1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý thông tin về tình hình dịch covid 19 trên các chương trình truyền hình của đài pt th bắc ninh

111 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý thông tin về tình hình dịch covid 19 trên các chương trình truyền hình của đài pt th Bắc Ninh
Tác giả Nguyễn Huy Tú
Người hướng dẫn TS. Phạm Thu Phong
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chuyên ngành Quản lý Báo chí Truyền thông
Thể loại Luận văn thạc sĩ báo chí học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những nội dung khách quan đó, tác giả lựa chọn đề tài “Quản lý thông tin về tình hình dịch Covid-19 trên các chương trình truyền hình của Đài PT-TH Bắc Ninh” làm đề tài cho luận văn t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN HUY TÚ

QUẢN LÝ THÔNG TIN VỀ TÌNH HÌNH DỊCH COVID-19 TRÊN CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CỦA ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Hà Nội – 2022

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN HUY TÚ

QUẢN LÝ THÔNG TIN VỀ TÌNH HÌNH DỊCH COVID-19 TRÊN CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CỦA ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH BẮC NINH

Chuyên ngành : Quản lý Báo chí Truyền thông

Mã số : 8 32 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM THU PHONG

Hà Nội – 2022

Trang 3

Luận văn đã được sửa chữa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

Hà Nội, ngày … tháng … năm 2022

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

(Ký, ghi rõ họ tên)

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:

Luận văn được tiến hành nghiên cứu một cách nghiêm túc, cầu thị Dưới sự hướng dẫn của TS Phạm Thu Phong, các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trên các phương tiện truyền thông đại chúng

Hà Nội, ngày tháng năm

Tác giả luận văn

Nguyễn Huy Tú

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn “Quản lý thông tin về tình hình dịch Covid-19 trên các chương trình truyền hình của Đài Phát thanh và Truyền hình Bắc Ninh”, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Phạm Thu Phong – người Thầy đã tận tình chỉ bảo, luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Bên cạnh đó, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới tập thể giảng viên Viện Báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên Truyền đã trao truyền cho tôi những kiến thức hữu ích về nghề cùng những kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình học tập tại đây

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo Đài Phát thanh và Truyền hình Bắc Ninh cùng đội ngũ phóng viên, nhà báo công tác tại Đài đã giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát, nghiên cứu đề tài

Trong suốt 2 năm thực hiện đề tài, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, người thân và bạn bè luôn động viên và tiếp thêm cho tôi động lực để hoàn thành luận văn này

Tác giả luận văn

Nguyễn Huy Tú

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

: Phó Giáo sư : Phát thanh – truyền hình

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu đồ 2.2 Đánh giá của công chúng về tần suất tin bài dịch Covid-19 42

Biểu đồ 2.4 Số lượng công chúng quan tâm tới thông tin dịch Covid-19 55 Biểu đồ 2.5 Số lượng tin bài về dịch Covid-19 trên truyền hình theo thể loại56

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 2.1 Mức độ quan tâm của công chúng về thông tin Covid-19 theo độ tuổi 38 Bảng 2.2 Tần suất phát sóng thông tin về tình hình dịch Covid-19 năm 2021 41

Bảng 2.4 Tỷ lệ tin bài về thông tin chỉ đạo của Chính phủ, tỉnh Bắc Ninh 49 Bảng 2.5 Tỷ lệ tin bài về thông tin kết nối, sẻ chia phòng chống dịch Covid-19 51 Bảng 2.6 Tỷ lệ tin bài về nguyên nhân, biểu hiện và cách phòng chống dịch 53 Bảng 2.7 Tỷ lệ tin bài thông tin về các nghiên cứu, kỹ thuật mới phòng dịch54

Trang 9

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ THÔNG TIN VỀ TÌNH HÌNH DỊCH COVID-19 TRÊN CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CỦA ĐÀI PT-TH BẮC NINH 14

1.1 Hệ thống khái niệm của đề tài nghiên cứu 14

1.2 Khung lý thuyết trong nghiên cứu đề tài 20

1.3 Vai trò của quản lý thông tin về tình hình dịch Covid-19 trên truyền hình 24

1.4 Các tiêu chí quản lý thông tin về dịch Covid-19 trên sóng truyền hình 28

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THÔNG TIN VỀ TÌNH HÌNH DỊCH COVID-19 TRÊN CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CỦA ĐÀI PT-TH BẮC NINH 34

2.1 Giới thiệu về Đài PT-TH Bắc Ninh và các chương trình khảo sát 34

2.2 Nhu cầu của công chúng và tần suất thông tin về tình hình dịch Covid-19 37

2.3 Khảo sát thực trạng quản lý thông tin tình hình dịch Covid-19 42

2.4 Thành công, hạn chế và nguyên nhân 62

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ 69

THÔNG TIN VỀ TÌNH HÌNH DỊCH COVID-19 69

TRÊN ĐÀI PT-TH BẮC NINH 69

3.1 Một số vấn đề đặt ra 69

3.2 Một số giải pháp 71

3.3 Kiến nghị cụ thể 74

KẾT LUẬN 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

PHỤ LỤC 88

TÓM TẮT LUẬN VĂN 101

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Dịch Covid-19 bắt đầu từ thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc

từ tháng 12 năm 2019 đến nay đã lan ra 221 quốc gia và vùng lãnh thổ, tổng

số ca mắc Covid-19 trên toàn cầu vượt 300 triệu ca, trong đó trên 5 triệu người không qua khỏi tính đến hết tháng 12 năm 2021

Mặc dù, các nước trên thế giới đã sản xuất và thực hiện tiêm chủng thành công những loại vaccine phòng, chống Covid-19 nhưng tình hình dịch vẫn đang đe dọa nghiêm trọng đến an toàn và sức khỏe của con người khi các biến chủng mới xuất hiện

Tại Việt Nam, từ cuối tháng 4/2021 đến nay, dịch bệnh Covid-19 diễn biến rất phức tạp, sự xâm nhập của các biến chủng mới như Delta, mới đây nhất là biến chủng Omicron đã làm cho tốc độ lây lan nhanh chóng, khó kiểm soát Với tinh thần chủ động, quyết liệt “chống dịch như chống giặc”, “toàn dân chống dịch” cả hệ thống chính trị, Chính phủ, các ban ngành, đoàn thể, các tổ chức hiệp hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đang dốc sức cùng với ngành Y tế thực hiện các biện pháp đẩy lùi dịch bệnh Covid-19

Để công tác chỉ đạo, điều hành tập trung, đáp ứng yêu cầu huy động nhanh nhất, hiệu quả nhất mọi nguồn lực, biện pháp để sớm ngăn chặn, kiểm soát dịch bệnh, đưa cuộc sống sinh hoạt và sản xuất trở lại trạng thái bình thường mới, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa XIII

đã chỉ rõ: Sau gần 2 năm kể từ khi xuất hiện, dịch Covid-19 vẫn diễn biến hết sức phức tạp, khó lường trên phạm vi toàn cầu, xuất hiện liên tục các biến chủng mới Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong phòng, chống dịch, thống nhất một ứng dụng công nghệ bảo đảm kết nối, liên thông, thuận lợi khi sử dụng và an ninh, an toàn thông tin Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền tạo đồng thuận, niềm tin xã hội; nâng cao nhận thức, tinh thần tự

Trang 11

giác, chủ động, tích cực của các cơ quan, đơn vị, địa phương, doanh nghiệp và người dân trong thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch

Chính vì vậy, việc chú trọng công tác tuyên truyền là hết sức quan trọng để tạo sự thống nhất nhận thức rằng “khống chế dịch tuyệt đối là rất khó khăn”; “phòng dịch vẫn là chính, là cơ bản, chiến lược, lâu dài; tuyệt đối không lơ là, chủ quan, mất cảnh giác”; các cấp, các ngành, doanh nghiệp, tổ chức, cơ quan, đơn vị cần chủ động các phương án, kịch bản chống dịch thích ứng, phù hợp, hiệu quả, với tinh thần “bảo vệ sức khỏe, tính mạng của Nhân dân là trên hết, trước hết”; công tác phòng, chống dịch phải “từ xa, từ sớm, từ

cơ sở”, người dân là trung tâm phục vụ, là chủ thể trong phòng, chống dịch;

xã, phường, thị trấn thật sự là “pháo đài”, người dân thật sự là “chiến sỹ” trong phòng, chống dịch

Đóng vai trò quan trọng trong xã hội hiện đại, luôn tiên phong đi đầu trong việc thông tin, tuyên truyền tới công chúng, huy động sự ủng hộ từ dư luận xã hội với các vấn đề lớn của đất nước Chính vì vậy, các cơ quan báo chí, các đoàn thể cần tiếp tục tuyên truyền, động viên, cổ vũ các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia phòng, chống dịch và triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong trạng thái bình thường mới với giải pháp chiến lược “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát có hiệu quả dịch Covid-19”

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng chống dịch Covid-19, các cơ quan báo chí từ Trung ương đến địa phương đều tích cực, thường xuyên thông tin về tình hình dịch Covid-19 Các thông tin được cập nhật liên tục, từng giây, từng phút phản ánh tình hình dịch và kịp thời truyền tải những khuyến cáo của cơ quan chuyên môn, hướng dẫn người dân nhận thức đẩy đủ nguy cơ và triển khai các biện pháp phòng chống dịch

Cùng với hệ thống các Đài PT-TH trên toàn quốc tích cực tham gia tuyên truyền, phổ biến thông tin về tình hình dịch Covid-19 tới công chúng,

