Vì những lí do trên đây, em xin phép thực hiện đề tài nghiên cứu “Thực trạng đời sống của các bà mẹ đơn thân ở khu công nghiệp Thụy Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ hiện nay” nhằm c
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN THU PHƯƠNG
THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG CỦA CÁC BÀ MẸ ĐƠN THÂN
Ở KHU CÔNG NGHIỆP THỤY VÂN, THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ,
TỈNH PHÚ THỌ HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC S H I HỌC
HÀ N I - 2022
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN THU PHƯƠNG
THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG CỦA CÁC BÀ MẸ ĐƠN THÂN
Ở KHU CÔNG NGHIỆP THỤY VÂN, THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ,
Trang 3Hà Nội, ngày……tháng… năm 2022
CHỦ TỊCH H I ĐỒNG
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, thông tin và kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa được công
bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Tác giả luận văn
Nguyễn Thu Phương
Trang 5Sau khoảng thời gian 2 năm học tập tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, luận văn tốt nghiệp là công trình nghiên cứu quan trọng của tôi để thể hiện quá trình phấn đấu học tập và trưởng thành Để hoàn thành luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các thầy, cô khoa Xã hội học và Phát triển
Nhân đây, tôi xin phép gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị
Tố Quyên, giảng viên hướng dẫn của tôi, đã dẫn dắt tận tình trong quá trình
hoàn thiện luận văn Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô trong trường nói chung và các giảng viên của khoa Xã hội học và Phát triển nói riêng đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi rất nhiều Những động viên
đó là nguồn cảm hứng và động lực cho tôi hoàn thiện luận văn
Trong lúc nghiên cứu và hoàn thiện luận văn tôi khó tránh khỏi có nhiều thiếu sót Vì vậy, tôi mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo Những góp ý đó sẽ giúp tôi sửa chữa luận văn cũng như sẽ là kim chỉ nam trong quá trình học tập, nghiên cứu sau này
Tôi xin chân thành cảm ơn các quý thầy, cô!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thu Phương
Trang 6MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 13
1.1 Cơ sở lý luận 13
1.2 Cơ sở thực tiễn 25
Chương 2: THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT VÀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA CÁC BÀ MẸ CÔNG NHÂN ĐƠN THÂN Ở KHU CÔNG NGHIỆP THỤY VÂN, TỈNH PHÚ THỌ 30
2.1 Đặc điểm nhân khẩu xã hội 30
2.2 Đời sống vật chất 39
2.3 Đời sống tinh thần 46
Chương 3: NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA CÁC BÀ MẸ CÔNG NHÂN ĐƠN THÂN 54
3.1 Sự hỗ trợ từ phía người thân 55
3.2 Sự thay đổi trong quan điểm của xã hội về vấn đề mẹ đơn thân 55
3.3 Khó khăn trong đời sống của các bà mẹ công nhân đơn thân 58
KẾT LUẬN 74
KHUYẾN NGHỊ 76
TÀI LIỆUTHAM KHẢO 78
PHỤ LỤC 83
Trang 7ASXH An sinh xã hội BCH TW Ban Chấp hành trung ương
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNVCLĐ Công nhân, viên chức, lao động
CT/TW Chỉ thị/Trung ương CT-TLĐ Chỉ thị -Tổng Liên đoàn ĐA-TLĐ Đề án - Tổng Liên đoàn
Trang 8Bảng 2.1: Trình độ chuyên môn của bà mẹ đơn thân 33
Bảng 2.2: Nguồn gốc xuất thân của Bà mẹ công nhân đơn thân 34
Bảng 2.3: Thu nhập hàng tháng của bà mẹ công nhân đơn thân 36
Bảng 2.4: Hợp đồng lao động của nữ công nhân là bà mẹ đơn thân 37
Bảng 2.5: Tỉ lệ các bà mẹ đơn thân có con đang học mầm non 39
Bảng 2.6: Nhà ở của bà mẹ công nhân đơn thân 43
Bảng 2.7: Trang thiết bị sinh hoạt trong gia đình 44
Bảng 2.8: Khó khăn khi tham gia các hoạt động văn hóa của bà mẹ đơn thân 47
Bảng 2.9: Tỉ lệ bà mẹ công nhân đơn thân gặp phải những đánh giá phán xét 48
Bảng 2.10: Nguồn tham khảo ý kiến trước khi quyết định trở thành mẹ đơn thân 50
Bảng 3.1: Những khó khăn của mẹ đơn thân khi gửi con ở các cơ sở giáo dục 65
Trang 9Biểu đồ 2.1: Độ tuổi trung bình của các bà mẹ đơn thân 31
Biểu đồ 2.2: Trình độ học vấn của các bà mẹ đơn thân 32
Biểu đồ 2.3: Số con của nữ công nhân là mẹ đơn thân 38
Biểu đồ 2.4: Thời gian làm việc của các bà mẹ công nhân 40
Biểu đồ 2.5: Cơ sở giáo dục hiện tại bà mẹ đơn thân đang gửi con 41
Biểu đồ 2.6: Khoản chi cho con hàng tháng của bà mẹ đơn thân 42
Biểu đồ 2.8: Sự định kiến đối với hoàn cảnh của bà mẹ đơn thân 49
Biểu đồ 2.9: Tần suất về thăm quê nhà của bà mẹ đơn thân 51
Biểu đồ 3.1: Lý do trở thành mẹ đơn thân (Đơn vị %) 56
Biểu đồ 3.2: Những khó khăn trong quá trình làm việc của bà mẹ đơn thân 59
Biểu đồ 3.3: Nhóm tuổi và khó khăn tiếp cận dịch vụ y tế 60
Biểu đồ 3.4: Mức thu nhập trung bình và khó khăn trong tiếp cận dịch vụ y tế 61
Biểu đồ 3.5: Trình độ học vấn và khó khăn tiếp cận dịch vụ y tế 62
Biểu đồ 3.6: Hình thức ký hợp đồng lao động và khó khăn tiếp cận dịch vụ y tế 63
DANH MỤC H P Hộp 1: Ý kiến của bà mẹ đơn thân về việc đến làm ở KCN Thụy Vân 34
Hộp 2: Ý kiến của bà mẹ đơn thân về trang thiết bị trong gia đình 45
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là một thiết chế xã hội lâu đời và bền vững nhưng lại hết sức nhạy cảm với mọi biến đổi xã hội Sở dĩ như vậy bởi gia đình chính là một xã hội thu nhỏ, trong gia đình hiện diện đầy đủ các quan hệ xã hội: kinh tế, giáo dục, văn hóa, tổ chức Ngày nay, trước những biến đổi mạnh mẽ của kinh tế, văn hóa, xã hội, gia đình Việt Nam đang có nhiều sự thay đổi từ hình thái, vai trò đến cách thức tổ chức đời sống Trong đó, sự xuất hiện và phổ biến của gia đình đơn thân là một hiện tượng rất cần phải bàn luận
Gia đình mẹ (cha) đơn thân là kiểu gia đình không chồng (vợ) một mình sinh con, và nuôi con mà chúng ta thường gọi là single mom và single dad Tại Mỹ, số liệu thống kê cho thấy từ năm 1980 tới năm 2009, số lượng cha/mẹ đơn thân đã tăng đến mức 29,5% Lý do gây ra vấn đề này là do càng ngày càng có nhiều người phụ nữ chọn chỉ sinh con mà không kết hôn, bên cạnh đó là việc số lượng cặp đôi ly hôn tăng lên Năm 2010, 40,7% trẻ sơ sinh
ở Mỹ là con của các bà mẹ đơn thân
Những năm gần đây, trong thời kì CNH, HĐH, do yêu cầu và tính chất công việc, nhiều cơ sở lao động chỉ tuyển lao động nữ, từ đó gây ra việc tập trung quá nhiều lao động nữ trong một địa bàn làm việc Do phải làm việc cả ngày, không có nhiều thời gian nên việc tìm được cho mình một người bạn đời là rất khó đối với các nữ công nhân Bên cạnh đó, những người nữ công nhân do sống xa gia đình nên cảm thấy cô đơn, cùng với đó là nhu cầu quan
hệ tình cảm nam nữ nên đã dẫn đến việc số lượng nữ công nhân có quan hệ ngoài hôn nhân ngày càng tăng
Có ba lý do mà em thấy cần nghiên cứu về vấn đề này:
Một là, gia đình đơn thân như một hiện tượng xã hội nhưng chưa được
Trang 11quan tâm thỏa đáng về mặt chính sách, bao hàm cả khía cạnh pháp luật và thực thi pháp luật trong thực tế, đặc biệt là đối với mẹ đơn thân là công nhân
