Với đặc thù là cơ quan ngôn luận của Đảng bộ, chính quyền và tiếng nói của người dân tại mỗi tỉnh, thành, các tờ báo Đảng địa phương chính là đơn vị báo chí đóng vai trò quan trọng, khôn
Trang 1HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
PHAN THỊ THÙY TRANG
QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP VỀ NGƯỜI YẾU THẾ TRÊN BÁO ĐẢNG CÁC TỈNH TRUNG DU,
MIỀN NÖI PHÍA BẮC
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
HÀ NỘI - 2021
Trang 2HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
PHAN THỊ THÙY TRANG
QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP VỀ NGƯỜI YẾU THẾ TRÊN BÁO ĐẢNG CÁC TỈNH TRUNG DU,
MIỀN NÖI PHÍA BẮC
Chuyên ngành: Quản lý Báo chí - Truyền thông
Mã số: 8 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS Nguyễn Thành Lợi
HÀ NỘI - 2021
Trang 3Luận văn đã đƣợc sửa chữa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu: “Quản lý thông điệp về người yếu thế trên báo Đảng các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc” dưới sự hướng dẫn của PGS,TS Nguyễn Thành Lợi là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu có trích dẫn nguồn chính xác, kết quả nghiên cứu nêu trong Luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ một nghiên cứu nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
Tác giả luận văn
Phan Thị Thùy Trang
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trước hết, em muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các giảng viên tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền nói chung, các giảng viên Viện Báo chí nói riêng đã hết lòng truyền thụ cho em những kiến thức và kinh nghiệm quý báu, giúp em có một nền tảng kiến thức vững vàng để hoàn thành tốt công việc học tập và nghiên cứu trong suốt thời gian vừa qua
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS.TS Nguyễn Thành Lợi, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em tận tình trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu này
Em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến lãnh đạo Báo Hòa Bình, Báo Bắc Kạn, Báo Thái Nguyên cùng các đồng nghiệp, gia đình, bè bạn đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện, hỗ trợ nhiệt tình cho em trong suốt quá trình nghiên cứu Mặc dù đã rất nỗ lực song do kinh nghiệm nghiên cứu khoa học còn hạn chế nên luận văn vẫn còn nhiều thiếu sót Kính mong các thầy cô giáo góp ý
để em tiến bộ và trưởng thành hơn về công tác nghiên cứu khoa học
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
Tác giả
Phan Thị Thùy Trang
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT
NYT : Người yếu thế Nxb : Nhà xuất bản
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP VỀ NGƯỜI YẾU THẾ TRÊN BÁO ĐẢNG ĐỊA PHƯƠNG 12
1.1 Mội số khái niệm liên quan đến đề tài 12
1.2 Vai trò của báo chí truyền thông về người yếu thế 28
1.3 Nguyên tắc của quản lý thông điệp về người yếu thế 36
1.4 Một số yếu tố tác động trong quản lý thông điệp về người yếu thế 39
1.5 Tiêu chí về đánh giá hiệu quả quản lý thông điệp về người yếu thế 40
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP VỀ NGƯỜI YẾU THẾ TRÊN BÁO ĐẢNG CÁC TỈNH TRUNG DU, MIỀN NÚI PHÍA BẮC 44
2.1 Giới thiệu các cơ quan báo chí trong diện khảo sát 44
2.2 Thực trạng quản lý thông điệp người yếu thế tại 3 cơ quan báo chí trong diện khảo sát 50
2.3 Đánh giá chung 80
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP VỀ NGƯỜI YẾU THẾ TRÊN BÁO ĐẢNG CÁC TỈNH TRUNG DU MIỀN NÚI PHÍA BẮC 86
3.1 Những vấn đề đặt ra trong quản lý thông điệp về người yếu thế trên các loại hình báo chí hiện nay 86
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thông điệp về người yếu thế tại 3 cơ quan báo chí trong diện khảo sát 89
3.3 Một số khuyến nghị 101
KẾT LUẬN 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 112
TÓM TẮT LẬN VĂN 143
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Nội dung thông điệp đề cập về NYT 56
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Số lượng tin bài về các đối tượng NYT trong diện khảo sát trên
các phương tiện truyền tải thông tin của 3 cơ quan báo chí 54 Biểu đồ 2.2: Tần suất đăng tài tin bài về các đối tượng NYT trong diện khảo
sát (theo tháng) trong năm 2020 của 3 cơ quan báo chí 55 Biểu đồ 2.3: Bảng phân loại nội dung thông điệp về NYT trên các ấn phẩm
của 3 cơ quan báo chí trong diện khảo sát 57 Biểu đồ 2.4: Mức độ hài lòng của công chúng về ngôn ngữ trong tin, bài có
thông điệp về NYT 68 Biểu đồ 2.5: Thể loại tác phẩm trên báo in, báo điện tử của 3 cơ quan
báo chí 69 Biểu đồ 2.6: Mức độ hài lòng của công chúng về yếu tố đa phương tiện
trong các tin, bài có thông điệp về NYT 71 Biểu đồ 2.7: Tính chính xác trong nội dung các tác phẩm báo chí có thông
điệp về NYT 76 Biểu đồ 2.8: Tính khách quan trong nội dung thông điệp về NYT 77 Biểu đồ 2.9: Tính thời sự trong các tác phẩm báo chí có thông điệp về NYT 78 Biểu đồ 2.10: Tính nhân văn trong các tác phẩm báo chí có thông điệp về
NYT 78 Biểu đồ 2.11: Tính phong phú, đa dạng trong các tác phẩm báo chí có thông
điệp về NYT 79
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu bộ máy định hướng, quản lý thông điệp NYT ở Báo
Bắc Kạn 52
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Báo chí là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò quan trọng trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, đóng góp to lớn vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Những thông điệp được truyền tải trên báo chí luôn tác động mạnh mẽ đến nhận thức, hành động của đông đảo công chúng Hiện nay, bên cạnh nhiệm vụ tuyên truyền về chính trị, kinh tế, xã hội… báo chí còn lên tiếng bảo vệ quyền lợi cho mọi tầng lớp, đối tượng trong xã hội, trong
đó có những NYT Báo chí có vai trò quan trọng không chỉ góp phần vào việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức của công chúng đối với vấn đề NYT mà còn nâng cao tri thức, trình độ của toàn xã hội về vấn đề này Mặt khác, báo chí còn là cầu nối thông tin hữu hiệu giúp NYT hòa nhập với cộng đồng
Những năm gần đây, các thông điệp về NYT ngày càng xuất hiện nhiều trên các trang báo với các nội dung xoay quanh vấn đề tuyên truyền về bảo vệ quyền lợi, các chính sách hỗ trợ của nhà nước cho đối tượng này Có thể nói, báo chí dần đã trở thành chỗ dựa, là địa chỉ tìm đến của những NYT, người dễ
bị tổn thương cần giúp đỡ khi cuộc sống của họ gặp khó khăn hay quyền lợi hợp pháp của họ bị xâm phạm Nhìn lại một số bài báo gần đây, chúng ta đã thấy được phẩm chất cao quý đó của báo chí Đơn cử như bài viết “Nữ sinh viết thư „kêu cứu‟ chủ tịch Hà Nội vì nhà sắp sập” ngày 06/03/2016 trên Báo Phụ nữ Việt Nam; bài “Đồng hành cùng NYT” đăng trên Báo điện tử Cần Thờ, ngày 17/4/2020; “Hỗ trợ đối tượng yếu thế bị ảnh hưởng bởi Covid-19: Tăng cường nguồn lực địa phương” ngày 29/4/2020 đăng trên Báo điện tử Dân tộc và phát triển; “Chung tay chăm lo NYT” đăng Báo Hà Nội mới ngày 17/4/2020…
Mặc dù đã có nhiều bài viết tuyên truyền về NYT nhưng số tác phẩm phân tích chuyên sâu về đối tượng này còn ít Trên các trang báo cũng chưa
có các chuyên mục chuyên biệt về NYT; số lượng các tác phẩm nói về NYT chưa nhiều… Ngoài ra, nhiều bài viết có nội dung còn rời rạc, sơ sài, phản
Trang 10ánh chung chung; nội dung thông tin đôi lúc còn chưa đảm bảo tính nhân đạo, nhân văn gây ảnh hưởng xấu đến nhân vật trong bài viết, từ đó dẫn đến nhiều tác động trái chiều trong dư luận xã hội Chính vì vậy, với vai trò của mình, các cơ quan báo chí từ trung ương đến địa phương cần nhận thức được tầm quan trọng trong việc xây dựng nội dung thông điệp khi tuyên truyền về NYT Từ đó góp phần nâng cao chất lượng và đa dạng các bài viết về NYT trên các phương tiện thông tin đại chúng
Với đặc thù là cơ quan ngôn luận của Đảng bộ, chính quyền và tiếng nói của người dân tại mỗi tỉnh, thành, các tờ báo Đảng địa phương chính là đơn vị báo chí đóng vai trò quan trọng, không thể thiếu trong việc tuyên truyền các vấn đề kinh tế - xã hội xảy ra trên địa bàn một cách nhanh chóng, đầy đủ, chính xác nhất Khác với báo trung ương, báo Đảng địa phương chỉ tuyên truyền trong phạm vi của địa phương đó nên các nhà báo, phóng viên sẽ
có cơ hội sâu sát, nắm bắt thông tin tới từng ngõ ngách, xóm bản Từ đó, kịp thời tuyên truyền rộng rãi tới các cấp chính quyền và nhân dân trong tỉnh