Trang 12

Đài Phát thanh và Truyền hình Bắc Ninh (PT-TH Bắc Ninh) đã lập chuyên mục, chuyên đề riêng để truyền tải thông tin tới công chúng với tinh thần công khai, minh bạch cập nhật số ca nhiễm, số ca khỏi bệnh, số ca tử vong trong nước và trên địa bàn tỉnh Bên cạnh đó, Đài PT-TH Bắc Ninh cũng triển khai thực hiện những tin bài, phóng sự, câu chuyện, thước phim khắc họa hình ảnh các chiến sĩ áo trắng đang ngày đêm quên mình vì người bệnh ở tâm dịch đã làm lay động hàng triệu trái tim hay những nghĩa cử cao đẹp trong mùa dịch của từng cá nhân và đoàn thể Qua đó, nâng cao nhận thức của người dân, chuyển đổi hành vi, chủ động “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, phối hợp, tự giác thực hiện các biện pháp phòng chống dịch Covd-19, bảo vệ sức khỏe bản thân, gia đình và cộng đồng

Đặc biệt, phát huy ưu điểm của truyền hình với lợi thế về hình ảnh,

âm thanh, đồ họa sinh động Đài PT-TH Bắc Ninh đã góp phần đắc lực trong công cuộc phản bác các tin giả, sai sự thật về tình hình dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh, trở thành một trong những phương tiện thông tin đại chúng hàng đầu có sức lan tỏa, có tiếng nói và độ tin cậy với công chúng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Kể từ khi dịch Covid-19 xuất hiện, Ban lãnh đạo Đài PT-TH Bắc Ninh luôn quan tâm, chỉ đạo, quản lý sản xuất các chương trình truyền tải thông tin

về tình hình dịch Covid-19 Với sự chỉ đạo kịp thời, các chương trình của Đài PT-TH Bắc Ninh luôn đảm bảo tính định hướng, gắn liền với tôn chỉ, mục đích của kênh, của cơ quan báo Đảng

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì hoạt động quản lý thông tin về tình hình dịch Covid-19 của Đài PT-TH Bắc Ninh vẫn còn tồn tại những hạn chế Còn nhiều chương trình trên Đài PT-TH Bắc Ninh vẫn đi theo lối mòn, chưa có sự thay đổi về góc tiếp cận vấn đề cũng nhưng ứng dụng khoa học công nghệ, đồ họa vào trong quá trình sản xuất Cụ thể, về mặt nội dung thông tin, mặc dù các chương trình của Đài PT-TH Bắc Ninh luôn xác

Trang 13

định rõ nhiệm vụ tuyên truyền, nâng cao ý thức người dân về phòng chống dịch Covid-19, song những thông tin ở các chương trình vẫn còn bị dập khuôn, sơ sài, thiếu chiều sâu chưa đáp ứng được yêu cầu thông tin của công chúng truyền hình hiện đại Với thực tế trên, phần nào phản ánh thực trạng trình độ chuyên môn và năng lực của đội ngũ phóng viên, nhà báo, biên tập viên tại Đài PT-TH địa phương

Bên cạnh đó, phương thức quản lý thông tin chưa phát huy tốt vai trò trong hoạt động truyền thông báo chí Thực tế trong các chương trình có thông tin về tình hình dịch Covid-19 diễn ra phức tạp, song Đài PT-TH Bắc Ninh vẫn áp dụng phương thức quản lý còn nguyên tắc, do vậy những vấn đề nhiều khi chưa được phản ánh kịp thời, chưa nhiều tin bài thể hiện được thông tin mang tính thực tiễn cao

Mặt khác, dù có nhiều luận án, luận văn, khóa luận, bài nghiên cứu khoa học, bài báo… nghiên cứu về quản lý thông tin trên các loại hình báo chí nói chung, Đài PT-TH Bắc Ninh nói riêng, song chưa có bất kỳ công trình nào nghiên cứu chuyên sâu quản lý thông tin về tình hình dịch Covid-19 trên Đài PT-TH Bắc Ninh Từ những nội dung khách quan đó, tác giả lựa chọn đề

tài “Quản lý thông tin về tình hình dịch Covid-19 trên các chương trình truyền hình của Đài PT-TH Bắc Ninh” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp

bậc học Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Báo chí – Truyền thông Tác giả hy vọng kết quả nghiên cứu của luận văn có đóng góp nhất định cho lĩnh vực khoa học chuyên ngành, cung cấp cho các cơ quan báo chí, nhà quản lý báo chí một bức tranh tổng thể quản lý thông tin về tình hình dịch Covid-19 trên Đài PT-TH Bắc Ninh, cụ thể là quản lý thông tin về tình hình dịch Covid-19 trong chương trình truyền hình “Thời sự Bắc Ninh” và “BTV kết nối phòng chống dịch Covid-19”, từ đó đề xuất giải pháp phù hợp để cải tiến nội dung, hình thức cũng như phương thức quản lý khi thông tin về tình hình dịch Covid-19

Trang 14

2 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề

Ở nước ta đã và đang có rất nhiều hoạt động nghiên cứu cũng như đề tài khoa học, ấn phẩm về quản lý thông tin báo chí của các cá nhân, các nhà khoa học… Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu quản lý thông tin về tình hình dịch Covid-19 trên báo chí hay trên các Đài PT-TH nên đây là một khó khăn, thử thách đối với tác giả, nhưng đây cũng là cơ hội, nét mới để tác giả đóng góp những tư liệu cần thiết cho sự phát triển của báo chí nói chung, quản lý thông tin trên truyền hình nói riêng

Để có cái nhìn tổng quan về lịch sử vấn đề nghiên cứu, đồng thời hệ thống lại các khái niệm cho khung cơ sở lý thuyết, tiếp thu các kết quả nghiên cứu đã công bố, tác giả tổng hợp các công trình nghiên cứu về lý luận truyền thông đại chúng; các công trình nghiên cứu về quản lý báo chí; các công trình nghiên cứu về tình hình dịch Covid-19

2.1 Các công trình nghiên cứu lý luận về báo chí, truyền hình

Ở Việt Nam việc nghiên cứu báo chí, truyền hình được nhiều nhà nghiên cứu thực hiện, có nhiều công trình nghiên cứu đạt giá trị cao về mặt lý luận và thực tiễn, được coi là cơ sở lý luận cho các công trình nghiên cứu sau này Một vài công trình nghiên cứu như:

Nhóm tác giả Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang đã đưa

ra các chức năng của báo chí trong cuốn “C s u n áo h truyền thông”

như sau: chức năng giáo dục tư tưởng; chức năng quản lý giám và sát xã hội; chức năng phát triển văn hóa và giải trí Trong đó nhấn mạnh vào vai trò của báo chí trong xã hội

Tác giả Tạ Ngọc Tấn đưa ra quan điểm trong cuốn “Truyền thông i

h ng” rằng, nghiên cứu công chúng là nhiệm vụ hàng đầu trong hoạt động

của nghiên cứu truyền thông Để có thể phát triển báo chí trong giai đoạn hiện nay thì việc nắm rõ nhu cầu, đặc điểm của công chúng là điều tiên quyết để các sản phẩm báo chí đạt hiệu quả trong quá trình thông tin

Trang 15

Nhóm tác giả Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hằng trong cuốn “Truyền

thông thuyết và kỹ năng ản” đã đưa ra một cách hệ thống liên quan đến

truyền thông từ định nghĩa, đặc trưng đến việc đi sâu phân tích các lý thuyết truyền thông hiện đại, truyền thông đại chúng, lý thuyết về thông điệp truyền thông… Đây là nguồn tài liệu tham khảo quý giá đối với người viết về khái niệm thông điệp và các vấn đề liên quan đến phân tích thông điệp

Trong cuốn “Báo h thế giới – xu hướng phát triển” năm 2008,

PGS.TS Đinh Thị Thúy Hằng đi sâu phân tích xu hướng hội tụ truyền thông trên thế giới Đặc biệt, tác giả đưa ra quan điểm liên quan đến vai trò “đồng tác giả” giữa công chúng và các cơ quan truyền thông

Tác giả Dương Xuân Sơn trong công trình nghiên cứu “Giáo trình áo

h truyền hình” đã đưa ra những khái niệm, vị trí, vai trò, đặc trưng, đặc

điểm, sản phẩm và những yếu tố cơ bản của truyền hình Trong mỗi thể loại, tác giả đã khái quát sơ lược sự hình thành, phát triển, khái niệm và đặc trưng

cơ bản của từng thể loại

2.2 Các công trình nghiên cứu về quản lý báo chí

Lê Thanh Bình, Phí Thị Thanh Tâm (2009), Trong cuốn “Quản Nhà

nướ và pháp u t về áo h ” của nhóm tác giả Lê Thanh Bình, Phí Thị Thanh

Tâm đã đưa ra các nghiên cứu trọng tâm liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực báo chí, đặc biệt là vấn đề hành lang pháp lý, những vấn đề tồn đọng, hạn chế trong các văn bản pháp luật về báo chí ở nước ta hiện nay Qua những nghiên cứu thực tiễn, nhóm tác giả đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động quản lý của pháp luật về lĩnh vực báo chí

Trong cuốn “Quản Nhà nướ về thông tin và truyền thông”, tác giả

Lê Minh Toán đã đưa ra nhiều góc nhìn đa chiều về hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực báo chí truyền thông Tác giả còn cung cấp thêm những thông tin liên quan đến hoạt động quản lý lĩnh vực bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin Những phân tích, luận giải của tác giả về thanh tra, xử lý

Trang 16

vi phạm về thông tin và truyền thông là nguồn tài liệu quý để người viết kế tục trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài

Trong cuốn “Lãnh o và quản ho t ộng áo h Việt Nam hiện

nay” do tác giả Hoàng Quốc Bảo chủ biên đã luận giải nhiều khái niệm, quan

điểm về hoạt động quản lý, lãnh đạo lĩnh vực báo chí của Đảng và Nhà nước

Từ những thực tế, tác giả đã phân tích thực trạng tổ chức hoạt động của các

cơ quan báo chí trong giai đoạn đất nước đổi mới Bên cạnh đó, tác giả cũng đặt ra vấn đề đối với hoạt động quản lý báo chí của nước ta trong giai đoạn hiện nay Đây là nguồn tài liệu quý giúp người viết có cái nhìn tổng quan về hoạt động báo chí qua các thời kỳ