Hai là việc nhìn nhận chưa bình đẳng loại hình gia đình mẹ đơn thân trong bối cảnh mới so với các loại gia đình khác trong nền văn hóa xã hội truyền thống đang tạo ra những khó khăn trong đời sống của các bà mẹ đơn thân
Ba là, nhìn từ góc độ sự biến đổi của xã hội, dù muốn hay không thì vấn đề mẹ đơn thân đang tạo ra sự thay đổi lớn trong chức năng giáo dục của gia đình đối với trẻ em
Vì những lí do trên đây, em xin phép thực hiện đề tài nghiên cứu
“Thực trạng đời sống của các bà mẹ đơn thân ở khu công nghiệp Thụy Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ hiện nay” nhằm cung cấp thêm cơ
sở dữ liệu thực nghiệm nhằm hướng đến mở rộng chính sách cho những
người mẹ đơn thân có hoàn cảnh khó khăn hiện nay
2 Tổng quan nghiên cứu;
2.1 Tổng quan nghiên cứu thế giới
Theo số liệu của Cục Điều tra Dân số Mỹ, vào năm 1960 tỷ lệ ông bố,
bà mẹ đơn thân chỉ chiếm khoảng 9% trong tổng số hộ gia đình của nước này, đến năm 2000 là 20%, và đến năm 2007 tỷ lệ này là 27%, tuy nhiên đến năm
2011 có khoảng 12 triệu hộ gia đình đơn thân và trong số này có đến 80% là
bà mẹ đơn thân Điều đặc biệt ở đây là có khoảng 45% bà mẹ làm mẹ đơn thân chưa bao giờ kết hôn Kết quả này cũng trùng với nghiên cứu năm 2005 của Amato, Paul Tại Australia có 31% đứa trẻ khi sinh ra ở trong gia đình bà
mẹ chưa bao giờ kết hôn vào năm 2001, có 14% bố mẹ đơn thân vào năm
2003, và đến năm 2011 tỷ lệ bố mẹ đơn thân ở quốc gia này chiếm 15,9% tổng số hộ gia đình của nước này (Văn phòng Thống kê Australia, 2011)
Khi nhắc đến bố mẹ đơn thân không thể không nhắc đến Thụy Điển, một đất nước phát triển, trình độ dân trí cao, quyền phụ nữ được tôn trọng, và
Trang 12cũng được coi là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ bà mẹ đơn thân cao Quốc gia này
có những chính sách về phúc lợi xã hội cho người mẹ đơn thân và những đứa trẻ sinh sống trong gia đình bà mẹ đơn thân
Ở một nghiên cứu khác của Hyunjoon Park phát hiện rằng, không có sự khác biệt nhiều về trình độ giáo dục của bà mẹ đơn thân cũng như những phụ
nữ không phải bà mẹ đơn thân nhưng lại khác nhau nhiều về ham muốn học hỏi giữa hai nhóm bà mẹ này Nhiều kết quả nghiên cứu cho biết, với những
bà mẹ sinh con ngoài hôn nhân có xu hướng bị thiệt thòi hơn những phụ nữ đã từng lập gia đình
Nghiên cứu của Lichter, D., Graefe, D., & Brown, J (2003), Humen, E., Manlove, J., & Moore, K A (2001), Driscoll, A K., Hearn, G K., Evans, V J., Moore, K A., Sugland, B W., & Call, V [53] về làm mẹ đơn thân trong xã hội Mỹ chỉ ra rằng các bà mẹ sinh con khi chưa kết hôn bao giờ cũng có thu nhập thấp hơn, trình độ văn hóa thấp hơn và phải phụ thuộc vào phụ cấp xã hội nhiều hơn so với những phụ nữ có chồng Có thể nói rằng, trong xã hội Việt Nam cũng không khác biệt so với xã hội Mỹ, nhiều bà mẹ đơn thân việc làm không ổn định, thậm chí thất nghiệp và không có thu nhập
Terry-Vì vậy, sự giúp đỡ của người thân và gia đình về vật chất, tinh thần là phương thức hỗ trợ mẹ đơn thân chăm sóc tốt cho con của họ
Trong xã hội chịu nhiều ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo như Hàn Quốc, hiện tượng bà mẹ đơn thân trong xã hội Hàn Quốc hiện đại thường trong thời gian đầu bị coi là trái với quan niệm gia đình truyền thống đã tồn tại lâu đời trong lịch sử Tuy nhiên gần đây, số lượng những người mẹ đơn thân có học vấn cao ngày càng nhiều hơn, và cùng với sự ủng hộ của các nhà hoạt động xã hội, nhóm người mẹ đơn thân bắt đầu lên tiếng về quyền lợi của mình Chính vì vậy, vấn đề các chính sách xã hội hỗ trợ đối với họ cũng đã được đặt ra Luật này được ban hành năm 2007 với mục đích hỗ trợ gia đình khuyết một thành viên,
Trang 13duy trì sự ổn định trong cuộc sống cũng như thúc đẩy tính tự lập, hướng tới gia đình khỏe mạnh, góp phần vào sự phát triển chung của xã hội
Về chi phí hỗ trợ của chính phủ, trên thực tế thì chưa có một chính sách
cụ thể nào dành riêng cho người mẹ đơn thân, mà chỉ có các quy định thuộc phạm vi các dự án hỗ trợ gia đình khuyết một thành viên, hoặc các gia đình thu nhập thấp nói chung Sự hỗ trợ từ chính sách an sinh xã hội của Hàn Quốc cũng đã tính tới các khu nhà tạm trú cho những cô gái phải nuôi con một mình
mà gặp khó khăn (Lee Mi-jeong) [30] Ở các khu nhà tạm trú, những người
mẹ đơn thân đều có cùng hoàn cảnh nên đã giúp họ bớt dần mặc cảm, giải tỏa bớt những âu lo - một tâm lý không tốt cho sức khỏe người mẹ trước và sau khi sinh con
Như vậy, các công trình nghiên cứu về mẹ đơn thân trên thế giới đã chỉ
ra quá trình phát triển và sự thay đổi về cái nhìn của xã hội đối với loại hình gia đình mới này
2.2 Tổng quan nghiên cứu tại Việt Nam
Hôn nhân là một việc vô cùng hệ trọng trong cuộc đời mỗi con người Hôn nhân chính là sợi dây gắn kết người đàn ông và người phụ nữ thông qua các giá trị tình cảm và các qui định của pháp luật, từ đó tạo nên một gia đình Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại vấn đề ly hôn đang xảy ra ngày càng nhiều ở Việt Nam Ngày càng nhiều phụ nữ chủ động đứng đơn ly hôn và chấp nhận làm mẹ đơn thân sau khi chia tay chồng Theo kết quả điều tra nghiên cứu của
đề tài “Các giá trị cơ bản của gia đình Việt Nam” do Viện Nghiên cứu Gia đình
và Giới chủ trì thực hiện năm 2017-2018, mức độ ly hôn của các gia đình ở Việt Nam có xu hướng tăng lên khá nhanh Năm 2000, tỷ lệ ly hôn của các gia đình chỉ là 0,97%, tuy nhiên đến năm 2017 thì con số này đã lên đến 2,92%
Tác giả Võ Thị Cẩm Ly [25], trong luận án “Phụ nữ làm mẹ đơn thân ở nông thôn Bắc Trung Bộ: Chân dung xã hội và thực tiễn sinh kế” cũng đã đưa
Trang 14ra những nhận diện chung về đặc điểm của các bà mẹ đơn thân ở nông thôn Theo tác giả thì trình độ học vấn của những bà mẹ đơn thân nói chung là thấp Bên cạnh đó, thu nhập của họ khá là hạn chế Do thu nhập thấp nên mức chi tiêu trung bình của những hộ gia đình phụ nữ làm mẹ đơn thân cũng khá thấp
và chủ yếu là tập trung vào chi tiêu cho vấn đề ăn uống Tác giả cũng đã nêu
ra ba lý do phổ biến nhất dẫn đến việc trở thành mẹ đơn thân của phụ nữ đó là
lỡ mang thai nhưng không thể kết hôn, nghèo nhưng không thể kết hôn và quá lớn tuổi để kết hôn
Tác giả Chu Thị Thu Trang [45] trong luận văn của mình cũng đã đề cập đến phụ nữ đơn thân ở vùng trung du miền núi phía Bắc, đề tài có cái nhìn tổng hợp, khách quan và toàn diện về những vấn đề khó khăn, những nhu cầu của những phụ nữ đơn thân nuôi con; mở ra hướng tiếp cận mới trong hoạt động trợ giúp cho phụ nữ đơn thân nuôi con dưới góc độ của những người làm công tác xã hội
Bên cạnh đó, việc lựa chọn làm mẹ đơn thân cũng đang khá phổ biến
trong xã hội hiện nay Trong bài báo Sự biến đổi xã hội từ góc nhìn Xã hội
học Vi mô qua hai hiện tượng: Bà Mẹ đơn thân và Hôn nhân đồng tính [56]
của tác giả Lê Minh Tiến, vấn đề mẹ đơn thân được nhắc đến như là một sự biến đổi vi mô của xã hội hiện đại Theo tác giả thì việc số lượng các bà mẹ đơn thân tăng lên là do xã hội có sự thay đổi về các giá trị chuẩn mực, không còn giữ nguyên các quy tắc truyền thống nữa Theo tác giả thì xã hội Việt Nam đang có những thay đổi theo hướng những giá trị, chuẩn mực truyền thống đang dần bị thay thế bởi các giá trị mang tính cá nhân nhiều hơn
Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Vân [54] thì cho rằng nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện ngày càng nhiều mẹ đơn thân ở Việt Nam (cũng như Hàn Quốc) có thể do nguyên nhân chủ quan và khách quan Nguyên nhân chủ quan của vấn
đề này có lẽ là do hôn nhân không được trọn vẹn như mong muốn Người vợ
Trang 15đã phải chịu đựng sự dị nghị từ nhiều phía nên họ đã quyết định nuôi con một mình, không cần đến người đàn ông Nguyên nhân chủ quan của vấn đề này là
sự phản ánh những thay đổi lớn trong cấu trúc xã hội, cũng như là những thay đổi trong quan niệm, giá trị, liên quan đến tình yêu, hôn nhân, gia đình của giới trẻ Đối với một bộ phận người trẻ hiện nay, họ coi hôn nhân và gia đình
là gánh nặng, đi kèm nhiều nghĩa vụ
Về sự hỗ trợ xã hội, ở Việt Nam hiện nay, chính sách phúc lợi dành cho người mẹ đơn thân cùng con cái của họ chưa nhiều Như đã đề cập ở trên, nếu như ở Hàn Quốc, chính sách phúc lợi của chính phủ đối với người mẹ đơn thân tuy vẫn nằm trong các chính sách chung dành cho gia đình khuyết một thành viên, nhưng đang được thực hiện trên toàn quốc theo hai hướng:
1) Hỗ trợ trực tiếp chi phí nuôi con;
2) Hỗ trợ về các khu nhà tạm trú, thì ở Việt Nam, mới chỉ có các hoạt động hỗ trợ đơn lẻ, hạn chế ở một vài khoản chỉ phí nhất định, giúp đỡ người mẹ đơn thân thu nhập thấp, Cũng có một vài khu nhà tạm trú dành cho họ, đặt dưới
sự quàn lý và hỗ trợ của các tỏ chức tôn giáo, đặc biệt là Thiên chúa giáo
Như vậy, có thể thấy trong những nghiên cứu về gia đình đã thực hiện
ở Việt Nam thường tập trung vào những vấn đề của gia đình đầy đủ Những hình thái gia đình mới, chẳng hạn như gia đình sau li hôn, gia đình mẹ đơn thân vẫn còn ít được đề cập tới Từ những phân tích nguồn tư liệu sẵn có đã nêu, tác giả luận văn nhận ra rằng, hiện tượng mẹ đơn thân nuôi con một mình như một hiện tượng xã hội mới nổi lên trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa và thực tiễn cho thấy hiện tượng này đang ngày càng gia tăng Nó không chỉ nói lên những khó khăn của những người mẹ đơn thân đó mà còn ảnh hưởng tới thế hệ tương lai, khi các em nhỏ trong các gia đình đó chưa được xã hội quan tâm thỏa đáng Khi thực tiễn xã hội thay đổi, các chính sách cũng cần được thay đổi
Trang 163 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mô tả và phân tích thực trạng đời sống của những bà mẹ đơn thân ở khu công nghiệp Thụy Vân Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm giảm thiểu khó khăn và nâng cao chất lượng đời sống cho những bà mẹ đơn thân tại các khu công nghiệp hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các văn bản chính sách hiện có liên quan đến đời sống của lao động nữ, lao động là bà mẹ đơn thân có con nhỏ ở các khu công nghiệp hiện nay để có thể hoàn thiện những vấn đề lý luận và thực tiễn về đời sống của các bà mẹ công nhân đơn thân ở các khu công nghiệp hiện nay
- Mô tả thực trạng đời sống vật chất và đời sống tinh thần của các bà
mẹ công nhân đơn thân, phân tích những thuận lợi, khó khăn và chỉ ra các yếu
tố chi phối đời sống vật chất, tinh thần của các bà mẹ công nhân đơn thân
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp chính sách phù hợp nhằm nâng cao đời sống của các bà mẹ đơn thân tại khu công nghiệp Thụy Vân
4 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng đời sống của các bà mẹ đơn thân ở khu công nghiệp Thụy Vân, thành phố Việt trì, tỉnh Phú Thọ hiện nay
Trang 17- Địa bàn nghiên cứu: Khu Công Nghiệp Thụy Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: nghiên cứu tập trung mô tả đời sống vật chất, đời sống tinh thần của các bà mẹ công nhân đơn thân
5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Đời sống vật chất và đời sống tinh thần của các bà mẹ đơn thân ở khu công nghiệp Thụy Vân hiện nay đang diễn ra như thế nào?
- Các yếu tố xã hội đang ảnh hưởng đến đời sống vật chất và đời sống tinh thần của bà mẹ công nhân đơn thân là gì?
- Cần đưa ra những giải pháp, chính sách hỗ trợ như thế nào để cải thiện và nâng cao chất lượng đời sống vật chất, tinh thần của bà mẹ đơn thân là công nhân?
5.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Bà mẹ đơn thân hiện nay đang gặp nhiều khó khăn về đời sống vật chất và đời sống tinh thần
- Đặc điểm cá nhân và hoàn cảnh gia đình đang có những ảnh hưởng đến chất lượng đời sống vật chất và đời sốngh tinh thần của bà mẹ đơn thân
- Thể chế, các chính sách và môi trường sống (Nhà nước, công đoàn và chính quyền địa phương, doanh nghiệp, cộng đồng) đang còn nhiều khoảng trống
và chi phối đối với cuộc sống của nhóm bà mẹ đơn thân ở các khu công nghiệp
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận
Đề tài sử dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử Mác – Lênin làm cơ sở phương pháp luận Ngoài ra đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như: Phương pháp tiếp cận lịch sử, phương pháp phân tích kết hợp giải thích và tổng hợp, khái quát hóa… cũng được đề tài sử dụng nhằm làm rõ đối tượng nghiên cứu và đạt được mục đích nghiên cứu
Trang 18Các quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với công nhân cũng được quan tâm nhằm luận giải về các chiều cạnh chính sách xã hội liên quan đến nhóm xã hội này ở nước ta hiện nay
6.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã sử dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu: phân tích tài liệu thứ cấp, khảo sát định tính và định lượng thông qua phỏng vấn và sử dụng bảng hỏi Anket tại thực địa
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Nghiên cứu, phân tích các tài liệu có sẵn bao gồm: các văn bản của Đảng, Nhà nước, của tỉnh Phú Thọ, các chính sách về công nhân, nữ công nhân; các tài liệu viết về một số lý thuyết xã hội học, phương pháp nghiên cứu xã hội học; các báo cáo và số liệu thống kê về tình hình công nhân, công tác công đoàn phạm vi toàn quốc và của tỉnh Phú Thọ; các công trình nghiên cứu, các bài báo khoa học của các tác giả trong và ngoài nước về vấn đề có liên quan
- Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi Anket:
Sử dụng bảng hỏi Anket để phỏng vấn các bà mẹ công nhân đơn thân nhằm thu được các dữ liệu định tính
Các kết quả khảo sát định lượng sau khi thu được sẽ được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS Version 20.0 dành cho các nghiên cứu khoa học xã hội để đảm bảo được tính khách quan, khoa học
- Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu nghiên cứu
Việc chọn danh sách bà mẹ đơn thân để điều tra bảng hỏi Anket được thực hiện bằng cách sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống để chọn
ra được 5 công ty trong số 20 công ty ở khu công nghiệp Thụy Vân