Tuy đóng vai trò, vị thế truyền thông quan trọng tại địa phương nhưng hiện nay, phần lớn các báo địa phương chủ yếu tập trung tuyên truyền các vấn
đề kinh tế - xã hội quan trọng của tỉnh; bóng dáng những tuyến bài viết chuyên sâu về NYT còn rất ít, chưa tạo được sự lan tỏa trong dư luận; thông điệp tuyên truyền về NYT còn mờ nhạt, đôi khi chưa đảm bảo tính nhân văn…
Chính vì vậy, để người dân tại địa phương thực sự có nhận thức và hành động đúng đối với NYT thì việc xây dựng, kiểm soát nội dung thông tin, thông điệp về những đối tượng này trên báo Đảng địa phương là rất quan trọng
Cùng với đó, hiện nay cũng chưa có nhiều công trình nghiên cứu hệ thống về quản lý thông điệp về NYT trên hệ thống các cơ quan báo Đảng nói chung, các cơ quan báo Đảng ở khu vực trung du, miền núi phía Bắc nói riêng Một số tác giả đã thực hiện các công trình nghiên cứu đề cập đến vấn
đề này nhưng pham vị nghiên cứu còn hẹp trong 1 tỉnh hoặc 1 tờ báo, đối tượng NYT cũng hẹp chủ yếu là trẻ em, phụ nữ
Trang 11Chính vì vậy, việc nghiên cứu hoạt động quản lý thông điệp truyền thông về NYT trên các báo Đảng địa phương, đặc biệt là tại các địa phương
có tỷ lệ NYT cao là rất cần thiết Từ đó, nhằm giúp cho các tờ báo Đảng địa phương có những giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả thông điệp về NYT trên các phương tiện truyền tải thông tin của mình, góp phần mang lại giá trị văn hóa cao, tạo ra một xã hội hòa đồng, giàu tính nhân đạo Chính vì
vậy, trong khuôn khổ luận văn này, học viên lựa chọn đề tài “Quản lý thông
điệp về người yếu thế trên báo Đảng các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc”
để nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Vấn đề báo chí viết về người yếu thế
Trong quá trình khảo sát, tìm hiểu tài liệu để nghiên cứu, thực hiện về
đề tài, tác giả nhận thấy, thời gian qua đã có nhiều cuốn sách, công trình nghiên cứu, luận văn, giáo trình liên quan đến đề tài truyền thông, thông tin
về các đối tượng NYT
+ Sách, giáo trình
- Cuốn sách Báo chí với trẻ em của Khoa Báo chí, Phân viện Báo chí và tuyên truyền do PGS.TS Nguyễn Văn Dững chủ biên (2004) Đây là cuốn sách cung cấp các kiến thức cơ bản về trẻ em như Luật Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em; Công ước Quốc tế về quyền trẻ em Cuốn sách cũng cung cấp các kiến thức nền tảng về các kỹ năng cơ bản khi làm việc với nhân vật là trẻ em, phân tích tâm lý lứa tuổi trẻ em và các lưu ý khi đưa thông tin về trẻ
em trên báo chí
- Giáo trình Báo chí dành cho các đối tượng chuyên biệt do PGS.TS Đỗ Thị Thu Hằng và PGS.TS Nguyễn Ngọc Oanh đồng chủ biên (2018) Cuốn sách đã trình bày một cách hệ thống những lý thuyết, kỹ năng báo chí truyền thông dành cho nhóm công chúng chuyên biệt, bao gồm: đồng bào dân tộc thiểu số, trẻ em, cộng đồng đồng tính, song tính và chuyển giới, cộng đồng người có HIV/AIDS
Trang 12- Sách chuyên khảo “Nhà báo với trẻ em – Kiến thức và kỹ năng” (2014) của tác giả Nguyễn Ngọc Oanh, NXB Thông tấn Cuốn sách nghiên cứu về những thác thức đặt ra đối với người làm báo về trẻ em; đưa ra những kiến thức và kỹ năng tiếp cận, giải quyết đề tài trẻ em dựa trên quyền và bảo đảm lợi ích tốt nhất cho trẻ em; giúp các nhà báo hoàn thiện, nâng cao kỹ năng tác nghiệp báo chí, góp phần tích cực, hiệu quả vào việc nâng cao năng lực và hiệu quả tác động của báo chí đối với nhóm công chúng trẻ em ở nước
ta hiện nay
- Sách “Sổ tay phóng viên báo chí với trẻ em” (2006) của PGS.TS Nguyễn Văn Dững (chủ biên), NXB Lao động Tác gia đã nêu rõ kiến thức chung về trẻ em; vấn đề bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em; kỹ năng của người phóng viên khi viết về đề tài trẻ em
+ Công trình nghiên cứu, luận văn
- Đề tài khoa học cấp Bộ “Báo chí cho trẻ em ở nước ta hiện nay” (2007) của PGS.TS Nguyễn Văn Dững, NXB Học viện Báo chí và tuyên truyền Tác giả đã khảo sát thực trạng báo chí cho trẻ em, phân tích kinh nghiệm thực tế Đề tài đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về báo chí cho trẻ
em trong giai đoạn hội nhập hiện nay, phân tích những kinh nghiệm hay và chưa hay, kỹ năng làm báo cho nhóm công chúng đặc thù là trẻ em Đồng thời, nêu lên những vấn đề đặt ra, đề xuất những giải pháp nhằm phát triển loại báo chí này
- Đề tài cơ sở trọng điểm của Học viện Báo chí và tuyên truyền “Báo chí truyền thông cho các đối tượng chuyên biệt” (2015) do PGS.TS Đỗ Thị Thu Hằng
- Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Việt Nam, Vấn đề phòng chống bạo lực, xâm hại tình dục trẻ em trên truyền hình Việt Nam hiện nay (2019) Luận văn
đã tìm hiểu thực trạng, những ưu, khuyết điểm trong hoạt động truyền thông
về phòng chống bạo lực, xâm hại tình dục trẻ em trên một số chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay, từ đó luận văn đề xuất những giải pháp
Trang 13nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động truyền thông về phòng chống bạo lực, xâm hại tình dục trẻ em trên truyền hình
- Luận văn của thạc sĩ Nguyễn Thị Hồng Xoan, “Chương trình truyền hình chuyên đề về NYT của Đài truyền hình Việt Nam”, năm 2017 Luận văn
đã bám sát trục nghiên cứu được định hướng Từ cơ sở lý luận báo chí học, Luận văn đã xây dựng được cơ sở lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Đó là vai trò của các chương trình truyền hình chuyên đề về NYT trong sự phát triển nội dung trên các kênh truyền hình nói chung Trên cơ sở những vấn đề lý luận đã xây dựng, Luận văn đã khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động của các chương trình về NYT của Đài truyền hình Việt Nam, dựa trên khảo sát một số chương trình tiêu biểu như Trái tim cho em, Cuộc sống vẫn tươi đẹp, tạp chí Dân tộc Phát triển… Luận văn đã chỉ rõ ưu nhược điểm, đặc biệt là nguyên nhân và đưa ra những kiến giải cho vấn đề còn tồn tại Cùng với việc khảo sát ý kiến phản hồi của công chúng thụ hưởng và phỏng vấn Biên tập viên, Tổ chức sản xuất các chương trình, làm căn cứ cho việc đề xuất, giải pháp khắc phục nhược điểm Đồng thời, đưa ra một vài dự báo về
xu hướng phát triển phù hợp với thực tế truyền thông trong tương lai
- Luận văn của thạc sĩ Phạm Thị Hương Ngát, “Quản lý thông điệp về người khuyết tật trên tạp chí Người bảo trợ và tạp chí Đồng hành việt”, năm
2020 Luận văn đã tập trung làm rõ một số vấn đề về thực trạng công tác quản lý thông điệp về người khuyết tật trên 2 tạp chí; đánh giá những kết quả đạt được, tồn tại hạn chế và chỉ ra nguyên nhân cụ thể Trên cơ sở đó, luận văn đã đưa ra hai nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thông điệp Thứ nhất là phát huy vai trò của tổ chức Đảng, đảng viên trong công tác báo chí; kiện toàn cơ cấu tổ chức, đảm bảo chặt chẽ trong các khâu quản lý Thứ hai là nhà báo, phóng viên cần nhận thức đúng đắn, tầm quan trọng của việc phản ánh về người khuyết tật Từ đó, xác định nhiệm vụ của người làm báo khi viết về đề tài này
Trang 14- Luận văn của thạc sĩ Phạm Thị Bích Đào, “ Quản lý thông tin về trẻ em trên báo mạng điện tử hiện nay”, năm 2020 Luận văn đã làm nêu bật được một số vai trò của công tác quản lý thông tin về trẻ em trên một số báo mạng điện tử hiện nay; chỉ ra thực trạng quản lý thông tin về trẻ em trên báo mạng điện tử Trên cơ sở đó, tác giả đã tìm hiểu và đưa ra những phân tích, đánh giá
và tìm hiểu hệ thống giải pháp trước mắt cũng như lâu dài trong việc quản lý thông tin về trẻ em trên báo mạng điện tử
2.2 Báo chí khu vực các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc
Bên cạnh các công trình nghiên cứu, luận văn về các cơ quan báo chí trên cả nước thông tin về đối tượng NYT thì cũng đã có các công trình đề cập đến công tác tuyên truyền về NYT của báo chí khu vực trung du, miền núi phía Bắc
- Luận văn của thạc sỹ Phạm Việt Hoa, “Quản lý hình ảnh trẻ em trên báo chí Quảng Ninh”, năm 2020 Trong luận văn, tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài, góp phần củng cố lý thuyết về vấn đề nghiên cứu cho những công trình về sau trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Đồng thời, tác gia cũng khảo sát và đưa ra thực trạng về công tác quản lý hình ảnh trẻ em trên báo chí Quảng Ninh để đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm tăng cường vai trò của mình trong việc đưa hình ảnh trẻ em xuất hiện trên báo chí ngày càng hiệu quả, đảm bảo tính nhân văn