Cuốn “Quản và phát triển thông tin áo h Việt Nam” của tác giả

Đỗ Doãn Quý đã tổng hợp các bài viết, bài phát biểu về nhiều khía cạnh, chủ

đề liên quan tới hoạt động quản lý báo chí của tác giả trong thời gian công tác, quản lý Thông qua các bài viết, bài phát biểu, tác giả đã đi sâu phân tích thực trạng, những vấn đề còn tồn tại trong hoạt động quản lý, điều hành báo chí Mặt khác, từ kinh nghiệm thực tế, tác giả cũng đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động quản lý cũng như quá trình truyền tải thông tin tới công chúng giai đoạn tới

Bài viết “Một số vấn ề ủa ãnh o, quản áo h trong tình hình

hiện nay” đăng trên Tạp chí Cộng Sản của tác giả Trần Đăng Tuấn đã nêu ra

quan điểm, để quá trình thông tin tới công chúng được hiệu quả, nâng cao vai trò của các cơ quan báo chí trong giai đoạn truyền thông đa phương tiện thì việc tiên quyết là phải nâng cao tính chủ động trong các hoạt động điều hành của tòa soạn nói riêng, lãnh đạo quản lý báo chí truyền thông nói chung trong công tác quản lý nhà nước

Trong cuốn “Công tá ãnh o quản áo h trong 25 năm tiến

hành sự nghiệp ổi mới”, tác giả Nguyễn Thế Kỷ đã đặt ra những vấn đề về

cơ hội, thách thức của các tòa soạn trong giai đoạn cuộc cách mạng công nghệ

Trang 17

4.0 khi các phương tiện truyền thông số phát triển Mặt khác, tác giả cũng chỉ

ra những hạn chế trong công tác quản lý báo chí của Đảng, Nhà nước: vừa buông lỏng, vừa hữu khuynh, vừa áp đặt… từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp với điều kiện hoàn cảnh tại Việt Nam

Trong cuốn sách “Thông tin báo chí với công tác lãnh đạo, quản lý” nhóm tác giả Nguyễn Đức Lợi và Lưu Văn An đã đề cập tới các vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động quản lý báo chí trong giai đoạn hiện nay Nhóm tác giả nhận định, trong cuộc sống hiện đại, nhu cầu thông tin báo chí của công chúng vô cùng lớn, để đáp ứng được nhu cầu đó, các cơ quan báo chí cần có chiến lược quản lý bài bản, tạo ra những sản phẩm báo chí chuyên nghiệp, có chiều sâu, nắm bắt được nhu cầu của công chúng Song song với

đó, các cơ quan chức năng cũng cần chỉ đạo, điều hành bám sát thực tiễn

2.3 Các công trình nghiên cứu về tình hình dịch Covid-19

Để có cái nhìn toàn diện hơn về đề tài nghiên cứu, tác giả cũng khảo sát, tìm hiểu một số công trình nghiên cứu về tình hình dịch Covid-19 trên khía cạnh y tế

Một số sách tham khảo, chuyên khảo như: GS Trương Văn Hồng

(2020), “Dị h Covid-19 hiểu rõ và phòng ngừa ng á h”; Bộ Y tế (2020),

“Hướng dẫn ản trong phòng, hống dị h ệnh viêm ường hô hấp ấp (Covid-19)”; PGS TS Trần Đắc Phu, TS BS Nguyễn Việt Đồng (2020),

“Cẩm nang phòng, hống Covid-19 trong ảm ảo an toàn, vệ sinh ao ộng”; Bộ Giáo dục và Đào tạo (2020), “100 âu hỏi áp về phòng, hống

dị h ệnh Covid-19 trong á s giáo dụ ”; Scott Galloway (2020), “Thời

kỳ h u Corona – Luôn ó hội trong khủng hoảng”

Một số công trình nghiên cứu như: Hoàng Hải Đăng (2021), “Thự

tr ng kiến thứ , thự hành về phòng hống dị h ệnh Covid-19 ủa nhân viên

y tế t i một số tr m y tế xã và phòng khám a khoa khu vự trên ịa àn huyện Só S n, thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sĩ Y đa khoa, Đại học Y

Trang 18

Dược – ĐHQGHN; Nguyễn Thị Ánh Hồng (2021), “Thự tr ng kiến thứ ,

thái ộ và thự hành về phòng hống dị h ệnh Covid-19 ủa người dân t i 4

xã thuộ huyện Só S n, thành phố Hà Nội năm 2020”, Luận văn thạc sĩ Y đa

khoa, Đại học Y Dược – ĐHQGHN; Khuất Thị Thúy Quỳnh (2020), “Tá

ộng ủa i dị h Covid-19 ến ho t ộng Logisti t i Việt Nam”, Luận văn

thạc sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế – ĐHQGHN; Đồng Thị Hiền (2020), “Tá

ộng ủa i dị h Covid-19 ến ngành du ị h Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ

Kinh tế, Đại học Kinh tế – ĐHQGHN; Bùi Cẩm Vân (2020), “Tác động của Covid-19 đến nguồn vốn FDI vào Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Đai học Kinh tế - ĐH QGHN

Với việc hệ thống các công trình nghiên cứu đi trước, kế tục các kết quả nghiên cứu của các học giả, nhà nghiên cứu… giúp luận văn có tính hệ thống, đồng thời tham góp thêm những kết quả nghiên cứu mới về hoạt động quản lý báo chí nói chung, quản lý truyền hình nói riêng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc hệ thống các cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài, luận văn làm rõ thực trạng vấn đề quản lý thông tin về tình hình dịch Covid-19 trên các chương trình truyền hình của Đài PT-TH Bắc Ninh qua các khía cạnh về nội dung, hình thức chuyển tải, cách thức tổ chức sản xuất và đánh giá những thành công, hạn chế của hoạt động quản lý thông tin này

Từ đó, luận văn đóng góp một số giải pháp để nâng cao chất lượng quản

lý thông tin về tình hình dịch Covid-19 trên các chương trình truyền hình của Đài PT-TH Bắc Ninh nói riêng, các Đài PT-TH địa phương nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được các mục đích nghiên cứu nêu trên, tác giả thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

Thứ nhất, tổng hợp các tài liệu về lý luận báo chí nói chung và quản lý

Trang 19

thông tin báo chí nói riêng Từ đó, hệ thống hóa các khái niệm cơ bản, khung

lý thuyết làm nền tảng cho quá trình triển khai nghiên cứu đề tài

Thứ hai, khảo sát thực trạng quản lý thông tin, phân tích các khía cạnh nội dung, hình thức, cách thức tổ chức sản xuất các tin bài, phóng sự, phản ánh về tình hình dịch Covid-19 trên các chương trình truyền hình của Đài PT-

TH Bắc Ninh Qua đó, đánh giá thành công và hạn chế, chỉ ra những nguyên nhân trong việc quản lý thông tin về tình hình dịch Covid-19 trên sóng truyền hình địa phương

Thứ ba, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu các chuyên gia trong lĩnh vực báo chí, quản lý báo chí để có cái nhìn đa chiều về đề tài nghiên cứu

Cuối cùng, từ những kết quả thu được, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý thông tin trên báo chí nói chung, quản lý thông tin về tình hình dịch Covid-19 trên truyền hình nói riêng

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu quản lý thông tin về tình hình dịch Covid-19 trên các chương trình truyền hình của Đài PT-TH Bắc Ninh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Ph m vi không gian: Trong giới hạn nghiên cứu đề tài, tác giả chủ yếu

nghiên cứu, khảo sát quản lý thông tin về tình hình dịch Covid-19 trên các chương trình truyền hình của Đài PT-TH Bắc Ninh Cụ thể là 2 chương trình: Thời sự Bắc Ninh và BTV kết nối phòng chống dịch Covid-19 Hai chương trình này là chương trình tiêu biểu của Đài PT-TH Bắc Ninh trong việc truyền tải thông tin về tình hình dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh cũng như trên cả nước tới công chúng

Ph m vi thời gian: Năm 2021

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện dựa trên quan điểm, đường lối, chính sách của

Trang 20

Đảng và Nhà nước về báo chí, truyền thông, văn hóa trên các phương tiện truyền thông đại chúng

Luận văn vận dụng hệ thống lý luận báo chí, truyền thông, nghệ thuật sáng tạo thông điệp và hiệu quả tác động của thông điệp tới công chúng truyền thông

5.2 Phương pháp cụ thể

Trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài, tác giả vận dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:

- Phư ng pháp nghiên ứu ị h sử và sử dụng á tài iệu thứ ấp

Tác giả tiến hành sưu tầm, nghiên cứu các văn bản pháp luật, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến báo chí, truyền thông, dịch Covid-19 Song song với đó, tác giả cũng tiến hành tổng hợp tư liệu lý luận từ các ấn phẩm sách, tạp chí, các công trình khoa học liên quan đến đề tài đã được công bố

- Phư ng pháp phân t h nội dung

Tác giả sử dụng phương pháp này để khảo sát, phân tích nội dung, hình thức, phương thức quản lý thông tin về tình hình dịch Covid-19 trên các chương trình truyền hình của Đài PT-TH Bắc Ninh trong năm 2021 Qua đó, đánh giá thực trạng, thành công, hạn chế của quản lý thông tin về tình hình dịch Covid-19 trên các chương trình truyền hình với công chúng