Danh sách các doanh nghiệp được khảo sát cụ thể như sau: Công ty TNHH công nghệ Namuga Phú Thọ, Công ty TNHH JNTC Vina, Công ty JEIL Phú Thọ, Công ty TNHH BANDO VINA, Công ty TNHH FLECON Việt Nam
Trang 19Sau khi chọn được 5 công ty thì tổng số mẫu nghiên cứu thu được là
150 công nhân là mẹ đơn thân
Mẫu tham gia phỏng vấn sâu: 15 công nhân là bà mẹ đơn thân nhằm tìm hiểu sâu về các khía cạnh liên quan đến thực tế đời sống của các bà mẹ đơn thân tại Khu Công Nghiệp Thụy Vân, tỉnh Phú Thọ
3 cán bộ công đoàn và 2 cán bộ trong chi hội phụ nữ nhằm tìm hiểu về các chính sách hỗ trợ của doanh nghiệp đối với các bà mẹ công nhân đơn thân
về các chính sách đang thực hiện trong việc hỗ trợ đối với cuộc sống của bà
mẹ đơn thân ở doanh nghiệp
Trang 207 Khung Lý thuyết
Mô tả các biến số:
Biến số độc lập:
- Tuổi, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn
- Nơi sinh, số con
- Tình trạng hôn nhân
- Thu nhập
- Số năm công tác, hợp đồng lao động
Biến số phụ thuộc:
- Thực trạng đời sống vật chất của các bà mẹ đơn thân là công nhân
- Thực trạng đời sống tinh thần của các bà mẹ đơn thân là công nhân
- Chính sách về việc tiếp cận các dịch vụ xã hội
Các chính sách xã hội; môi trường, điều kiện lao động trong doanh nghiệp đối với bà mẹ đơn thân công nhân
Sự biến đổi xã hội, thay đổi về văn hóa, chức năng
Trang 21Biến số can thiệp:
- Các chính sách xã hội đối với bà mẹ đơn thân công nhân
- Môi trường điều kiện lao động trong doanh nghiệp đối với bà mẹ đơn thân công nhân
8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
8.1 Ý nghĩa lý luận
Việc vận dụng các quan điểm lý luận trong luận văn cũng góp phần tìm hiểu khả năng áp dụng các quan điểm lý luận, lý thuyết xã hội học vào thực tiễn nghiên cứu bà mẹ đơn thân là công nhân Qua đó có những đóng góp tri thức vào việc hoàn thiện khái niệm về nhóm bà mẹ đơn thân, quan điểm lý luận về hướng nghiên cứu bà mẹ đơn thân ở nước ta và trên thế giới
9 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và đề xuất giải pháp, nội dung của Luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Thực trạng đời sống vật chất và đời sống tinh thần của các
bà mẹ công nhân đơn thân ở khu công nghiệp Thụy Vân, tỉnh Phú Thọ
Chương 3: Những yếu tố ảnh hưởng đến đời sống của các bà mẹ công nhân đơn thân
Trang 22Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Thao tác hóa khái niệm
Khái niệm bà mẹ đơn thân
Mẹ đơn thân hay bà mẹ đơn thân, hoặc phụ nữ đơn thân là khái niệm để chỉ những người phụ nữ, vì những lí do khác nhau đã sinh và nuôi dạy con cái một mình, không có sự hiện diện của người đàn ông bên cạnh Đây là khái niệm đã được một số tác giả đã sử dụng trong một số các công trình nghiên cứu của mình Theo quan niệm của Lê Thi [35], “phụ nữ đơn thân là những phụ nữ không có chồng, phụ nữ thiếu vắng chồng, những phụ nữ không có chồng sống bên cạnh, do nhiều lý do, nhiều hoàn cảnh khác nhau Với quan niệm vậy, Lê Thi chia nhóm phụ nữ đơn thân thành hai nhóm nhỏ Nhóm thứ nhất là nhóm phụ nữ đơn thân đã lập gia đỉnh, và nhóm phụ nữ đã góa chồng
ly dị, ly thân, hoặc chồng đi vắng xa lâu ngày không tin tức Nhóm thứ hai là nhóm phụ nữ đơn thân chưa lập gia đình nhưng đã nhiều tuổi Lê Thi còn lưu
ý rằng ở Việt Nam những chị em từ 30 tuổi trở lên đặc biệt ở nông thôn rất khó lấy chồng, được coi như “ế chồng” Những người phụ nữ “ế chồng” bao gồm hai nhóm:
1/Những phụ nữ không có chồng nhưng có con ngoài giá thú;
2/Phụ nữ không có chồng, không có con
Như vậy, dưới một góc nhìn nhất định, khái niệm phụ nữ đơn thân mà
Lê Thi đề cập đến ở trên là khái niệm bao trùm khái niệm phụ nữ làm mẹ đơn thân Điểm đáng lưu ý ở đây là, khái niệm phụ nữ làm mẹ đơn thân cần được thảo luận sâu vì đây là khái niệm làm việc cơ bản của luận văn Phụ nữ làm
mẹ đơn thân thuộc về khái niệm bố/mẹ đơn thân (single parent) Theo
Trang 23Gucciardi và cộng sự thì bố/mẹ đơn thân là khái niệm chỉ những người có con nhưng chưa bao giờ kết hôn, hay đã ly thân, ly dị và hiện không sống với người bạn đời được thừa nhận về mặt luật pháp, hoặc góa bụa [55] Một tác giả khác là Wolfinger khi đề cập đến phụ nữ làm mẹ đơn thân (single mother) lại nhân mạnh rằng đó là những phụ nữ có con và họ đã kết hôn nhưng ly hôn, hoặc ly thân, hay chưa bao giờ kết hôn (2015)
Khi phân loại các hình thái gia đình, Mai Huy Bích [7] cũng đã đưa ra quan điểm về gia đình có cha hoặc mẹ đơn thân (one-parent family) Theo ông thì đó là một biến thể của gia đình hạt nhân gồm hai thế hệ (cha hoặc mẹ
và con cái chưa kết hôn), trong thế hệ thứ nhất (tức thế hệ cha mẹ), không đủ hai người của cặp vợ chồng, mà chỉ có một người (hoặc cha hoặc mẹ) do nhiều nguyên nhân khác nhau (ly hôn, góa, hay đơn giản là không hoặc chưa kết hôn mà có con…)
Như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng khái niệm phụ nữ làm mẹ đơn thân
đề cập đến bốn nhóm phụ nữ: nhóm có con và đã ly hôn, nhóm có con và đã
ly thân, nhóm có con và góa chồng, nhóm không kết hôn và sinh con, nuôi con một mình
Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm “Bà mẹ đơn thân” để đề cập tới những người nữ công nhân vì cả 4 lý do trên nên trở thành
bà mẹ công nhân đơn thân
Khái niệm đời sống vật chất
Đời sống vật chất là những sinh hoạt dựa trên những yếu tố về vật chất Chúng ta có thể thấy đời sống vật chất là phương tiện, phương thức thể hiện của đời sống tinh thần Nói cách khác, đời sống vật chất là phương tiện thể
hiện mặt bản thể luận của đời sống tinh thần
Trong đề tài, đời sống tinh thần của các bà mẹ công nhân đơn thân được thể hiện qua những điều kiện sống mà con người có được để tồn tại bao
Trang 24gồm: thu nhập, chi tiêu; việc làm; nhà ở, đồ dùng sinh hoạt, đồ trang trí có giá trị vật chất như: xe máy, ti vi, tủ lạnh
Nói đến đời sống vật chất là nói đến sự sở hữu, những thứ có thể nhìn thấy, cầm nắm, tính đếm được
Khái niệm đời sống tinh thần
Đời sống tinh thần được hiểu bao gồm tất cả những gì liên quan đến lĩnh vực tinh thần: từ những giá trị, sản phẩm tinh thần đến những hiện tượng, quá trình tinh thần, từ những hoạt động tinh thần (sản xuất tinh thần, phân phối, tiêu dùng giá trị tinh thần như phim ảnh, sách báo, tivi, internet, game, công viên, các câu lạc bộ, .) đến những quan hệ tinh thần (trong trao đổi, giao tiếp tinh thần như gặp gỡ, thăm hỏi ) Nói đến đời sống tinh thần là nói đến tính liên tục về thời gian, tính rộng lớn về không gian của tất cả những hiện tượng, những quá trình tinh thần
Khái niệm đời sống tinh thần được sử dụng trong đề tài nói lên các hoạt động liên quan tới sinh hoạt văn hóa và tinh thần của con người Tác giả sẽ quan tâm tới các hoạt động ngoài giờ làm việc của người công nhân như: thời gian nghỉ ngơi, nội dung và thời lượng tham gia các hoạt động vui chơi giải trí, các hoạt động thăm viếng gia đình, bạn bè và những người thân hay các hoạt động hỗ trợ lẫn nhau về tinh thần của những người cùng cảnh ngộ