- Luận văn của thạc sỹ Phạm Minh Hiền, “Quản lý hình ảnh về các đối tượng yếu thế trên Đài phát thanh và truyền hình Quảng Ninh”, năm
2017 Trong nội dung luận văn, tác giả đã tập trung phân tích, đánh giá được thực trạng quản lý hình ảnh các đối tượng NYT trên Đài phát thành
và truyền hình tỉnh Quảng Ninh Từ đó, tác giả đã tập trung nhìn nhận có
hệ thống những vấn đề đặt ra đối với việc nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về hình ảnh các đối tượng yếu thế trên truyền hình Cùng với đó, tác giả cũng đưa ra các kiến nghị và đề xuất như: Hoàn thiện cơ chế chính sách pháp luật; tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm; nâng
Trang 15cao nhận thức về hoạt động báo chí cho đội ngũ cán bộ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý hoạt động báo chí
- Luận văn của thạc sỹ Vũ Chí Thành, “Báo chí miền núi phía bắc với vấn đề bảo hiểm Y tế cho hộ nghèo và cận nghèo”, năm 2018 Luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến tuyên truyền về vấn đề bảo hiểm y tế cho hộ nghèo và cận nghèo trên báo chí, đặc biệt là báo chí miền núi phía Bắc; khảo sát, phân tích rõ nội dung và phương thức tuyên truyền về bảo hiểm y tế cho hộ nghèo và cận nghèo trên các báo, Đài phát thanh truyền hình tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Giang Từ đó rút ra những nhận định khoa học về thực trạng và đặc thù của vấn đề tuyên truyền
về chính sách bảo hiểm y tế cho hộ nghèo và cận nghèo hiện nay; khảo sát, phân tích rõ nội dung và phương thức tuyên truyền về bảo hiểm y tế cho hộ nghèo và cận nghèo; rút ra những nhận định khoa học về thực trạng và đặc thù của vấn đề tuyên truyền về chính sách bảo hiểm y tế cho hộ nghèo và cận nghèo hiện nay; đề xuất những giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiểu quả tuyên truyền trên diện khảo sát…
- Luận văn của thạc sỹ Phạm Thị Ngọc Tú, “Vấn đề người dễ bị tổn thương trên báo chí tỉnh Bắc Kạn hiện nay, dưới góc nhìn quản trị truyền thông”, năm 2018 Công trình này đã phân tích những thực trạng công tác quản trị truyền thông về người dễ bị tổn thương tại các cấp quản lý báo chí trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn và tại các cơ quan báo chí trên địa bàn Từ đó đưa ra các giải pháp cụ thể để nâng cao chất lượng tác phẩm đối với phóng viên, cơ quan báo chí, cơ sở truyền thông Trong đó, nhấn mạnh tới các giải pháp về QTTT, nhằm giải quyết những vấn đề bức thiết được đặt ra, góp phần giúp các cơ quan quản trị có sự thay đổi phương thức QTTT phù hợp với tình hình tại địa phương và NDBTT được quan tâm, hỗ trợ cả về vật chất lẫn tinh thần, từ đó, dần ổn định cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng
Có thể thấy, thời gian qua đã có nhiều sách báo, công trình khoa học viết về vấn đề truyền thông về những đối tượng NYT trong xã hội trên báo
Trang 16chí Tuy nhiên, phần lớn các đề tài nghiên cứu mới chỉ tập trung về một số đối tượng trong nhóm NYT, trong đó nhiều nhất là trẻ em Đặc biệt, các nghiên cứu vấn đề tuyên truyền về đối tượng NYT ở các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc còn vắng bóng Do đó, đề tài “Quản lý thông điệp về NYT trên báo Đảng các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc” sẽ đóng góp thêm các cơ sở lý luận, đưa ra những vấn đề thực tiễn sâu sắc để các nhà báo, nhà quản lý tham khảo, đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng thông điệp về NYT trên báo chí địa phương hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nêu trên, luận văn xác định các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, làm rõ một số khái niệm công cụ liên quan đến vấn đề nghiên cứu để xây dựng, hình thành khung lý thuyết về quản lý thông điệp về NYT trên báo Đảng các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc hiện nay Cụ thể, làm rõ các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài như: Quản lý, thông điệp, quản lý thông điệp, NYT; nguyên tắc quản lý thông điệp về NYT… Trên cơ sở đó nghiên cứu để đánh giá thực trạng quản lý thông điệp về NYT trên báo Đảng hiện nay
Thứ hai, khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý thông điệp về NYT trên báo Đảng các tỉnh miền núi phía Bắc Cụ thể trong luận văn sẽ lựa chọn 3 địa phương đại diện cho 3 khu vực: Trung du, Đông Bắc, Tây Bắc Từ đó, luận
Trang 17văn sẽ chỉ ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong công tác quản lý thông điệp tại 3 địa phương khảo sát
Thứ ba, luận văn đưa ra một số vấn đề đặt ra và đề xuất giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thông điệp về NYT trên báo Đảng các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc, đặc biệt là các báo thuộc diện khảo sát trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quản lý thông điệp truyền thông về
NYT ở khu vực Trung du miền núi phía Bắc Đối tượng nghiên cứu cụ thể trong luận văn là hoạt động quản lý thông điệp về NYT tại 3 tòa soạn: Báo
Thái Nguyên, Báo Báo Bắc Kạn, Báo Hòa Bình
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: Luạn văn đánh giá thực trạng quản lý thông điệp về
các đối tượng NYT tại 3 tòa soạn là Báo Thái Nguyên, Báo Bắc Kạn, Báo Hòa Bình trong thời gian 1 năm Bắt đầu từ 1/1/2020 đến 31/12/2020
Phạm vi khảo sát: Luận văn tập trung nghiên cứu quản lý thông điệp về
NYT ở khu vực Trung du miền núi phía Bắc trên 2 phương tiện truyền tải là báo
in và báo điện tử của tòa soạn: Báo Thái Nguyên, Báo Bắc Kạn, Báo Hòa Bình
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Nghiên cứu đề tài này, học viên dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về báo chí truyền thông, quản lý báo chí- truyền thông,
về người yếu thế kết hợp phân tích lý luận và thực tiễn nhằm làm rõ nội dung, nhiệm vụ của đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu, công cụ
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phương pháp này được tiến hành
thông qua việc sưu tầm sách, công trình nghiên cứu, các văn bản pháp luật để
Trang 18tổng hợp, hệ thống hóa các luận điểm, minh họa cùng các kết quả khảo sát
Từ đó hệ thống hóa khung lý thuyết của vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát, thống kê: Khảo sát nội dung, hình thức thông điệp của các tác phẩm báo chí về đề tài NYT được đăng tải trên báo in và báo điện tử của tòa soạn Báo Bắc Kạn, Báo Thái Nguyên, Báo Hòa Bình Tác giả tập trung nghiên cứu hoạt động thông tin trên các chuyên mục "Xã hội",
"Nhân đạo", “Địa chỉ tấm lòng từ thiện” trên báo điện tử và báo in của 3 tòa soạn Các từ khóa chủ yếu được sử dụng để tìm kiếm là: “người cao tuổi”,
“người khuyết tật”, “người nghèo”, “người dân tộc thiểu số sống ở vùng khó khăn”; “nạn nhân của chiến tranh”, “nạn nhân các tệ nạn xã hội”
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Trên cơ sở khảo sát quản lý thông điệp về NYT, tác giả phân tích chất lượng thông điệp truyền thông thông qua các tin, bài, ảnh và cách thức quản lý thông điệp truyền thông về NYT trên các ấn phẩm của trên các ấn phẩm của 3 cơ quan báo chí nêu trên Từ đó, đưa
ra đánh giá về hiệu quả và những mặt tích cực, hạn chế trong công tác quản lý thông điệp về NYT của 3 tòa soạn
- Phương pháp nghiên cứu bằng bảng hỏi anket: Sử dụng 210 dung lượng mẫu khảo sát những người trực tiếp và gián tiếp liên quan đến lĩnh vực này gồm lãnh đạo, phóng viên của 3 cơ quan báo chí và công chúng tại 3 địa phương Trong đó, tỷ lệ, nam: 50%; nữ: 50% Các nhóm nghề nghiệp được lựa chọn khảo sát như: học sinh, sinh viên; cán bộ, công chức viên chức; cán
bộ hưu trí; lao động tự do
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Tác giả thực hiện phỏng vấn sâu đại diện Ban biên tập của 3 cơ quan báo chí; đại diện lãnh đạo phòng và phóng viên phụ trách tuyên truyền về vấn đề NYT tại 3 cơ quan báo chí Qua phỏng vấn sâu để tìm hiểu các ý kiến về thực trạng công tác quản lý thông điệp về NYT tại các cơ quan báo Đảng hiện nay; đánh giá về ưu điểm, hạn chế trong công tác quản lý thông điệp tại 3 cơ quan báo chí Từ đó, lấy ý kiến đề xuất giải pháp của những người được phỏng vấn để định hướng nội dung trong chương 3
Trang 196 Đóng góp mới của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu quản lý thông điệp truyền thông về NYT ở các tỉnh trung du miền núi phía Bắc, luận văn sẽ đưa ra những thực trạng trong công tác truyền thông về NYT của các cơ quan báo chí tại vùng này Từ đó, đưa ra giải pháp cụ thể trong thời gian tới
