài, % 49 Bảng 2.2: Các khía cạnh liên quan đến ca mắc, ca hồi phục, ca tử vong do Covid-19 được đăng tải trên hai tờ BMĐT, đơn vị: tin, bài; % 60 Bảng 2.3: Số lượng, tỷ lệ tin bài đề cập đến hoạt động phòng chống dịch cụ thể của hai BMĐT, đơn vị: tin bài, % 66 Bảng 2.4: Tần suất truyền thông chính sách, chỉ đạo, quy định liên quan đến Covid-19 của Nhà nước theo quý, đơn vị: tin, bài 74 Bảng 2.5: Các khía cạnh cụ thể liên quan đến kiến thức phòng, chống dịch bệnh Covid-19 được đăng tải trên BMĐT, đơn vị: tin, bài; % 80
Trang 9Biểu đồ 2.1: Số lượng bài báo thuộc hai trang báo mạng điện tử trong mẫu nghiên cứu, đơn vị: % 45 Biểu đồ 2.2: Nguồn gốc của các bài báo về dịch Covid-19 trên hai BMĐT, đơn vị: % 46 Biểu đồ 2.3: So sánh nguồn gốc các bài báo đưa tin về dịch bệnh Covid-19 trên 02 tờ BMĐT, đơn vị: % 47 Biểu đồ 2.4: Bối cảnh của các tin, bài được đăng trên BMĐT Dân trí và SK&ĐS, đơn vị: % 48 Biểu đồ 2.5: Tần suất đăng bài theo tháng của hai tờ BMĐT, đơn vị: bài 50 Biểu đồ2 6: Các nội dung chính được đăng trên báo mạng điện tử 53 Biểu đồ 2.7: Các nội dung chính được đăng trên hai tờ báo mạng điện tử, đơn vị: % (*) 54 Biểu đồ 2.8: Các nội dung chi tiết về thông tin ca nhiễm, ca tử vong, ca hồi phục liên quan đến Covid-19, đơn vị: % 57 Biểu đồ 2.9: Số lượng tin, bài đưa tin về hoạt động phòng chống dịch trên 02
tờ BMĐT; đơn vị: bài 63 Biểu đồ 2.10: Các khía cạnh chi tiết liên quan đến chỉ đạo chính sách, quy định về phòng chống dịch Covid-19 được đăng tải trên BMĐT, đơn vị: tin, bài; % 73 Biểu đồ 2.12: Số lượng bài báo đề cập đến những hậu quả của Covid-19 theo quý, đơn vị: bài (*) 77 Biểu đồ 2.13: Các nguồn cung cấp kiến thức phòng, chống dịch bệnh Covid-
19 cho người dân, đơn vị: bài 83 Biểu đồ 2.14: Bối cảnh viết về Vaccine của hai BMĐT, đơn vị: bài (*) 84 Biểu đồ 2.15: Nội dung chi tiết liên quan đến Vaccine ngừa Covid-19 được đăng tải trên BMĐT, đơn vị: bài 85
Trang 10Biểu đồ 3.2: Các nhân vật xuất hiện trong hình ảnh đưa tin về dịch bệnh Covid-19 trên BMĐT (đơn vị: tin, bài) 100 Biểu đồ 3.3: Sự kết hợp giữa chữ viết, hình ảnh và video clip trong các bài BMĐT đưa tin dịch Covid-19 (%) 105
Trang 11Hình 2.1: Thông điệp 5K 81
Hình 2.2: Hướng dẫn rửa tay đúng cách 82
Hình 2.3: Trách nhiệm của thành viên trong hộ gia đình, nơi ở, nơi lưu trú 82
Hình 3.1: Trang chủ của BMĐT Dân trí và các chuyên mục đăng tải thông tin 88
Hình 3.2: Trang chủ của BMĐT Sức khỏe & Đời sống và các chuyên mục đăng tải thông tin 88
Hình 3.3: Cán bộ chiến sĩ chuẩn bị cơm cho người dân ở khu cách ly (1) 99
Hình 3.4: Cán bộ chiến sĩ chuẩn bị cơm cho người dân ở khu cách ly (2) 99
Hình 3.5: Hình ảnh các y, bác sĩ xuất hiện trong các bài BMĐT 101
Hình 3.6: Hình ảnh minh hoạ trong tin bài đưa tin về Covid-19 trên BMĐT 101
Hình 3.7: Thông báo khẩn số 27 102
Hình 3.8: Thống đốc bang California, Mỹ, ông Gavin Newsom 103
Hình 3.9: Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại phiên họp 103
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ thời điểm tháng 12/2019 khi đại dịch viêm đường hô hấp cấp do Covid-19 bùng lên đã càn quét qua rất nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ Có thể nói, Covid-19 là thảm họa mang lại thiệt hại nặng nề nhất cho nhân loại,
kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai Sau gần một năm Covid-19 bùng lên tại Trung Quốc, dịch bệnh vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân toàn thế giới với những diễn biến khôn lường Thậm chí, bệnh vẫn tiếp tục gia tăng, mặc dù nhiều nước đã tích cực áp dụng các biện pháp phòng, chống bệnh Việt Nam cũng là nước chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ đại dịch Covid-19 này Dịch bệnh Covid-19 không những có tác động mạnh mẽ lên sức khỏe thể chất của người Việt mà còn ảnh hưởng rất nhiều về sức khỏe tinh thần mà đặc biệt là tâm lý hoang mang khi tiếp cận với các thông tin liên quan đến số ca mắc, ca nhiễm, ca tử vong hoặc các phương pháp phòng chống bệnh
Do tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, thông tin thời sự nói chung
và thông tin về dịch Covid-19 nói riêng chủ yếu được người dân tiếp nhận thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và điện thoại thông minh thay vì trao đổi bằng cách trực tiếp Cùng với thực tế người dân ở trong nhà nhiều hơn
để phòng chống dịch đã gia tăng mức độ sử dụng Internet để cập nhật thông tin Đây chính là bối cảnh để truyền thông, đặc biệt là các báo mạng điện tử phát huy vai trò của mình trong việc cung cấp thông tin về dịch bệnh cho người dân
Sự thay đổi trong số ca lây nhiễm, số ca khỏi bệnh, số ca tử vong do Covid-19 của Việt Nam và thế giới được cập nhật liên tục từng ngày vào các bản tin 6h sáng và 21h tối của các báo điện tử Bên cạnh đó định hướng phát triển vaccine Covid-19 của Việt Nam và thế giới cũng được đưa tin liên tục từ đó đem lại sự
đa dạng, phong phú trong thông tin mà các trang báo mạng điện tử có thể khai thác và cung cấp cho người dân Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực đó,
Trang 13trên các trang thông tin điện tử vẫn còn xuất hiện những hiện tượng tiêu cực như: đăng thông tin sai lệch, thổi phồng hay xuyên tạc, đăng tin nhưng chưa có đầy đủ căn cứ xác thực, hoặc thông tin chưa được xác minh, v.v Những thông tin sai lệch liên quan đến dịch bệnh Covid-19 đã gây ra những tác hại thực sự nghiêm trọng cho xã hội Từ đó có thể thấy thực tế rằng thông tin về dịch bệnh được vẫn được đăng tải rất nhiều trên các phương tiện truyền thông đại chúng
mà không phải tất cả đều được xác thực bởi chuyên gia, người có chuyên môn hay bất kỳ một cơ quan có thẩm quyền nào
Hơn nữa các thông tin liên quan đến dịch bệnh Covid-19 hiện nay vẫn
ít nhiều sao chép lẫn nhau trên các trang báo mạng, các thông tin có sự trùng lặp khiến người đọc cảm thấy mất niền tin về chế độ bản quyền bài báo
Việc có quá nhiều nguồn tin bao gồm cả chính thống lẫn phi chính thống đăng tải nhiều thông tin về dịch bệnh Covid-19 một mặt có thể thoả mãn nhu cầu tiếp cận với dịch bệnh nhưng mặt khác cũng gây ra nhiều tranh cãi về độ xác thực hoặc sự khó chịu về sự lặp đi lặp lại các tin/bài Xuất phát
từ lý do đó cùng với việc vận dụng những kiến thức lý luận được học ứng dụng vào thực tiễn công tác đưa tin dịch bệnh Covid-19 tại một số trang báo điện tử, để đánh giá được một cách đầy đủ và khoa học tình hình quản lý đưa tin dịch bệnh Covid-19 trên các trang báo điện tử Tác giả quyết định chọn đề
tài: “Thực trạng đưa tin về dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp (Covid-19)
trên báo điện tử hiện nay (Khảo sát trên báo điện tử Dantri.com.vn và Suckhoedoisong.vn từ 1/1/2020 đến 31/12/2020)” làm đề tài luận văn thạc sĩ
của mình nhằm góp thêm hiểu biết về thực trạng nêu trên
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đại dịch Covid-19 xuất hiện từ đầu năm 2020 thu hút rất nhiều sự quan tâm từ xã hội và các nhà khoa học, có nhiều nghiên cứu Y học được thực hiện đối với vấn đề này nhằm phục vụ hiểu biết của con người về bản chất dịch bệnh, cơ chế lây lan, cách thức phòng và chữa khi bị mắc bệnh Nhưng lại có