Như vậy, trên cơ sở hai chỉ báo lớn là đời sống vật chất và đời sống tinh thần với các dạng hoạt động, việc phân tích tình hình đời sống của những bà mẹ công nhân đơn thân ở khu công nghiệp Thụy Vân hiện nay sẽ được xem xét dưới góc độ chính sách xã hội để chỉ ra những điểm được và chưa được, từ đó đề xuất những kiến nghị nhằm giảm nhẹ những tổn thương mà họ phải chịu đựng
Khái niệm khu công nghiệp
Khái niệm KCN đã được quy định trong Nghị định 36/NĐ-CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ về “Quy chế hoạt động của các KCN, KCX, Khu
Trang 25công nghệ cao” Theo đó, KCN là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định (có tường rào bao quanh), không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập
- Trước hết, KCN là một khu vực khép kín, biệt lập với các khu dân cư
và có diện tích xác định Thứ hai, KCN ra đời và tồn tại trước khi các cơ sở công nghiệp được xây dựng và sẽ có thời kỳ trong KCN không có bất kỳ một
cơ sở sản xuất công nghiệp nào Thứ ba, việc thành lập KCN phải do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định
- Hiện nay, đã xuất hiện hàng trăm các KCN vừa và nhỏ, các cụm công nghiệp ở các địa phương do chính quyền địa phương quyết định thành lập như
ở Phú Thọ hiện nay có 29 khu công nghiệp đã được phê duyệt Mặc dù có một
số đặc điểm đặc thù (quy mô thường nhỏ hơn, ảnh hưởng thường hẹp hơn), nhưng về bản chất thì các KCN không có sự khác biệt so với các KCN do Trung ương thành lập Vậy khái niệm KCN phải bao hàm cả các KCN loại này (các KCN do chính quyền địa phương thành lập)
Khái niệm Chính Sách xã hội
Khái niệm chính sách xã hội, hiện nay có rất nhiều ý kiến khác nhau nhưng trong nghiên cứu này đề tài tham khảo các khái niệm sau đây:
Trong cuốn giáo trình về chính sách xã hội của Lê Ngọc Hùng [23] có
Trang 26lợi xã hội, bảo trợ xã hội, phát triển con người và phát triển xã hội bền vững
Hiện nay ở nước ta, chính sách xã hội thường được nhìn nhận theo hai hướng Thứ nhất, theo nghĩa hẹp là chính sách xã hội cho những nhóm lao động
xã hội gọi là “đối tượng chính sách” và “đối tượng xã hội” Thứ hai, theo nghĩa rộng bao hàm cả chính sách giai cấp, chính sách đối với các tầng lớp, những nhóm xã hội lớn như thanh niên, trí thức, chính sách dân tộc, tôn giáo…
Vậy khái niệm chính sách xã hội là sự tác động của nhà nước vào việc phân phối và ổn định các hoàn cảnh sống cho con người thuộc các nhóm xã hội khác nhau trong lĩnh vực thu nhập, việc làm, sức khoẻ, nhà ở và giáo dục trên cơ sở mở rộng, bình đằng và công bằng xã hội trong một bối cảnh lịch sử
và cấu trúc xã hội nhất định
Khái niệm an sinh xã hội
Trong cuốn Từ điển Xã hội học Oxford, an sinh xã hội được hiểu là những hệ thống duy trì thu nhập do nhà nước quản lý nhằm tránh cho mọi người khỏi rơi vào tình trạng nghèo hoặc cứ nghèo mãi Một số hệ thống an sinh dựa trên quy chế công dân, một số khác thì dự trên nơi cư trú của người thụ hưởng
Hệ thống chính sách an sinh xã hội Việt Nam gồm 3 nhóm chính sách chính:
- Chính sách thị trường lao động;
- Bảo hiểm xã hội;
- Trợ giúp xã hội
1.1.2 Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu
1.1.2.1 Lý thuyết trao đổi xã hội
Lý thuyết trao đổi xã hội được giới thiệu vào năm 1958 bởi các nhà xã hội học George Homans với việc xuất bản tác phẩm của mình "Hành vi xã hội như Exchange" Ông đã xác định trao đổi xã hội như việc trao đổi các hoạt động, hữu hình hay vô hình, và nhiều hơn hoặc ít hơn đáng hoặc tốn kém,
Trang 27giữa ít nhất hai người Sau Homans thành lập lý thuyết, các nhà lý thuyết khác vẫn tiếp tục viết về nó, đặc biệt là Peter M Blau và Richard M Emerson, người ngoài Homans thường được coi như là các nhà phát triển chính của việc trao đổi quan điểm xã hội học Công việc Homans 'nhấn mạnh đến hành vi cá nhân của các diễn viên trong tương tác với nhau Mặc dù có những phương thức khác nhau trao đổi, Homans trung tâm nghiên cứu của ông về trao đổi theo cặp đôi John Thibaut và Harold Kelley được ghi nhận cho tập trung nghiên cứu của họ trong lý thuyết về các khái niệm tâm lý, hai vật giống nhau
và nhóm nhỏ Lévi-Strauss được công nhận đóng góp cho sự xuất hiện của quan điểm lý thuyết này từ công việc của mình về nhân chủng học tập trung vào các hệ thống trao đổi tổng quát, chẳng hạn như hệ thống thân tộc và trao đổi quà tặng
Ở đây, nghiên cứu chủ yếu vận dụng luận điểm về lý thuyết trao đổi của Ivan Nye Luận điểm chính thức về lý thuyết trao đổi của Nye (1979) dựa rất nhiều vào cách tiếp cận tâm lý học xã hội của các bậc tiền bối trong lĩnh vực tâm lý học, như là Thibaut and Kelley Hiện nay, luận điểm của Nye được
áp dụng triệt để và đầy tham vọng vào nghiên cứu gia đình
“Được”, là bất kỳ thứ gì được coi là có lợi cho người hành động, còn điều “mất” thường được quan niệm là trái ngược với điều “được” Mặc dù điều “mất” thường được quan niệm là phủ nhận của điều “được” tức là những điều không có lợi cho người hành động nhưng chúng ta cũng nên đưa vào đây
cả những điều mất ngầm ẩn và khó thấy Dựa trên hướng tiếp cận về cái
“được” và cái “mất”, chúng ta có thể vận dụng lý thuyết trao đổi xã hội vào nghiên cứu lý do vì sao số lượng bà mẹ đơn thân đang ngày càng tăng Người phụ nữ khi lập gia đình sẽ có được rất nhiều thứ, tuy nhiên họ lại mất đi một thứ rất quan trọng, đó là sự tự do Khi đã có gia đình, họ sẽ phải dành phần lớn thời gian để lo cho chồng con và lo các công việc bên gia đình chồng Như vậy, khi áp dụng lý thuyết trao đổi xã hội vào đề tài, ta có thể thấy người
Trang 28phụ nữ đang đắn đo, so sánh giữa cái “được” và cái “mất” khi đưa ra quyết định trở thành bà mẹ đơn thân
Kinh tế học vi mô thường tập trung vào những điều “được” và “mất” trong kinh tế, còn các nhà lý thuyết trao đổi và lựa chọn hợp lý thường xem xét “được” và “mất” rộng hơn lý thuyết kinh tế học rất nhiều Các nhà lý thuyết trao đổi và lựa chọn hợp lý thường giải thích rằng những nhóm xã hội như gia đình có thể tồn tại lâu dài là vì nó đáp ứng được lợi ích của các thành viên cá nhân
Các cá nhân tập hợp với nhau thành nhóm đề dành được điều “lợi” cho
họ Tất nhiên, tư cách là thành viên trong nhóm xã hội cũng có thể đòi hỏi nhất thiết phải có sự thỏa hiệp và thậm chí phải trả giá đối với các thành viên
cá thể Nếu cái giá phải trả của việc tham gia làm thành viên trong nhóm vượt quá cái “lợi” và cái “được” thì việc là thành viên của nhóm không còn là một
sự lựa chọn hợp lý nữa Như vậy, người ta thường quan niệm nhóm gia đình
là nguồn gốc mang lại những điều “lợi” cho các thành viên riêng lẻ Trong lý thuyết trao đổi gia đình được coi như là tập hợp các cá nhân
Dựa trên tiếp cận quan hệ trao đổi khi tìm hiểu cuộc sống của bà mẹ đơn thân, chúng tôi giả định rằng các bà mẹ đơn thân lựa chọn kiểu sống này dựa trên sự tính toán về cái “được”, và cái “mất” mà họ có thể có trong cuộc sống Với quan niệm của người Việt Nam đương đại, dù chủ nghĩa cá nhân đã được quan tâm hơn, nhưng giá trị của gia đình, của đứa con vẫn còn được đề cao Với cách tổ chức và thực hiện hệ thống an sinh xã hội hiện tại, người ta vẫn cần có đứa con để vừa được bày tỏ tình cảm, vừa có người “chăm sóc mình lúc về già” Đứa con vẫn có giá trị như một công cụ bảo hiểm lúc về già Cái lợi hay cái được của họ không thuộc về hiện tại mà thuộc về tương lai Cái mất của họ là sự vất vả khi không có người cùng sẻ chia việc chăm sóc con cái, là sự thiếu thốn về kinh tế hay thậm chí là cả sự kỳ thị của xã hội ở