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
7.1 Ý nghĩa lý luận
- Trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó về các đối tượng NYT, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung thêm một phần lý luận vào lý thuyết quản lý thông điệp về đối tượng NYT trên báo chí trong cả nước nói chung và báo Đảng địa phương tại khu vực trung du, miền núi phía Bắc nói riêng Từ đó góp phần nâng cao hiệu quả tuyên truyền về các đối tượng NYT
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn sẽ đóng góp cho các cơ quan báo chí, cơ quan quản lý báo chí, đội ngũ phóng viên chuyên trách một số kiến nghị cho công tác quản lý thông điệp truyền thông về NYT trên báo chí, đặc biệt là các vùng sâu vùng
xa, vùng đặc biệt khó khăn
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý thông điệp về người yếu thế trên Báo Đảng địa phương
Chương 2: Thực trạng quản lý thông điệp về người yếu thế trên Báo Đảng các tỉnh trung du miền núi phía Bắc
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thông điệp về người yếu thế trên Báo Đảng các tỉnh dung du miền núi phía Bắc
Trang 20Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP VỀ NGƯỜI YẾU THẾ
TRÊN BÁO ĐẢNG ĐỊA PHƯƠNG
1.1 Mội số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1 Khái niệm Quản lý
Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, bao gồm khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Đối với từng lĩnh vực nghiên cứu khác nhau sẽ có những định nghĩa về Quản lý khác nhau Chính vì vậy, hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái nhiệm quản lý
Theo Từ điển Tiếng Việt (2005), Quản lý là “trông coi, coi giữ”, là
“trông coi và giữ gìn theo yêu cầu nhất định Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định [ 36; tr.303]
Theo F.W.Taylor (1856-1915) một trong những người đầu tiên khai sinh ra thuyết quản lý theo khoa học và tiếp cận, nghiên cứu quản lý một cách khoa học, có hệ thống cho rằng: “Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [42, tr.44]
Ở cách tiếp cận khác, Harold Koontz, tác giả cuốn “Những vấn đề cốt lõi của quản lý” lại quan niệm: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu; nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm [21, tr.33]
Các Mác lại khẳng định rằng: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất… Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng”
Trang 21Còn tại Việt Nam, các nhà khoa học cũng đã có nhiều nghiên cứu về hoạt động quản lý dựa trên cơ sở khoa học và kinh nghiệm thực tiễn để đưa ra định nghĩa về hoạt động này
Trong tài liệu Lãnh đạo, quản lý báo chí truyền thông của Khoa Báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền định nghĩa về quản lý như sau: Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng hệ thống các luật lệ, chính sách, các nguyên tắc và phương pháp nhằm đạt được mục tiêu đặt ra với hiệu quả cao nhất [22, tr.10]
Hay theo tác giả Lê Văn Phùng định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có
tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” [43, tr.6]
Từ những cách định nghĩa trên, dựa vào góc độ nghiên cứu của luận văn, tác giả xin đưa ra cách hiểu của mình về quản lý như sau: “Quản lý là sự tác động liên tục có định hướng, kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để sử dụng, chỉ đạo và liên kết các nguồn lực, nhân lực của tổ chức phối hợp thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu đạt hiệu quả cao”
Công việc của quản lý là xây dựng kế hoạch (bao gồm cả xác định mục tiêu cụ thể, sắp xếp tổ chức, bố trí tổ chức, phối hợp nhân sự, phân công công việc…); chỉ đạo, điều hành, kiểm soát… để đảm bảo hoàn thành mục tiêu; quản lý kết quả, sửa chữa sai sót Nhà quản lý là người cần có khả năng tổ chức, có phẩm chất kiên định, linh hoạt và làm việc hiệu quả Quản lý đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc giúp cho các thành viên trong tổ chức hiểu rõ mục đích và hướng đi của mình; giúp cho việc sử dụng và phối hợp các nguồn lực một cách hiệu quả; giúp cho tổ chức có thể ứng phó tốt với sự thay đổi, với các yếu tố bất định của môi trường
1.1.2 Quản lý thông điệp
Khái niệm thông điệp
Trong cuốn Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản (2012) của tác giả Nguyễn Văn Dững và Đỗ Thị Thu Hằng có định nghĩa về thông điệp như
Trang 22sau: “Thông điệp là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận Thông điệp chính là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, đòi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học – kỹ thuật… được mã hóa theo một hệ thống ký hiệu nào đó Hệ thống này phải được cả bên phát và bên nhận cùng chấp nhận và có chung cách viết – tức là có khả năng giải mã Tiếng nói, chữ viết, hệ thống biển báo, hình ảnh, cử chỉ biểu đạt của con người được sử dụng để chuyển tải thông điệp” [6, tr.13]
Cũng trong cuốn sách trên, các tác giả đã chia thông điệp truyền thông thành 4 loại, gồm:
+ Thông điệp đích là thông điệp của cả chiến dịch truyền thông hướng tới
+ Thông điệp cụ thể (có thể gọi là thông điệp bộ phận) là loại thông điệp cấu thành thông điệp đích của chiến dịch truyền thông
+ Thông điệp tài liệu là loại thông điệp ẩn chứa trong các tài liệu, dữ liệu… loại thông điệp này dễ nhận biết vì nó biểu hiện cụ thể, có thể nhìn thấy bằng trực quan
+ Thông điệp ẩn là loại thông điệp mà nhận biết nó cần phải tư duy tích cực, năng lực trừu tượng hóa, cảm nhận tinh tế và thậm chí sự liên tưởng với những vấn đề kinh tế - văn hóa – xã hội đã và đang đưa ra
Còn theo cuốn Cơ sở lý luận báo chí truyền thông của nhóm tác giả
Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang thì cho rằng: Thông điệp là yếu tố thứ hai của truyền thông Thông điệp có thể bằng tín hiệu, ký hiệu, mã
số, bằng mực trên giấy, sóng trên không trung hoặc bằng bất cứ tín hiệu nào
mà người ta có thể hiểu được và được trình bày ra một cách có ý nghĩa Điều quan trọng là thông điệp phải được diễn tả bằng thứ ngôn ngữ mà người cung cấp (nguồn) và người tiếp nhận đều hiểu được Có thể là ngôn ngữ giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày, ngôn ngữ kỹ thuật trong khoa học kỹ thuật, hay ngôn ngữ văn học nghệ thuật Bằng bất cứ cách nào, một ý nghĩa nào đó cũng phải được diễn tả bằng ngôn ngữ hiểu được trong truyền thông [40, tr.14]
Trang 23Từ những khái niệm và phân tích ở trên có thể hiểu: Thông điệp là những nội dung thông tin cốt lõi, được diễn đạt ngắn gọn, rõ ràng bằng những ngôn từ hoặc tín hiệu bất kỳ Những thông điệp này được truyền tải trên những kênh khác nhau từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận
Các yếu tố tham gia vào quá trình quản lý thông điệp về NYT
Các yếu tố liên quan đến công tác quản lý thông điệp gồm: Chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, nội dung quản lý và phương thức quản lý
- Thứ nhất là chủ thể quản lý Chủ thể quản lý thông điệp trên báo chí được chia thành hai cấp độ là quản lý vĩ mô và quản lý vi mô
Ở cấp vĩ mô, chủ thể quản lý là cơ quan quản lý nhà nước Theo Điều 9,
Luật Báo chí 2016, Bộ Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về báo chí Bộ có trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức thực hiện quy hoạch phát triển và quản lý báo chí trong
cả nước, văn phòng đại diện cơ quan thường trú ở nước ngoài của các cơ quan báo chí Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; tổ chức thông tin cho báo chí và quản lý thông tin của báo chí; thực hiện việc đo kiểm và công
bố số liệu liên quan đến hoạt động báo chí theo quy định của pháp luật; kiểm tra báo chí lưu chiểu; quản lý hệ thống lưu chiểu báo chí in quốc gia; thực hiện lưu chiểu điện tử báo nói, báo hình, báo điện tử theo quy định của pháp luật; kiểm tra việc tổ chức thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính nhà nước theo quy định của pháp luật; hướng dẫn việc hoạt động của báo chí và nhà báo trong cả nước, phối hợp với các cơ quan có liên quan quản lý hoạt động của báo chí Việt Nam liên quan đến nước ngoài và hoạt động báo chí của người nước ngoài, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam; có ý kiến về việc bổ nhiệm người đứng đầu các cơ quan báo chí theo quy định của pháp luật về báo chí; quản lý nội dung, chất lượng và giá dịch vụ phát thanh, truyền hình theo quy định của pháp luật…
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về báo chí; Uỷ ban nhân dân
Trang 24tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý nhà nước về báo chí trong phạm vi địa phương; Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm phối hợp với Bộ Thông tin
và Truyền thông để thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về báo chí
Ở cấp vi mô, chủ thể quản lý trực tiếp về báo chí là lãnh đạo cơ quan
báo chí, trưởng các bộ phận trong cơ quan báo chí Có 2 cấp khác nhau:
Chủ thể phụ trách điều hành tòa soạn chính là Ban Biên tập Trong đó, người đứng đầu tòa soạn báo Đảng chính là Tổng biên tập Tiếp đó là các Phó Tổng biên tập Ban biên tập có nhiệm vụ quản lý, xây dựng kế hoạch tuyên truyền và định hướng, chỉ đạo các phòng chuyên môn thực hiện các thông tin tuyên truyền sao cho hiệu quả, phù hợp
Chủ thể quản lý cấp vi mô còn có cả Trường, phó các phòng chuyên môn Các lãnh đạo phòng chuyên môn đóng vai trò vô cùng quan trọng, là người quản lý trực tiếp đội ngũ phóng viên, biên tập viên; kiểm soát nội dung thông tin, thông điệp đầu tiên khi lực lượng phóng viên đưa tác phẩm về Ngoài ra, lãnh đạo phòng là người tiếp nhận trực tiếp các chỉ đạo điều hành công tác sản xuất từ Ban Biên tập Từ đó tổ chức xây dựng thành các kế hoạch cụ thể phù hợp với đặc thù của từng phòng ban, nội dung đề tài, triển khai tới từng phóng viên, biên tập viên, theo sát quá trình tác nghiệp của phóng viên, kịp thời có những điều chỉnh phù hợp
Trong phạm vi luận văn, tác giả đề cập tới các chủ thể quản lý trực tiếp
ở cấp độ vi mô, đó là lãnh đạo trong các cơ quan báo chí
- Thứ hai là đối tượng quản lý
Đối tượng quản lý là nội dung và hình thức thông điệp về NYT được đăng tải trên báo in và báo điện tử của báo địa phương Cụ thể, trong phạm vi luận văn, tác giả sẽ khảo sát các tác phẩm tin, bài, phóng sự trên Báo Thái Nguyên, Báo Bắc Kạn và Báo Hòa Bình
Việc quản lý đối tượng này sẽ do chủ thể quản lý (gồm: Ban biên tập và lãnh đạo phòng) thông qua khách thể quản lý (gồm: phóng viên, biên tập viên,
Trang 25kỹ thuật viên…) và huy động các phương tiện kỹ thuật để đảm bảo thông điệp
về NYT được truyền tải thuận lợi, hiệu quả
Thông điệp về NYT được đăng tải trên báo chí gồm những nội dung như: công tác hỗ trợ, chăm lo cuộc sống NYT; tấm gương NYT vươn lên trong cuộc sống; phản ánh đời sống và mong muốn của NYT; việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác chăm lo đời sống NYT; vận động hỗ trợ NYT…
Bên cạnh đó, thông điệp về NYT được đăng tải bằng nhiều thể loại khác nhau như: phóng sự, bài phản ánh, tin, tin vắn, bài dài kỳ Thông điệp được thể hiện thông qua ngôn ngữ, hình ảnh, đồ họa, video Hình thức thể hiện các đa dạng, linh hoạt thì thông điệp truyền đi sẽ ngày càng lôi cuốn, sinh động
- Thứ ba, nội dung quản lý
Quản lý việc lập kế hoạch, xác định mục tiêu hướng đến của thông điệp
Lập kế hoạch là khâu quan trọng nhất, khởi đầu cho sự thành công về hiệu quả tuyên truyền của tác phẩm báo chí Lập kế hoạch là một quá trình từ thiết lập ý tưởng đến xây dựng kế hoạch thực hiện chi tiết để đạt được mục tiêu của thông điệp; xây dựng phương án dự trù nhằm thích ứng với mọi sự thay đổi của hoàn cảnh để đạt được mục tiêu cụ thể
Trong quá trình thực hiện các tác phẩm báo chí, việc thực hiện tốt vấn
đề này sẽ giúp nhà báo, phóng viên có hướng thực hiện, phát triển đề tài rõ ràng, tránh lạc đề, đúng trọng tâm thông điệp, đảm bảo thu thập đủ nội dung cho bài viết Nếu lập kế hoạch không rõ ràng, mục tiêu không cụ thể, không phù hợp thì đề tài sẽ thiếu sức thuyết, khó triển khai bài viết, nội dung bài không đảm bảo chất lượng Lâu dài sẽ khiến độc giả có đánh giá tiêu cực, giảm uy tín của tòa soạn Chính vì vậy, nhà quản lý cần phải có kế hoạch rõ ràng với mục tiêu cụ thể, phù hợp ngay khi phân giao cho phóng viên thực hiện hoặc duyệt đề tài của đội ngũ phóng viên
Trang 26Quản lý quy trình sản xuất thông điệp
Để sản xuất ra một tác phẩm báo chí thì cần phải có quy trình thực hiện
và phải được cán bộ, phóng viên, biên tập viên trong tòa soạn tuân thủ nghiêm ngặt Điều này nhằm sản xuất ra các sản phẩm báo chí có chất lượng tốt về nội dung, hình thức và đặc biệt là tạo sự kiểm soát chặt chẽ, tránh sai sót có thể xảy ra Hiện nay, hầu hết các cơ quan báo chí đều có quy trình sản xuất thông điệp trong tòa soạn Tùy đặc thù từng loại hình báo chí, chủ thể quản lý của cơ quan báo chí đó sẽ xây dựng quy trình sản xuất tin, bài, phóng sự sao cho phù hợp, nhất quán và đạt hiệu quả cao Tuy nhiên, các cơ quan báo chí đều phải tuân thủ các bước như sau: Tìm hiểu đề tài => Thu thập thông tin, số liệu => Xử lý thông tin => Tổng duyệt => Đăng tải trên phương tiện truyền tải Các phóng viên, biên tập viên thực hiện theo đúng quy trình sẽ giúp tòa soạn hoạt động đạt hiệu quả cao hơn, chất lượng các tác phẩm cũng sẽ đạt yêu cầu Tuy nhiên, quy trình sản xuất cũng cần phải linh hoạt thay đổi để phù hợp với từng thời điểm và xu thế phát triển của báo chí để bộ máy vận hành đạt hiệu quả cao nhất
Quản lý nội dung và hình thức thông điệp
Quản lý nội dung chính là tập trung kiểm soát các thông tin, số liệu được phóng viên gửi về trước khi đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng Đây là công tác vô cùng quan trọng, nếu không cẩn trọng sẽ gây ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan báo chí và gây hoang mang hoặc bức xúc trong
dư luận Các nội dung thông tin phải được quản lý chặt chẽ sao cho đảm bảo thông tin có tính thời sự, đảm bảo chính xác, hấp dẫn; có tính định hướng dư luận và nhân văn sâu sắc Quan trọng hơn cả là phải phù hợp với đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam Quản lý nội dung các tin bài về NYT có rất nhiều nội dung, song cần đặc biệt quan tâm đến các vấn đề như: các nội dung được đề cập đảm bảo phù hợp với Đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam; nội dung phải có tính thời sự và tính mới để thu hút được sự quan tâm của độc giả; thông điệp phải đảm bảo tính nhân văn và
Trang 27chân thực; nội dung tạo được định hướng dư luận tích cực trong xã hội, góp phần thay đổi nhận thức của công chúng về NYT…
Quản lý hình thức là quản lý những biểu hiện ra bên ngoài của đối tượng quản lý Theo đó, quản lý hình thức thông điệp chính là quản lý những yếu tố về: ngôn ngữ, hình ảnh, âm thanh, video phản ánh nội dung của thông điệp Hình thức đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nội dung thông điệp và thu hút công chúng Vì thế hình thức thông điệp cần sinh động, lôi cuốn, hiện đại Ngôn ngữ thể hiện nên ngắn gọn, súc tích và
dễ hiểu, phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tốc và đặc biệt là phù hợp với đối tượng được phản ánh Hình ảnh, video, âm thanh cần phù hợp, sống động, đảm bảo tính nhân văn
- Thứ tư, phương thức quản lý thông điệp
Xây dựng, ban hành và chỉ đạo thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật: Thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật sẽ nhằm từng bước cụ
thể hóa quan điểm và đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc định hướng nội dung thông điệp trên báo chí về đối tượng NYT trong xã hội Đồng thời đây cũng là công cụ để các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện công tác quản lý việc truyền tải thông điệp trên các phương tiện thông tin đại chúng
Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm: Bám sát theo nội dung
chính sách pháp luật của Nhà nước, Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm tổ chức kiểm tra, thanh tra thường xuyên để kịp thời phát hiện những sai phạm về hoạt động thông tin của báo chí Đối với cấp tỉnh, công tác này được UBND tỉnh giao cho Sở Thông tin và truyền thông Thông qua công tác thanh, kiểm tra, cơ quan chức năng sẽ kịp thời nhắc nhở hoặc xử lý vi phạm đối với các tòa soạn, phóng viên vi phạm theo đúng quy định của pháp luật Đối với cấp tòa soạn, công tác thanh, kiểm tra thể hiện ở hoạt động quản lý, điều hành phóng viên ở cấp phòng; cách thức phóng viên tác nghiệp tại cơ sở; chất lượng thiết bị phóng viên sử dụng để tác nghiệp… Qua đó giúp Ban biên
Trang 28tập kịp thời phát hiện những yếu tố lệch lạc trong quá trình tác nghiệp và sản xuất tin bài
Quản lý về tổ chức nhân lực: Tổ chức nhân lực là công tác vô cùng