- Phư ng pháp phỏng vấn sâu

Để luận văn có tính thuyết phục và thực tế cao, tác giả tiến hành phỏng vấn sâu các phóng viên, nhà báo phụ trách mảng Y tế để hiểu mục đích lựa chọn, truyền tải thông tin của người làm báo khi sản xuất các chương trình có nội dung về dịch Covid-19 Tác giả cũng phỏng vấn các nhà quản lý báo chí

để có cái nhìn khách quan về việc quản lý thông tin, tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình về tình hình dịch Covid-19 Từ đó, tổng hợp ý kiến

và đóng góp để nâng cao chất lượng quản lý thông tin về tình hình dịch

Trang 21

Covid-19 trên các chương trình truyền hình của Đài PT-TH Bắc Ninh nói riêng, các Đài PT-TH địa phương nói chung

- Phư ng pháp iều tra xã hội họ ằng ảng hỏi Anket

Tác giả thực hiện phương pháp này đối với công chúng nhằm mục đích điều tra mức độ và thói quen tiếp nhận thông tin cũng như hiệu quả của quá trình truyền tải thông tin về tình hình dịch Covid-19 trên các chương trình truyền hình của Đài PT-TH Bắc Ninh tới công chúng

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận

Đây là đề tài đầu tiên khảo sát quản lý thông tin về tình hình dịch Covid-19 trên các chương trình truyền hình của Đài PT-TH Bắc Ninh Đề tài không chỉ góp phần làm rõ diện mạo, nội dung và hình thức các tin bài, phóng

sự về tình hình dịch Covid-19 trên sóng truyền hình địa phương mà còn đánh giá vai trò của công tác quản lý thông tin, phương thức quản lý và sản xuất các chương trình truyền hình về tình hình dịch Covid-19 truyền tải thông tin tới công chúng qua sóng truyền hình địa phương

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Với việc khảo sát đầy đủ, toàn diện, có hệ thống, kết quả nghiên cứu

sẽ là cơ sở để các cơ quan báo chí nhìn nhận và đánh giá được mức độ, thói quen tiếp nhận thông tin của công chúng Qua đó, đội ngũ lãnh đạo các Đài PT-TH, những phóng viên, nhà báo biết cách khai thác, phát huy tối đa hiệu quả ưu thế của truyền hình để đem lại hiệu quả truyền thông, hấp dẫn công chúng

Thông qua nghiên cứu, khảo sát, phân tích, đánh giá hiệu quả quản lý thông tin về tình hình dịch Covid-19 trên các chương trình truyền hình của Đài PT-TH Bắc Ninh, người viết đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng quản lý và hiệu quả thông tin về tình hình dịch Covid-19 tới công chúng trên sóng truyền hình địa phương

Trang 22

7 Cấu trúc luận văn

Cấu trúc luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu quản lý thông tin về

tình hình dịch Covid-19 trên các chương trình truyền hình của Đài PT-TH Bắc Ninh

Chương 2: Thực trạng quản lý thông tin về tình hình dịch Covid-19

trên các chương trình truyền hình của Đài PT-TH Bắc Ninh

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý thông tin về tình hình

dịch Covid-19 trên các chương trình truyền hình của Đài PT-TH Bắc Ninh

Trang 23

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ THÔNG TIN

VỀ TÌNH HÌNH DỊCH COVID-19 TRÊN CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN

HÌNH CỦA ĐÀI PT-TH BẮC NINH

1.1 Hệ thống khái niệm của đề tài nghiên cứu

1.1.1 Khái niệm quản lý

Quản lý (management/ administration) là một quy trình phức tạp Mary Parker Follet gọi đó là “nghệ thuật”, và nhiều người đồng nhất quan điểm đó

là “một khoa học, một nghệ thuật và là một nghề”

Koontz và O’ Donnel cho rằng nhiệm vụ cơ bản của quản lý là “thiết kế

và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm để có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định” [54, tr 35]

Xét trong đời sống xã hội hiện đại, hoạt động quản lý càng trở nên cần thiết và phức tạp Hoạt động quản lý xuất hiện ở tất cả mọi nơi, mọi lúc, trong mọi công việc có sự tham gia của nhiều thành viên…

Từ nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau, cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đi trước đã nêu ra các quan điểm về quản lý Một số quan điểm có thể kể đến như sau:

Tác giả Frederick Winslow Taylor tiếp cận dưới khía cạnh Kinh tế - Kỹ

thuật, cha đẻ của học thuyết “Quản lý khoa học” cho rằng: “Quản à hoàn

thành ông việ ủa mình thông qua người khá và iết ượ một á h h nh

xá họ ã hoàn thành ông việ một á h tốt nhất và rẻ nhất” [45, tr 44]

Được mệnh danh là “cha đẻ” của học thuyết quản lý hiện đại, tác giả, Hanold Koontz đưa ra quan điểm trong cuốn “Những vấn đề cốt yếu của quản

lý” như sau: “Với sự nỗ ự ủa á nhân nhằm t ượ mụ h ủa nhóm

thì ho t ộng quản à một ho t ộng thiết yếu Với tư á h thự hành thì

á h quản à một nghệ thu t, òn kiến thứ tổ hứ về quản à một khoa

Trang 24

họ Mụ tiêu ủa mọi nhà quản à nhằm hình thành một môi trường mà trong ó on người ó thể t ượ á mụ h ủa nhóm với thời gian, tiền

v t hất và sự ất mãn á nhân t nhất” [54, tr 33]

Trong cuốn “Khoa học quản lý”, tác giả Nguyễn Minh Đạo đưa ra quan

điểm về quản lý như sau: “Quản à việ t tới mụ h ủa tổ hứ một

á h ó kết quả và hiệu quả thông qua quá trình p kế ho h, tổ hứ , ãnh

o và kiểm tra á nguồn ự ủa tổ hứ ” [15, tr 35]

Theo PGS TS Phạm Ngọc Thanh, trong cuốn “Khoa học quản lý đại

cương”, đã nêu ra khái niệm như sau: “Quản à sự tá ộng ó thứ ủa

chủ thể quản ể hỉ huy, iều khiển, hướng dẫn á quá trình quản xã hội, hành vi và hành ộng ủa on người nhằm t tới mụ h, ng với

h ủa nhà quản , phù hợp với quy u t khá h quan” [41, tr 20]

Thông qua những quan niệm của các học giả, nhà nghiên cứu cho thấy, cốt lõi của khái niệm quản lý đó là trả lời các câu hỏi: Ai quản lý? (Chủ thể quản lý); Quản lý ai? Quản lý cái gì? (Khách thể quản lý); Quản lý như thế nào? (Phương thức quản lý); Quản lý bằng cái gì? (Công cụ quản lý) và Quản

lý để làm gì? (Mục đích quản lý)

Từ đó, trong giới hạn luận văn nghiên cứu, tác giả xin tiếp cận khái

niệm quản lý như sau: “Quản à một quá trình tá ộng, gây ảnh hư ng

ủa hủ thể quản ên khá h thể quản một á h hợp quy u t nhằm sử dụng hiệu quả á nguồn ự ủa tổ hứ ể t ượ mụ tiêu ặt ra trong quản ”

1.1.2 Khái niệm thông tin

Theo E.P Prôkhôrốp, tác giả cuốn “Cơ sở lý luận của báo chí”, thông tin trong báo chí từ lâu thường được dùng trong ba nghĩa có quan hệ mật thiết với nhau: Đó là các thông báo ngắn không bình chú về các tin tức nóng hổi của đời sống trong nước và quốc tế; là danh mục nhóm các thể loại tin tức (các loại hình thông tin: tin ngắn, báo cáo, tường thuật, phỏng vấn); cuối cùng

Trang 25

thông tin đôi khi được hiểu là thể loại tin ngắn Nếu hiểu theo định nghĩa trên thì hơi bị bó hẹp và các tư liệu của một số bài báo hay một số chương trình sẽ không phải là thông tin như phóng sự, điều tra, phim tài liệu…

Theo Philippe Breton và Serge Proulx trong cuốn sách “Bùng nổ truyền

thông và sự ra ời một thứ hệ mới”, khai niệm thông tin có hai nghĩa: (i)

thông tin là nói về một hành động cụ thể để tạo thành một hình thái (frome); (ii) thông tin là nói về sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay biểu tượng Hai hướng luận giải này cùng tồn tại, một nhằm vào sự tạo lập cụ thể, một nhằm vào sự tạo lập kiến thức và truyền đạt Nó thể hiện sự gắn kết của hai lĩnh vực kiến thức và kỹ thuật [50, tr 89]

Trong hoạt động báo chí, thông tin là nguyên liệu để nhà báo làm nên tác phẩm báo chí Báo chí thực hiện quyền thông tin của nhân dân, nhà báo vừa là nguồn cung cấp thông tin đồng thời cũng là người thu thập thông tin

Còn theo nhóm tác giả trong cuốn “Cơ sở lý luận báo chí”, thông tin là một loại hình hoạt động để chuyển đi các nội dung thông báo Hoạt động thông tin không chỉ có trong xã hội loài người

Trong giới hạn luận văn, tác giả tiếp cận khái niệm thông tin như sau:

“Thông qua á phư ng tiện kỹ thu t, á o i hình áo h thông tin ượ huyển tải tới ông h ng Việ huyển tải thông tin này nhằm tá ộng tới hành vi, nh n thứ ủa ông h ng trong xã hội, t o p dư u n xã hội, thự hiện á hứ năng ủa áo h góp phần th ẩy xã hội phát triển” Cụ thể

hơn, trong luận văn là thông tin về tình hình dịch Covid-19 trên các chương trình truyền hình của Đài PT-TH Bắc Ninh hướng tới công chúng là người xem truyền hình