Trang 14rất ít các nghiên cứu từ những ngành khoa học khác đặc biệt là liên quan trực tiếp đến truyền thông về dịch Covid-19 Dù vậy, vẫn có những nghiên cứu và báo cáo nhanh được công bố liên quan đến dịch bệnh Covid-19, nghiên cứu truyền thông về sức khỏe và một số nghiên cứu cụ thể về thông điệp trên báo mạng điện tử Một số hướng nghiên cứu chính được tổng quan dưới đây:
2.1 Hướng nghiên cứu về truyền thông sức khỏe và truyền thông thông điệp trên báo mạng điện tử
2.1.1 Các nghiên cứu về truyền thông giáo dục sức khỏe
Trong thời gian qua hệ thống báo chí nước ta phát triển nhanh chóng,
từ báo in, phát thanh, truyền hình, đến báo điện tử Báo chí đã trực tiếp tham gia thúc đẩy sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong mọi lĩnh vực Có thể nói, không có một thành tựu kinh tế-xã hội nào lại không có công lao đóng góp của báo chí nói riêng và hệ thống truyền thông đại chúng nói chung
Lĩnh vực y tế cũng không nằm ngoài quy luật đó Báo chí đã đăng tải chủ trương và đường lối của Đảng, các chính sách của nước nhà về y tế Báo chí cũng cung cấp các thông tin thời sự liên quan tới công tác y tế tới đông đảo quần chúng nhân dân Một phương diện thu hút công chúng đó là cách phòng bệnh, chữa bệnh, những nguy cơ lây nhiễm bệnh tật cũng được báo chí chú trọng đăng tải Vì vậy, đã có những đề tài tập trung nghiên cứu về truyền thông giáo dục sức khỏe
Luận văn “Truyền thông giáo dục sức khỏe cho cộng đồng trên báo
chí” của tác giả Đỗ Võ Tuấn Dũng đã đánh giá vai trò của báo chí trong lĩnh
vực truyền thông giáo dục sức khỏe một cách khách quan thông qua phương pháp nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tế các tác phẩm báo in cùng những tác phẩm truyền hình hình Đề tài cũng chỉ ra hiệu quả của truyền thông gián tiếp qua phương tiện truyền thông đại chúng trong lĩnh vực truyền thông giáo dục sức khỏe Qua đó khẳng định thế mạnh của truyền thông giáo dục sức khỏe cho cộng đồng thông qua báo chí Bên cạnh đó tác giả cũng chỉ ra hạn
Trang 15chế của quá trình truyền thông giáo dục sức khỏe đó là khó thu được thông tin phản hồi hành vi sức khỏe của đối tượng tác động ngay lập tức thông quan dư luận xã hội Hiệu quả truyền thông phụ thuộc vào năng lực của người phóng viên và phạm vi phát hành của tờ báo hay phát sóng của chương trình truyền hình [4]
Ngoài ra, xoay quanh chủ đề này còn có luận văn thạc sĩ: “Báo in Thủ
đô với vấn đề truyền thông sức khỏe” của tác giả Nguyễn Trọng Tiến Tác
giả đã phân tích và so sánh những phương thức đưa tin của các báo Hà Nội mới, Lao động thủ đô, Phụ nữ Thủ đô một cách cụ thể và rõ ràng Kết quả nghiên cứu cho thấy các báo trên đã phổ biến nhiều kiến thức về sức khỏe giúp người dân nhận biết được tình hình dịch bệnh và phòng chống hiệu quả bệnh tật Tác giả cũng đã chỉ ra những nội dung được cung cấp cho độc giả là những sự kiện, vấn đề y tế diễn ra không chỉ trên địa bàn Hà Nội mà còn trong phạm vi cả nước, trong khu vực và trên thế giới; về các biện pháp dự phòng bệnh tật, thực hành lối sống lành mạnh, góp phần nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân Về hình thức đưa tin, các bài báo cũng đã chú ý đến hình thức, trình bày ngày càng mang phong cách hiện đại, từ việc giật tít,
vị trí bài viết, ngôn từ sao cho hấp dẫn độc giả Từ đó, nghiên cứu khẳng định thành công của các tờ báo trên trong việc truyền thông về vấn đề sức khỏe, bên cạnh đó nêu ra những hạn chế cần khắc phục để vượt qua thử thách, góp phần bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho cộng đồng [30]
Ngoài những nghiên cứu về truyền thông giáo dục sức khỏe nói chung,
đã có nhiều nhà nghiên cứu phân tích về truyền thông phòng chống dịch bệnh
nói riêng Đề tài nghiên cứu “Báo chí Hà Nội truyền thông phòng, chống
dịch bệnh hiện nay” thực hiện năm 2016 của tác giả Nguyễn Thị Lan Anh
cũng đã đưa ra những đánh giá về công tác truyền thông phòng chống dịch bệnh trên báo Hà Nội mới và Đài PT- TH Hà Nội Kết quả nghiên cứu cho thấy: hai kênh truyền thông này đã chủ động xây dựng kế hoạch truyền thông
Trang 16về phòng chống dịch bệnh; Số lượng tin bài lớn và với tần suất lớn và 64% công chúng nhận thấy tác phẩm truyền thông bổ ích, đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng Qua đó thấy được công tác truyền thông phòng chống dịch bệnh đã thu hút và đáp ứng phần nào sự quan tâm của công chúng, nâng cao nhận thức và hành vi của cộng đồng trong phòng chống dịch bệnh [1]
Luận văn “Thông tin y tế - sức khỏe trên báo in hiện nay” của tác giả
Nguyễn Thị Thanh Hoà ngoài việc trình bày nội dung thông tin sức khỏe trên báo chí, cũng đã đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng thông tin sức khỏe trên báo chí như sau: Đối với cấp quản lý, cần làm cho người dân hiểu
rõ những chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân Đối với các toà soạn báo in, cần tăng cường đào tạo các biên tập viên tốt về chuyên môn, có kiến thức y học, linh hoạt để đưa nội dung chuyên sâu của y tế thành vấn đề gần gũi, dễ tiếp thu đối với người đọc Các đơn vị báo chí cần có sự kiểm soát chặc chẽ về nội dung, tránh để những bài viết chưa khách quan được đăng tải Bên cạnh đó, các chuyên mục kết nối giữa bạn đọc và báo chí cần khai thác hiệu quả hơn để vừa tận dụng được kiến thức, vừa tránh đưa ra thông tin một chiều [8]
Cũng tiếp cận theo hướng nghiên cứu này, luận văn “Thông tin sức
khỏe trên báo chí Việt Nam hiện nay - Vấn đề và thảo luận” của tác giả Bùi
Thị Thu Thuỷ năm 2010 lại tập trung vào việc phân tích hệ thống lý luận về
lý thuyết kênh, chương trình truyền thông đối với vấn đề thông tin sức khỏe Tuy nhiên, tác giả Bùi Thị Thu Thuỷ mới dừng lại ở việc khảo sát nội dung thông tin trên O2TV và báo Sức khỏe và đời sống trong năm 2009, chưa có đề tài đề cập đến vấn đề sức khỏe phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm [29]
Nghiên cứu “Báo chí với hoạt động truyền thông phòng chống dịch
cúm A (H5N1 Và H1N1) ở người” tác giả Trần Thị Tuyết Vinh đi sâu nghiên
cứu thực trạng báo chí truyền thông về phòng, chống dịch cúm A/H5N1 ở người trong giai đoạn từ năm 2005 đến 2010, đã rút ra những kinh nghiệm,
Trang 17giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông công tác phòng, chống loại dịch bệnh này Theo đó, về mặt nội dung, tác giả đã đưa ra những khái niệm chung
về dịch cúm A/H5N1, H1N1 và vai trò của báo chí trong công tác phòng, chống dịch bệnh nói chung và dịch cúm A/H5N1, H1N1 nói riêng Để có được kết quả nghiên cứu nói trên, tác giả đã sưu tầm, tìm hiểu các tác phẩm báo chí có về vấn đề dịch cúm A/H5N1, H1N1 ở người trên báo Tuổi trẻ TP.HCM, báo Sức khỏe và Đời sống, VTV Đài truyền hình Việt Nam (kênh 02TV) từ năm 2005 đến năm 2010; điều tra công chúng; phỏng vấn sâu lãnh đạo, phóng viên chuyên theo dõi về dịch cúm nói trên; đánh giá, nhận xét về nội dung, hình thức phản ánh về dịch cúm A/H5N1, H1N1 trên các loại hình báo chí này Có thể thấy đây là một đề tài giúp gợi mở cả về lý luận cũng như phương pháp nghiên cứu cho luận văn [35]
Các nghiên cứu nêu trên cung cấp cho tác giả cái nhìn toàn diện nhưng