quan trọng trong bất kỳ cơ quan, tổ chức nào Tại các cơ quan báo chí, việc phân công, tổ chức nhân lực sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động chính của tòa soạn là sản xuất tin bài Đối với từng lĩnh vực cụ thể, chủ thể quản lý sẽ có sự phân công nhân sự, quy định chức năng, nhiệm vụ, vị trí việc làm cho từng bộ phận và chức danh Tổ chức hệ thống cán bộ khoa học, chặt chẽ, phân công đúng người đúng việc; đảm bảo cán bộ, phóng viên, biên tập viên phải nắm vững chủ trương chính sách của Đảng, nhà nước, quy định của tòa soạn và đạo đức người làm báo
Quản lý bằng chế độ thông tin, báo cáo: Việc quản lý bằng chế độ
thông tin, báo cáo cần được thực hiện thường xuyên, định kỳ để cấp quản lý kịp thời nắm bắt những thông tin quan trọng trong quá trình sản xuất, phát hành, đăng tải tin bài Việc quản lý bằng chế độ thông tin, báo cáo sẽ tạo được
sự chủ động cho phóng viên; giúp phóng viên được kịp thời tháo gỡ khó khăn
và được định hướng, tạo thuận lợi trong triền khai công việc Đồng thời, việc này cũng tạo thuận lợi cho hoạt động tổ chức sản xuất, giúp cho các khâu trong quy trình được phối hợp nhịp nhàng, đạt hiệu quả cao nhất Phương thức quản lý này thường diễn ra trong các cuộc họp giao ban, họp phòng và được coi như một nội dung bắt buộc để tạo sự trao đổi thông tin quản lý hai chiều giữa lãnh đạo và cán bộ, phóng viên
Những nội dung, hình thức, phương thức quản lý nêu trên được chủ thể quản lý kết hợp một cách linh hoạt, sáng tạo để đạt được mục tiêu, hiệu quả cao nhất
Từ những nghiên cứu, quan điểm về khái niệm “quản lý”, “thông điệp”
và những phân tích về các yếu tố liên quan đến công tác quản lý thông điệp, tác giả xin đưa ra quan điểm về “Quản lý thông điệp” như sau: Quản lý thông điệp là tổng thể các biện pháp tác động có chủ đích, định hướng của chủ thể
Trang 29quản lý đến nội dung thông điệp nhằm xây dựng, kiểm soát nội dung và hình thức thông điệp trước khi truyền tải trên các phương tiện thông tin Hoạt động này sẽ giúp thông điệp tới người nhận đảm bảo tính chính xác, dễ hiểu và thể hiện được trọn vẹn ý đồ của người chuyển tải Qua đó nhằm tác động tới nhận thức, hành động của người tiếp nhận về vấn đề hoặc sự kiện nào đó
1.1.3 Khái niệm người yếu thế
NYT hay còn được gọi là người yếm thế, người thiệt thòi, người dễ bị tổn thương Theo PGS,TS Đỗ Thị Thu Hằng nhận định trong Đề tài cơ sở trọng điểm “Báo chí - truyền thông cho các đối tượng chuyên biệt” thì sự yếu thế dùng để chỉ một quá trình mà trong đó các hành vi xã hội của một nhóm đặc biệt được thực hiện theo một cách hoàn toàn “bất lợi” cho họ Nhóm yếu thế là những nhóm xã hội đặc biệt, có hoàn cảnh khó khăn hơn, có vị thế xã hội thấp kém hơn so với các nhóm xã hội “bình thường” có những đặc điểm tương tự [ 18, tr.8]
Hay có thể hiểu rằng, những đối tượng yếu thế là những người khi tham gia vào một quan hệ xã hội, quan hệ lao động, quan hệ pháp luật luôn gặp những bất lợi hơn so với những đối tượng khác trong cùng một hoàn cảnh
Theo UNESCO, nhóm NYT bao gồm: những người ăn xin, nạn nhân của các loại tội phạm, người tàn tật, thanh thiếu niên có hoàn cảnh khó khăn, nhóm giáo dục đặc biệt, người cao tuổi, người nghèo, tù nhân, gái mại dâm, người thất nghiệp, người lang thang cơ nhỡ Ngoài ra còn kể đến người tị nạn, người xin tị nạn, người bị xã hội loại trừ
Ngoài ra, trong một số nghiên cứu ở Việt Nam còn kể thêm nhóm người là nạn nhân chiến tranh, đặc biệt là nạn nhân chất độc da cam, nhóm bị bạo lực gia đình, nạn nhân bị quấy rối và lạm dụng tình dục; nạn nhân buôn bán người; các đối tượng bị mắc bệnh xã hội; trẻ em bị ảnh hưởng của HIV/AIDS…
Như vậy, sẽ có rất nhiều người có thể được xếp vào diện nhóm NYT Xuất phát từ tuổi tác, những khiếm khuyết, hạn chế về thể chất, tinh thần nên
Trang 30họ thường gặp khó khăn, bất lợi trong cuộc sống và quan hệ xã hội Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa một người bình thường, có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình thì sẽ không là NYT trong những quan hệ nhất định Họ có thể là người giàu có, không thiếu thốn về vật chất nhưng lại bị tổn thương về mặt tâm lý
Từ phân tích nêu trên, có thể thấy, NYT là những người có hoàn cảnh đặc biệt trong xã hội Vị thế trong xã hội của họ thấp hơn các nhóm, cộng đồng người khác; nhiều người có cuộc sống bấp bênh, chịu nhiều thiệt thòi
Họ khó hòa nhập với cộng đồng, điều đó có thể do điều kiện hoàn cảnh sống chi phối, hoặc những rào cản về mặt tâm lý, thể chất bị tác động bởi các yếu
tố như: khả năng, nghề nghiệp, sự phân biệt, kỳ thị của xã hội… Họ gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận và sử dụng các phương tiện sống thiết yếu hoặc các dịch vụ xã hội cần thiết Tuy nhiên, không phải nhóm người nào được coi là yếu thế sẽ luôn yếu thế Qua thời gian, nhiều người thuộc nhóm yếu thế đã tự lực vươn lên, phát triển bản thân và trở thành người có địa vị trong xã hội
Danh sách nhóm NYT có thể rất nhiều với quy mô và mức độ dễ bị tổn thương khác nhau giữa nơi này với nơi khác và giữa nhóm này với nhóm khác Qua phân tích, tác giả luận văn xin phép chia NYT thành các nhóm: người cao tuổi; trẻ em mồ côi mất nguồn nuôi dưỡng và trẻ em nghèo; người khuyết tật; nhóm đồng bào dân tộc thiểu số trú ở vùng có điều kiện kinh tế -
xã hội đặc biệt khó khăn; nhóm người nghèo; nhóm nạn nhân của chiến tranh; nhóm nạn nhân của các tệ nạn xã hội; người lang thang cơ nhỡ…
Mặc dù nhóm đối tượng NYT là rất nhiều và rộng nhưng trong khuôn khổ của luận văn, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu vào các nhóm NYT sau:
người cao tuổi; người khuyết tật; người nghèo; đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; nạn nhân của chiến tranh; nạn nhân của các tệ nạn xã hội
Trang 311.1.4 Khái quát đặc điểm của các đối tượng người yếu thế trong diện khảo sát
Mỗi nhóm NYT sẽ có một đặc điểm riêng về tâm lý cũng như nhu cầu
xã hội Việc nhận diện được cụ thể về đặc biểm mỗi đối tượng NYT sẽ góp phần giúp cho các nhà quản lý, trong đó có quản lý báo chí nhìn nhận và có phương pháp quản lý thông điệp truyền thông về đối tượng này đạt hiệu quả Sau đây, tác giả luận văn xin khái quát chung về đặc điểm của một số đối tượng NYT trong diện khảo sát
- Người cao tuổi
Người cao tuổi là khái niệm gây nhiều tranh cải trên bình diện tiếp cận các khoa học, trình độ phát triển của xã hội và nền văn hóa Về mặt Pháp luật chung quy định, theo Điều 1 trong Pháp lệnh người cao tuổi năm 2000 cơ quy định người cao tuổi là “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Chính vì vậy, người già cần được yêu thương chăm sóc một cách hết sức đặc biệt Ngay cả khi tuyên truyền về đối tượng này cũng cần phải quan tâm, tránh gây ảnh hưởng đến tâm sinh lý của họ
- Người khuyết tật
Theo Pháp lệnh về Người khuyết tật của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam định nghĩa về người khuyết tật như sau: “Không phân biệt nguồn gốc gây ra khuyết tật, người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một
Trang 32hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng khuyết tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn”
Còn theo Luật Người Khuyết tật: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” Có 6 dạng tật khuyết tật là: Khuyết tật vận động; Khuyết tật nghe, nói; Khuyết tật nhìn; Khuyết tật thần kinh, tâm thần; Khuyết tật trí tuệ; Khuyết tật khác Người khuyết tật được chia theo mức độ khuyết tật sau đây: Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục
vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày; Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày
Những người khuyết tật là những người bị khiếm khuyết về cơ thể hoặc trí lực nên bị hạn chế trong mọi hoạt động xã hội Nhiều người trong nhóm này do mặc cảm, tự ti nên luôn cố gắng che giấu, sống tách biệt với thế giới riêng, ngại giao tiếp
- Người nghèo
Nghèo là diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian Xét theo vấn đề thu nhập, một người là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm của một quốc gia
Tại Việt Nam, theo Nghị định 07/2021/NĐ-CP quy định chuẩn nghèo
đa chiều giai đoạn 2021 - 2025, ở khu vực nông thôn, hộ nghèo là hộ gia đình
có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1,5 triệu đồng trở xuống và thiếu hụt từ ba chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên Ở khu vực thành thị, là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2 triệu đồng trở xuống và thiếu hụt từ ba chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch
vụ xã hội cơ bản trở lên
Trang 33Người nghèo thường có mặc cảm, tự ti do hoàn cảnh cuộc sống không được bằng mặt bằng chung của cộng đồng nên có xu hướng e ngại giao tiếp
và tham gia vào các hoạt động tập thể Cũng có một số hộ còn tư tưởng phó mặc vào sự hỗ trợ mà chưa thực sự quyết tâm vươn lên
- Đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng khó khăn
Theo định nghĩa tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc thì “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tuy nhiên, không phải dân tộc thiểu số nào cũng là NYT Trong cơ cấu dân tộc ở Việt Nam, người Kinh chiếm phần đông với tỷ lệ 85,3% dân số Với 53 dân tộc còn lại, được coi là DTTS ở Việt Nam, phân bố rải rác khắp đất nước, chủ yếu tập trung ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa ở khu vực phía Tây Bắc, Đông Bắc, Tây miền Trung và Tây Nguyên Trong đó, 75% người dân tộc thiểu số sinh sóng ở miền núi cao, nông thôn, vùng khó khăn Dân tộc thiểu số sống ở khu vực thành thị thì có đời sống kinh tế và trình độ nhận thức cao hơn so với ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa Vị trí địa lý có tác động rất lớn đến khả năng tiếp cận về thông tin, y tế, giáo dục, khoa học kỹ thuật…
Do vây, đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn là nhómngười vừa chịu những rào cản của sự nhận thức, vừa chịu những thiệt thòi bởi địa bàn cư trú xa xôi, cách biệt và các tập tục lạc hậu Họ thường bị hạn chế bởi các điều kiện tiếp cận những tiến bộ khoa học kỹ thuật và các dịch vụ cơ bản khác
- Nạn nhân của chiến tranh
Nạn nhân chiến tranh là người phải gánh chịu những hậu quả của chiến tranh Nạn nhân chiến tranh có thể là thường dân, nhân viên y tế, tù binh, thương binh, bệnh binh; nạn nhân chất độc hóa học
Tại Việt Nam, hơn 40 năm đã đi qua, mặc dù cuộc sống đã trở lại bình yên cùng với sự hồi sinh, phát triển trên khắp mọi miền đất nước, nhưng hậu quả chiến tranh để lại cho đất nước ta nhiều tổn thất, hy sinh mất mát Đó là
Trang 34những thương tích trên cơ thể của không ít cựu chiến binh và dân thường, những bệnh tật và dị tật của nạn nhân chất độc hoá học, đến sự ly tán của nhiều gia đình Hiện nay, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã và đang tích cực quan tâm giải quyết khắc phục hậu quả chiến tranh
Những vấn đề nạn nhân chiến tranh cần phải được cả cộng đồng quan tâm, đặc biệt là báo chí Truyền thông sẽ là kênh truyền tải giúp công chúng nhớ đến những tổn thương, mất mát của một thời kỳ chiến tranh; những công lao, đóng góp của bộ đội, chiến sĩ…Từ đó nuôi dậy ý chí và tinh thần đoàn kết kiên cường dân tộc, nhất là trong thời bình
Tuy nhiên, không phải nạn nhân chiến tranh nào cũng là NYT Nhiều nạn nhân chiến tranh đã vượt qua được sự yếu thế/ thiệt thòi, khắc phục được khả năng không tiếp cận được các phương tiện thiết yếu hoặc loại bỏ rào cản đối với năng lực thực hiện của họ, từ đó, vị thế trong xã hội của họ ngày càng được nâng cao
- Nạn nhân của các tệ nạn xã hội
Tệ nạn xã hội là một hiện tượng xã hội tiêu cực, biểu hiện bằng những hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội, vi phạm đạo đức xã hội và có dấu hiệu vi phạm pháp luật gây hậu quả xấu đời sống xã hội Tệ nạn xã hội là hiện tượng
có tính tiêu cực, biểu hiện thông qua các hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội, vi phạm đạo đức, pháp luật hiện hành, phá vỡ thuần phong mỹ tục, lối sống lành mạnh, tiến bộ trong xã hội, có thể gây những hậu quả nghiêm trọng cho các cá nhân, gia đình và xã hội
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta trong những năm gần đây thì tệ nạn xã hội (ma túy, mại dâm, mua bán người…) cũng đang ngày càng gia tăng, đó là mặt trái của nền kinh tế thị trường và hội nhập, khiến cho
ai cũng lo lắng mình có thể trở thành nạn nhân của các tệ nạn này bất cứ lúc nào Các tệ nạn xã hội có thể gây những tổn thương nghiêm trọng đối với sức khỏe của chính bản thân người tham gia (gây các bệnh về hệ hô hấp, hệ tim mạch, hệ thần kinh đối với người nghiện ma túy…); làm tha hóa về nhân
Trang 35cách, rối loạn về hành vi, rơi vào lối sống buông thả, dễ vi phạm pháp luật và phạm tội Đối với các gia đình có người thân tham gia các tệ nạn xã hội sẽ có thể bị khủng hoảng về mặt tài chính cũng như tinh thần Ví dụ như tệ nạn cờ bạc sẽ làm phát sinh các mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân – gia đình của những người nghiện cờ bạc, gây sứt mẻ tình cảm, đổ vỡ niềm tin giữa vợ chồng và có thể dẫn tới tình trạng bạo lực gia đình
Các nạn nhân của tệ nạn xã hội có thể là: người nhiễm HIV/AIDS; người bán dâm; nạn nhân bị mua bán, trong đó chủ yếu là phụ nữ và trẻ em… Những đối tượng này sẽ luôn cảm thấy mặc cảm, tự ti và khó hòa nhập với cuộc sống xã hội thường ngày bởi những dị nghị, đàm tiếu của các cá nhân trong xã hội
1.1.5 Báo Đảng địa phương
Báo Đảng là một đơn vị cấu thành hệ thống báo chí cả nước, có vai trò, chức năng chung với báo chí cả nước, góp phần xây dựng bảo vệ vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa Sự phân biệt giữa báo Đảng với các tờ báo khác chỉ mang tính tương đối vì hệ thống báo chí cả nước đều do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý Điểm khác biệt là cơ quan chủ quản của báo Đảng là tổ chức Đảng Còn các tờ báo khác lại trực thuộc các tổ chức, đơn vị, đoàn thể nằm trong hệ thống chính trị cả nước
Theo hệ thống tổ chức Đảng, báo Đảng có thể phân chia theo hai cấp là cấp Trung ương và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Cụ thể, ở Trung ương có báo Nhân Dân là cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam – tiếng nói của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt nam Ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có các tờ báo của tỉnh là cơ quan của Đảng bộ tỉnh
Có thể định nghĩa, Báo Đảng địa phương là cơ quan trực thuộc Đảng
bộ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; là tiếng nói của Đảng bộ, chính quyền và diễn đàn của nhân dân các dân tộc trong một địa phương Các cơ quan báo Đảng hoạt động theo Luật Báo chí, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của tổ chức Đảng sinh ra nó và sự quản lý của UBND các tỉnh, thành phố
Trang 36Báo Đảng là một trong những phương tiện quan trọng nhất để hướng dẫn dư luận và chỉ đạo công tác của Đảng, Nhà nước và chính quyền ở các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương Trong dòng chảy của lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam, các cơ quan báo Đảng địa phương giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc chuyển tải thông tin, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước đến với Nhân dân
Báo Đảng địa phương có nhiệm vụ phản ánh toàn diện hoạt động của địa phương mình, định hướng thông tin tuyên truyền ở mọi lĩnh vực của tỉnh, thành phố đó Ưu thế của báo Đảng là tác động trực tiếp vào tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên để tuyên truyền, cổ vũ, động viên phong trào cách mạng của quần chúng, là cơ sở tạo nên yếu tố tinh thần, bản chất cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh
Trước xu thế toàn cầu hóa thông tin, đặc biệt là những thách thức đến từ
sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông số, những người làm báo Đảng địa phương đã và đang không ngừng vận động, phát triển để đáp ứng yêu cầu tuyên truyền và sự kỳ vọng của độc giả Hiện nay, bên cạnh việc phát hành báo
in, phần lớn các cơ quan báo Đảng địa phương cũng đã cho ra mắt phiên bản báo điện tử để tăng sức cạnh tranh về thông tin trong thời kỳ truyền thông số
Tuy nhiên, trong tác động của nền kinh tế thị trường và xu thế truyền thông đa phương tiện, thách thức, khó khăn với báo Đảng địa phương cũng không nhỏ Mặc dù, các thông tin tuyên truyền của báo Đảng có độ chính xác, tính khách quan cao, song vì những hạn chế về cách thể hiện, trình bày nên chưa thu hút được đông đảo công chúng tìm đọc Từ đó đặt ra vấn đề báo Đảng phải có bước đi phù hợp để nâng cao vai trò và thích ứng, phát triển trong tình hình mới
1.2 Vai trò của báo chí truyền thông về người yếu thế
1.2.1 Quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về người yếu thế
Ở Việt Nam, trải qua lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân Việt Nam đã phải đổ biết bao xương máu để giành lấy những quyền
Trang 37cơ bản của con người như: được sống trong điều kiện độc lập, tự do, có cơm
ăn, áo mặc, nhà ở, được học hành, nhân phẩm được tôn trọng Do đó, Đảng, Nhà nước ta luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước; thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là nhân tố quan trọng trong phát triển bền vững, đảm bảo thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Để xác lập cơ sở cho việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, một trong những chủ trương, nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước là đảm bảo thực hiện tốt các chính sách An sinh xã hội cho nhân dân, trong đó có đối tượng NYT
Các quan điểm của Đảng, Nhà nước về an sinh xã hội cho nhân dân được thể hiện tập trung trong các văn kiện của Đảng (Cương lĩnh chính trị, Nghị quyết, Chỉ thị…) và văn bản của các cơ quan Nhà nước Tháng 12-1986, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra chủ trương đổi mới đất nước toàn diện - mở ra một thời kỳ mới trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Trong bối cảnh đất nước còn nhiều vấn đề cấp bách phải giải quyết, nhưng bảo đảm an sinh xã hội vẫn được Đảng ta xác định là nhiệm vụ thường xuyên và có tầm quan trọng hàng đầu Quan điểm của Đảng ta về thực hiện tốt an sinh xã hội là để tạo ra tiền đề quan trọng cho sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội, góp phần củng cố những thành quả trong đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng chính đáng, thường xuyên của nhân dân, tạo lòng tin cho nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới đất nước toàn diện do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo Đảm bảo tốt an sinh xã hội sẽ góp phần tạo ra sự thống nhất giữa đổi mới về kinh tế với đổi mới chính trị, xã hội, tạo sự cân đối giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ngay trong những bước đi đầu tiên của sự nghiệp đổi mới
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII và lần thứ VIII của Đảng đã xác định thực hiện An sinh xã hội sẽ góp phần tạo ra những tiền đề đưa đất nước chuyển dần sang một thời kỳ phát triển mới - thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
Trang 38đại hóa đất nước, tạo tiền đề vững chắc cho đất nước bước vào giai đoạn phát triển cao hơn ở đầu thế kỷ XXI [1]
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, vấn đề an sinh xã hội tiếp tục được khẳng định: “Tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất
là các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, vượt qua khó khăn hoặc các rủi ro trong đời sống”; “Bảo đảm cho các đối tượng bảo trợ xã hội có cuộc sống ổn định, hoà nhập tốt hơn vào cộng đồng, có cơ hội tiếp cận nguồn lực kinh tế, dịch vụ công thiết yếu”; “Tập trung triển khai có hiệu quả các chương trình xoá đói, giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Đa dạng hoá các nguồn lực và phương thức xoá đói, giảm nghèo gắn với phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển giáo dục, dạy nghề và giải quyết việc làm
để xoá đói, giảm nghèo bền vững; tạo điều kiện và khuyến khích người đã thoát nghèo vươn lên làm giàu và giúp đỡ người khác thoát nghèo”; “Huy động mọi nguồn lực xã hội cùng với Nhà nước chăm lo tốt hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần của những người và gia đình có công…” [2]
Bước sang giai đoạn chiến lược mới, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục coi bảo đảm An sinh xã hội là một nhiệm vụ chủ yếu thường xuyên Trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng có đề ra nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới về công tác Quản lý phát triển xã hội bền vững, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội như sau: “Phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, tiến tới bao phủ toàn dân với các chính sách phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro cho người dân, bảo đảm trợ giúp cho các nhóm đối tượng yếu thế Cải cách hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng dựa trên nguyên tắc đóng - hưởng, chia
sẻ - bền vững Triển khai đồng bộ các giải pháp giảm nghèo đa chiều, bền vững, bảo đảm mức sống tối thiểu và các dịch vụ cơ bản Nâng cao chất lượng xây dựng nông thôn mới, triển khai có hiệu quả chương trình phát triển
Trang 39kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2020 -
2030, thu hẹp khoảng cách giàu - nghèo giữa các vùng, miền, dân tộc”
Trên cơ sở những Cương lĩnh chính trị, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Nhà nước đã ban hành và thực hiện nhiều chủ trương, chính sách, chương trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, từng bước cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân Các chương trình, chính sách an sinh xã hội đã đạt được những thành tựu quan trọng như: thúc đẩy phát triển thị trường lao động, tạo cơ hội cho người lao động tìm việc hoặc tự tạo việc làm; các chương trình và chính sách giảm nghèo đã tập trung nguồn lực ưu tiên cho huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn, vùng đông đồng bào dân tộc; các chính sách trợ giúp của Nhà nước và cộng đồng đối với các nhóm có hoàn cảnh khó khăn đã đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thu nhập tối thiểu cho người dân; Nhà nước không ngừng tăng đầu tư cho phát triển các dịch vụ cơ bản bao gồm giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin truyền thông, đặc biệt ưu tiên cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, các xã đặc biệt khó khăn, lao động nông thôn, lao động khu vực phi chính thức và các đối tượng yếu thế khác…
Cụ thể, tại Kỳ hợp thứ 6 khóa XII (năm 2009), Quốc hội đã thông qua
và tháng 12-2009, Chủ tịch nước đã ký và công bố Luật người cao tuổi Luật này gồm 6 chương, 31 điều, thể chế hóa đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước về người cao tuổi một cách hệ thống, đầy đủ, toàn diện; khuyến khích sự quan tâm của các tổ chức cá nhân nhằm xã hội hóa công tác chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi
Hay năm 1998, Chính phủ Việt Nam đã ra Pháp lệnh về người tàn tật Pháp lệnh quy định trách nhiệm của gia đình, nhà nước và xã hội đối với người tàn tật; quyền và nghĩa vụ của người tàn tật Để luật hóa các quy định đối với người tàn tật tại Kỳ họp thứ 6, khóa XII (năm 2009), Quốc hội đã thảo luận, thu nhận các ý kiến đóng góp cho luật người khuyết tật và được thông qua vào năm 2010
Trang 40Những điều luật khác liên quan đến các nhóm xã hội yếu thế cũng đã được Quốc hội xem xét và thông qua, như: Luật phòng, chống bạo lực gia đình; pháp luật về phòng chống HIV/AIDS, phòng chống mại dâm…
Trong các chương trình mục tiêu quốc gia cũng đều có những chính sách, dự án hướng đến nhóm NYT Điển hình như chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo; chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS… Ngoài ra, Chính phủ Việt Nam cũng phối hợp với các tổ chức quốc tế, chính phủ nhiều nước triển khai thực hiện nhiều dự án quan trọng khác dành cho nhóm yếu thế
Ngoài ra, thời gian qua, Đảng, Nhà nước và các tỉnh, thành còn triển khai thực hiện nhiều chính sách an sinh xã hội khác dành cho NYT Các chính sách này đã huy động được sức mạnh của toàn xã hội trong việc hỗ trợ, giúp đỡ nâng cao chất lượng cuộc sống cho hàng trăm nghìn cảnh đời éo
le, khó khăn
1.2.2 Vai trò của báo chí đối với người yếu thế
Trong 96 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Báo chí cách mạng Việt Nam luôn là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò quan trọng trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, đóng góp to lớn vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân Hiện nay, bên cạnh là tiếng nói của Đảng bộ, chính quyền, ngành, địa phương, báo chí còn
là tiếng nói của nhân dân cả nước và từng địa phương (đối với báo địa phương) Do vậy, trong thời gian qua, báo chí nước ta không chỉ thông tin khá đầy đủ về các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, các định hướng, của địa phương, đoàn thể, ngành mà còn không ngừng phản ánh các ý kiến, nguyện vọng của người dân để các cơ quan chức năng nắm bắt, xử lý, khắc phục, hỗ trợ…
NYT là nhóm người luôn có sự hiện diện của “rào cản” đối với khả năng tự túc của họ Họ gặp khó khăn khi bị từ chối tiếp cận và sử dụng các phương tiện cần thiết được cho là hữu ích với đa số các nhóm xã hội tương tự