Ở dạng hoàn chỉnh, khái niệm thông tin chứa đựng nội dung rất phong phú, nó có quan hệ trực tiếp đến chức năng và hiệu quả của công tác báo chí, đến nguyên tác cung cấp thông tin, đến những yêu cầu nghiệp vụ báo chí và những nguyên tắc tác động lẫn nhau của các mặt nói trên Khái niệm thông tin

Trang 26

là nền tảng của công tác báo chí, cho nên khi nghiên cứu lý luận báo chí, nhà nghiên cứu luôn chú ý đến ý nghĩa của thuật ngữ này

1.1.3 Khái niệm Quản lý thông tin

Thông qua khái niệm về “quản lý” và “thông tin” đã trình bày ở trên, tác giả đưa ra khái niệm “quản lý thông tin” sở dụng trong giới hạn đề tài

nghiên cứu như sau: “Nhằm t ượ mụ tiêu ã ặt ra từ trướ , quản

thông tin à sự tá ộng ó tổ hứ và mụ h giữa hủ thể quản và ối tượng quản ”

Quản lý thông tin là một chu kỳ hoạt động bao gồm nhiều bước liên quan tới các bên thực hiện theo 4 chức năng cơ bản của quản lý: Hoạch định,

tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát, được triển khai khác nhau tại mỗi cơ quan báo chí, tùy theo đặc thù của tổ chức tòa soạn

1.1.4 Khái niệm truyền hình và chương trình truyền hình

1.1.4.1 Truyền hình

Trong cuốn “Giáo trình báo chí truyền hình”, PGS TS Dương Xuân

Sơn đưa ra khái niệm: “Truyền hình à một o i hình truyền thông i h ng

truyền tải thông tin ằng hình ảnh và âm thanh về một sự v t, hiện tượng ến người xem ằng sóng vô tuyến iện” [37, tr 12]

Với sự kết hợp giữa hình ảnh động và âm thanh, truyền hình như một làn gió mới đem đến cho công chúng cảm giác chân thật, các sự kiện như đang hiện diện trước mắt

Từ những quan điểm về truyền hình của các nhà nghiên cứu, tác giả

đưa ra khái quát về khái niệm truyền hình như sau: “Truyền hình à một

phư ng tiện thông tin i h ng, truyền t thông tin nhờ phư ng tiện kỹ thu t ến ối tượng tiếp nh n à người xem Thông tin trong truyền hình ao gồm: hình ảnh và âm thanh Hình ảnh trong truyền hình ó ả hình ảnh ộng

và hình ảnh tĩnh”

1.1.4.2 Chư ng trình truyền hình

Theo TS Trần Bảo Khánh viết trong cuốn “Sản xuất chương trình

Trang 27

truyền hình” có nêu rõ đặc điểm của chương trình truyền hình như sau:

“Chư ng trình truyền hình ề p ến á vấn ề ủa ời sống xã hội không phải một á h ngẫu nhiên như vẫn diễn ra, mà nó thường truyền tải á thông tin từ ngày này qua ngày khá , nhằm phụ vụ một ối tượng ông h ng xá ịnh” [23, tr 31] Đây là cách hiểu phổ biến về chương trình truyền hình

Trên cơ sở phân tích những kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu

đi trước, tác giả nhận thấy những khái niệm trên đã bao quát được khái niệm của chương trình truyền hình Tác giả hoàn toàn đồng ý với những khái niệm

mà các học giả đi trước đã đưa ra Trong giới hạn luận văn, tác giả tiếp cận

khái niệm chương trình truyền hình dưới góc độ như sau: “Chư ng trình

truyền hình à sản phẩm áo h hoàn hỉnh ượ hình thành từ một hay nhiều tin ài kết hợp những tài iệu khá nhau ể àm rõ một vấn ề nào ó,

ó thời ượng ổn ịnh ượ thự hiện i một t p thể á nhà áo, á án ộ

kỹ thu t qua nhiều giai o n và ượ phát sóng ịnh kỳ”

1.1.5 Khái niệm dịch Covid-19

Dịch Covid-19 là một loại bệnh do chủng mới của virus corona gây ra

Ca bệnh xác định đầu tiên được ghi nhận tại thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc vào ngày 3/12/2019 với các triệu chứng của viêm phổi do virus, bao gồm sốt, ho và khó thở

Phương thức lây truyền chủ yếu của nó hiện nay là lây truyền từ người sang người, thường được truyền thông qua các giọt dịch hô hấp mà con người hắt hơi, ho hoặc thở ra Một người nhiễm bệnh có thể xuất hiện các triệu chứng sau thời gian ủ bệnh kéo dài từ 2 đến 14 ngày, trung bình là 5 ngày, trong thời gian đó vẫn có thể truyền nhiễm

Tại cuộc họp báo của WHO ngày 11/2/2020 ở Geneva, Thụy Sĩ, Tổng Giám đốc Tedros Adhanom Ghebreyesus công bố “Covid-19” là tên chính thức của loại virus nCoV xuất phát từ Trung Quốc Tổng Giám đốc WHO giải thích: chữ “Co” là viết tắt của “Corona”; chữ “vi” là viết tắt của “virus”; chữ

Trang 28

“d” là viết tắt của “disease” (dịch bệnh” và “19” là để chỉ năm 2019 – năm xuất hiện dịch bệnh này Covid-19 được WHO lựa chọn vì không liên quan đến vị trí địa lý, loài động vật, cá nhân hay nhóm người nào Việc đặt tên chính thức cho dịch bệnh giúp ngăn ngừa sử dụng những tên gọi không chính xác hoặc mang tính phân biệt, kỳ thị

Ngày 28/2/2020, WHO đã nâng mức cảnh báo lây nhiễm toàn cầu đối với dịch Covid-19 lên mức rất cao sau khi ghi nhận dịch bệnh tại gần 60 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới với gần 84.000 ca nhiễm Dịch bệnh đã vượt qua biên giới, lây lan toàn cầu khiến nhiều người tử vong Ngày 11/3/2020, WHO đã chính thức tuyên bố Covid-19 là đại dịch toàn cầu

Tại Việt Nam, ghi nhận trường hợp mắc Covid-19 đầu tiên ngày 23/1/2020 Tính đến ngày 1/4/2020, ghi nhận tổng số 212 ca mắc Covid-19 Ngày 1/4/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định về việc công bố dịch Covid-19 Tên dịch bệnh là Covid-19 (dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona gây ra) Địa điểm và quy mô xảy ra dịch phạm vi toàn quốc Tính chất, mức độ nguy hiểm của dịch là bệnh truyền nhiễm nhóm A, nguy cơ ở mức độ đại dịch toàn cầu Đường lây truyền qua đường hô hấp từ người sang người Các biên pháp phòng, chống dịch thực hiện theo Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm

Như vậy, trong luận văn khái niệm dịch Covid-19 được hiểu: “Là ệnh

truyền nhiễm do virus SARS-CoV-2 gây ra, ây an trên toàn ầu”

1.1.6 Khái niệm quản lý thông tin về tình hình dịch Covid-19 trên các chương trình truyền hình

Trong giới hạn đề tài nghiên cứu này, tác giả tiếp cận khái niệm quản lý thông tin về tình hình dịch Covid-19 trên các chương trình truyền hình như

sau: “Quản thông tin về tình hình dị h Covid-19 trên á hư ng trình

truyền hình à sự tá ộng ó tổ hứ , ó ịnh hướng ủa hủ thể quản kênh truyền hình ên khá h thể quản thông qua nội dung và phư ng thứ

Trang 29

quản , nhằm sử dụng ó hiệu quả nhất á nguồn ự ủa kênh ể t ượ

mụ tiêu ã ặt ra về xây dựng kênh/ hư ng trình/ thông tin huyên sâu về tình hình dị h Covid-19”

1.2 Khung lý thuyết trong nghiên cứu đề tài

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài “Quản lý thông tin về tình hình dịch Covid-19 trên các chương trình truyền hình của Đài PT-TH Bắc Ninh”, tác giả tiếp cận mục tiêu và các nội dung nghiên cứu dựa trên những lý thuyết chính sau đây:

1.2.1 Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự (Agenda Setting)

Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự mô tả sự ảnh hưởng mạnh mẽ của truyền thông trong việc xác lập tầm quan trọng của thông tin được gửi tới công chúng Theo lý thuyết này, mức độ quan tâm của công chúng đến các vấn

đề trong xã hội chủ yếu bắt nguồn từ tần suất và cường độ mà báo chí đưa tin

Walter Lippmann, trong cuốn “Công luận” (Public Opinion, 1922) [58], đã chỉ ra rằng con người thường có xu hướng quan tâm tới một số vấn

đề nhất định chứ không đủ thời gian và năng lực để quan tâm hết các vấn đề trong xã hội Trong nghiên cứu của mình, Lippmann cho thấy một người bình thường sẽ không thể đưa ra những quyết định chính trị quan trọng chỉ dựa trên những hình ảnh và thông tin mà họ thấy, mà họ cần sự định hướng từ những chuyên gia hay những người có tầm ảnh hưởng, và cách thức cơ bản nhất để công chúng tiếp cận những đối tượng này chính là thông qua các phương tiện truyền thông

Mặc dù không sử dụng chính thức thuật ngữ này, Bernard Cohen (1963) [57] đã chắt lọc ý tưởng từ Lippmann thành thuyết thiết lập chương trình nghị

sự Theo ông, báo chí có quyền lực thông tin nhiều hơn so với bất cứ cá nhân nào trong việc cung cấp thông tin và phản ánh ý kiến Thông thường việc tác động đến suy nghĩ của một cá nhân là khó, nhưng các kênh truyền thông thường xuyên làm điều đó thành công với độc giả Thế giới trở nên khác biệt

Trang 30

đối với những người khác nhau, không chỉ phụ thuộc vào cách nhìn nhận của mỗi cá nhân, mà còn phụ thuộc vào những gì báo chí truyền tải cho họ