rõ nét vai trò quan trọng của các phương tiện truyền thông trong công tác truyền thông về giáo dục sức khỏe nói chung và truyền thông phòng chống dịch bệnh của Việt Nam nói riêng Mặc dù nội dung chưa đề cập đến dịch bệnh Covid-19 nhưng những đề tài trên đã góp phần củng cố thêm về tính cấp thiết của việc nghiên cứu truyền thông dịch bệnh cũng như định hướng phương pháp phân tích tài liệu cho tác giả trong quá trình thực hiện luận văn của mình
2.1.2 Các nghiên cứu về truyền thông thông điệp trên báo mạng điện tử
Báo chí được biết đến như một kênh truyền thông có sức tác động mạnh mẽ, liên tục và không ngừng nghỉ đối với đời sống tinh thần của công chúng Càng vận động phát triển, báo chí càng thể hiện sức mạnh của mình trong việc đáp ứng nhu cầu của công chúng Cùng với đó các nghiên cứu về thông điệp trên báo mạng điện tử ngày càng nhiều và đa dạng về nội dung thông điệp Ở đây tác giả xoay quanh hai chủ đề chính: Thông điệp về giới và thông điệp về biến đổi khí hậu
Trang 18Với thông điệp về giới, nghiên cứu “Hình ảnh người đồng tính trên
báo mạng và báo in” được khoa Xã hội học, Học viện Báo chí và Tuyên
truyền thực hiện năm 2008 trên một số báo in và báo mạng Kết quả chỉ ra số bài báo về người đồng tính theo thời gian tăng dần, đồng tính thường xuất hiện như một nội dung phụ trong bài biết Nội dung về đồng tính thường chỉ dừng lại ở việc gây chú ý trong các bài viết về đời riêng của người nổi tiếng hoặc các tít giật gân trong các vấn đề liên quan tới hình sự Chân dung họ trong vị trí như vậy có xu hướng gây hiểu lầm, sai lệch Công trình cũng đưa
ra tỷ lệ bài viết có sự kỳ thị với người đồng tính tương đối cao, tuy nhiên, mức độ kỳ thị thay đổi theo năm tháng Thái độ kì thị giảm dần và thái độ trung lập tăng lên [9]
Cùng chủ đề thông điệp về giới, bài viết “Định kiến giới trên một số
báo in và báo mạng điện tử ở Việt Nam” của nhóm tác giả TS Nguyễn Thị
Tuyết Minh và Ths Phạm Thị Thuỳ Linh đăng trên tạp chí lý luận và truyền thông tháng 10 năm 2020 đã khẳng định tồn tại định kiến giới trong nội dung
và hình thức của các thông điệp truyền thông Về nội dung đó là sự đánh giá một chiều, tiêu cực, gây áp lực giới về hình ảnh nam, nữ trên các phương diện: ngoại hình, nghề nghiệp, tính cách, vị trí, vai trò Về hình thức là cách thức xây dựng và phản ánh hình ảnh nam và nữ trong các thông điệp truyền thông trên báo mạng điện tử thể hiện qua các yếu tố: tần suất, vị trí xuất hiện trong thông điệp, ngôn ngữ, v.v Thông điệp mà các bài báo đưa ra đã duy trì khuôn mẫu giới, thể hiện ở việc phản ánh vai trò của mỗi giới Các bài báo đóng khung phụ nữ trong “vai trò kép” - giỏi việc nước nhưng vẫn phải đảm việc nhà Những bài viết ẩn chưa thông điệp về người phụ nữ chuẩn mực như thế này xuất hiện nhiều trên báo chí đã tạo nên áp lực không hề nhỏ cho những người phụ nữ Việt Nam Nội dung thông điệp của 3.531 tin/bài từ các ấn phẩm nhật báo đối với báo Tiền Phong, báo Phụ nữ và báo mạng điện tử Dân trí được phân tích bằng kỹ thuật phân tích định lượng và định tính [12]
Trang 19Bên cạnh thông điệp về giới thì biến đổi khí hậu cũng là nội dung được
các nhà nghiên cứu tập trung phân tích Trong luận văn “Thông tin về hậu
quả của biến đổi khí hậu trên báo điện tử Việt Nam” của Lê Huy Phúc, tác
giả đã phân tích, đánh giá và làm sáng tỏ thông tin về biến đổi khí hậu được đăng tải trên 3 báo (vnexpress.net, dantri.com, vtv.vn) [14] Nghiên cứu trên đưa ra những hạn chế và thành công của báo điện tử, từ đó đưa giải pháp, kiến nghị giúp nâng cao chất lượng thông tin về hậu quả của biến đổi khí hậu trên
báo điện tử Ngoài ra, năm 2015, với nghiên cứu “Báo mạng điện tử với vấn
đề biến đổi khí hậu tại Việt Nam hiện nay”, tác giả Nguyễn Thị Huyền
Trang hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề thông tin về biến đổi khí hậu trên báo mạng điện tử [32] Đề tài chủ yếu phân tích, đánh giá tần suất, mức độ quan tâm của người đọc; nội dung cũng như hình thức, phương thức thông tin về BĐKH Cuối cùng là đánh giá việc đưa tin về BĐKH trên BMĐT, chỉ ra thành công, hạn chế và nguyên nhân của nó Công trình đưa các phương án giúp nâng cao hiệu quả đưa tin về BĐKH trên BMĐT Tiếp
tục đến năm 2017, đề tài khoa học cấp sinh viên “Thông điệp hình ảnh về
môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay” do Lê Thị Thu Quỳnh (Chủ nhiệm) đã mô tả thực trạng, phân
tích được thông điệp hình ảnh về vấn đề môi trường và chống biến đổi khí hậu trên báo mạng điện tử, rút ra bài học kinh nghiệm cho những người làm báo nói chung đặc biệt là báo ảnh nói riêng về nguyên tắc tổ chức và sáng tạo thông điệp bằng ảnh gắn với vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu
Như vậy, có thể thấy các nghiên cứu truyền thông mà đặc biệt là truyền thông thông điệp sức khỏe đã được thực hiện trên nhiều khoảng thời gian và lĩnh vực (y học, báo chí học, xã hội học, v.v.) khác nhau Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra vai trò của báo chí trong việc cung cấp thông tin về sức khỏe hoặc cách phòng, chống dịch bệnh cho người dân Đối tượng nghiên cứu của các đề tài nói trên khá đa dạng khi tiến hành khảo sát với công chúng và cả
Trang 20các bài báo Phương pháp nghiên cứu được kết hợp giữa phương pháp thu thập và xử lý thông tin định tính và định lượng Quá trình này diễn ra một cách logic, chặt chẽ nhằm đưa ra kết quả nghiên cứu có giá trị trong lý luận và thực tiễn Chính điều này đã giúp cho tác giả có thêm thông tin về khái niệm, các hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu khi nghiên cứu thông điệp trên báo mạng điện tử
2.2 Hướng nghiên cứu liên quan đến dịch Covid-19
Như đã đề cập trong những phần trước, dịch bệnh Covid-19 chỉ vừa bùng phát từ cuối năm 2019, vì vậy cho đến thời điểm này có rất ít các nghiên cứu, báo cáo liên quan đến COVID-19 được công bố tại Việt Nam Những nghiên cứu, báo cáo được thực hiện trong thời gian vừa qua chủ yếu đề cập đến ảnh hưởng của COVID-19 đến nền kinh tế và các nhóm xã hội dễ chịu tổn thương là trẻ em, phụ nữ và người khuyết tật
“Đánh giá nhanh tác động của đại dịch COVID-19 tới doanh nghiệp
và người lao động trong một số ngành kinh tế chính: Ứng phó, điều chỉnh
và khả năng phục hồi” do TS Đỗ Quỳnh Chi, Trung tâm nghiên cứu Quan
hệ Lao động (ERC), thực hiện theo hợp đồng với Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Viẹt Nam [2] Mục đích của đánh giá này là phân tích các tác động của đại dịch Covid-19 đến doanh nghiệp và người lao động Nghiên cứu đưa
ra nhiều phát hiện có giá trị về tác động mạnh mẽ của dịch bệnh Covid-19 đến nền kinh tế Trong đó ba cú sốc kinh tế do đại dịch Covid-19 gây ra có ảnh hướng lớn tới doanh nghiệp và người lao động Việt Nam đó là: ¼ doanh nghiệp tham gia khảo sát đã phá sản hoặc tạm ngừng kinh doanh; khoảng 2/3 doanh nghiệp đã áp dụng các biện pháp cắt giảm chi phí lao động như cho người lao động nghỉ việc không lương hoặc giảm giờ làm; hơn một nửa số doanh nghiệp lo ngại sẽ phải đóng cửa nếu cuộc khủng hoảng kéo dài thêm 3 tháng Ngoài ra, nghiên cứu đã đề xuất một số khuyến nghị nhằm giảm thiểu tối đa tác động của đại dịch Covid-19 đến doanh nghiệp và người lao động [2]
Trang 21Công trình nghiên cứu về tác động của COVID-19 đến kinh tế được thực hiện bởi trường Đại học Kinh tế Quốc dân phối hợp cùng cơ quan đại