Trang 29chừng mực nhất định nào đó Vậy là dù họ chủ ý lựa chọn không cần chồng nhưng có con hay là không cố tình lựa chọn nhưng chấp nhận tình huống không mong muốn thì lợi ích của họ vẫn là ở chỗ có đứa con để nương tựa lúc
về già Một điều mà tác giả luận văn muốn lưu ý nữa, đó là bối cảnh thể chế
đã thay đổi Luật pháp Việt Nam tuy không khuyến khích nhưng vẫn chấp nhận con ngoài giá thú Mọi trẻ em sinh ra đều là công dân Việt Nam và đều
có quyền được làm giấy khai sinh và theo luật trẻ em năm 2016, trẻ em đều được hưởng chế độ chăm sóc y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi cũng như chế độ phổ cập giáo dục như nhau Chính khía cạnh pháp lý này đã giúp cho các bà mẹ có nhiều cơ hội hơn cho lựa chọn mang tính được mất này của họ Điều này cũng
đã được làm sáng tỏ sau khi thu thập và xử lý thông tin cũng như trình bày kết quả nghiên cứu
1.1.2.2 Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý
Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý hay còn được gọi là lý thuyết lựa chọn hay
lý thuyết hành động hợp lý, là một khuôn khổ cho sự hiểu biết Những tiền đề cơ bản của lý thuyết lựa chọn hợp lý là kết quả hành vi xã hội tổng hợp từ các hành
vi của các diễn viên cá nhân, mỗi người được quyết định cá nhân của họ Do đó,
lý thuyết tập trung vào yếu tố quyết định sự lựa chọn cá nhân (cá nhân luận)
Tính hợp lý được sử dụng rộng rãi như là một giả định về hành vi của
cá nhân trong các mô hình kinh tế vi mô và các phân tích và xuất hiện ở hầu hết các phương pháp điều trị kinh tế sách giáo khoa của con người quyết định
Nó cũng là trung tâm của một số khoa học chính trị hiện đại, xã hội học, và triết học Một phiên bản đặc biệt của lý tính là hợp lý công cụ, trong đó có việc tìm kiếm các chi phí-hiệu quả nhất phương tiện để đạt được một mục tiêu
cụ thể mà không cần suy nghĩ về sự xứng đáng của mục tiêu đó Gary Becker
là người ủng hộ đầu áp dụng mô hình diễn viên hợp lý rộng rãi hơn Becker
đã đoạt giải Nobel năm 1992 Đài tưởng niệm trong khoa học kinh tế cho các nghiên cứu của ông về phân biệt đối xử, tội phạm, và vốn con người
Trang 30Như vậy khi áp dụng lý thuyết sự lựa chọn hợp lý vào trong nghiên cứu, chúng ta có thể hiểu được rõ hơn về việc vì sao các bà mẹ công nhân lại chọn trở thành mẹ đơn thân Bên cạnh đó, lý thuyết sự lựa chọn còn được sử dụng để nghiên cứu về đời sống của các bà mẹ công nhân đơn thân, để phân tích các hoạt động của họ, làm thế nào là hợp lý trong hoàn cảnh của bà mẹ công nhân đơn thân hiện nay
1.1.2.3 Lý thuyết Vốn xã hội
Vốn xã hội (social capital) là khái niệm do James Coleman đề xuất Nó được sử dụng để mô tả những kiểu quan hệ tồn tại giữa các cá nhân khi đặt trong bối cảnh gia đình và cộng đồng, và được coi là có ảnh hưởng lớn tới sự thành đạt về học vấn của con người nói chung và trẻ vị thành niên (Bùi Thế Cường và cộng sự, 2010) [12] Sau này vốn xã hội trở thành một khái niệm trung tâm trong các nghiên cứu khoa học xã hội Lý thuyết vốn xã hội của Coleman được sử dụng để giải thích nhiều hành vi khác nhau về sự tham gia của mọi công dân đến kết quả giáo dục và sự phát triển của vị thành niên
Từ tiếp cận phát triển, các nhà khoa học cho rằng, vốn xã hội không tồn tại độc lập, mà có mối quan hệ chặt chẽ với các loại nguồn vốn khác để con người có thể sinh kế và tồn tại Chẳng hạn, trong khung phân tích sinh kế bền vững của DFID “sinh kế bao gồm các khả năng, các nguồn vốn hay nguồn lực (bao gồm các nguồn vốn vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết kiếm sống” Trong nghiên cứu về sinh kế bền vững, Chamber và Conway đã nêu rõ các nguồn vốn mà con người có thể sử dụng để kiếm sống là: vốn con người (giáo dục, kỹ năng, sức khoẻ, số lượng các thành viên trong hộ gia đình), vốn tài nguyên (đất đai, vườn tược); vốn vật chất (nhà ở và các phương tiện sống, công cụ, phương tiện sản xuất, công trình giao thông thuỷ lợi, công nghệ thông tin liên lạc); vốn tài chính (tiền, tiết kiệm, tín dụng, hàng hoá lưu chuyển, đại gia súc…) và vốn xã hội (mạng lưới và những hỗ trợ xã hội thuộc về các hộ gia
Trang 31đình) Có được các nguồn vốn này cho phép các hộ gia đình tăng sự tin tưởng, khả năng làm việc cùng nhau, chia sẻ và tiếp cận các cơ hội [54]
Từ góc nhìn quản lý, vốn xã hội được hiểu như là tổng hợp những mối quan hệ, liên hệ giữa con người với con người hoặc các chủ thể người với nhau trong một cộng đồng xã hội xác định mà nhờ đó, con người có thể tạo dựng lòng tin, tạo mạng lưới xã hội phức hợp và tăng cường khả năng làm việc chung để đạt tới những kết quả cao cho sự phát triển của mỗi con người
và của cả cộng đồng xã hội [14] Theo hướng tiếp cận này, vốn xã hội bao gồm hai thành tố cơ bản Đó là mạng lưới quan hệ xã hội và niềm tin Mạng lưới xã hội, do con người có thể thiết lập được với những người khác về mặt
số lượng và chất lượng Các nhà xã hội học, vì vậy thường gắn vốn xã hội với
cơ cấu nhóm xã hội, cơ cấu phân tầng xã hội với các kiểu liên hệ và quan hệ
xã hội đặc trưng trong từng hệ thống xã hội Còn niềm tin xã hội được tạo ra bởi hệ thống các giá trị, chuẩn mực đạo đức, luật pháp, phong tục tập quán mà mỗi nhóm, mỗi giai tầng, mỗi cộng đồng xã hội đã xây dựng, đặt nền tảng cho cách tư duy và hành động của mình Chính nhờ mạng lưới các quan hệ xã hội
và niềm tin xã hội mà mỗi con người, mỗi chủ thể có những khả năng làm việc chung để nâng cao tối đa những lợi ích của cá nhân mình cũng như lợi ích của cả cộng đồng
Chỉ ra mối quan hệ giữa cá nhân và các nguồn lực xã hội, Portes, Van der Gaag & Snijders, cho rằng ở cấp độ cá nhân, vốn xã hội đề cập đến việc con người tiếp cận các nguồn lực thông qua mạng lưới xã hội tương hỗ Các nguồn lực xã hội cung cấp cho con người hai loại vốn khác nhau Đó là hỗ trợ
xã hội và đòn bẩy xã hội (Domínguez và Watkins) Theo họ, mối quan hệ hỗ trợ xã hội giúp đỡ các cá nhân để ứng phó với nhu cầu của cuộc sống hàng ngày và những căng thẳng khác Những mối quan hệ này nhằm cung cấp sự
hỗ trợ về mặt cảm thông và chia sẻ cũng như các hình thức trợ giúp cụ thể
Trang 32như phương tiện đi lại, khoản vay nhỏ, hoặc một nơi để ở trong trường hợp khẩn cấp Mặt khác, đòn bẩy xã hội đề cập đến việc sử dụng các mối quan hệ mạng lưới đối với di động xã hội
Trong nghiên cứu của Hogan, Hao, and Parish về mạng lưới xã hội cho
bà mẹ đơn thân tại Mỹ đã chỉ ra rằng, những hỗ trợ của gia đình phổ biến hơn cho những bà mẹ đơn thân và đặc biệt là những bà mẹ đơn thân là người da đen bởi vì những bà mẹ đơn thân da đen thường sống với người thân và họ nhận được sự hỗ trợ về tài chính cũng như chăm sóc con cái của họ
Lý thuyết mạng lưới xã hội với các góc nhìn khác nhau đã được sử dụng trong quá trình thao tác hóa khái niệm, từ những câu hỏi nghiên cứu đến các câu hỏi thực nghiệm Như vậy chúng ta có thể thấy rằng:
Thứ nhất, vị trí và vai trò của nguồn vốn xã hội trong mối quan hệ với các thành tố của hệ thống các nguồn vốn khác nhau khác Ở đây, trong năm nguồn vốn sinh kế của Chambers và Conway như đã nêu ở trên, nguồn vốn tự nhiên (đất đai, ruộng vườn…), vốn vật chất (nhà cửa, đồ dùng lâu bền và công
cụ lao động) vốn tài chính (tiền lương và các thu nhập khác) tương thích với những yếu tố về điều kiện sống về vật chất Vốn xã hội (bao gồm quan hệ, mạng lưới, thành viên nhóm, niềm tin, sự phụ thuộc lẫn nhau và trao đổi cung cấp các mạng lưới an sinh phi chính thức quan trọng) sẽ được xem xét trong lĩnh vực sinh hoạt văn hóa-tinh thần Vốn con người (các kỹ năng, tri thức, khả năng làm việc và sức khỏe…) là những biến số về nhân khẩu xã hội như trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác hay những vấn đề liên quan tới sức khỏe đều được chú trọng khảo sát và coi chúng như những biến độc lập để phân tích và so sánh sự sở hữu và vận dụng các loại nguồn vốn khác nhau giữa các nhóm công nhân là mẹ đơn thân trong các dạng hoạt động của họ
Thứ hai, xác định các chỉ báo của nguồn vốn xã hội Ở trên, cả hai nhóm
Trang 33tác giả Domínguez, Watkins và Nguyễn Chí Dũng, Nguyễn Thị Lan [14] khi
đề cập tới các thành tố của vốn xã hội đều đề cập tới yếu tố mạng lưới xã hội Đồng ý với các tác giả này, khi tìm hiểu vốn xã hội của các nhóm nữ công nhân nuôi con một mình ở Phú Thọ, chúng tôi đã xác định mạng lưới xã hội của họ thông qua việc yêu cầu họ liệt kê những người trong mối quan hệ xã hội đã từng được thiết lập của mình để có thể xác định được về mặt số lượng Bên cạnh đó, việc tham gia vào các tổ chức xã hội như hội phụ nữ, tổ công đoàn cũng là những cách thức mà họ sử dụng mạng lưới để mong nhận được sự hỗ trợ xã hội của mình Về mặt chất lượng, người trả lời sẽ được yêu cầu mô tả tính chất của các mối quan hệ đó theo thời gian (trong quá khứ và hiện tại)
Cũng theo lý thuyết vốn xã hội, khi con người dựa vào mạng lưới xã hội để tận dụng nguồn vốn xã hội, thì chính họ lại nhận được hai loại vốn khác nhau Đó là mối quan hệ hỗ trợ xã hội giúp đỡ các cá nhân để ứng phó với nhu cầu của cuộc sống hàng ngày và những căng thẳng khác Những mối quan hệ này nhằm cung cấp sự hỗ trợ về mặt cảm thông và chia sẻ cũng như các hình thức trợ giúp cụ thể Mặt khác, loại vốn thứ hai - đòn bẩy xã hội đề cập đến việc sử dụng các mối quan hệ mạng lưới đối với di động xã hội (Domínguez and Watkins) Do vậy, trong nghiên cứu, tác giả luận văn đã xác định thêm hai chỉ báo khi thu thập và khái quát hóa thông tin:
(1) Những mối quan hệ hỗ trợ xã hội, theo đó những biểu hiện mang tính hỗ trợ từ những người khác trong mạng lưới xã hội như phương tiện đi lại, các khoản vay nhỏ, giúp đỡ lúc mình hay con cái ốm đau, trông con cái lúc có việc khẩn cấp hay đi làm tăng ca, hoặc một nơi để ở trong trường hợp khẩn cấp v.v
(2) Yếu tố đòn bẩy xã hội, trong đó xem thử, ngoài việc sử dụng những khoản hỗ trợ xã hội trong cuộc sống thường ngày, những bà mẹ đơn
Trang 34thân có sử dụng các mối quan hệ trong mạng lưới để được thăng tiến về mặt chuyên môn, tay nghề hay vị thế xã hội nào đó hay không và nếu có thì như thế nào
Thứ ba, trong khi quan tâm tới các nguồn vốn, đặc biệt là vốn xã hội, tác giả cũng đã nhận ra rằng, các loại nguồn vốn mà con người sở hữu luôn có mối quan hệ hữu cơ với nhau Nếu một người, một chủ thể nào đó khi có vốn xã hội
sẽ có thể sử dụng vốn kinh tế, vốn văn hóa v.v… từ những người khác trong mạng lưới xã hội của mình Nhờ đó mà làm gia tăng những khả năng kinh tế,
xã hội lên gấp bội Cũng như vậy, nhờ vốn xã hội, người ta sẽ tạo dựng được niềm tin vào nhau, củng cố, phát triển bền vững được những mạng lưới xã hội hiện có Do đó, họ có thể tăng cường, phát triển năng lực kinh tế, xã hội theo nhiều hướng, làm được nhiều việc mà nếu chỉ riêng một chủ thể sẽ không thể làm được (Nguyễn Chí Dũng, Nguyễn Thị Lan) [16] Vì vậy, không dừng ở việc mô tả các nguồn vốn đó, mà tác giả luận văn còn phải chỉ ra được cách thức và những bà mẹ đơn thân tận dụng một cách linh hoạt các nguồn vốn khác vốn dĩ rất hạn hẹp của mình Tác giả đã giả định rằng đối với những người nữ công nhân nhập cư nguồn vốn tài nguyên, vật chất và tài chính (ruộng vườn, nhà cửa và thu nhập) rất hạn chế Để gia đình nhỏ của họ có thể tồn tại được,
họ phải tận dụng tối đa các nguồn vốn còn lại là chính bản thân họ với sức khỏe, kiến thức kỹ năng và nguồn vốn xã hội Nếu người mẹ đơn thân nào tận dụng được tốt nguồn vốn xã hội, họ có thể làm tăng các nguồn lực mà trước đó còn hạn chế
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Các chính sách liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình nếu hai chủ thể không đăng ký kết hôn thì hôn nhân không được coi là hợp pháp và sẽ không
Trang 35được pháp luật bảo vệ Tuy nhiên, để đảm bảo lợi ích cho các con sinh ra khi
bố mẹ không có hôn nhân hợp pháp, pháp luật vẫn có những quy định để đảm bảo lợi ích cho con giống như một đứa trẻ bình thường khác Tại Điều
101 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con đã quy định rất rõ ràng về việc đăng kí xác định cho con ngòa giá thú của cha mẹ Theo đó, việc đăng ký xác định cho con ngoài giá thú được thực hiện tại UBND cấp xã nơi con cư trú
Sau khi được hoàn thiện thủ tục xác nhận cha mẹ cho con thì con ngoài giá thú cũng sẽ có đầy đủ tất cả các quyền lợi của một người con bình thường như: Quyền cư trú, quyền hộ tịch, giám hộ, quyền tài sản, thừa kế… Về quyền
và nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con ngoài giá thú sẽ tuân theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình Cụ thể tại Điều 15 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam,
nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì quyền
và nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con Quy định này có nghĩa là dù là con trong giá thú hay con ngoài giá thú thì đều được hưởng những quyền và nghĩa vụ như nhau
Nghị định số 85/2015/NĐ-CP ngày 1/10/2015, quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về chính sách đối với lao động nữ, gồm: Quyền làm việc bình đẳng của lao động nữ; cải thiện điều kiện lao động, chăm sóc sức khỏe đối với lao động nữ; quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động của lao động nữ mang thai…; Thông tư 59/2015/TTBLĐTBXH của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ngày 29/12/2015 đã quy định cụ thể và hướng dẫn thi hành chế độ thai sản như: điều kiện hưởng chế độ thai sản, thời gian hưởng chế độ thai sản, mức hưởng chế độ thai sản
Trang 36Bộ Luật Lao động quy định: “Lao động nữ trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ: mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc để cho con bú, vắt, trữ sữa, nghỉ ngơi”; “người sử dụng lao động lắp đặt phòng vắt trữ sữa mẹ phù hợp với điều kiện thực tế tại nơi làm việc, nhu cầu của lao động nữ và khả năng của người sử dụng lao động” (Điều 7); quy định về tổ chức nhà trẻ, lớp mẫu giáo ở nơi có nhiều lao động nữ (Điều 9), (Điều 10) Chương X của Bộ
Luật Lao động 2012 đã có một số điều, khoản quy định về nguyên tắc bình đẳng giới, cấm phân biệt đối xử về giới, hỗ trợ người sử dụng lao động sử dụng nhiều lao động nữ Khoản 1 Điều 31 của Luật này đã có những quy định chi tiết về lao động nữ mang thai, lao động nữ sinh con
Nghị định số 67/2007/NĐ-CP về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội như “Người đơn thân thuộc diện hộ nghèo, đang nuôi con nhỏ dưới
16 tuổi; trường hợp con đang đi học văn hóa, học nghề được áp dụng đến dưới 18 tuổi” và Quy định này được hướng dẫn cụ thể tại khoản 1 Thông tư
số 09/2007/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Theo Điều 12 Luật Bảo hiểm Y tế thì tất cả trẻ em dưới 6 tuổi đều được hưởng chế
độ bảo hiểm miễn phí không phân biệt trẻ em trong gia đình có cả bố và mẹ hay trẻ em không có bố hoặc mẹ (Luật Bảo hiểm Y tế)
Có thể nói, trong những năm qua dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, của tổ chức Công đoàn, các doanh nghiệp đã chú trọng trong việc xây dựng môi trường, điều kiện việc làm, thực hiện tương đối đầy đủ các chế độ chính sách đối với lao động nữ, đã có nhiều nỗ lực quan tâm đến cuộc sống của gia đình người lao động nói chung theo luật định nhưng chưa có quy định
cụ thể nào buộc doanh nghiệp phải có chính sách bảo vệ hoặc hỗ trợ bà mẹ công nhân đơn thân
Như vậy chúng ta có thể thấy rằng trong những năm qua dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, của tổ chức Công đoàn, các doanh nghiệp đã chú
Trang 37trọng trong việc xây dựng môi trường, điều kiện việc làm, thực hiện tương đối đầy đủ các chế độ chính sách đối với lao động nữ, đã có nhiều nỗ lực quan tâm đến cuộc sống của gia đình người lao động nói chung theo luật định nhưng chưa có quy định cụ thể nào buộc doanh nghiệp phải có chính sách bảo
vệ hoặc hỗ trợ bà mẹ công nhân đơn thân
1.2.2 Đặc điểm của tỉnh Phú Thọ
Phú Thọ là tỉnh trung du miền núi phía bắc của Việt Nam, có vị trí trung tâm vùng và là cửa ngõ phía Tây Bắc của thủ đô Hà Nội
Hiện dân số của toàn tỉnh là 1,37 triệu người, trong đó dân số thành thị
là 255 nghìn người chiếm khoảng 18.6% dân số và dân số nông thôn chiếm khoảng 82.4% dân số toàn tỉnh Lực lượng lao động của tỉnh là 0,74 triệu người và mỗi năm được bổ sung thêm khoảng 5.000 lao động Với chất lượng ngày càng được nâng cao đội ngũ dân số trẻ này là lực lượng lao động hung hậu trong công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển kinh tế - văn hóa xã hội của tỉnh
1.2.3 Đặc điểm của khu công nghiệp Thụy Vân
Khu công nghiệp Thụy Vân là Khu công nghiệp đầu tiên của tỉnh, được thành lập từ năm 1998 Chủ đầu tư là Tổng Công ty Sông Hồng Nhưng do kém lợi thế cạnh tranh so với các địa phương khác và do chủ đầu tư không đủ năng lực tài chính, không thể đầu tư đồng bộ hạ tầng và thu hút các doanh nghiệp vào Khu công nghiệp Tình trạng đó làm cho Tổng Công ty Sông Hồng lâm vào tình trạng khó khăn nguy cơ thua lỗ lớn và đã đề nghị chuyển chủ đầu tư về địa phương
Để tháo gỡ khó khăn, UBND tỉnh đã thành lập Công ty phát triển hạ tầng Khu công nghiệp thuộc Ban quản lý các KCN Phú Thọ và được Thủ tướng Chính phủ cho phép tiếp nhận chủ đầu tư thực hiện dự án tại Quyết định số 740/QĐ-TTg ngày 18 tháng 6 năm 2002
Trang 38Hiện nay KCN Thụy Vân bao gồm các công ty:
1 Công ty TNHH công nghệ Namuga Phú Thọ
2 Công ty TNHH HWASHIN VINA
3 Công ty cổ phần xi măng Hữu Nghị
4 Công ty TNHH BANDO VINA
5 Công ty TNHH JEIL Phú Thọ
6 Công ty TNHH FLECON Việt Nam
7 Công ty TNHH Rừng Sinh Thái
8 Công ty TNHH thức ăn gia súc Văn Sơn
9 Công ty TNHH Hàn Việt COLOR COM
10 Công ty TNHH REFINE Việt nam
11 Công ty trách nhiệm hữu hạn VINA SELLEX
12 Công ty trách nhiệm hữu hạn TJB VINA
13 Công ty TNHH WOONG JIN
14 Công ty TNHH Hàn Việt Lô Cao Su
15 Công ty Cổ phần KSA POLYMER Hà Nội
16 Công ty TNHH WOORIM VINA
17 Công ty trách nhiệm hữu hạn TE VINA PRIME
18 Công ty TNHH DONG KUK Việt nam
19 Công ty trách nhiệm hữu hạn TAI RYONG Việt Nam
20 Công ty TNHH JNTC VINA
Khu công nghiệp Thụy Vân hiện nay vẫn đang là khu công nghiệp lớn nhất, thu hút được nhiều dự án đầu tư nhất, đóng góp nhiều nhất vào ngân sách Nhà nước, thu hút và giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động Do đặc thù ngành nên lao động nữ là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ công
nhân đang làm việc trong khu công nghiệp Thụy Vân
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT VÀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA CÁC BÀ MẸ CÔNG NHÂN ĐƠN THÂN Ở KHU CÔNG NGHIỆP
THỤY VÂN, TỈNH PHÚ THỌ
Trong chương này, luận văn sẽ tập trung đi vào tìm hiểu các đặc điểm
xã hội và cuộc sống của bà mẹ đơn thân là công nhân Nội dung của chương
sẽ nêu lên những đặc điểm nhân khẩu xã hội của bà mẹ đơn thân và tìm hiểu xem đời sống vật chất và tinh thần của họ ra sao Dựa trên những số liệu thực nghiệm thu được như nguồn gốc gia đình và đặc điểm cá nhân của bà mẹ đơn thân để phân tích; đồng thời cũng tìm hiểu rõ điều kiện sống như nhà ở, trang thiết bị, và hoạt động giải trí của bà mẹ đơn thân
2.1 Đặc điểm nhân khẩu xã hội
Điều đầu tiên chúng ta cần đi vào tìm hiểu là bà mẹ đơn thân là công nhân có đặc điểm nhân khẩu xã hội như thế nào? Dựa vào kết quả khảo sát mẫu định tính và định lượng công nhân là bà mẹ đơn thân đang làm việc ở các công ty thuộc khu Công nghiệp Thụy Vân, trong phần này nghiên cứu sẽ làm
rõ tuổi, học vấn, trình độ chuyên môn, thu nhập, loại hình hợp đồng lao động của các bà mẹ đơn thân
2.1.1 Tuổi, học vấn và trình độ chuyên môn
Tuổi, học vấn và trình độ chuyên môn của bà mẹ đơn thân là những yếu
tố thuộc về nguồn vốn con người như trong phần lý thuyết về nguồn vốn xã hội đã xác định
Độ tuổi
Qua khảo sát 150 bà mẹ đơn thân, kết quả cho thấy độ tuổi của bà mẹ đơn thân trong số các mẫu điều tra có độ tuổi từ 24 đến 55 tuổi, trong đó có 1/6 người
có độ tuổi trung bình từ 19 tuổi đến 25 tuổi (chiếm 14,67%) Nhóm tuổi từ 26 đến
35 chiếm 2/3 tổng số mẫu (69,33%) và nhóm còn lại, từ 36 tuổi trở lên là 16%
Trang 40Biểu đồ 2.1: Độ tuổi trung bình của các bà mẹ đơn thân
mẹ đơn thân còn trẻ, do hoàn cảnh sống xa nhà cùng với nhiều vấn đề mưu sinh trong cuộc sống nên việc phát sinh tình cảm yêu đương trai gái là không thể tránh khỏi, vì thiếu hiểu biết về phòng tránh thai nên dễ dẫn đến có thai ngoài ý muốn Đôi khi cũng có những trường hợp phụ nữ chủ động làm mẹ đơn thân nhưng không nhiều
Trình độ học vấn;
Trình độ học vấn của bà mẹ đơn thân cũng là một chỉ báo quan trọng cần được phân tích trong nghiên cứu này Bởi chỉ báo này sẽ có liên quan