Nghiên cứu của Cohen đã trở thành cơ sở hình thành cho thuyết thiết lập chương trình nghị sự Thuyết này được làm rõ và xác lập chính thức bởi các nghiên cứu của Maxwell McCombs E và Donald Shaw (1972) [59, tr

176 – 187] Các tác giả giải thích về sự thiết lập chương trình như sau: Khi lựa chọn và hiển thị tin tức, biên tập viên, nhân viên phòng tin tức, và các đài truyền hình đóng trai trò quan trọng trong việc định hình các quan điểm chính trị Công chúng không chỉ tìm hiểu thông tin về một vấn đề được đưa ra, mà còn quan tâm tới tầm quan trọng của vấn đề đó thông qua cách thức, thời lượng và vị trí đăng tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng Nói cách khác truyền thông có thể thiết lập “chương trình nghị sự” cho một chiến dịch truyền thông

Ngày nay, chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng các tin tức được lựa chọn trong chương trình Thời sự luôn được khán giả ngầm hiểu đó là những tin tức có tầm quan trọng, nổi bật Tin tức được đăng tải ở vị trí trên trang nhất của báo in, tạp chí cũng có hiệu quả “thiết lập chương trình nghị sự” lớn Thứ nhất, công chúng thường quan tâm đến những tin tức được đưa lên phía trên, hay còn gọi là “trang nhất” của các tờ báo, hoặc vị trí ưu tiên Thứ hai, công chúng chấp nhận một thỏa thuận ngầm mà các tờ báo tạo ra, đó là những tin tức ở trang đầu là những thông tin có giá trị và quan trọng nhất

Tóm lại, thuyết thiết lập chương trình nghị sự khẳng định rằng, truyền thông đại chúng trong đó có truyền hình có sức mạnh làm tăng mức độ quan trọng mà khán giả đánh giá về các vấn đề, sự kiện Chúng làm tăng sự nổi bật của các vấn đề hay tạo ra sự tiếp nhận dễ dàng từ phía công chúng Thông thường những vấn đề được các phương tiện truyền thông ưu tiên và dành nhiều thời lượng sẽ có khả năng trở thành tin tức được công chúng quan tâm hơn vì cho rằng đó là những thông tin quan trọng và đáng chú ý

Trang 31

Bằng cách sử dụng lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự, luận văn sẽ làm rõ hơn vai trò của chương trình truyền hình thông tin về dịch Covid-19 trên Đài PT-TH Bắc Ninh thông qua việc sắp đặt chương trình nghị sự cho công chúng, định hướng công chúng vào những vấn đề đang diễn ra, những vấn đề mà dư luận đang quan tâm Do đó, khi vận dụng lý thuyết này cho thấy, để thiết lập được chương trình nghị sự thì yếu tố tổ chức sản xuất được coi là vấn đề cơ bản như tổ chức nhân sự, tổ chức máy móc, trang thiết bị, tổ chức sản xuất nội dung

1.2.1 Lý thuyết đóng khung (Framing theory)

Lý thuyết đóng khung bao gồm một tập hợp các khái niệm được rút ra

từ xã hội học và khoa học truyền thông, nhằm mục đích giải thích tại sao mọi người tập trung sự chú ý của họ vào một số khía cạnh nhất định của thực tế

mà không phải là những khía cạnh khác Ngoài ra, tại sao đa số công chúng lại nhìn thấy thực tế theo một cách nhất định

Trong cuốn sách “Steps to an E o ogy of Mind”, nhà nhân chủng học

Gregory Bateson (1972) lần đầu tiên định nghĩa khái niệm đóng khung là

“giới h n không gian và thời gian ủa một t p hợp á thông iệp tư ng tá ”

Có thể nói, lý thuyết đóng khung gắn liền với thuyết thiết lập chương trình nghị sự (Agenda setting theory) Cả hai đều tập trung vào cách truyền thông thu hút sự chú ý của cộng đồng vào các chủ đề cụ thể Tuy nhiên, lý thuyết đóng khung lại được coi là bước tiến cao hơn của thuyết thiết lập chương trình nghị sự bởi cách người làm truyền thông tạo ra một khung thông tin, giải thích và mô tả bối cảnh của vấn đề để giành sự ủng hộ tối đa từ công chúng

Erving Goffman (1974) đề cập thời lý thuyết này trong cuốn “Frame

Analysis: An essay on the organization of experience” Ông cho rằng,

“khung” chính là những giản ồ ủa sự diễn giải (schemata of interpretation),

mọi người giải thích những gì đang diễn ra xung quanh thế giới của họ thông qua “khung” của chính họ Sự đóng khung này được hiểu là quá trình tổ chức

Trang 32

các kinh nghiệm, tìm ra ý nghĩa của chúng trong sự tham chiếu tới những nhận thức có sẵn Sức mạnh của việc đóng khung chính là ở chỗ con người buộc phải viện tới các hệ thống quen thuộc, ví dụ như hệ thống biểu tượng, tri thức, huyền thoại… để diễn giải về một hiện tượng bất kỳ trong đời sống xã hội Có hai mặt tồn tại trong khung này đó là mặt tự nhiên và mặt xã hội Mặt

tự nhiên xem xét các sự kiện đơn thuần diễn ra một cách tự nhiên và không có bất kỳ lực lượng xã hội nào tác động vào nguyên nhân của sự kiện Mặt xã hội xem xét sự kiện như một việc bị thao túng bởi bàn tay của người khác Hai mặt này sẽ tác động đến việc các dữ liệu sẽ được phân tích, xử lý và truyền tải như nào Goffman cho rằng, con người đều sử dụng cả hai mặt này hàng ngày

dù họ có ý thức được điều đó hay không

Đóng khung là cách mà một người xác định và xây dựng phần thông tin

mà họ truyền đạt Đóng khung là một phần không thể tránh khỏi trong giao tiếp của con người bởi tất cả chúng đều mang những khung hình riêng cho giao tiếp của mình

Sau khi Goffman áp dụng lý thuyết đóng khung vào phạm vi tổ chức kinh nghiệm của con người, nhiều nhà nghiên cứu đã phát triển lý thuyết này cho lĩnh vực hẹp hơn là truyền thông đại chúng Trong bài phân tích về di sản của Goffman, Gamson William cho rằng, quá trình đóng khung của báo chí là

“gần như hoàn toàn ngầm ẩn, và ượ thừa nh n như ẽ tất nhiên Cả nhà

áo ẫn ông h ng ều không nh n ra rằng ây thự hất à một quá trình kiến t o mang t nh xã hội (so ia onstru tion), mà hỉ n giản xem nó à việ phóng viên truyền tải thông tin”

Định nghĩa tường minh nhất về quá trình đóng khung của truyền thông

đại chúng có lẽ được đưa ra bởi Robert Entman (1993), “Quá trình óng

khung hủ yếu iên quan tới việ ựa họn (se e tion) và àm nổi t (sa ien e) Đóng khung ó nghĩa à ựa họn một số kh a nh trong á h hiểu về hiện thự , rồi àm ho nó nổi t ên trên văn ản truyền thông ằng

Trang 33

á h nhấn m nh vào á h ặt vấn ề, một á h giải, một á h ánh giá

và cái gì được nhấn mạnh” trong bài viết của mình chứ không chỉ đơn thuần

về quê đón Tết… sau đó từ các tỉnh đổ về các đô thị để làm việc trở lại Khi dịch ở Ấn Độ và một số nước trong khu vực châu Á với các dấu hiệu biến chủng của virus, báo chí thông tin cảnh báo và đưa ra những bài học kinh nghiệm, phòng chống dịch hữu ích

Thời gian qua, báo chí kịp thời thông tin, tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ trong công tác phòng chống dịch Covid-19 và công tác triển khai thực hiện của các

bộ, ngành địa phương, đặc biệt là chính sách hỗ trợ cho người lao động và người nghèo bị ảnh hưởng Covid-19, thủ tục nhận hỗ trợ theo các gói, điểm phát khẩu trang miễn phí, điểm phát quà cho người nghèo… Đồng thời phản ánh những vưỡng mắc trong thực tế khi thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, giúp các cơ quan chức năng điều chỉnh kịp thời và phù hợp với tình hình thực tiễn Thông qua báo

Trang 34

chí, các thông tin chỉ đạo, điều hành của chính phủ về phòng, chống dịch Covid-19 được chia sẻ một cách rộng rãi, nhanh chóng, có sự phân tích, bình giải nhằm nâng cao nhận thức cho người dân, qua đó tạo được sự đồng thuận của toàn xã hội

Bên cạnh đó, báo chí còn cung cấp thông tin, kiến thức giúp người dân

có nhận thức đúng và từ đó thay đổi thái độ, hành vi theo hướng tích cực trong phòng, chống dịch Covid-19, báo chí còn là diễn đàn trao đổi, chia sẻ những kỹ năng và kinh nghiệm phong phú nhằm nâng cao trình độ dân trí, đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững; tập hợp các nguồn lực của xã hội tham gia giải quyết các vấn đề liên quan đến phòng, chống dịch và các vấn đề dân sinh, xã hội khác

Báo chí kịp thời phản ánh, biểu dương những tấm gương tiêu biểu trong hoạt động phòng chống dịch và hỗ trợ người dân, y bác sĩ, lực lượng vũ trang, sinh viên, nhân viên phục vụ ở các điểm cách ly, các tổ chức, cá nhân

đã có nhiều sáng kiến trong hoạt động này Từ những tấm gương tốt của tập thể, cá nhân được báo chí phát hiện, tuyên truyền, cổ vũ và nhân rộng, trở thành phong trào trong toàn dân như phong trào tình nguyện của những y bác

sĩ, những quân nhân, sinh viên… tham gia tuyến đầu chống dịch Covid-19, phong trào thiện nguyện tặng các thiết bị y tế, thuốc men cho các bệnh viện, các bác sĩ và bệnh nhân nhiễm Covid-19