diện JICA tại Việt Nam: “Đánh giá tác động của COVID-19 đến nền kinh tế
và các khuyến nghị chính sách” vào tháng 3 năm 2020 Nội dung báo cáo đã
làm rõ bối cảnh của COVID-19, qua đó là những phân tích đánh giá tác động
cụ thể của COVID-19 đến tổng thể nền kinh tế, các ngành sản xuất và các doanh nghiệp ở Việt Nam với nhận định: Nếu đại dịch kéo dài thì ảnh hưởng đến nền kinh tế rất nghiêm trọng Đến hết tháng 4/2020, có 49,2% doanh nghiệp vẫn duy trì được hoạt động; 31,9% cắt giảm qui mô sản xuất; 18,1% tạm dừng hoạt động; và 0,8% có khả năng phá sản Nếu đến hết tháng 6, tháng 9 hoặc hết năm tỷ lệ phá sản sẽ là 6,1%, 19,3% và 39,3% Một khía cạnh khác, mà báo cáo đề cập chính là đánh giá các tác động và hiệu quả của những chính sách mà Chính phủ đã ban hành để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân khắc phục hậu quả và tiêu cực của COVID-19 Từ đó, làm tiền đề để đưa
ra những định hướng, khuyến nghị chính sách trong ngắn hạn và khuyến nghị chính sách dài hạn [3]
Tiếp theo là nghiên cứu “Tác động của dịch Covid-19 đến kinh tế xã
hội TP HCM và đề xuất một số chính sách thúc đẩy đà tăng trưởng cho năm 2020” của Hồ Thiện Thông Minh và Nguyễn Hoàng Tiến (Đại học Quốc
tế Sài Gòn) cũng đánh giá về tác động của dịch bệnh tới kinh tế nhưng ở phạm vi phân tích cụ thể hơn là ở TP.HCM Theo đó, tác giả đánh giá bối cảnh của nền kinh tế ở thế giới, Việt Nam và ở TP.HCM, sau đó tiếp tục đưa
ra những kịch bản, dự báo kinh tế từ đây nêu lên những hướng đánh giá chi tiết tác động chính của dịch Covid-19 đến tình hình kinh tế - xã hội của TP HCM và thảo luận những biện pháp chính sách đặc thù nhằm duy trì đà tăng trưởng kinh tế bền vững cho năm 2020 của thành phố [11]
Qua các tài liệu trên, có thể thấy được sự tương đồng của các nghiên cứu, báo cáo về tác động của COVID-19 đến kinh tế đó là những tác động rất
Trang 22mạnh, được đánh giá, nhận định từ tình hình thực tế nền kinh tế trên thế giới
và tại Việt Nam Theo đó, khi dịch bệnh không được đẩy lùi thì kinh tế sẽ không thể tăng trưởng nên việc phòng chống và đẩy lùi dịch bệnh được coi là giải pháp được đặt lên hàng đầu Ngoài ra ở những nghiên cứu này khía cạnh chính sách của Nhà nước đặc biệt là các chính sách kinh tế rất được quan tâm
vì nó được coi là giải pháp toàn diện nhất để đầy lùi dịch bệnh và tạo điều kiện ổn định và phát triển kinh tế ở thời điểm khó khăn này
Ngoài phân tích ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến kinh tế Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đã tiếp cận tác động đến đời sống kinh tế- xã hội của các nhóm yếu thế thế bao gồm gia đình nghèo, trẻ em, phụ nữ và người khuyết tật Đây là hướng nghiên cứu mang tính xã hội cao hơn và sẽ rất cần thêm các nghiên cứu theo hướng tiếp cận này, đặc biệt là những nghiên cứu
xã hội học
Các nghiên cứu, báo cáo, đánh giá gồm: “Đánh giá nhanh tác động
kinh tế và xã hội của đại dịch COVID-19 đối với trẻ em và gia đình tại Việt Nam” là đánh giá nằm trong chương trình hỗ trợ toàn diện của UNICEF Việt
Nam đối với Chính phủ Việt Nam trong việc cung cấp thông tin và bằng chứng cho công tác hoạch định chính sách ứng phó với đại dịch COVID-19 được công bố tháng 8 năm 2020 Kết quả của đánh giá được thể hiện với rất nhiều các phát hiện chính xoay quanh đối tượng nghiên cứu chính là gia đình
và đặc biệt là trẻ em trong bối cảnh COVID-19 tại Việt Nam bao gồm các lĩnh vực: Kinh tế, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng, sức khỏe tinh thần và tâm lý, vệ sinh, hoạt động xã hội, sự kỳ thị, bạo lực, giáo dục, bảo trợ xã hội, vai trò giới và hỗ trợ của cộng đồng xã hội Qua đó, nhận định rằng COVID-
19 đã có tác động cả tích cực lẫn tiêu cực lên đời sống của trẻ em và gia đình thông qua nhiều phương diện kinh tế- xã hội khác nhau Và trẻ em trở nên dễ
bị tổn thương, nhất là trẻ em ở nông thôn, gia đình nhập cư, gia đình nghèo ở
đô thị, dân tộc thiểu số và trẻ em khuyết tật Dịch bệnh ảnh hưởng một cách toàn diện đến chất lượng và các dịch vụ xã hội, cũng như kéo theo các hệ lụy
Trang 23khác khi trẻ em không được đi học, không được tiêm phòng và không được cung cấp dinh dưỡng đầy đủ, nguy cơ bạo lực và các vấn đề liên quan đếm tâm lý, tâm thần, v.v [34]
Cùng hướng đánh giá này, còn có “Báo cáo đánh giá nhanh về tác
động kinh tế- xã hội của đại dịch COVID-19 đối với người khuyết tật tại Việt Nam” thực hiện và công bố bởi UNDP Việt Nam vào tháng 5 năm 2020
Báo cáo này đưa ra những phát hiện chính về những khó khăn của người khuyết tật trong đại dịch: 70% người khuyết tật trả lời rằng có khó khăn trong tiếp cận chăm sóc y tế như khám bệnh, thuốc chữa bệnh, dụng cụ trợ giúp phục hồi chức năng; 25% khó khăn trong có được khẩu trang và dung dịch sát khuẩn tay; 22% chịu ảnh hưởng từ bệnh nền có sẵn, v.v và rất nhiều người khuyết tật thuộc vào nhóm nghèo nhất trong xã hội, cũng như gặp phải tình trạng thất nghiệp, bị giảm thu nhập, không được đảm bảo sự hòa nhập xã hội, v.v Cả hai báo cáo đánh giá trên đều là những đánh giá mới được thực hiện trong năm 2020 với mục đích phát hiện những tác động từ dịch bệnh đến những nhóm yếu thế trong xã hội [33]
Trong lĩnh vực xã hội học thì gần đây, một số cơ quan nghiên cứu và cá nhân đã triển khai những khảo sát về nhận thức, thái độ, hành vi của người dân về dịch COVID-19 cũng như những tác động về mặt kinh tế-xã hội của dịch đến người dân, tuy nhiên cho đến nay các kết quả này chưa được công bố
Tóm lại mặc dù các hướng nghiên cứu trên đã giúp đề tài có cái nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu, tiếp thu được nhiều kết quả có ý nghĩa nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể khía cạnh truyền thông về dịch COVID-19 trên báo mạng điện tử Vì vậy đề tài của tác giả hướng đến khám khá hai vấn đề sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu thông điệp Covid-19 trên báo mạng điện tử, bao gồm hệ thống các khái niệm, lý thuyết truyền thông cũng như các văn bản của Đảng và Nhà nước liên quan đến phòng, chống dịch Covid-19
Trang 24- Mô tả, phân tích thực trạng truyền thông đưa tin về Covid-19 của 02 trang báo điện tử Dantri.com và Suckhoevadoisong.com.vn thông qua phân tích nội dung và hình thức của bài báo Về nội dung là sự phản ánh thông tin
về dịch bệnh Covid-19 trên các bài báo Về hình thức là cách thức xây dựng
và phản ánh thông tin về dịch Covid-19 trong các thông điệp truyền thông trên báo mạng điện tử thể hiện qua các yếu tố: tần suất đề cập, hình ảnh sử dụng, ngôn ngữ viết, v.v Từ đó thấy được hiệu quả, hạn chế còn tồn tại trong quá trình truyền thông về dịch Covid-19 trên các trang báo này
Nhận thấy đây là một nghiên cứu mang tính cấp thiết, chưa được nghiên cứu nhiều và có khả năng đem lại nhiều ý nghĩa thực tiễn nên tác giả
quyết định chọn đề tài: Thực trạng đưa tin về dịch bệnh viêm đường hô hấp
cấp (Covid-19) trên báo điện tử hiện nay” (Nghiên cứu trên báo Dantri.com
và Suckhoedoisong.vn) làm luận văn thạc sĩ của mình Tôi mong muốn đề tài
có thể bổ cứu cho những vấn đề lý luận đã có và góp phần nâng cao hiệu quả quá trình truyền thông dịch bệnh Covid-19 trên báo mạng điện tử hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu hướng tới mục đích khảo sát thực trạng truyền thông về dịch bệnh Covid-19 trên báo điện tử hiện nay thông qua việc phân tích các tin bài 02 tờ báo điện tử là Dân trí và Sức khỏe & Đời sống Từ đó luận văn đề xuất một số khuyến nghị chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác truyền thông về dịch bệnh Covid-19 trên báo mạng điện tử
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xây dựng khung phân tích cho đề tài nghiên cứu
- Xác định cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
- Khảo sát các bài báo được đăng tải trên 02 tờ báo điện tử là Dân trí và Sức khỏe & Đời sống trong năm 2020 để làm rõ thực trạng đưa tin về dịch bệnh Covid-19, phân tích vấn đề nảy sinh nếu có từ góc độ tiếp cận xã hội học
Trang 25- Đưa ra các khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng nội dung tin bài, góp phần vào việc quản lý đưa tin của 02 tờ báo điện tử là Dân trí và Sức khỏe & Đời sống về vấn đề dịch bệnh trong tình hình hiện nay
4 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài đi sâu tìm hiểu thực trạng đưa tin về dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp (Covid-19) trên 02 tờ báo điện tử là Dân trí và Sức khỏe & Đời sống
Các lý thuyết áp dụng: Lý thuyết truyền thông hai chiều, lý thuyết chức năng, lý thuyết thuyết phục
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đảm bảo tính logic và chính xác, nghiên cứu được thực hiện phương pháp phân tích tài liệu theo hướng định lượng và định tính để mã hóa và xử lý thông tin được trình bày trong các bài báo đưa tin về dịch bệnh Covid-19 trên báo điện tử
5.2.1 Phương pháp định tính:
Trang 26Đọc 20 bài báo làm định hướng xây dựng bảng mã, sau đó mã thử 20 bài và chỉnh sửa, hoàn thiện bảng mã
Sử dụng phương pháp phân tích tài liệu: Cụ thể là phân tích bài báo đưa tin về dịch Covid-19 được đăng trên báo mạng Dân trí và Sức khỏe & đời sống trên các tiêu chí sau:
- Ngôn ngữ sử dụng trong tin bài, cách gọi tên dịch bệnh Covid-19 của 02
tờ báo mạng điện tử, cách sử dụng các từ ngữ khoa học khi đưa tin về dịch bệnh, các từ ngữ nhà báo dùng để mô tả dịch bệnh Covid-19 (diễn ngôn báo chí)
- Sự phù hợp trong phân bố độ dài của các đoạn văn trong một bài báo khi đưa tin về Covid-19 để đảm bảo về mặt hình thức cho tin bài
- Cách sử dụng hình ảnh/video clip của các nhà báo thể hiện ở việc lựa chọn các hình ảnh có nội dung liên quan đến nội dung của văn bản, tránh việc
sử dụng các hình ảnh có tính chất minh hoạ, không gần gũi với chủ đề bài báo
Từ đó đánh giá được mức độ truyền tải nội dung, tinh thần của bài viết thông qua các hình ảnh
- Đánh giá số lượng hình ảnh/video clip, vị trí hình ảnh/video được sử dụng trong bài báo đưa tin về dịch bệnh Covid-19
5.2.2 Phương pháp phân tích nội dung định lượng văn bản:
Sử dụng bảng mã truyền thông: Nhằm giúp đề tài mô tả, lượng hóa và làm rõ thực trạng đưa tin về dịch bệnh Covid-19 hiện nay trên báo điện tử Dân trí và Sức khỏe & đời sống Phân tích những nội dung mà tác giả bài viết đăng tải và hình thức của các tin bài, qua đó có một cái nhìn tổng quan về vấn
đề thông qua số liệu thu được sau khi xử lý bằng phần mềm SPSS
5.3 Phương pháp chọn mẫu
Nghiên cứu khảo sát các bài báo được đăng tải trên báo Dân trí (dantri.com.vn) và Sức khỏe & đời sống (Suckhoedoisong.vn) từ 1/1/2020 đến 31/12/2020 Trong đó, Dân trí là báo mạng điện tử đại chúng nổi tiếng và
có lượng truy cập hàng đầu ở Việt Nam hiện nay Vào tháng 8 năm 2020, báo Dân trí chính thức sáp nhập vào Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và do
Trang 27cơ quan này quản lý, kiểm soát việc đăng tin Sức khỏe & đời sống là cơ quan ngôn luận chính thức của Bộ Y tế- cơ quan quản lý trực tiếp các vấn đề liên quan đến dịch bệnh Covid-19 Như vậy, ở tại thời điểm thực hiện khảo sát, 02 báo điện tử nói trên đều là các báo điện tử chính thống
Quy trình chọn mẫu được tiến hành theo các bước sau:
* Bước 1: Thu thập tất cả các bài báo có đề cập đến dịch bệnh Covid-19
Ở bước này, yêu cầu đặt ra là tìm tất cả các bài báo có đề cập đến dịch bệnh Covid-19 trên báo Dantri.com.vn và Suckhoedoisong.vn từ ngày 1/1/2020 đến 31/12/2020 Tất cả các bài báo có nội dung về Covid-19 trên trang Dantri.com.vn được trang báo tổng hợp trong chuyên đề “Đại dịch Covid-19” Trong khi đó các bài báo đề cập đến dịch bệnh Covid-19 được đăng trên trang Suckhoedoisong.vn được tổng hợp trong 03 chuyên đề: “Tiêm chủng an toàn vắc-xin phòng Covid-19”; “Xét nghiệm Covid-19”; “COVID-19: Bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus corona”
Nếu lọc tất cả các bài báo với từ khóa “Covid-19”, “nCovi”, “dịch bệnh Covid-19”, v.v sẽ mất khá nhiều thời gian và có thể bỏ sót các bài báo đạt yêu cầu Vì thế, tác giả đã tìm kiếm các bài báo đó bằng cách sử dụng nền tảng React và ngôn ngữ Javascript để tiến hành viết dòng lệnh tự tạo để bóc tách dữ liệu từ các trang nguồn của các chuyên đề nêu trên Kết quả thu được
là File Excel đuôi xlxs chứa đường dẫn các bài báo đã lọc theo yêu cầu trên với các trường: Ngày đăng tải, tiêu đề, đường dẫn Kết quả các bài báo được sắp xếp theo thứ tự ngày đăng tải Như vậy sau khi lọc báo, tác giả thu được danh sách tổng số 8025 mẫu đã được đánh số thứ tự và sắp xếp theo ngày đăng từ cũ nhất đến mới nhất
* Bước 2: Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống để lấy ra 300 bài báo
Trong quy mô của nghiên cứu này, tác giả chọn cỡ mẫu là n=300 Với N= 8025, từ công thức chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống k=N/n, tính được bước nhảy k=27 Tác giả sử dụng trang web random.org để chọn ngẫu nhiên 1 chữ
số từ 1 đến 8025, sau đó chọn lần lượt cho đến khi đủ 300 mẫu Từ đó sẽ chọn
Trang 28được chính xác những bài báo để mã hóa thông tin đại diện phục vụ cho quá trình phân tích kết quả nghiên cứu
Trong quá trình phân tích, tác giả sẽ bỏ qua các bài báo trùng nhau hoàn toàn của mẫu nghiên cứu Tuy nhiên, nếu các bài báo trùng nội dung hay tiêu đề nhưng có sự khác nhau về cách phân tích hoặc cách thể hiện trong bài thì vẫn tiếp tục được chọn trong mẫu nghiên cứu Tuy nhiên, việc lấy 300 bài trong tổng số hơn 8000 bài có thể coi là hạn chế của nghiên cứu này Cho nên những phát hiện chính của nghiên cứu này không đề cập nhiều đến tính đại diện cho tổng thể nghiên cứu
5.4 Phương pháp thu thập thông tin
Bước 1: Tiến hành lập danh sách mẫu
Bước 2: Sau khi đã có danh sách mẫu, tác giả tiến hành mã hóa thử mỗi báo 5 bài Tiếp đó chỉnh sửa, bảng mã để phù hợp với quá trình phân tích Tiếp tục sử dụng bảng mã đã sửa tiếp lần 2 với 5 bài mỗi báo Cuối cùng là hoàn thiện bảng mã
Bước 3: Lập form nhập thông tin trên phần mềm SPSS Dữ liệu sau khi nhập vào phần mềm SPSS sẽ được làm sạch và xử lý
6 Khung lý thuyết
Trang 297 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu
7.1 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài hướng đến trả lời các câu hỏi sau đây:
- Những nội dung nào được được chú trọng khi đưa thông tin về dịch bệnh Covid-19 trên 02 tờ báo mạng điện tử Dân trí (Dantri.com.vn) và Sức khỏe & đời sống (Suckhoedoisong.vn)?
- Báo mạng điện tử có hình thức đăng bài đề cập đến dịch bệnh
Covid-19 như thế nào?
7.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Các bài báo, tin bài về dịch bệnh Covid-19 trên 02 tờ báo mạng điện tử chỉ tập trung cập nhật thông tin về các ca bệnh nhiễm Covid-19 trên thế giới và tại Việt Nam mà chưa chú trọng đưa tin về phương pháp phòng, chống dịch
- Báo Suckhoedoisong.vn có tỷ lệ bài báo viết về các biện pháp phòng tránh dịch bệnh cao hơn so với Dantri.com.vn
- Trong quá trình đưa tin, hình ảnh đội ngũ y bác sĩ được báo Suckhoedoisong.vn sử dụng nhiều hơn so với Dantri.com.vn
8 Đóng góp mới của đề tài
Đề tài góp phần bổ sung những thông tin hữu ích trong khoảng trống nghiên cứu truyền thông về Covid-19 hiện nay
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, nghiên cứu xã hội học và báo chí, truyền thông và đặc biệt làm cơ sở khoa học cho các nhà quản lý truyền thông, những người hoạt động trong lĩnh vực truyền thông về Covid-19 đưa thông tin và lựa chọn thông điệp để đạt hiệu quả truyền thông cao nhất
9 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
9.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận về thực trạng truyền thông về dịch bệnh Covid-19 trên báo mạng điện tử hiện nay Từ đó bổ sung
Trang 30thêm cơ sở khoa học cho việc phân tích thông điệp trên báo chí, truyền thông
9.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đây là một đề tài đáp ứng được tính cập nhật thời sự nhằm nghiên cứu
về việc đưa tin về dich bệnh Covid-19 trên báo mạng điện tử được tiếp cận dưới góc độ xã hội học, cho đến nay vấn đề này vẫn được rất ít người nghiên cứu Đề tài góp phần đánh giá vai trò của nhà báo cũng như cơ quan truyền thông trong việc truyền tải thông tin tới công chúng qua báo mạng điện tử
Kết quả nghiên cứu có thể được vận dụng trong công tác quản lý, truyền thông về Covid-19 Lãnh đạo các tờ báo mạng điện tử có thể sử dụng
dữ liệu này làm cơ sở để ban hành các quy định trong việc đưa tin về dịch bệnh Covid-19 nhằm đáp ứng hiệu quả nhu cầu nắm bắt thông tin của công chúng
Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý và sử dụng cho nghiên cứu, giảng dạy những vấn đề có liên quan đến truyền thông nói chung, truyền thông sức khỏe nói riêng
Trang 31Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Một số khái niệm đặt cơ sở nghiên cứu
Luận văn tập trung mô tả thực trạng đưa tin về dịch bệnh Covid- 19,
“đưa tin” là một từ ngữ đậm chất báo chí, được sử dụng nhằm để chỉ hoạt động đăng bài của các nhà báo, tuy nhiên đây lại không được coi là một thuật ngữ khoa học Trong phạm vi nghiên cứu này, bản chất của “đưa tin” là truyền tải tin tức, truyền thông tin tức Vì vậy, tác giả sẽ tiến hành giải thích các khái niệm truyền thông, truyền thông đại chúng, thông điệp và một số khái niệm khác như: báo điện tử, dịch bệnh Covid-19
1.1.1 Khái niệm truyền thông
Thuật ngữ truyền thông có nguồn gốc từ tiếng Latinh “Commune” có nghĩa là chung hay cộng đồng Nội hàm của nó là nội dung, cách thức, con đường, phương tiện để đạt đến sự hiểu biết lẫn nhau, giữa cá nhân với cá nhân,
cá nhân với cộng đồng, xã hội Nhờ truyền thông giao tiếp mà con người tự nhiên trở thành con người xã hội Truyền thông từ tiếng Anh: Communication có nghĩa là sự truyền đạt, thông tin, thông báo, giao tiếp, trao đổi, liên lạc, giao thông, v.v [6]
Một số nhà khoa học trên thế giới đã định nghĩa về truyền thông như sau: Theo John R.Hober (1954), truyền thông là quá trình trao đổi tư duy hoặc ý tưởng bằng lời Quan niệm này đúng nhưng chưa đầy đủ Bởi vì, truyền thông không chỉ trao đổi tư duy, ý tưởng bằng lời mà còn bằng nhiều phương tiện ký hiệu và phương thức biểu hiện khác như cử chỉ, thái độ, hành
vi, ánh mắt, v.v
Theo Gerald Miler (1966), về cơ bản, truyền thông quan tâm nhất đến tình huống hành vi, trong đó nguồn thông tin truyền nội dung đến người nhận với mục đích tác động đến hành vi của họ Quan niệm này thực chất là thiên
về loại hình truyền thông thay đổi hành vi Chẳng hạn, truyền thông về sinh
đẻ có kế hoạch Tất nhiên, truyền thông thay đổi được hành vi là một trong
Trang 32những loại hình truyền thông quan trọng nhất, hay thực dụng nhất, nhưng đó không phải là tất cả [5]
Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu trong nước cũng đã đưa ra quan điểm của mình về truyền thông:
PGS.TS Tạ Ngọc Tấn trong cuốn “Truyền thông đại chúng” đã đưa ra khái niệm “Truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay nhóm người nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau” [18]
Các tác giả trong cuốn “Truyền thông-lý thuyết và kỹ năng cơ bản” đã đưa ra khái niệm “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, v.v chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, của cộng đồng và xã hội” [5]
Các tác giả Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí truyền thông cho rằng: “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi và chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dân trí sự thay đổi trong hành vi và nhận thức” [16]
Trong cuốn “Thông tin sức khỏe trên báo chí hiện nay” cuốn giáo trình nội bộ “Xã hội học về truyền thông đại chúng” cỉa PGS.TS Phạm Hương Trà (chủ nhiệm), các tác giả thống nhất cho rằng “Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng, nhằm tạo sự hiểu biết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành động và trong nhận thức” [31]
Ngoài ra có rất nhiều định nghĩa về truyền thông Mỗi định nghĩa chỉ ra những khía cạnh riêng và đều có tính hợp lý Vì vậy, bằng việc kế thừa cách định nghĩa của các nhà khoa học đi trước, thuật ngữ truyền thông trong đề tài
này được hiểu là: Truyền thông là một quá trình trao đổi thông tin của con người nhằm truyền đạt tri thức, tình cảm giữa hai hoặc nhiều người nhằm thay đổi nhận thức, hành vi của cá nhân, cộng đồng xã hội
Trang 33Từ định nghĩa trên có thể thấy bản chất của truyền thông như sau:
+ Thứ nhất, truyền thông là một quá trình - có nghĩa nó không phải là một việc làm nhất thời hay xảy ra trong một khuôn khổ thời gian hẹp, mà là một việc diễn ra trong một khoảng thời gian lớn Quá trình này mang tính liên tục, vì nó không thể kết thúc ngay sau khi ta chuyển tải nội dung cần thiết, mà
có tiếp diễn sau ra Đấy là quá trình trao đổi và chia sẻ, có nghĩa là ít nhất phải có hai thực thể và không chỉ có một bên cho và một bên nhận, mà cả hai bên đều cho và nhận
+ Thứ hai, truyền thông phải dẫn đến sự hiểu biết lẫn nhau, yếu tố này cực kỳ quan trọng đối với mục đích và hiệu quả của truyền thông Và cuối cùng, truyền thông phải đem lại sự thay đổi trong nhận thức và hành vi, nếu không mỗi việc làm sẽ trở nên vô nghĩa
* Cần hiểu và phân biệt rõ hai khái niệm truyền thông và tuyên truyền:
Sự giống nhau: Truyền thông và tuyên truyền là những khái niệm có những tương đồng và khác biệt cơ bản, đều hướng tới đạt được mục đích của chủ thể và được thiết lập, đều hướng tới thu phục công chúng – nhóm đối tượng nhất định
Sự khác nhau: Truyền thông là khái niệm rộng, được thực hiện thông qua phương thức tương tác bình đẳng, đề cao vai trò, vị trí và tính tích cực chủ động tham gia của công chúng (hay nhóm đối tượng truyền thông)
Tuyên truyền cũng là một dạng thức của truyền thông, cũng nhằm mục đích thu phục công chúng với mục tiêu đã định, nhưng chủ yếu là tuyên truyền một chiều, áp đặt, thậm chí nhấn mạnh đến mức tuyệt đối hóa vai trò chủ thể mà ít coi trọng vai trò tích cực của khách thể hay công chúng tham gia
1.1.2 Khái niệm truyền thông đại chúng
Xã hội ngày càng phát triển, càng tạo ra các điều kiện thuận lợi cho sự
mở rộng nhu cầu, quy mô, tăng cường tính đa dạng và hiệu quả của hoạt động truyền thông Ngày càng có nhiều người tham gia vào các giao tiếp xã hội
Trang 34Trong khi đó truyền thông trực tiếp giữa các cá nhân không thể đáp ứng được đầy đủ nhu cầu và đòi hỏi của xã hội Chính vì vậy, con người phải tìm đến những quá trình truyền thông ở quy mô lớn nhờ sự giúp đỡ của các phương tiện kỹ thuật thông tin Nói cách khác, các phương tiện thông tin đại chúng trở thành người điều khiển các quá trình giao tiếp mang tính xã hội rộng rãi
Truyền thông đại chúng (TTĐC) là quá trình truyền thông điệp/ thông tin đến công chúng thông qua phương tiện TTĐC (mass media)
TTĐC là một quá trình xã hội đặc thù bao gồm ba thành tố:
- Hoạt động truyền thông (Chẳng hạn như săn tin, quay phim, chụp hình, viết bài, biên tập, v.v và các phóng viên, biên tập viên, v.v.)
- Các nhà truyền thông (các tổ chức truyền thông như các tờ báo, đài phát thanh, đài truyền hình, v.v và các phóng viên, biên tập viên, v.v.)
- Công chúng (độc giả, khán giả, thính giả, người sử dụng internet), cái
mà thông thường được gọi là “TTĐC” là những thiết chế sử dụng những kỹ thuật phát triển ngày càng tinh vi của công nghiệp để phục vụ cho sự giao lưu
tư tưởng, những mục đích thông tin, giải thích và thuyết phục tới đông đảo khán thính giả bằng phương tiện báo chí, truyền thanh, truyền hình, sách, tạp chí, quảng cáo, hay bất cứ gì đó [31]
Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu khái niệm TTĐC như sau: TTĐC là quá trình giao tiếp xã hội, truyền tải và phổ biến thông tin xã hội đến số lượng công chúng lớn, phân tán về không gian, thời gian Quá trình này được thực hiện thông qua cơ chế trung gian như đài phát thanh, truyền hình, báo viết, các tạp chí, báo mạng điện tử…
1.1.3 Khái niệm thông điệp
Thông điệp chính là nội dung thông tin mà những người thực hiện chiến dịch truyền thông muốn truyền đạt tới công chúng Thông điệp phải rõ ràng, một nghĩa, phải quan tâm tới việc kích thích lợi ích
Nội dung thông điệp được hiểu là tất cả những gì xuất hiện trên một
Trang 35phương tiện TTĐC, từ các bài báo, tin tức hay hình ảnh in ấn trên báo chí cho tới âm thanh và hình ảnh được phát sóng trên đài phát thanh hay truyền hình
Thông qua các thông điệp, các sự kiện được tác động vào công chúng trực tiếp và từ đây hình thành dư luận theo nhóm nhỏ; sự tương tác giữa các nhóm nhỏ hình thành những đánh giá, nhận định, thái độ [31]
Trong luận văn này, nội dung thông điệp được phân tích chính là những
gì xuất hiện trong bài viết về dịch bệnh Covid-19 được đăng tải trên hai trang báo điện tử trong thời gian khảo sát
1.1.4 Khái niệm báo điện tử
Báo chí (jourmalism) theo quan điểm truyền thống, được coi là phương tiện truyền thống đại chúng truyền tải những thông tin thời sự có tính định kỳ đến với đông đảo công chúng Báo chí là một bộ phận của truyền thông đại chúng, nhưng là bộ phận chiếm vị trí trung tâm, vai trò nền tảng và có khả năng quyết định tính chất, khuynh hướng, chi phối năng lực và hiệu quả tác động của truyền thông đại chúng Vậy nên, nhiều trường hợp, có thể sử dụng báo chí để chỉ TTĐC và ngược lại, nói đến TTĐC - trước hết phải nói đến báo chí [1]
Báo mạng điện tử (gọi tắt là báo điện tử) là khái niệm thông dụng nhất
ở nước ta, được tác giả Nguyễn Thị Trường Giang định nghĩa: “BMĐT là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web, phát hành trên mạng Internet, có ưu thế truyền tải thông tin một cách nhanh chóng, tức thời, đa phương tiện và tương tác cao.” [7]
Theo Luật Báo chí số 103/2016/QH13 được Quốc Hội sửa đổi và ban
hành vào ngày 05 tháng 04 năm 2016, thuật ngữ báo điện tử là “loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử.” [10]
Đặc trưng của BMĐT là tin tức được cập nhật liên tục, tin ngắn và thông tin từ nhiều nguồn Báo mạng điện tử giúp người dân cập nhật tin tức
Trang 36nhanh chóng không phụ thuộc không gian, thời gian Ở Việt Nam có 2 mô hình báo mạng điện tử:
Một là, những tờ báo mạng điện tử có báo in, đài phát thanh, đài truyền hình tương ứng Theo mô hình này, tờ báo mạng điện tử chỉ là một ấn phẩm của cơ quan báo chí Phóng viên, biên tập viên là người lựa chọn, tổng hợp lại tin bài từ nhiều nguồn
Hai là, những tờ báo mạng điện tử chỉ phát hành trên mạng Những tờ báo mạng điện tử theo mô hình này có xu hướng chuyên nghiệp cao, mang tính độc lập, được tổ chức theo mô hình site mục lục và chuyên mục, kết hợp với các site bình luận, đưa ra các cây thư mục, các chuyên đề thông tin về mọi mặt của đời sống Nó cung cấp cho người đọc lượng thông tin lớn đã được viết, tập hợp, tuyển chọn, biên tập từ nhiều nguồn thông tin khác nhau Trong nghiên cứu này, tác giả lựa chọn nghiên cứu 2 hai báo mạng điện tử là báo Dân trí và báo SK&ĐS – lần lượt là cơ quan ngôn luận của Bộ Lao động thương binh & Xã hội và Bộ Y Tế
1.1.5 Khái niệm tin, phóng sự, sapo
- Khái niệm “tin”
Tin (tin tức) báo chí có thể hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất là những thông điệp về các sự kiện, hiện tượng trong đời sống hiện thực chứa đựng trong các sản phẩm báo chí (tờ báo, bản tin, chương trình phát thanh, truyền hình) Nghĩa thứ hai của thuật ngữ này là nói đến một thể loại tác phẩm báo chí [17]
Trong nghiên cứu này, chúng ta hiểu tin theo nghĩa thứ hai Theo nghĩa này, tin là một thể loại thông dụng nhất trong báo chí Nó phản ánh nhanh những sự kiện thời sự có ý nghĩa trong đời sống xã hội với ngôn ngữ cô đọng, ngắn gọn, trực tiếp và dễ hiểu
- Khái niệm “phóng sự”
Phóng sự là một thể loại ký, là trung gian giữa văn học và báo chí,
Trang 37phóng sự với thông tấn ở chỗ nó không chỉ đưa tin mà còn có nhiệm vụ dựng lại hiện trường cho mọi người quan sát, phán xét
- Khái niệm “SAPO”
Sapo là cách gọi phiên âm từ chapeau trong tiếng Pháp Đây là thuật ngữ được sử dụng thường xuyên nhất khi giới thiệu một đoạn văn, một bài báo
Trong tiếng Anh, sapo được gọi là lead hoặc intro Theo nghĩa đen, lead được hiểu là dẫn đầu, hướng dẫn Khi được sử dụng trong báo chí, nó cũng được coi là phần đầu của một bài báo và dẫn dắt người đọc vào bài báo
Trong sách Ngôn ngữ báo chí, PGS.TS Vũ Quang Hào đã nhận định:
Dù hiểu thế nào cũng phải thừa nhận sapo là cái thần của bài báo hoặc là được viết ra từ một vài câu nguyên văn trong bài báo hoặc câu có sức hấp dẫn
Trong nghiên cứu này, tác giả kế thừa nhận định của PGS.TS Vũ Quang Hào và định nghĩa sapo như sau:
Sapo là một đoạn văn bản hoàn chỉnh nằm dưới tiêu đề và trước phần chính văn bản có vai trò tóm tắt giới thiệu nội dung chính của bài viết, thu hút độc giả Sapo là một đoạn gồm một vài câu, dung lượng ngắn [13]
1.1.6 Khái niệm dịch bệnh và dịch bệnh Covid-19
- Khái niệm dịch bệnh
Theo luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm: Dịch là sự xuất hiện bệnh truyền nhiễm với một số người mắc bệnh vượt quá số người mắc bệnh dự tính bình thường trong một khoảng thời gian xác định ở một khu vực nhất định
Như vậy, có thể thấy dịch bệnh Covid-19 là một đại dịch mà cả thế giới phải đối mặt trong thời gian gần đây Và việc phòng, chống dịch bệnh Covid-
19 là ngăn ngừa các nguy cơ xuất hiện và lây lan của dịch bệnh nguy hiểm này trong cộng đồng dân cư để bảo vệ sức khỏe và mạng sống của người dân
- Khái niệm dịch bệnh Covid-19
Tên gọi vi rút Corona có nguồn gốc từ tiếng Latin, trong đó “corona”
Trang 38có nghĩa là “vương miện” hoặc “hào quang” Virus này có những chiếc gai bao bọc bên ngoài, chúng tương tác với thụ thể trên tế bào, theo cơ chế tương
tự chìa khóa và ổ khóa, từ đó cho phép virus xâm nhập vào bên trong
Vào ngày 11 tháng 2 năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới đã công bố tên gọi chính thức cho căn bệnh: bệnh vi-rút corona 2019, tên viết tắt là COVID-
19 'CO' là viết tắt của 'corona', 'VI' là 'vi-rút', và 'D' là bệnh Chủng vi-rút gây bệnh COVID-19, SARS-CoV-2 là vi-rút corona Từ corona có nghĩa là vương miện và liên quan đến hình dáng mà vi-rút corona có được do các protein hình gai nhọn nhô ra từ chúng
Tháng 2/2020, Ủy ban quốc tế về phân loại Virus – International Committee on Taxonomy of Viruses (ICTV) chính thức đặt tên cho chủng mới của vi-rút corona là Sars-CoV-2 Đây là tên gọi khác với tên Covid-19
mà WHO đã chỉ định trước đó
Virus Corona ban đầu được cho là một loại bệnh “viêm phổi lạ” hoặc
“viêm phổi không rõ nguyên nhân” khi bùng phát vào tháng 12/2019 ở Vũ Hán, Trung Quốc Sau đó không lâu, virus Corona đã nhanh chóng lan rộng ảnh hưởng tới mọi mặt lĩnh vực đời sống, kinh tế suy thoái chưa từng có
Vi-rút corona là họ vi-rút lớn lây nhiễm sang người và nhiều loài động vật, bao gồm lạc đà, gia súc, mèo và dơi Có nhiều loại vi-rút corona, trong đó
có loại gây cảm lạnh thông thường hoặc viêm phế quản cấp tính Các bệnh khác do vi-rút corona như Hội Chứng Hô Hấp Cấp Tính Nặng (SARS) và Hội Chứng Hô Hấp Trung Đông (MERS) là những căn bệnh cực kỳ nguy hiểm nhưng ít lây lan hơn nhiều so với bệnh cảm lạnh và COVID-19 Các nhà nghiên cứu Trung Quốc chỉ ra, trung bình một người bệnh nhiễm virus Corona sẽ lây truyền đến 5,5 người khác Covid-19 có khả năng lây truyền rất nhanh, nên nếu người dân không được cung cấp kiến thức liên quan, thế giới rất dễ xảy ra đại dịch
Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu và phân lập được một chủng
Trang 39corona virus mới, được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tạm thời gọi là nCoV có trình tự gen giống với Sars-CoV trước đây, với mức tương đồng lên tới 79,5% Người nhiễm 2019-nCoV có các triệu chứng: ho, sốt, khó thở, có thể diễn biến đến viêm phổi nặng, suy hô hấp cấp tiến triển và tử vong; đặc biệt ở những người lớn tuổi, người có bệnh mạn tính, suy giảm miễn dịch [41]
2019-Ngày 11 tháng 3 năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ra tuyên bố gọi “COVID-19” là “ Đại dịch toàn cầu”
Tại Việt Nam, kể từ khi trường hợp mắc COVID-19 đầu tiên ở Việt Nam được ghi nhận vào ngày 23 tháng 1 năm 2020, Chính phủ Việt Nam đã đẩy nhanh nỗ lực để kiểm soát sự lây lan của vi-rút và điều trị cho những người bị nhiễm Với sự phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ, Việt Nam đã thực hiện bước đi quan trọng đầu tiên trong phòng, chống dịch bệnh, cụ thể vào ngày 2/2/2020, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra thông báo các tỉnh thành bị ảnh hưởng bởi COVID-19 có thể quyết định đóng cửa các trường học
và các cơ sở khác dựa trên tình hình thực tế tại địa phương Từ ngày 15/3/2020, tất cả những người từ nước ngoài vào Việt Nam phải được đưa vào cơ sở cách ly tập trung của Chính phủ trong 14 ngày Với việc công bố COVID-19 là đại dịch, ngày 1/4/2020, Việt Nam chính thức áp dụng lệnh cách ly xã hội trên toàn quốc thông qua việc đóng cửa tất cả các địa điểm công cộng, ngoại trừ những địa điểm cung cấp thực phẩm và hàng hóa thiết yếu: Sau ba tuần thực hiện cách ly xã hội, Việt Nam đã kịp thời hạn chế các
ca mắc mới và tiếp tục kiểm soát tỷ lệ lây nhiễm trong cộng đồng, với hơn 80% các ca nhiễm đã phục hồi
1.1.7 Truyền thông về dịch bệnh COVID-19 trên báo mạng điện tử
Như đã trình bày ở trên, mặc dù tên đề tài là “Thực trạng đưa tin về dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp (Covid-19) trên báo điện tử hiện nay” nhưng để đảm bảo tính khoa học và giải thích đầy đủ, khoa học mà vẫn giữ được đúng bản chất của nó, tác giả thực hiện thao tác hóa khái niệm “ Truyền
Trang 40thông về dịch bệnh Covid-19 trên báo mạng điện tử”
Căn cứ vào các khái niệm đã được giải thích ở trên thì ta có thể hiểu khái niệm chung như sau: Truyền thông về dịch bệnh COVID-19 trên báo mạng điện tử là quá trình truyền tải thông tin về dịch bệnh COVID-19 đến số lượng công chúng lớn, phân tán về không gian, thời gian Quá trình này thực hiện thông qua phương tiện truyền thông đại chúng là báo mạng điện tử
1.2 Các lý thuyết áp dụng trong đề tài
1.2.1 Lý thuyết truyền thông hai chiều
Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi tương tác thông tin, tư tưởng tình cảm, kiến thức và kinh nghiệm với nhau về các vấn đề của đời sống cá nhân, xã hội từ đó tăng sự hiểu biết, hình thành hoặc thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi theo hướng có lợi cho sự phát triển bền vững của cộng đồng xã hội Đây là quá trình truyền tải thông tin một cách rộng rãi ra công chúng bằng cách sử dụng các kí hiệu ngôn ngữ và phi ngôn ngữ
Truyền thông là một quá trình - có nghĩa là nó không phải là một việc làm nhất thời hay xảy ra trong một thời gian ngắn mà nó diễn ra trong một trình tự thời gian và không gian nhất định, trong một môi trường xã hội nhất định Quá trình trao – nhận thông tin có tính liên tục, vì nó không dừng lại sau quá trình chuyển tải nội dung, mà còn tiếp tục diễn ra Là quá trình trao đổi hoặc chia sẻ vì phải có ít nhất hai thực thể không chỉ có một bên cho, một bên nhận mà cả hai bên đều cho và nhận Đó cũng là quá trình thông tin hai chiều
và có mục đích, qua đó chúng ta hiểu được người khác và làm cho người khác hiểu được chúng ta [31]
Trong xã hội loài người, truyền thông là một điều kiện tiên quyết để hình thành nên một cộng đồng hay một xã hội Đời sống xã hội thực chất đó
là quá trình trao đổi thông tin Con người có thể chung sống, giao tiếp được với nhau trước hết nhờ vào hành vi truyền và nhận thông tin giữa người này
và người khác để lưu giữ liên lạc Nói chuyện, đối đáp, tranh luận, tâm sự,