Quản lý thông tin về tình hình dịch Covid-19 trên các chương trình truyền hình của Đài PT-TH Bắc Ninh là hoạt động mang tính then chốt, góp phần quyết định chất lượng thông tin Covi-19 trên các chương trình truyền hình

1.3.1 Đảm bảo thông tin về tình hình dịch Covid-19 đúng định hướng của Đảng, Nhà nước

Đối với dịch Covid-19, quan điểm xuyên suốt của Đảng, Nhà nước, Chính phủ là chủ động, không chủ quan, huy động sức mạnh và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, cộng đồng xã hội “chống dịch như chống giặc”

Trang 35

không giấu dịch, hàng ngày, thông tin về các ca mắc mới liên tục được cập nhật cùng với các chỉ đạo, chủ trương của Chính phủ, Ban Chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch Covid-19, các khuyến cáo của Bộ Y tế được gửi đến người dân cả nước, giúp người dân hiểu, nắm bắt được tình hình dịch bệnh, chủ động có biện pháp tự bảo vệ sức khỏe bản thân và gia đình

Tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp từng giờ, từng ngày, khi xuất hiện ca bệnh nghi ngờ hoặc ca bệnh xác định mắc Covid-19, công tác phòng chống dịch bệnh triển khai thần tốc từ truy vết, điều tra dịch tễ, xét nghiệm, khoanh vùng phong tỏa, xử lý ổ dịch, điều trị ca bệnh… các hoạt động diễn ra không kể ngày, đêm Với ưu điểm của truyền hình, các thông tin luôn đảm bảo tính nhanh nhạy, trung thực, độ chính xác cao được truyền tải đến công chúng thông qua các chương trình truyền hình

Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông cũng yêu cầu toàn ngành thông tin và truyền thông phối hợp với Bộ Y tế định hướng nội dung thông tin

về phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus corona trên báo chí về hệ thống thông tin cơ sở, thông tin đối ngoại, các mạng lưới quảng cáo trên các nền tảng các khác nhau; Xây dựng các tin, bài tuyên truyền trên báo chí nhằm củng cố vững chắc niềm tin của công chúng, phản bác các tin giả trên mạng xã hội

Phát huy vai trò xung kích của báo chí Việt Nam nói chung và truyền hình nói riêng luôn là lực lượng nòng cốt đấu tranh, phản bác lại các thông tin sai lệch về đường lối của Đảng và Nhà nước trong công tác phòng chống dịch Covid-19 góp phần ổn định dư luận xã hội, tuyên truyền sâu rộng giúp công chúng nắm bắt được thông tin và tuân thủ đúng theo hướng dẫn của Chính phủ Song song với đó, báo chí còn là cầu nối gắn kết tinh thần đoàn kết giữa công chúng và các cơ quan chứ năng trong công cuộc đẩy lùi dịch bệnh Thông qua đó tiếp tục khẳng định vai trò của các cơ quan báo chí trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, trong việc nâng cao dân trí trong nhân dân

Trang 36

1.3.2 Cung cấp thông tin phòng chống dịch bệnh chính xác, rõ ràng,

dễ hiểu, thiết thực, kịp thời, minh bạch

Đại dịch Covid-19 là dịch bệnh mới nổi, nguy hiểm, dịch bệnh xảy ra không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe người dân mà còn ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội… Nếu không có những cảnh báo, định hướng, khuyến cáo, chỉ dẫn khoa học về cách phát hiện bệnh, những hướng dẫn cụ thể chi tiết

về cách thức phòng chống dịch, thì dịch bệnh lây lan nhanh gây hậu quả nghiêm trọng Đặc biệt, sức khỏe và tính mạng của người dân là quan trọng, việc tuyên truyền, truyền thông tốt sẽ làm thay đổi hành vi, nhận thức của người dân từ đó không chỉ nâng cao sức khỏe mà còn góp phần củng cố niềm tin của nhân dân với hệ thống an sinh xã hội Xác định được điều đó, truyền hình tham gia tích cực truyền tải thông tin phòng chống dịch bệnh đến công chúng, những thông tin y tế khoa học, chính xác, rõ ràng, dễ hiểu, thiết thực, kịp thời, minh bạch… để công chúng hiểu và chủ động phòng chống dịch

1.3.3 Góp phần định hướng dư luận xã hội

Truyền hình tích cực tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần tạo sự đồng thuận trong xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, nhất là trong giai đoạn đất nước ta phải căng mình phòng chống dịch bệnh Covid-19 Truyền hình từ tích cực phát hiện và phản ánh trung thực những điển hình tiên tiến,

cổ vũ nhân tố mới, những người tốt, việc tốt, những biểu hiện tích cực nảy sinh trong đời sống kinh tế - xã hội, kịp thời phản ánh, biểu dương những tấm gương tiêu biểu trong hoạt động phòng chống dịch như các y bác sĩ, lực lượng

vũ trang quân đội, công an, nhân viên phục vụ ở các điểm cách ly, các tổ chức, cá nhân đã có nhiều sáng kiến góp phần tích cực trong công tác phòng chống dịch Covid-19 Những thông tin tích cực, hành động tử tế, những câu chuyện đẹp trong thời dịch được truyền hình chuyển tải mang đến sự lạc quan, tinh thần đoàn kết, sẻ chia hướng đến mục tiêu chiến thắng đại dịch

Trang 37

1.3.4 Góp phần tăng cường chức năng giám sát, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, chống lại các tin giả về dịch bệnh Covid-19

Thông qua việc quản lý thông tin về tình hình dịch Covid-19 trên sóng truyền hình đã góp phần đắc lực phát huy sức mạnh xung kích của truyền hình

Trước thực trạng “ma trận” thông tin về đại dịch Covid-19 xuất hiện trên mạng xã hội khiến người dân hoang mang, lo lắng thì thông tin Covid-19 trên các chương trình truyền hình do Đài truyền hình phát sóng đã tăng cường đấu tranh, phản bác thông tin, quan điểm sai trái, thù địch trên các trang mạng

xã hội, lên án mạnh mẽ những hành vi sai trái, dẹp bỏ tin đồn thất thiệt, gây hoang mang dư luận xã hội Đưa tin nhanh chóng, kịp thời việc các cơ quan chức năng xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy định về phòng chống dịch Covid-19, mang đến thông tin chính thống để người dân bình tĩnh, không hoang mang nhưng cũng không chủ quan trước dịch bệnh

Đồng thời, truyền hình cũng tích cực giám sát các hoạt động phòng chống dịch Covid-19 theo chỉ đạo của Trung ương và địa phương, phản ánh những hoạt động chủ quan, lơ là, không chấp hành nghiêm của người dân, cơ quan, tổ chức… để có những biện pháp xử lý kịp thời

Có thể thấy, báo chí nói chung, truyền hình nói riêng đang hàng ngày hàng giờ tham gia vào công tác tổ chức, quản lý xã hội, đặc biệt là việc quản

lý thông tin và cung cấp thông tin về tình hình dịch Covid-19 đến công chúng một cách nhanh chóng, chính xác khi tình hình dịch Covid-19 vẫn đang diễn biến phức tạp

1.4 Các tiêu chí quản lý thông tin về dịch Covid-19 trên sóng truyền hình

1.4.1 Nội dung thông tin

Thứ nhất, là nội dung thông tin phải rõ ràng, đầy đủ và chính xác, bảo đảm độ tin cậy cao, gắn với sự kiện có thật Trong hoạt động báo chí không

có sự kiện sẽ không có tin tức Và sự kiện có thật trở thành tin tức khi sự kiện

Trang 38

ấy có ý nghĩa xã hội và được con người nhận thức, tái hiện, loan báo trên báo chí, truyền hình Thông tin về tình hình dịch Covid-19 phải là thông tin chính xác, đảm bảo độ tin cây

Thứ hai, là nội dung thông tin phải mới mẻ Đây là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên giá trị của tin tức Báo chí thông báo sự kiện mới xảy ra, mới biết được hoặc xảy ra đã lâu nhưng nay có ý nghĩa mới, có liên quan đến hoạt động phòng, chống dịch Covid-19 Như vậy, thông tin về tình hình dịch Covid-19 gắn với yếu tố “mới” Cái “mới” này được đặt trong mục đích, nhu cầu và lợi ích mà thông tin có thể đem lại Thông tin mới trong lĩnh vực này phải được cập nhật thường xuyên, liên tục

Thứ ba, là nội dung thông tin phải kịp thời Điều này đòi hỏi các chương trình truyền hình phải xuất hiện đúng lúc, đáp ứng được nhu cầu của công chúng và sự quan tâm của họ tại thời điểm đó Theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững “Các tin tức dù rất chân thực và mới mẻ nhưng nếu không kịp thời chuyển tải đến công chúng thì cũng trở thành tin tức cũ, sẽ mất đi giá trị của mình Cho nên, việc đăng tải các tin tức phải dùng tốc độ nhanh nhất có thể, trong thời gian ngắn nhất có thể, để đưa tin những sự vật, hiện tượng mới phát sinh hoặc đang trong quá trình xảy ra đến cho công chúng, đây là một tính chất căn bản của thông tin” [7, tr 66] Các nội dung thông tin về tình hình dịch Covid-19 phải phản ánh đầy đủ, trung thực các vấn đề liên quan tới tình hình dịch để công chúng có thể nắm bắt thông tin

Thứ tư, là nội dung thông tin phải lạ độc đáo Tính độc đáo của thông tin chính là cái mới mà công chúng chưa biết Điều này thể hiện ở những tin bài về các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19 trong tình hình mới; việc phong tỏa tạm thời khu vực có nguy cơ lây nhiễm cao Covid-19; triển khai tuyên truyền và cài đặt ứng dụng Bluezone; về việc dừng tổ chức lễ hội văn hóa; miễn giảm mức thu phí, giá dịch vụ thiết yếu để hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho các đối tượng chịu ảnh hưởng bởi dịch bệnh… Nhưng cái mới

Trang 39

không phải là cái duy nhất thể hiện tính độc đáo của thông tin Cùng với sự đòi hỏi tất yếu của cái mới, báo chí cũng có thể tái hiện thông tin cũ đã bị lãng quên, giúp cho công chúng có thêm tư liệu để nhận thức tốt hơn sự kiện mới Tuy nhiên, dù sự kiện có thật mới mẻ và có khả năng thông tin kịp thời nhưng nếu không phù hợp với chỉ đạo, điều hành của Chính phủ về phòng, chống dịch Covid-19 thì thông tin đó không có giá trị

Thứ năm, thông tin phải đa dạng phong phú Trong một chương trình truyền hình thông tin về tình hình dịch Covid-19, nếu chỉ đề cập đến một vấn

đề hoặc một nhóm vấn đề sẽ dẫn đến sự nhàm chán Chính vì vậy, thông tin chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo các cơ quan báo chí khi thông tin về tình hình dịch Covid-19 phải đảm bảo cân đối giữa nội dung các thông tin

Thứ sáu, thông tin phải thiết thực, hữu ích với công chúng Đây là một yếu tố hết sức quan trọng Nếu như trước đây thông tin trong một chương trình truyền hình cơ bản là đơn chiều, nhưng giai đoạn hiện nay thông tin là

đa chiều Nếu thông tin đưa lại không có nội dung hoặc nội dung không hấp dẫn, gần gũi, thiết thực thì sẽ dẫn đến sự nhàm chán Tất cả các quan quan báo chí đều phải tuân thủ những nguyên tắc, yêu cầu chung đã nói ở trên Thông tin về tình hình dịch Covid-19 trên sóng truyền hình cũng không nằm ngoại lệ này

1.4.2 Hình thức truyền tải thông tin

Một là, thành lập các chuyên trang, chuyên mục Trong xu hướng thông tin về tình hình dịch Covid-19 hiện nay, xu hướng thành lập chuyên mục, chuyên trang đang sử dụng khá phổ biến Bởi lẽ, việc hình thành chuyên trang, chuyên mục là cách tạo nên bản sắc thương hiệu riêng của Đài Hình thành chuyên trang, chuyên mục là cách để ổn định về dung lượng, thời gian

và phạm vi đề cập đến vấn đề, hướng đến một lượng công chúng nhất định, tạo điều kiện để công chúng theo dõi các vấn đề mà họ quan tâm, dễ tiếp nhận

và đỡ mất thời gian

Trang 40

Hai là, sử dụng đa dạng các thể loại báo chí Thể loại báo chí là hình thức biểu hiện cơ bản, thống nhất và tương đối ổn định của các sản phẩm báo chí được chia theo phương thức phản ánh hiện thực, sử dụng ngôn ngữ và các công cụ khác để chuyển tải nội dung mang tính chính trị tư tưởng nhất định Mỗi thể loại báo chí như tin, phóng sự, bình luận, phản ánh, tường thuật… có những ưu nhược điểm khác nhau, do đó, việc vận dụng đa dạng các thể loại trong việc thông tin về tình hình dịch Covid-19 sẽ mang lại hiệu quả truyền thông cao, tác động mạnh mẽ tới công chúng giúp công chúng thay đổi thói quen và hành vi

Ba là, ngôn ngữ Ngôn ngữ thông tin báo gồm ngôn ngữ văn tự và ngôn ngữ phi văn tự Đối với ngôn ngữ văn tự, trước tiên phải đáp ứng tính đại chúng vì tính đại chúng giúp cho công chúng nhận thức nội dung sản phẩm truyền hình tương ứng với ý đồ của tác giả Để đạt được yêu cầu này, đòi hỏi ngôn ngữ báo chí (cách viết, cách thể hiện…) phải được công chúng nhận thức đầy đủ Nếu không thực hiện được nguyên tắc này dẫn đến tình trạng công chúng không hiểu được tác phẩm Tùy theo đặc điểm của từng địa phương, vùng miền, dân tộc đang sinh sống tại địa phương, vùng miền đó mà trong cách viết, cách nói, trong ghi nhận hình ảnh, báo chí làm sao cho các đối tượng chủ yếu là người dân không có kiến thức chuyên môn cũng có thể hiểu, ghi nhớ và làm theo Nếu không đạt được tính đại chúng thì dù có đạt được tính độc đáo, mới lạ bài viết cũng sẽ không đạt được tính hiệu quả, thậm chí còn bị phản tác dụng Đảm bảo được tính đại chúng, sẽ tạo được nhiều niềm tin ở độc giả và như thế sẽ dễ phát huy và nâng cao hiệu quả, chất lượng tuyên truyền

1.4.3 Hiệu quả thông tin

Để xác định hiệu quả thông tin, đầu tiên chúng ta cần phải đánh giá được mục tiêu của truyền đạt thông tin, đó là quá trình nhằm cho khách thể: nghe, thấy, hiểu, đồng ý, hành động và phản hồi thông tin

Ngày đăng: 20/04/2023, 06:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Anh (2008), Những kỹ năng về sử dụng ngôn ngữ trong truyền thông i h ng, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kỹ năng về sử dụng ngôn ngữ trong truyền thông i h ng
Tác giả: Hoàng Anh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2008
2. Ban Tuyên giáo Trung ương (2007), Tăng ường ãnh o, quản t o iều kiện ể áo h nướ ta phát triển m nh mẽ, vững chắc trong thời gian tới, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng ường ãnh o, quản t o iều kiện ể áo h nướ ta phát triển m nh mẽ, vững chắc trong thời gian tới
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb Lý luận Chính trị
Năm: 2007
4. Hoàng Quốc Bảo (Chủ biên) (2010), Lãnh o và quản ho t ộng áo h Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lãnh o và quản ho t ộng áo h Việt Nam hiện nay
Tác giả: Hoàng Quốc Bảo (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
Năm: 2010
6. Lê Hải Bình (2020), Một số vấn ề u n và thực tiễn về quản trị quốc gia trong phòng, hống i dịch Covid-19 Việt Nam, Tạp chí của Ban Tuyên giáo Trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn ề u n và thực tiễn về quản trị quốc gia trong phòng, hống i dịch Covid-19 Việt Nam
Tác giả: Lê Hải Bình
Năm: 2020
7. Phạm Hải Chung (chủ biên) (2019), L thuyết truyền thông nâng ao, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: L thuyết truyền thông nâng ao
Tác giả: Phạm Hải Chung (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2019
9. Hoàng Đình Cúc, Đức Dũng (2007), Những vấn ề của áo h hiện i, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn ề của áo h hiện i
Tác giả: Hoàng Đình Cúc, Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Lý luận Chính trị
Năm: 2007
11. Đức Dũng (2002), Sáng t o tá phẩm áo h , Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng t o tá phẩm áo h
Tác giả: Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2002
12. Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hằng (2006), Truyền thông, thuyết và kỹ năng ản, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông, thuyết và kỹ năng ản
Tác giả: Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hằng
Nhà XB: Nxb Lý luận Chính trị
Năm: 2006
13. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo h truyền thông hiện i, từ hàn âm ến ời thường, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Báo h truyền thông hiện i, từ hàn âm ến ời thường
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2011
14. Nguyễn Văn Dững (2013), C s u n áo h , Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C s u n áo h
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2013
15. Nguyễn Minh Đạo (2001), Khoa học quản , tập 1, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học quản
Tác giả: Nguyễn Minh Đạo
Nhà XB: Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2001
16. Nguyễn Thị Trường Giang (Chủ biên) (2017), Báo h truyền thông a phư ng tiện, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo h truyền thông a phư ng tiện
Tác giả: Nguyễn Thị Trường Giang (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2017
17. Vũ Quang Hào (2001), Ngôn ngữ áo h , Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ áo h
Tác giả: Vũ Quang Hào
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2001
18. Đinh Thị Thúy Hằng (2008), Báo h thế giới – xu hướng phát triển, Nxb Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo h thế giới – xu hướng phát triển
Tác giả: Đinh Thị Thúy Hằng
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2008
19. Đinh Thị Thúy Hằng (2010), Ngành PR Việt Nam, Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành PR Việt Nam
Tác giả: Đinh Thị Thúy Hằng
Nhà XB: Nxb Lao động Xã hội
Năm: 2010
20. Vũ Đình Hòe (Chủ biên) (2002), Truyền thông i ch ng trong ông tá ãnh o quản , Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông i ch ng trong ông tá ãnh o quản
Tác giả: Vũ Đình Hòe (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
22. Đinh Văn Hường (2006), Cá thể lo i áo h thông tấn, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá thể lo i áo h thông tấn
Tác giả: Đinh Văn Hường
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2006
23. Trần Bảo Khánh (2003), Sản xuất hư ng trình truyền hình, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất hư ng trình truyền hình
Tác giả: Trần Bảo Khánh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2003
26. Nguyễn Thành Lợi (2014), Tá nghiệp áo h trong môi trường truyền thông hiện i, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tá nghiệp áo h trong môi trường truyền thông hiện i
Tác giả: Nguyễn Thành Lợi
Nhà XB: Nxb Thông tin và Truyền thông
Năm: 2014
27. Nguyễn Đức Lợi, Lưu Văn An (2017), Thông tin áo h với ông tá ãnh o, quản , Nxb Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin áo h với ông tá ãnh o, quản
Tác giả: Nguyễn Đức Lợi, Lưu Văn An
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2017

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm