1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản trị chương trình truyền hình chuyên đề xây dựng đảng tại đài truyền hình địa phương

115 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản trị chương trình truyền hình chuyên đề xây dựng đảng tại đài truyền hình địa phương
Tác giả Nguyễn Bá Phục
Người hướng dẫn TS. Trần Bảo Khánh
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản lý Báo chí - Truyền thông
Thể loại Luận văn thạc sĩ báo chí học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng nhìn chung, hoạt động sản xuất chương trình chuyên đề Xây dựng Đảng vẫn có những hạn chế như: cách thức thể hiện vẫn chưa đáp ứng yêu cầu, thị hiếu ngày càng cao của công chúng; hi

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN BÁ PHÖC

QUẢN TRỊ CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CHUYÊN ĐỀ XÂY DỰNG ĐẢNG TẠI ĐÀI TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƯƠNG

(Nghiên cứu so sánh trường hợp đài PT-TH Bắc Ninh,

đài PT-TH Bắc Giang, đài PT-TH Lạng Sơn)

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

HÀ NỘI - 2022

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN BÁ PHÖC

QUẢN TRỊ CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CHUYÊN ĐỀ XÂY DỰNG ĐẢNG TẠI ĐÀI TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƯƠNG

(Nghiên cứu so sánh trường hợp đài PT-TH Bắc Ninh,

đài PT-TH Bắc Giang, đài PT-TH Lạng Sơn)

Chuyên ngành: Quản lý Báo chí - Truyền thông

Mã số: 8 32 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN BẢO KHÁNH

HÀ NỘI - 2022

Trang 3

Hà Nội, ngày tháng năm 2022

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

Trang 4

Tôi xin cam đoan, luận văn “Quản trị chương trình truyền hình

chuyên đề xây dựng Đảng tại đài truyền hình địa phương” là công trình

nghiên cứu của tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Trần Bảo Khánh, các số liệu được sử dụng trong luận văn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Các kết luận, đánh giá, nhận định trong Luận văn chưa công bố trong công trình nào khác, và do tôi kế thừa, tư duy dựa trên những tài liệu nghiên cứu khoa học xác thực

Tôi xin chịu trách nhiệm đối với luận văn của mình.

Hà Nội, tháng 02 năm 2022

Tác giả luận văn

Nguyễn Bá Phúc

Trang 5

Trước tiên tôi xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo và tập thể thầy cô giáo Học Viện Báo chí và Tuyên truyền đã tạo điều kiện học tập, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm cùng sự giúp đỡ, động viên tận tình trong hai năm học qua.

Xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Trần Bảo Khánh

đã luôn tận tình hỗ trợ, hướng dẫn, cố vấn đầy trách nhiệm cho đề tài nghiên cứu luận văn của tôi

Tôi chân thành cảm ơn lãnh đạo, cán bộ phóng viên, biên tập các cơ quan báo chí tỉnh Bắc Ninh đã trả lời phỏng vấn tôi, cho phép tôi tham gia các hội thảo khoa học, tọa đàm, cung cấp và giúp tôi sưu tầm, phân tích tư liệu trong quá trình thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ, cổ vũ và động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Bá Phúc

Trang 6

PT-TH: Phát thanh – truyền hình

XDĐ: Xây dựng ĐảngBTV: Bắc Ninh TVBGTV: Bắc Giang TVLSTV: Lạng Sơn TV CTTH: Chương trình truyền hình CĐTH: Chuyên đề truyền hình

Trang 7

Bảng 2.1 Bảng khảo sát về số lượng chương trình truyền hình chuyên đề XDĐ của

ba Đài TH Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn từ tháng 1/2020 - 12/2020 44

Biểu đồ 2.1 Biểu đồ so sánh số lượng chương trình truyền hình XDĐ của ba

đài TH Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn 44Biểu đồ 2.2 Biểu đồ so sánh tỉ lệ chương trình truyền hình chuyên đề XDĐ

so với các chuyên đề khác trên đài Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn 45Biểu đồ 2.3 Biểu đồ thể hiện mức độ hài lòng của công chúng 46

Trang 8

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CHUYÊN ĐỀ VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG 12

1.1.Một số khái niêm cơ bản 12

1.2 Vai trò và đặc điểm của chương trình truyền hình chuyên đề và quản trị chương trình truyền hình chuyên đề xây dựng Đảng 24

1.3 Chủ thể, đối tượng, nội dung, phương thức quản trị của chương trình truyền hình chuyên đề xây dựng Đảng 32

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CHUYÊN ĐỀ XÂY DỰNG ĐẢNG TẠI ĐÀI TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƯƠNG 42

2.1 Tổng quan về các đài thuộc diện khảo sát 42

2.2 Khảo sát về chương trình truyền hình chuyên đề XDĐ tại ba đài Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn (từ tháng 1/2020 – 12/2020) 44

2.3 Đánh giá chung về ưu điểm, hạn chế trong quản trị chương trình truyền hình chuyên đề XDĐ tại ba đài 54

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CHUYÊN ĐỀ XÂY DỰNG ĐẢNG TẠI ĐÀI PTTH ĐỊA PHƯƠNG 68

3.1 Những vấn đề đặt ra trong hoạt động quản trị chương trình truyền hình chuyên đề xây dựng Đảng của đài PTTH địa phương hiện nay 68

3.2 Giải pháp về chất lượng cho công tác quản trị chương trình truyền hình chuyên đề xây dựng Đảng 75

3.3 Đề xuất hướng đi mới cho việc tổ chức sản xuất chương trình chuyên đề truyền hình về xây dựng Đảng 83

KẾT LUẬN 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC 98

TÓM TẮT LUẬN VĂN 107

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Chương trình chuyên đề Xây dựng Đảng được xem là mảng nội dung rất quan trọng của toàn bộ hoạt động thông tin, tuyên truyền ở bất kì đài truyền hình nào, từ trung ương đến địa phương, cùng với chương trình thời sự và giải trí Trong bối cảnh hiện nay, khi độc giả có nhiều cách thức tiếp cận thông tin trên Internet chứ không chỉ tìm đến với báo chí chính thống như trước đây, thì các đài truyền hình cũng như nhiều cơ quan báo chí khác, bắt buộc phải đổi mới cách thức truyền tải thông tin, sử dụng các công nghệ hỗ trợ hiện đại để làm cho thông tin trên truyền hình trở nên hấp dẫn và phù hợp với sự thay đổi trong hành vi tiêu thụ thông tin của độc giả hơn Trong thời gian qua, các đài truyền hình địa phương nói chung luôn cố gắng nâng cao chất lượng chương trình chuyên đề Xây dựng Đảng và từng bước đổi mới cách thức tiếp cận với công chúng Nhưng nhìn chung, hoạt động sản xuất chương trình chuyên đề Xây dựng Đảng vẫn có những hạn chế như: cách thức thể hiện vẫn chưa đáp ứng yêu cầu, thị hiếu ngày càng cao của công chúng; hiệu quả kinh tế chưa cao, nhiều đài vẫn chưa tính đến việc tạo nguồn thu cho chương trình chuyên

đề Xây dựng Đảng mà vẫn xem đây là nhiệm vụ chính trị mà cơ quan phải đầu

tư thực hiện; quy trình phối hợp sản xuất các chương trình thời sự và chuyên đề trong nội bộ đài truyền hình địa phương còn chưa nhất quán, dẫn đến chồng chéo và lãng phí tiềm năng về thông tin, chưa góp phần Xây dựng thương hiệu của Đài truyền hình… Bên cạnh đó, vẫn còn một bộ phận người làm báo ở địa phương chưa được tiếp cận đầy đủ với xu hướng phát triển của truyền thông hiện đại, hoặc có nắm bắt nhưng vẫn còn loay hoay để tìm hướng đi, có nhiều nguyên nhân dẫn tới những hạn chế trên, nhưng nguyên nhân sâu xa nhất là phương thức quản trị nội dung chưa thật phù hợp, chưa đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới

Trang 10

Có thể thấy, cho đến nay, vấn đề tự chủ tài chính, hay nói cách khác là báo chí làm kinh tế đã không còn là xu hướng, mà trở thành kế hoạch hoạt động cụ thể ở từng cơ quan báo, đài và theo đó phải chịu sự điều tiết bởi các quy luật của kinh tế thị trường như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh và chịu sự sàng lọc của cơ chế thị trường Từ đây, mỗi đài truyền hình cũng giống như một doanh nghiệp, hoạt động sản xuất chương trình truyền hình vì thế đều phải tính đến hiệu quả, năng lực cạnh tranh chứ không còn cảnh “độc quyền” của đài địa phương như trước đây, phát cái gì thì công chúng phải xem cái đó hay trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước Thậm chí, hoạt động sản xuất các chương trình chuyên đề lâu nay vẫn là nhiệm vụ chính trị của các Đài truyền hình địa phương thì trong bối cảnh hiện nay, bộ phận sản xuất còn phải tính đến nguồn thu để có thể đầu tư nâng cao chất lượng thông tin, đổi mới cách thức truyền tải thông tin để không bị tụt hậu so với thời đại

Báo chí Cách mạng Việt Nam nói riêng và truyền hình nói riêng luôn là

vũ khí tư tưởng sắc bén của Đảng và Nhà nước, gắn bó và đồng hành với sự nghiệp cách mạng của dân tộc; là phương tiện thông tin, tuyên truyền quan trọng, đồng thời là diễn đàn để nhân dân tham gia Xây dựng, chỉnh đốn Đảng

Sự tham gia chủ động, tích cực của đài phát thanh - truyền hình địa phương trong thời gian qua đã góp phần làm cho công tác Xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực có chuyển biến mạnh mẽ, có bước đột phá và đạt nhiều kết quả

Đặc biệt, các đài Phát thanh - Truyền hình địa phương đã góp phần nâng cao nhận thức của cấp ủy các cấp, cán bộ, đảng viên và nhân dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác Xây dựng, chỉnh đốn Đảng Nhiều sản phẩm báo chí có chất lượng tốt, phản ánh kịp thời những tấm gương điển hình tiên tiến; phát hiện, phê phán, lên án những tổ chức, cá nhân có biểu hiện tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tạo nên những áp lực đủ mạnh để các cơ quan, tổ chức chủ động, tích cực hơn trong công tác Xây dựng, chỉnh

Trang 11

đốn Đảng, tạo động lực quan trọng để nâng cao chất lượng công tác thông tin, tuyên truyền về Xây dựng Đảng, qua đó phát huy hiệu quả vai trò của báo chí trong lĩnh vực công tác này

Nhằm góp phần giải quyết một số vấn đề thực tiễn của hoạt động sản xuất chương trình thời sự tổng hợp tại các Đài truyền hình địa phương trong

khu vực hiện nay, tác giả đã thực hiện đề tài luận văn “Quản trị chương trình

truyền hình chuyên đề Xây dựng Đảng ở các đại PTTH địa phương (Nghiên cứu so sánh trường hợp đài PT-TH Bắc Ninh, đài PT-TH Bắc Giang và đài PT-TH Lạng Sơn)” Thông qua việc tìm hiểu các phương thức đã được áp dụng

trong việc quản lý nội dung các chương trình truyền hình chuyên đề ở ba đài địa phương, từ đó so sánh, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế trong cách làm của mỗi cơ quan, luận văn mong muốn góp phần định hình được phương thức sản xuất tối ưu cho chương trình thời sự tổng hợp ở các đài địa phương trong bối cảnh tự chủ về kinh tế như hiện nay, để vừa đáp ứng yêu cầu về chất lượng chương trình, vừa mang lại hiệu quả về kinh tế, về thời gian thực hiện và cuối cùng là tạo một môi trường làm việc chuyên nghiệp, thoải mái, hiệu suất cao cho những người làm báo địa phương

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Hiện những tài liệu về sản xuất CTTH chuyên đề Xây dựng Đảng được nghiên cứu, tác giả chia thành hai nhóm vấn đề như sau

Nhóm 1: các vấn đề lí luận, lí thuyết về CĐTH, sản xuất CTTH

1 Cơ sở lý luận báo chí của PGS.TS Nguyễn Văn Dững, NXB Đại học

Quốc Gia Hà Nội năm 2011 Nội dung giáo trình cung cấp những kiến thức cơ bản

và hệ thống về các khái niệm cơ bản của lý luận báo chí, đặc điểm báo chí, bản chất hoạt động báo chí, đối tượng, công chúng và cơ chế tác động của báo chí

2 Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn (1995-2005), Từ điển Bách khoa

Việt Nam, Nxb Từ điển Bách khoa Hà Nội, trong đó định nghĩa “Chương trình

truyền hình” là một phân đoạn của nội dung dự định để phát sóng trên truyền

Trang 12

hình, mà không phải là một đoạn quảng cáo thương mại, quảng cáo kênh hay quảng cáo phim CTTH có thể hư cấu (như trong những phim hài kịch và phim truyền hình), hoặc không hư cấu (như trong tài liệu, tin tức và truyền hình thực tế) Nó có thể là chuyên đề (như trong trường hợp của một bản tin trên Đài địa phương và một số bộ phim được thực hiện cho truyền hình), lịch sử (như trong trường hợp của nhiều phim tài liệu và phim hư cấu) Chúng có thể cùng chủ yếu là giảng dạy, giáo dục, giải trí hay như trường hợp trong tình huống hài kịch và các game show

3 Trần Bảo Khánh, Sản xuất chương trình truyền hình, NXB Văn

hóa-Thông tin, Hà Nội, năm 2002 Đây là cuốn sách lần đầu đưa ra các khái niệm

cơ bản về truyền hình: Chương trình truyền hình, qui trình sản xuất, các thuật ngữ cơ bản trong sx tác phẩm, các thể loại cơ bản của truyền hình; đồng thời làm rõ tầm quan trọng và các kỹ năng trong công tác tổ chức sản xuất chương trình truyền hình Theo đó, tổ chức sản xuất phụ thuộc vào các yếu tố như: khả năng Xây dựng kế hoạch từ việc tổng hợp tình hình và khả năng của lực lượng trong sáng tạo và sản xuất Về lý luận hoạt động tổ chức sản xuất chương trình truyền hình

4 Trần Bảo Khánh, Phỏng vấn trong chính luận truyền hình, NXB Thông

tin và Truyền thông”, Hà Nội 2020 Cuốn sách đề cập tới thể loại phỏng vấn, một thể loại quan trọng trong truyền hình nói riêng và trong báo chí chính luận nói chung Cách thức tiến hành cuộc phỏng vấn truyền hình và sử dụng hiệu quả phỏng vấn trong các tác phẩm truyền hình Cuốn sách cũng đưa ra nhiều gợi ý

về đánh giá các tác phẩm sử dụng thể loại pv trên truyền hình

5 Trần Bảo Khánh, Bùi Chí Trung, Sản xuất chương trình truyền hình

chuyên đề NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2021 Cuốn sách trình bày cách

thức tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình chuyên đề, mối liên kết giữa các khâu trong quá trình sản xuất, sáng tạo tác phẩm, chương trình truyền hình chuyên đề Giới thiệu các kĩ năng, phương pháp tìm kiếm ý tưởng, phân

Trang 13

tích và Xây dựng khung định dạng chương trình…Đây là một trong số ít các nghiên cứu cụ thể về chương trình truyền hình chuyên đề

4 PGS TS Dương Xuân Sơn (2009), Giáo trình Báo chí truyền hình, Nxb

Đại học Quốc gia Hà Nội, chương 7 giới thiệu về “Phương thức sản xuất chương trình truyền hình”, cụ thể hóa ở từng loại hình chương trình: Trực tiếp, chương trình qua băng từ và chương trình cầu truyền hình Tại đây, quy trình tổ chức sản xuất chương trình với từng bước tiến hành cụ thể đã được tác giả sơ đồ hóa, giúp người đọc hình dung được tương đối đầy đủ về quá trình triển khai thực hiện một CTTH Bên cạnh, tác giả nói sâu về tin, phóng sự, phỏng vấn, phim tài liệu truyền hình, những thể loại gần gũi với CTTH chuyên đề

5 GS.TS Tạ Ngọc Tấn (2001), Truyền thông đại chúng, Nxb Chính trị

Quốc gia Hà Nội, về lý luận hoạt động tổ chức sản xuất CTTH, tác giả đã giới thiệu một cách tương đối khái quát về lĩnh vực truyền hình trong chương 5 Trong 15 trang sách, ngoài việc chỉ ra những đặc điểm riêng có, vừa được xem

là thế mạnh cũng là điểm yếu của thể loại báo hình, cùng lịch sử phát triển của truyền hình thế giới và Việt Nam, GS.TS Tạ Ngọc Tấn đã giới thiệu về kỹ thuật sản xuất các CTTH với quy trình, các hạng mục công việc và yêu cầu tương ứng của nó ở từng thể loại chương trình

6 Vũ Quang Hào, Nghĩ đột phá cho format báo chí, NXB Thông tin và truyền thông, Hà Nội, 2020 Trong cuốn sách này, PGS.TS Vũ Quang Hào đã nghiên cứu, thiết kế hàng trăm format cho bản tin, chương trình truyền hình… Mỗi chương trình, chuyên mục được thiết kế, giới thiệu trong cuốn sách đều ứng dụng các lý thuyết mới, những kỹ thuật làm báo hiện đại mà tác giả có cơ hội học tập, thụ hưởng và chắt lọc từ những nền báo chí tiên tiến trên thế giới, cũng như từ thực tiễn nghề báo ở nước ta

Nhóm 2 các vấn đề nghiên cứu cụ thể về CĐTH Xây dựng Đảng (chủ yếu là luận văn) và một số chương của sách

1 Nguyễn Ngọc Anh, Luận văn thạc sĩ Tổ chức sản xuất chương trình

Trang 14

chuyên đề ở Đài Phát thanh - Truyền hình địa phương Thông qua tiếp cận

thực tiễn hiện tại của các Đài PT-TH Bắc Giang, Bắc Ninh về các chương trình chuyên đề: Xây dựng Đảng, Nông nghiệp nông thôn, Diễn đàn cử tri, Tạp chí kinh tế, Trang văn học nghệ thuật để phân tích những mặt được, chưa được trong quy trình tổ chức sản xuất, đưa ra những đề nghị, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả của công tác tổ chức sản xuất chương trình chuyên đề

ở các Đài PT-TH địa phương

2 Bùi Thị Bích Hường (2018) Luận văn thạc sĩ Sản xuất chương trình

truyền hình chuyên đề trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện, Đại học

Quốc gia Hà Nội, đã chỉ ra và phân tích những ưu điểm, hạn chế, thực trạng chất lượng CTTH chuyên đề qua khảo sát tại Trung tâm Phim tài liệu và Phóng

sự (Ban Chuyên đề trước đây) - Đài Truyền hình Việt Nam, Luận văn đề xuất một số giải pháp khắc phục làm cơ sở cho việc đổi mới cách thức sản xuất, nội dung, hình thức thể hiện và các giải pháp cơ bản để những người làm truyền hình tham khảo và thực hiện CTTH chuyên đề đạt chất lượng cao Từ đó góp phần nâng cao chất lượng CTTH chuyên đề nói chung và các sản phẩm tại Trung tâm Phim tài liệu và Phóng sự (Ban Chuyên đề trước đây) - Đài Truyền hình Việt Nam nói riêng

3 Lê Thị Thanh Nhàn (2017), Luận văn thạc sĩ Tổ chức sản xuất chương

trình truyền hình chuyên đề về biên cương, hải đảo, Đại học Quốc gia Hà Nội

nêu có khá nhiều công trình nghiên cứu về tổ chức sản xuất CTTH và công tác tuyên truyền về biên cương, hải đảo trên sóng truyền hình Tuy nhiên, tính đến thời điểm tác giả làm luận văn chưa được tiếp cận với một công trình nghiên cứu nào ở mức độ khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ hay tiến sĩ về vấn đề sản xuất CTTH mang tính chuyên biệt về biên cương, hải đảo Do vậy, tác giả

đã nhận diện các điểm mạnh, điểm yếu của mô hình sản xuất ở trung phương, địa phương, của các đơn vị xã hội hóa làm cơ sở quan trọng, đề xuất những định hướng thay đổi, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất các CTTH chuyên

đề về biên cương, hải đảo

Trang 15

Căn cứ điều kiện sản xuất đặc thù cùng với những kinh nghiệm hay rút

ra từ các mô hình tổ chức sản xuất hiện có, tác giả luận văn đề xuất một quy trình gồm 14 bước để tối ưu hóa hiệu quả sản xuất, quy trình này cho phép khắc phục những hạn chế hiện nay, tập trung vào một số khâu trọng yếu như kế hoạch, kịch bản, điều độ sản xuất Tất nhiên, để thực hiện được quy trình này còn liên quan đến các giải pháp lựa chọn nhân sự, Xây dựng kế hoạch và các phương án về vật tư khác

4 Nguyễn Vũ Trung (2018) với 3 chương trong Luận văn thạc sĩ Vấn đề

đổi mới quy trình sản xuất truyền hình của đài phát thanh và truyền hình địa phương trong lộ trình số hóa 2020, Đại học Quốc gia Hà Nội, thông qua kỹ

năng phân tích những điểm khác biệt, đổi mới trong quy trình sản xuất truyền hình số; thông qua phương pháp khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng về quy trình sản xuất chương trình của các Đài PT-TH địa phương qua khảo sát Đài PT-TH Hải Phòng và Lào Cai, làm rõ sự đổi mới - những ưu điểm - những hạn chế còn tồn tại trong quy trình sản xuất chương trình và các thách thức của Đài PT-TH địa phương khi chuyển sang số hóa; đồng thời đưa ra các kiến nghị, giải pháp, đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả quy trình sản xuất chương trình của các Đài PT-TH địa phương trong lộ trình số hóa, phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của truyền hình trong nước và quốc tế

5 Luận văn thạc sĩ báo chí (2001) của Vương Thị Đỗ Quyên - Học viện Báo chí và Tuyên truyền – “Báo chí với việc tuyên truyền xây dựng tổ chức cơ

sở Đảng ở tỉnh Bến Tre” (Khảo sát Báo Đồng Khởi, Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh Bến Tre từ năm 2000 đến năm 2003) Nội dung chủ yếu nghiên cứu, phân tích đặc điểm, chất lượng nội dung, hình thức thể hiện tác phẩm báo in và báo phát thanh, báo truyền hình tuyên truyền về xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở địa phương tỉnh Bến Tre

6 Luận văn thạc sĩ báo chí của Trần Ngọc Lưu Ly (2020) về “Quản trị nội dung chuyên đề truyền hình của Đài PT-TH Cà Mau” đã nghiên cứu chỉ ra

Trang 16

thực trạng quản trị nội dung CĐTH ở Phòng Thời sự - Chuyên đề, Đài PT-TH

Cà Mau Đồng thời đề xuất những giải pháp quản trị nội dung các chuyên đề trong thời gian tới

7 Luận văn thạc sĩ báo chí của Nguyễn Thị Lâm Anh (2015) “Báo chí Bạc Liêu với vấn đề truyên truyền về xây dựng Đảng giai đoạn hiện nay”; Luận văn thạc sĩ báo chí của Vương Thị Đỗ Quyên “Báo chí tuyên truyền về xây dựng tổ chức cơ sở Đảng ở tỉnh Bến Tre”; Luận văn thạc sĩ báo chí của Lê Thị Thu Thủy (2006) “Nâng cao chất lượng tuyên truyền trên báo chí về xây dựng cơ sở đảng ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ”; Luận văn thạc sĩ báo chí của Trần Thị Thu Thủy (2008) “Báo chí với vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở”; Luận văn thạc sĩ truyền thông đại chúng của Đoàn Nam Phương (2008) “Báo Đảng các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long” đã tập trung nghiên cứu, phân tích đặc điểm, vai trò, thế mạnh, chất lượng, hiệu quả của báo chí địa phương trong thực hiện tuyên truyền về xây dựng Đảng

Như đã thấy, đề tài các luận văn đã được bảo vệ phần lớn là tập trung vào một lĩnh vực mà chuyên đề thực hiện, còn ở luận văn này, chúng tôi lại nghiêng nhiều sang vấn đề Quản trị nội dung các chuyên đề thuộc nhiều lĩnh vực khác mà Đài PT-TH Bắc Ninh và đài PT-TH Bắc Giang, đài PT-TH Lạng Sơn đang thực hiện

Trong số nhiều công trình nghiên cứu về báo chí truyền thông, về sản xuất các CTTH (trong đó có chuyên đề) chúng tôi đã điểm ở trên, hiện chưa có

đề tài nghiên cứu nào đề cập Quản trị nội dung CĐTH địa phương

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn này là:

- Hệ thống hóa những vấn đề lí luận về quản trị chương trình truyền hình chuyên đề Xây dựng Đảng, thông qua kết quả khảo sát, phân tích thực trạng để

đề xuất giải pháp để quản trị chương trình chuyên đề này hiệu qủa hơn trong tương lai

Trang 17

3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Ðể đạt được mục tiêu nghiên cứu trên đây, luận văn này có nhiệm vụ nghiên cứu là:

- Trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về CTTH Xây dựng Đảng, phương thức sản xuất CTTH Xây dựng Đảng; tiêu chí để Xây dựng CĐTH Xây dựng Đảng, nhận diện và đánh giá vấn đề quản trị chương trình chương trình CĐTH Xây dựng Đảng của ba đài PT-TH Bắc Ninh, Bắc Giang và Lạng Sơn

- Chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của các chuyên đề Xây dựng Đảng của đài PTTH Bắc Ninh, Bắc Giang và Lạng Sơn trong tiến trình thực thi quản trị chương trình chuyên đề Xây dựng Đảng

- So sánh một số vấn đề trong việc Quản trị hệ thống chương trình chuyên

đề ở ba đài PT-TH tìm ra các ưu điểm và nhược điểm để đánh giá nguyên nhân

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Quản trị chương trình truyền hình chuyên đề Xây dựng Đảng của đài PT-TH Bắc Ninh, Bắc Giang và Lạng Sơn

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Khảo sát ba đài PT-TH Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn từ tháng 1 - 12/2020

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận khoa học

Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả dựa vào phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, cụ thể là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm nền tảng; quan điểm của Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng; quan điểm của Đảng về nhiệm vụ, vai trò của báo chí trong đời sống xã hội Ngoài ra, tác giả luận văn còn dựa vào một số lý thuyết về truyền thông, báo chí và báo chí truyền hình để làm căn cứ chung trong quá trình nghiên cứu

Trang 18

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Tác giả luận văn sử dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu

Do số lượng chuyên đề nhiều, sẽ lựa chọn những chuyên đề thuộc các lĩnh vực khác nhau để tổng hợp, phân tích, nhận xét, đánh giá chất lượng, phương thức thực hiện như thế nào, để xác định một cách tổng quan nội dung các chuyên đề

đã chọn khảo sát

- Thực hiện phòng vấn sâu đối với bốn nhân vật, trong đó bao gồm ông Nguyễn Tiến Nghị, phó giám đốc Đài PT-TH Bắc Ninh, ông Tạ Văn Dương, giám đốc Đài PT-TH Bắc Giang, ông Nguyễn Đông Bắc, giám đốc Đài PT-TH Lạng Sơn và bà Nguyễn Thanh Hoàn, phó phòng chuyên đề Đài PT-TH Bắc Ninh Đây là những người liên quan trực tiếp đến công tác Quản trị CĐTH Xây dựng Đảng tại các đài PT-TH địa phương Thông qua các câu hỏi cụ thể, tác giả thu thập các ý kiến, đánh giá của người trong cuộc, nắm rõ hơn về thực trạng tiếp cận của công chúng đối với các chuyên đề truyền hình Xây dựng Đảng hiện nay; Các nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra đối với người quản lý; Sự định hướng chính trị, quản lý Nhà nước trong công tác tuyên truyền Từ đó, đánh giá chất lượng, những dự định cải tiến nội dung, nâng cao chất lượng các chuyên đề

- Điều tra khảo sát đối với công tác quản lý nội dung CĐTH Xây dựng Đảng của ba đài PTTH nhằm nắm bắt những thông tin phản hồi làm cơ sở điều chỉnh, đổi mới nội dung tuyên truyền Trong luận văn, tác giả đã lập bảng hỏi, phát phiếu khảo sát cho 100 người là những khán giả của ba Đài PT-TH Bắc Ninh, Bắc Giang và Lạng Sơn, qua đó nắm rõ hơn nhu cầu và mức độ quan tâm của công chúng đối với chương trình truyền hình chuyên đề xây dựng Đảng

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài luận văn là cách nhìn tổng thể về thực trạng quy trình sản xuất CĐTH Xây dựng Đảng của Đài PT-TH Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn Từ thực trạng Quản trị chương trình CĐTH của ba đài, luận văn cho thấy sự đổi

Trang 19

mới trong quy trình Quản trị sản xuất chương trình CĐTH là tất yếu để bắt kịp với thời đại số hóa, đáp ứng nhu cầu của khán giả Cũng từ cách thức quản trị sản xuất CĐTH Xây dựng Đảng của ba đài PTTH, luận văn có thể gợi mở bước đầu một số vấn đề lý luận về tiến trình thực thi Quản trị nội dung chuyên

đề, vốn là vấn đề còn ít được đề cập đến trong các tài liệu báo chí học ở nước

ta Trong khi đây lại là vấn đề cần thiết có tính định hướng thực tiễn cho việc

tổ chức sản xuất tại các Đài PT-TH; mặt khác, luận văn này cũng đặt ra một số vấn đề mang tính lý luận xuất phát từ thực tiễn của một số Đài PT-TH địa phương trong quá trình tổ chức sản xuất một loại sản phẩm báo chí không mới nhưng đang gặp nhiều khó khăn

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Những kết quả nghiên cứu của luận văn này có thể cho thấy hàng loạt vấn đề thực tiễn mà các đài PTTH địa phương phải đối diện để xử lý trong quá trình sản xuất CĐTH Xây dựng Đảng Đồng thời đây là những gợi mở có căn

cứ cho các ê kíp sản xuất cũng như cho những người giữ vai trò quản trị sản xuất nội dung chuyên đề ở một Đài PT-TH địa phương Nó sẽ giúp ích cho một

số Đài PT-TH địa phương trong khu vực nhận diện được những khó khăn thuận lợi và tìm hướng đi cụ thể cho mình về một phạm vi sản xuất nội dung vốn cần đầu tư nhân lực cũng như tài chính đáng kể, đó là sản xuất CĐTH Xây dựng Đảng

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận và thực tiễn về Quản trị chương trình truyền hình chuyên đề Xây dựng Đảng

Chương 2: Thực trạng Quản trị chương trình chuyên đề truyền hình tại

ba đài PT-TH Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn

Chương 3: Giải pháp tăng cường công tác Quản trị các chương trình truyền hình chuyên đề tại đài địa phương

Trang 20

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CHUYÊN ĐỀ VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG

1.1 Một số khái niêm cơ bản

Quản trị được rất nhiều nhà nghiên cứu cho ra định nghĩa, chung quy lại

nó được định nghĩa như là cách thức làm việc của những cộng sự hoặc thông qua người khác; Một số nhà nghiên cứu lại có cách nhìn khác, họ cho rằng quản trị là ra các quyết định, thông qua hoạch định, tổ chức, chỉ huy, kiểm soát

và truyền thông thích hợp để hoàn thành mục tiêu đề ra

Theo Từ điển Bách khoa Toàn Thư thì quản trị gồm hai yếu tố chính đó

là hoạt động quản lý và bộ máy quản lý:

“quản trị là hoạt động quản lý của một xí nghiệp hay của một tổ chức kinh doanh, bao gồm quản lý về các mặt sản xuất và kỹ thuật, tài chính và kế toán, cũng như các cán bộ chuyên môn nghiệp vụ khác”

“Bộ máy quản lý của tổ chức kinh doanh gồm cơ quan và cán bộ lãnh đạo theo trực tuyến và những bộ phận quản lý theo chức năng, cũng như các cán bộ chuyên môn nghiệp vụ khác”

Cũng theo từ điển Bách khoa Toàn Thư thì: Quản trị dữ liệu là thuật ngữ chung mô tả một cách tổng thể các chức năng của một hệ thống tin học trong việc tổ chức và khai thác các hệ thống thông tin dữ liệu như thâm nhập, tổ chức, sắp xếp, phân loại, tìm kiếm và bảo trì dữ liệu, điều hòa việc sử dụng các thiết bị phần cứng để thực hiện công việc đó

Trang 21

Có thể khẳng định rằng, quản trị là yếu tố tạo nên sự thành công của mọi

tổ chức; Vậy quản trị là gì và quản trị khác với quản lý ở điểm nào cần phải làm rõ để tránh sự lầm lẫn giữa hai thành ngữ này

Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt: Quản trị là “trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [13, tr 303] (Từ điển, từ ngữ Việt Nam, Nguyễn Lân (chủ biên), NxbTPHCM (2010)

Quản trị là thuật ngữ được giải thích bằng nhiều cách khác nhau, có những điểm chưa đồng nhất, mỗi lĩnh vực đều có những lý giải riêng Mỗi một tác giả khi nhắc tới quản trị đều có một định nghĩa riêng cho mình, tham khảo một số định nghĩa phổ biến về khái niệm quản trị:

Mới đây, trong tác phẩm: Khi văn kiện Đại hội nêu khái niệm “quản trị

quốc gia” trên báo VietNamNet ngày 24/3/2021) của TS Nguyễn Văn Đáng,

nhà nghiên cứu Quản trị công và Chính sách (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) thì khái niệm “quản trị” vốn có nguồn gốc trong tiếng Hy Lạp cổ đại

là “kubernân”, có nghĩa là điều khiển/chèo lái Sau này, Plato sử dụng từ đó với hàm ý “thiết kế một hệ thống cai trị”; Đến thời Trung cổ thì trong ngôn ngữ Latinh xuất hiện từ “gubernare”, cũng hàm ý chèo lái, điều khiển hay cai trị thông qua pháp luật; Cho đến những năm 1970 thì “quản trị - governance” vẫn thường được sử dụng hoán đổi, cùng nghĩa với “cai trị - government”; Đầu những năm 1980, khái niệm “quản trị” được sử dụng ngày càng phổ biến hơn

và với hàm nghĩa rộng hơn [PL Tr103]

Các lĩnh vực hoạt động xã hội đều có những cách hiểu khác nhau về khái niệm quản trị Ví dụ: Quản trị hay quản trị công trong hoạt động cộng đồng được hiểu một cách khái quát là việc thiết lập, vận dụng, và thực thi Đó

là một tập hợp các nguyên tắc ra quyết định tập thể nhằm chi phối các điều khoản về mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia hệ thống quản trị

Theo Harold Koontz (1909-1984) là một nhà lý luận tổ chức và giáo sư

Trang 22

quản trị kinh doanh tại Đại học California cho rằng: “Quản trị là thiết lập và duy trì một môi trường mà các cá nhân làm việc với nhau trong từng nhóm có thể hoạt động hữu hiệu và có kết quả

Stephen Robbins tác giả cuốn sách “Hành trình tổ chức” (nhà xuất bản Lao động-Xã hội” thì cho rằng: “Quản trị là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra”

Koontz và O' Donnel là những học giả Hoa Kỳ thì: Quản trị là thông qua nhiệm vụ của nó, nhiệm vụ cơ bản của quản trị là: "Thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định"

Bà Mary Parker Follett là một trong hai người phụ nữ có kinh nghiệm quản

lý tuyệt vời trong những ngày đầu của lý thuyết quản lý cổ điển ở Hoa Kỳ cho

rằng "Quản trị là nghệ thuật đạt được mục đích thông qua người khác”;Sử dụng

tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đề ra” “Quản trị là

sự tác động có hướng đích của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị nhằm đạt được những kết quả cao nhất với mục tiêu đã định trước” [PL Tr 104]

Một số học giả lại cho rằng: Quản trị là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị nhằm đạt được những kết quả cao nhất với mục tiêu đã định trước

Quản trị là công cụ không thể thiếu khi con người kết hợp với nhau trong tổ chức nhằm thực hiện thắng lợi kế hoạch đã vạch ra để đạt hiệu quả cao

Từ những khái niệm trên tác giả nhận thấy: dù có khái niệm về quản trị

có những điểm khác nhau, nhưng bản chất của quản trị không thay đổi Quản trị cần ba yếu tố điều kiện cơ bản là:

- Chủ thể quản trị, là các nhân tố điều hành hoạt động quản trị, là đối tượng quản trị trực tiếp Chủ thể quản trị gồm một hoặc nhiều người

- Đối tượng bị quản trị: Là đối tượng tiếp nhận sự tác động của chủ thể

Trang 23

quản trị, có thể là một tổ chức, một tập thể hoặc thiết bị, máy móc, là nguồn lực

để chủ thể quản trị chỉ đạo, tổ chức điều hành trong quá trình quản trị

- Mục tiêu thiết thực cho chủ thể quản trị và đối tượng quản trị Đây là căn cứ để chủ thể tạo ra các nhân tố tác động

Trong mọi hoạt đông, nhà quản trị như là một người thực hiện công việc thông qua người khác, có nghĩa là nhà quản trị phải biết làm việc gì và phải có

kỹ năng gì để lãnh đạo và thúc đẩy mọi người thực hiện công viêc việc mà mình mong muốn

Như vậy, theo tác giả: Quản trị là quá trình thực hiện các công việc

trong kế hoạch, nhằm hoàn thành công việc qua những thực thi nhiệm vụ của người khác; Là sự phối hợp các hoạt động của người cùng chung trong tổ chức, đây là quá trình nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra bằng việc phối hợp nguồn lực của tổ chức; Là quá trình các nhà quản trị hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra

Từ khái niệm về quản trị nói chung, tác giả mạnh dạn đưa ra khái niệm

về Quản trị chương trình truyền hình như sau: Quản trị chương trình truyền hình là quá trình thực hiện các công việc trong kế hoạch nhằm hoàn thành chương trình qua những nỗ lực của phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên trong thực hiện chương trình; Là sự phối hợp hiệu quả các hoạt động của các thành viên trong phòng chuyên đề, đứng đầu là trưởng phòng; Là quá trình thực thi công việc nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra trên cơ sở phối hợp các nguồn lực của tổ chức phòng; Là quá trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra của lãnh đạo phòng

Quản trị có tầm quan trọng đặc biệt, mọi tổ chức trên các lĩnh vực hoạt động dù có đầy đủ mọi yếu tố nguyên lực, vật lực… nhưng sẽ thất bại nếu thiếu yếu tố quan trọng nhất đó là khả năng sử dụng hiệu quả nhất nguồn nhân lực, vật lực đó, đó chính là quản trị Quy mô tổ chức càng lớn, nhiều mối liên

hệ, phạm vi hoạt động rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực thì quản trị càng quan

Trang 24

trọng, bởi quản trị duy trì sự liên kết giữa câc bộ phận, cá nhân để thực hiện thắng lợi mục tiêu, mục đích đề ra, từ khâu hoạch định đến khâu tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát… nếu không có quả trị tốt sẽ dẫn đến thất bại

Từ khái niệm trên về quản trị, tác giả nhận thấy quản trị có 4 chức năng

cơ bản bao gồm: Hoạch định; Tổ chức; Lãnh đạo và Kiểm soát

- Hoạch định: Chức năng hoạch định giúp phối hợp hoạt động giữa các nhân viên, giúp tổ chức hoạt động hiệu quả

Những công việc của hoạch định là: Xác định rõ mục tiêu, phương hướng-Đề ra chương trình các hành động- Lập kế hoạch chi tiết lịch trình cho từng công việc-Đề ra biện pháp kiểm soát- Cải tiến, phát triển tổ chức Chức năng hoạch định giúp phối hợp hoạt động giữa các nhân viên, giúp tổ chức hoạt động hiệu quả

- Tổ chức: Vai trò tổ chức của quản trị là: Xác lập ra mô hình tổ chức- Xác lập nhiệm vụ cụ thể của các bộ phận- Đề ra tiêu chuẩn cho từng công việc Yêu cầu của công tác tổ chức trong quản trị là phân bổ và sắp xếp nguồn nhân lực một cách hợp lý-Ngoài nhân lực con người, quản trị còn phải sắp xếp máy móc, kinh phí cho tổ chức cho hoạt động trong bộ máy thức thi công việc một cách hợp lý

- Lãnh đạo Quản trị bao gồm hoạt động lãnh đạo tổ chức, đó là tác động của các nhà quản trị với cấp dưới của mình, lãnh đạo bao gồm: Động viên các nhân viên; Lãnh đạo và chỉ huy- Thiết lập quan hệ giữa nhân viên và người quản trị -Thiết lập quan hệ giữa người quản trị với các tổ chức khác-Nhà quản trị giao việc cho nhân viên để đạt được mục đích chung, bằng các phương pháp quản lý riêng, nhà quản trị giám sát, giúp nhân viên làm việc hiệu quả

- Kiểm soát: Hoạt động kiểm soát của quản trị là đảm bảo công tác tổ chức thực hiện công việc trong từng công đoạn đúng theo mục tiêu, phương hướng đề ra; Kiểm soát giúp cho việc điều chỉnh kế hoạch nếu có sự cố, sai sót xảy ra để tạo ra một hệ thống, quy trình phối hợp hiệu quả nâng cao năng suất,

Trang 25

cải thiện chất lượng lao động Kiểm soát gồm xác định mục tiêu kiểm tra; Lịch trình kiểm tra; Con người, phương tiện để kiểm tra; Đánh giá tình hình kiểm tra; Đề ra các biện pháp sửa chữa nếu có

-Tư duy: Quản trị có chức năng tư duy bởi vì các kế hoạch và chính sách được quyết định dựa theo các tư duy của nhà quản trị Đây có thể được coi là giai đoạn đầu tiên của hoạt động quản, tư duy sẽ giúp cho hoạt động quản trị đạt hiệu quả cao và nâng cao chất lượng công việc của mỗi cá nhân trong từng công việc cụ thể

Nói tóm lại: Quản trị đã có vai trò quan trọng, dù ở các cái tên khác nhau nhưng chức năng của quản trị là không thay đổi Bất cứ một công việc, lĩnh vực nào đều phải cần đến hoạt động quản trị, đó là các hoạch định, tổ chức, điều động nhân sự, điều khiển, kiểm soát để, những hoạt đọng đó đều phải thông qua tư duy của con người, từ tư duy kinh nghiệm đến tư duy đột phá nhằm hoàn thành mục tiêu đề ra

1.1.2 Chương trình truyền hình

Xã hội càng phát triển thì nhu cầu thông tin của công chúng bạn đọc ngày càng cao, đối với truyền hình, những yếu tố tin, bài, tư liệu, hình ảnh… cần đưa tới công chúng bạn đọc ngày càng phong phú, sinh động, hấp dẫn Để phục vụ đông đảo công chúng ở mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp những tin, bài, tư liệu, hình ảnh…phải được xây dựng sắp xếp thành những chương trình theo từng thời gian khác nhau, do vậy cần phải có các chương trình truyền hình cụ thể Nhu cầu của công chúng về thông tin, giải trí càng cao thì truyền hình càng phải đổi mới và xây dựng càng nhiều chương trình, chính vì vậy chương trình truyền hình ngày càng nhiều hơn và từ đó các cơ quan truyền hình ngày càng

mở thêm các kênh truyền hình để truyền tải thông tin đến với công chúng

Chương trình truyền hình là một nội dung do các phòng chức năng của đài truyền hình xây dựng, nằm trong nội dung tổng thể dự định để phát sóng trên truyền hình Mỗi chương trình là một bản sản xuất riêng, hoặc có các phần liên quan đến chương trình tổng thể

Trang 26

Trong giáo trình “Báo chí truyền hình”, PGS.TS Dương Xuân Sơn đưa

ra khái niệm như sau: “Chương trình truyền hình là sự liên kết, sắp xếp, bố trí hợp lý các tin bài, biểu bảng, tư lệu bằng hình ảnh và âm thanh được mở đầu bằng những lời giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm biệt, đáp ứng nhu cầu truyên truyền củ cơ quan truyền thông báo chí, nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả” [ 3, tr, 113]

Như vậy, chương trình truyền hình quy định mọi dữ liệu xây dựng thành tác phẩm truyền hình để phát sóng đến với công chúng đều phải được tổ chức sắp xếp theo một trật tự nhất định, nhằm tạo cho mọi người theo dõi, tiếp nhận thông tin thuận lợi theo yêu cầu sở thích của cá nhân, đồng thời tạo cho chương trình truyền hình có một cấu trúc ổn định, hoàn chỉnh

Theo GS.TS Tạ Ngọc Tấn trong cuốn “Truyền thông đại chúng” chương trình truyền hình được hiểu và sử dụng trong hai trường hợp:

 Thứ nhất: “Chương trình truyền hình để chỉ toàn bộ nội dung thông tin phát đi trong ngày, trong tuần hay tháng của mỗi kênh tryền hình hay của cả đài truyền hình [ 14, tr, 142] Theo đó, chương trình truyền hình là tất cả những tin bài, hình ảnh, tư liệu, âm thanh…được phát trên truyền hình

 Thứ hai: “chương trình truyền hình dùng để chỉ một hay nhiều tác phẩm hoàn chỉnh hoặc kết hợp với một số thông tin tài liệu khác được tổ chức theo một chủ đề cụ thể với hình thức tương đối nhất quán, thời lượng ổn định

và được phát theo định kỳ”[ 14, tr,142] Như vậy chương trình truyền hình sẽ được phân chia theo từng lĩnh vực cụ thể, được lập trình tương đối ổn định, có tên cụ thể và có thời lượng và nội dung rõ ràng

Chương trình truyền hình theo hình thức này được xây dựng phù hợp với đối tượng và mục đích cung cấp thông tin Loại chương trình rất phong phú, căn cứ vào đặc điểm nội dung, mục đích thông tin và đối tượng, các đài truyền hình có thể chia chương trình truyền hình thành các loại chính như: Chương trình tin tức thời sự; chương trình thời sự tổng hợp; chương trình chuyên đề

Trang 27

(trong chương trình chuyên đề lại chia ra là nhiều chương trình theo từng lĩnh vực như: Chuyên đề Xây dựng Đảng, chuyên đề về Đời sống-Pháp luật; chương trình Kinh tế-Đời sống; chương trình thể thao; chương trình vui chơi giải trí; chương trình Y tế; chương trình Khoa giáo…)

Như vậy, có thể hiểu là mọi tin, bài, ảnh, dữ liệu thông tin… đến với công chúng đều phải được tổ chức, sắp xếp theo một kế hoạch cụ thể, làm cho người xem dễ theo dõi, dễ tiếp nhận thông tin, đồng thời tạo cho chương trình truyền hình có một cấu trúc tương đối ổn định Việc sắp xếp tổ chức những thông tin như thế chính là chương trình truyền hình

Tiếp thu những thành quả nghiên cứ trên về chương trình truyền hình, tác giả mạnh dạn đưa ra khái niệm về chương trình truyền hình như sau:

Chương trình truyền hình là sự sắp xếp một cách hợp lý các thành phần tin, bài, hình ảnh, dữ liệu, được lồng âm thanh( tiếng nói, nhạc…) phù hợp với nội dung hình ảnh với một thời lượng nhất định, theo kết cấu riêng cho từng lĩnh vực, nhằm truyền tải thông tin đáp ứng nhu cầu của mọi tầng lớp, lứa tuối công chúng người xem truyền hình một cách hiệu quả nhất

1.1.2 Chương trình truyền hình chuyên đề:

Hệ thống chương trình chuyên đề là mảng nội dung quan trọng của bất

kỳ kênh truyền hình nào Trên thực tế tại tất cả các đài phát thanh - truyền hình toàn quốc đều có các chương trình chuyên đề trên sóng Tuy nhiên, đến nay chưa có tài liệu nào nghiên cứu về khái niệm “chương trình truyền hình chuyên đề” Khái niệm này cũng chưa được sử dụng một cách nhất quán

Theo từ điển Tiếng Việt, thì “chuyên đề” là vấn đề chuyên môn có giới hạn, được nghiên cứu riêng Có thể hiểu thuật ngữ “chuyên đề” bao gồm

“chuyên” và “đề” “Chuyên” là chuyên sâu, chuyên biệt, chuyên về một lĩnh vực cụ thể Còn “đề” trong phạm vi nghiên cứu này có nghĩa là vấn đề, đề tài, chủ đề Như vậy, thông tin chuyên đề là thông tin chuyên sâu, chuyên biệt về một chủ đề, vấn đề, đề tài chuyên môn nào đó, trong các lĩnh vực khác nhau

Trang 28

của đời sống xã hội, dưới các góc độ, các thức, phương pháp, phương tiện kỹ thuật tiếp cận khác nhau Từ đó, nhằm cung cấp một khối lượng thông tin nhất định trước một chủ đề, vấn đề, đề tài nào đó cho công chúng, khán, thính giả hoặc độc giả nhà báo thường chọn chuyên đề báo chí Riêng với truyền hình, các đài truyền hình thường có riêng bộ phận sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề với chức năng, nhiệm vụ rõ ràng

Chuyên đề báo chí truyền hình là những chương trình phản ánh hiện thực khách quan những vấn đề mang tính thời sự của đời sống xã hội, có đối tượng công chúng xác định Chương trình chuyên đề không có tính hư cấu như văn nghệ, giải trí, cũng không phải các chương trình nghệ thuật trên truyền hình mà là chương trình mang tính báo chí, phản ánh thực tiễn cuộc sống

Chương trình truyền hình chuyên đề gồm một chuỗi các tác phẩm chuyên sâu, chuyên biệt về một chủ đề, vấn đề nhất định; được biểu hiện thông qua nhiều óc độ nhằm làm rõ bản chất của sự việc, hiện tượng đã được nêu và hướng tới một nhóm đối tượng công chúng xác định

Một số đặc điểm cơ bản của chương trình truyền hình chuyên đề đó là:

- Tính định hướng và chuyên sâu

- Tính định kỳ

- Hướng tới đối tượng công chúng cụ thể

- Sử dụng đa dạng các thể loại của báo hình

1.1.4 Xây dựng Đảng

Xây dựng Đảng là một chuyên ngành tập riêng biệt chuyên nghiên cứu

về lĩnh vực xây dựng hệ thống, cơ chế, hoạt động của một Đảng lãnh đạo; Công tác xây dựng Đảng là một trong những việc làm thiết yếu quan trọng nhất ảnh hưởng đến tính sống còn của một Đảng cầm quyền

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh: Xây dựng Đảng là nhiệm vụ tất yếu, thường xuyên để Đảng hoàn thành vai trò chiến sĩ tiên phong trước giai cấp, dân tộc, nhân dân Xây dựng Đảng là làm cho Đảng thật sự trong sạch, vững

Trang 29

vàng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên không ngừng nâng cao phẩm chất, năng lực trước yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao, càng phức tạp của nhiệm vụ cách mạng Xây dựng Đảng bao gồm đổi mới, và chỉnh đốn Đảng làm cho Đảng trở thành khối thống nhất, vững mạnh, đủ sức láy con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua thử thách để cập bến thắng lợi

Công tác xây dựng Đảng là rất quan trọng, quyết định sự tồn tại của một đảng lãnh đạo, vì vậy mục đích của công tác xây dựng Đảng là nhằm xây dựng

sự đoàn kết thống nhất về chính trị, vững vàng về tư tưởng, kiện toàn về tổ chức bộ máy của Đảng hợp lý, hoạt động có hiệu quả, trong đó lĩnh vực chính trị là lĩnh vực được chú trọng bậc nhất có ý nghĩa quyết định, tác động sâu sắc đến các lĩnh vực nghiên cứu khác

 Xây dựng Đảng về mặt chính trị

Nhiệm vụ chủ yếu của việc này là xây dựng đường lối chính trị, bao gồm: đường lối chung và đường lối của từng giai đoạn, từng thời kỳ, từng mặt của đời sống xã hội Những vấn đề cơ bản nhất của đường lối chính trị được thể hiện trong Cương lĩnh Từ những Cương lĩnh, điều lệ của một Đảng chính trị để cụ thể hóa thành chủ trương, chính sách lớn; Trên cơ sở đó quán triệt đến toàn Đảng, phổ biến đến các tầng lớp quần chúng nhân dân và tổ chức thực hiện thắng lợi chủ trương, chính sách đã đề ra Mỗi một nhiệm vụ như vậy đều yêu cầu xây dựng Đảng về chính trị một cách phù hợp

 Xây dựng Đảng về mặt tư tưởng

Nhiệm vụ của công tác xây dựng Đảng về tư tưởng là làm cho tư tưởng của cán bộ, đảng viên thống nhất với tư tưởng của Đảng, nhất trí cao và tin tưởng tuyệt đối vào đường lối, chủ trương của Đảng

 Xây dựng Đảng về mặt tổ chức

Trong các văn kiện Đảng, nói đến các nguyên tắc tổ chức của Đảng trước hết phải nói đến Nguyên tắc tập trung dân chủ, được xác định là nguyên tắc tổ chức cơ bản nhất, ngoài nguyên tắc tổ chức cơ bản này còn những

Trang 30

nguyên tắc tổ chức khác Tổ chức xây dựng Đảng Việt Nam hiện nay được xây dựng theo cơ chế tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách, trên cơ sở ấy cá nhân là người nắm giữ chức vụ, phải thực thi và hoàn thành các các nhiệm vụ của tập thể lãnh đạo giao phó, trong một số trường hợp nhất định thì cá nhân sẽ được quyền quyết định và phải báo cáo lại tập thể lãnh đạo

 Xây dựng Đảng về phương thức lãnh đạo và phong cách công tác Xây dựng phong cách lãnh đạo của Đảng và lối làm việc của cán bộ, đảng viên là xác định rõ mối quan hệ giữa chủ thể lãnh đạo và đối tượng lãnh đạo; từ đó vận dụng cách thức, biện pháp phù hợp để đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng đến với nhân dân

Như vậy, xây dựng Đảng (XDĐ) một cách toàn diện được hiểu là XDĐ

về chính trị; XDĐ về tư tưởng; XDĐ về tổ chức; XDĐ về đạo đức

1.1.5 Đài phát thanh - truyền hình địa phương

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững: “Truyền hình là kênh truyền thông chuyển tải thông điệp bằng hình ảnh động với nhiều sắc màu vốn có từ cuộc sống cùng với lời nói, âm nhạc, tiếng động” [9, tr 118] “Truyền hình không chỉ là kênh báo chí - truyền thông Truyền hình là sân khấu, sân chơi của mọi người, là trường học, là nhà văn hóa Truyền hình là sự tổng hợp của tất cả các loại hình thông tin, giải trí, khoa học, giáo dục” [9, tr 118]

Theo PGS.TS Dương Xuân Sơn “Mỗi phương tiện truyền thông đều có một thế mạnh nhất định, bổ sung, hỗ trợ cho nhau trong sự nghiệp chung Tuy nhiên trong ba loại báo nói, báo viết, báo hình thì báo hình có thể hơn hẳn so với hai loại kia Bởi ngoài việc bình luận, giải thích các hiện tượng, sự việc Truyền hình còn có hình ảnh sống động giúp người xem chứng kiến các sự kiện đang diễn ra” [31, tr 15]

Như vậy, truyền hình là một trong những phương tiện thông tin đại chúng, là một trong những loại hình báo chí hiện đại có ngôn ngữ nghệ thuật đặc thù truyền tải thông điệp, hình ảnh, âm thanh sống động của cuộc sống,

Trang 31

sự vật, sự việc, hiện tượng xã hội một cách chân thực, khách quan đến với khán giả

Đài phát thanh - truyền hình địa phương là một bộ phận, là kênh thông tin tuyên truyền quan trọng của cơ quan báo chí địa phương, hoạt động dưới sự định hướng tuyên truyền của các cấp ủy Đảng từ TW đến địa phương, sự quản

lý của Nhà nước và Chính quyền địa phương, Luật Báo chí nói chung và Luật báo chí trên lĩnh vực truyền hình, đáp ứng đầy đủ, phù hợp sát với nhu cầu thực tiễn của địa phương

Trong quá trình hoạt động, Truyền hình địa phương luôn đáp ứng nhu cầu thông tin, tuyên truyền và định hướng tư tưởng, dư luận xã hội trên phạm

vi của địa phương đó, nội dung thông tin cũng mang đậm tính vùng, địa phương, nhằm phục vụ cho đối tượng công chúng địa phương Do đó, Truyền hình địa phương đáp ứng nhu cầu thông tin, tuyên truyền, giáo dục, định hướng

tư tưởng và dư luận xã hội một cách chính xác, khách quan, đáp ứng nhu cầu thông tin và tâm lý tiếp nhận, và cũng tùy thuộc vào đặc điểm vùng miền, tâm

lý tiếp nhận cũng như nhu cầu thông tin của công chúng ở địa phương

So với Đài Truyền hình TW, Truyền hình địa phương còn nhiều hạn chế về

số kênh phát sóng, thời lượng phát sóng, đội ngũ nhà báo, phương tiện, thiết bị kỹ thuật, diễn giả Hầu hết Đài địa phương chỉ có một kênh truyền hình, nên thời lượng dành cho chuyên đề, chuyên mục hàng ngày hạn chế hơn so với Đài TW

1.1.6 Chương trình truyền hình chuyên đề Xây dựng Đảng:

Chương trình truyền hình về chuyên đề xây dựng Đảng là chương trình gồm tất cả các tin bài, ảnh, phim tài liệu…phản ảnh về công tác xây dựng Đảng, đó là công tác chính trị, công tác tư tưởng, công tác tổ chức, công tác kiểm tra, phương thức lãnh đạo của Đảng từ Trung ương đến cơ sở

Hình thức thể hiện trong một chương trình có thể được kết cấu gồm nhiều thể loại báo chí như tin, bài phản ảnh, phóng sự, điều tra, tọa đàm, trao đổi, phim thời sự, phim tài liệu về xây dựng Đảng…Nhưng cũng có chương

Trang 32

trình được kết cấu chỉ một thể loại như phim tài liệu về Đảng, phóng sự dài, điều tra, tọa đàm, truyền hình trực tiếp…

Chương trình truyền hình chuyên đề về công tác xây dựng Đảng cũng giống các chương trình khác trên truyền hình như: Chương trình thời sự; Chương trình khoa giáo; Chương trình kinh tế… được phát sóng định kỳ, có thời lượng ổn định , nhưng nội dung chương trình chỉ đề cập, phản ảnh về lĩnh vực thì khác nhau

Trên cơ sở khái niệm về chương trình truyền hình và qua nghiên cứu thực tiễn, tác giả quan niệm chương trình truyền hình về Xây dựng Đảng như sau:

Chương trình truyền hình về Xây dựng Đảng là sự sắp xếp một cách hợp

lý các thành phần tin, bài, hình ảnh, tư liệu… về xây dựng Đảng, được lồng âm thanh (tiếng nói, nhạc…) phù hợp với nội dung hình ảnh về công tác Xây dựng Đảng, với một thời lượng nhất định, được phát định kỳ hoặc đột xuất, nhằm truyền tải thông tin về công tác xây dựng Đảng, đáp ứng nhu cầu nhận thức về Đảng của công chúng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng và Đảng viên

1.2 Vai trò và đặc điểm của chương trình truyền hình chuyên đề và quản trị chương trình truyền hình chuyên đề xây dựng Đảng

1.2.1 Vai trò của chương trình truyền hình chuyên đề xây dựng Đảng

* Những yếu tố quyết định tầm quan trọng của chương trình truyền hình xây dựng Đảng

Chương trình truyền hình xây dựng Đảng nằm trong tổng thể các chương trình của các đài truyền hình từ Trung ương đến các đài truyền hình các tỉnh thành phố, mỗi đài truyền hình dù nhiều hay ít chương trình nhưng không bao giời thiếu chương trình về xây dượng Đảng Chương trình truyền hình xây dựng Đảng được coi như là một chương trình cứng của mỗi đài truyền hình, tùy theo mỗi đài truyền hình mà chương trình truyền hình xây dựng Đảng được sắp đặt dày kỳ hoặc thưa kỳ và thời lượng khác nhau, nhưng với riêng một đài truyền hình thì chương trình xây dựng Đàng cũng được định vị vào một thời gian cố định với một thời lượng nhất định

Trang 33

Tất cả các đài truyền hình đều có nhiều chương trình, mỗi chương trình

có chức năng, nhiệm vụ, vai trò, đặc điểm, kết cấu, cách thức tổ chức chương trình và đặc trưng riêng, phản ánh, thông tin về một lĩnh vực riêng, phục vụ cho nhóm công chúng có nhu cầu về những thông tin chuyên ngành Nói chung chương trình nào của truyền hình cũng quan trọng nhưng chương trình truyền hình xây dựng Đảng được coi là rất quan trọng vì xuất phát từ các yếu tố sau:

 Xuất phát từ vài trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với xã hội

“Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân giầu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, thực hiện thành công

chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản”.(Điều lệ Đảng cộng sản

Việt Nam, trang 4)

Từ khi ra đời đến nay, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, Đảng ta vẫn kiên trì mục tiêu lý tưởng cách mạng "Độc lập đan tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội" thể hiện trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động

và của dân tộc Để đứng vững và hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, lãnh đạo nhân dân ta xây dựng thành công CNXH đòi hỏi Đảng ta phải tiếp tục đổi mới, xây dựng chỉnh đốn Đảng, xiết chặt đội ngũ để nâng cao hơn nữa sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo

Trong hệ thống chính trị, Đảng giữ vị trí là hạt nhân lãnh đạo, là một thành tố của xã hội; Đảng là đội tiên phong; là lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc; Đảng đóng vai trò lãnh đạo đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội, Đảng là người tổ chức lãnh đạo, là nhân

tố hành đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam Thực tiễn lịch

sử đã chứng minh trước những năm 1930, đất nước ta chìm trong ách nô lệ, nhân dân lầm than, cơ cực, từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đã lãnh đạo

Trang 34

nhân dân ta tiến hành cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, tiếp đó là lãnh đạo nhân dân ta đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ thống nhất đất nước đi lên CNXH, đặc biệt thành tựu hơn 20 năm đổi mới đất nước dưới sự khởi xướng và lãnh đạo của Đảng

 Xuất phát từ tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng

Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: "Xây dựng Đảng trong sạch,

vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức", đây là nhiệm vụ then

chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân

ta Xuất phát từ vị trí, vai trò của Đảng là tầm quan trọng của công tác xây dựng

chỉnh đốn Đảng Trong bất cứ thời kỳ nào công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng và cấp bách, có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng và có ý nghĩa sống còn đối với bản thân Đảng Hơn nữa, công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém, khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ Nghị quyết TW4

khoá XII tiếp tục khẳng định tính:"Kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc

trong công tác xây dựng Đảng Nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng và bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng có hiệu lực, hiệu quả; giữ vững bản lĩnh chính trị của Đảng, của các tổ đảng, của cán bộ đảng viên… "

 Xuất phát từ vai trò, nhiệm vụ của các Đài truyền hình trong công tác xây dựng Đảng

Hệ thống đài truyền hình cả nước là cơ quan truyền thông đại chúng, là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, là diễn đàn của mọi tầng lớp nhân dân, cùng với

hệ thống các loại hình báo chí cả nước đóng góp vào công tác xây dựng Đảng thì đài truyền hình có nhiều ưu thế để làm cầu nối giữa Đảng với dân, dân với Đảng, thông tin đến mọi tầng lớp nhân dân về chủ trương, chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước, nơi phản ánh nguyện vọng, tâm tư của nhân

Trang 35

dân với cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp…chính vì vậy mà chương trình truyền hình xây dựng Đàng hết sứ quan trọng

 Xuất phát từ ý nghĩa, tầm quan trọng của nội dung thông tin trong chương trình truyền hình xây dựng Đảng

Trong chương trình truyền hình xây dựng Đảng có một số nội dung cơ bản như:

Thông tin phong phú đa dạng về Đảng và công tác xây dựng Đảng: góp phần nâng cao nhận thức cho công chúng hiểu biết về Đảng Cộng sản Việt Nam, lịch sử hình thành, phát triển và lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng ta; giúp cho đoàn viên, thanh niên, quần chúng nhân dân…vững vàng niềm tin, nâng cao nhận thức và hành động cách mạng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng,

Tuyên truyền, phổ biến đưa đường lối chủ chương, các chỉ thị, nghị quyết của Đảng vào cuộc sống; Xây dựng nền tảng tư tưởng cách mạng cho quần chúng nhân dân, nhất là thế hệ trẻ; Đấu tranh phản bác các quan điểm của các thế lực thù địch chống phá công cuộc đổi mới đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo; Đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, cơ hội, cục bộ bè phái trong tổ chức Đảng và Đảng viên…

Nói tóm lại: Vai trò của chương trình truyền hình rất to lớn, góp phần xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch vững mạnh để lãnh đạo nhân dân tích cực tham gia công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện thắng lợi mục tiêu trong từng giai đoạn cách mạng mà nghị quyết đại hội Đảng các cấp đã đề ra

*Vai trò của chương trình truyền hình xây dựng Đảng trong cơ cấu chương trình truyền hình

 Chương trình truyền hình xây dựng Đảng được coi là chương trình cứng, chương trình trọng tâm của tất cả các đài truyền hình Không có một đài truyền hình nào lại bỏ qua chương trình xây dựng Đảng, nếu không có chương trình xây

dựng Đảng thì đài truyền hình đó chưa thực hiện đúng tôn chỉ mục đích

Trang 36

 Mỗi chương trình xây dựng Đảng, ngoài việc thực hiện đúng tôn chỉ mục đích, còn phải thực hiện đúng định hướng, kết hợp việc xây dựng nền tảng tư tưởng của Đảng với việc hướng dẫn dư luận cho công chúng theo chức năng của báo chí Do vậy việc quản trị chương trình tốt sẽ giúp cho những người làm chương trình nắm bắt nội dung, thời gian phát sóng, loại

bỏ những thông tin không phù hợp, trùng lặp, kịp thời điều chỉnh để nâng

cao chất lượng chương trình

 Chương trình truyền hình xây dựng Đảng và các chương trình khác có mối quan hệ đan xen, hỗ trợ để làm rõ chương trình tổng thể của đài truyền hình theo lịch phát sóng Nội dung về xây dựng Đảng có thể có trong các chương trình khác như chương trình văn hóa giáo dục, chương trình thời sự, chương trình phóng sự, phim, tư liệu… nhưng những nội dung đó chỉ là những thông tin lồng gép, là những tác phẩm của các chương trình Ngược lại trong chương trình truyền hình xây dựng Đảng cũng bao hàm các nội dung của

chương trình khác để khắc họa rõ hơn cho công tác xây dựng Đảng

 Chương trình truyền hình xây dựng Đảng tuy là chương trình chuyên

đề nhưng nội dung chương trình được coi là tổng hợp, bao quát toàn bộ nội dung của các chương trình khác, vì nội dung chương trình truyền hình xây dựng Đảng rất phong phú, rộng khắp, đa dạng Xuất phát bởi vai trò chức năng lãnh đạo trực tiếp, toàn diện trên các lĩnh vực của Đảng Không có một hoạt động, lĩnh vực, phạm vi địa giới…liên quan đến công cuộc xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc lại không có sự lãnh đạo của Đảng Chính vì vậy chương trình xây dựng Đảng trên truyền hình được coi là chương trình tổng hợp, tuy nhiên nó không lấn sân, trùng lặp, hoặc sao chép các chương trình khác mà nó có những

đặc trưng, đặc điểm riêng biệt

 Ngoài chức năng thông tin, định hướng dư luận, chương trình truyền hình xây dựng Đảng còn có nhiệm vụ dẫn dắt các chương trình khác trong việc khai thác thông tin đề làm phong phú nội dung của toàn bộ chương trình Ví

Trang 37

dụ: một chương trình tryền hình về xây dựng Đảng đề cập việc lãnh đạo của cấp ủy Đảng về “phát triển giao thông nông thôn”, thì chương trình khác như chương trình thời sự; Chương trình xây dựng nông thôn mới; Chương trình kinh tế…có thể căn cứ vào nội dung thông tin của chương trình xây dựng Đảng

để xây dựng chương trình riêng Như vậy chương trình xay dựng Đảng sẽ đảm

nhận vai trò dẫn dắt các chương trình khác

1.2.2 Đặc điểm của chương trình truyền hình xây dựng Đảng

- Thứ nhất: Chương trình truyền hình xây dựng Đảng mang đậm tính Đảng Tính Đảng là nhân tố căn bản làm nên sứ mệnh, tôn vinh vị trí và vai trò lịch sử của báo chí; là nguyên tắc bất biến quán xuyến diện mạo, khí chất, sức mạnh và uy tín của nền báo chí nước nhà trong công cuộc kiến thiết Quốc gia, dân tộc, xã hội chủ nghĩa Việt Nam và hội nhập quốc tế, dưới ngọn cờ của Đảng

Tính Đảng chính là cương lĩnh hành động, là phương hướng căn bản của

sự tự do và sáng tạo của nền báo chí chúng ta Đó là mục tiêu hoạt động, là tiêu chí quy định chức năng, nhiệm vụ, đồng thời, là sự nghiệp trọng đại thử thách bản lĩnh, là môi trường phát triển, là thước đo phẩm giá và hiệu quả của nền báo chí nước nhà

Chương trình truyền hình xây dựng Đảng là chương trình chuyên đề, phản ánh công tác lãnh đạo của tổ chức Đảng các cấp và hoạt động của đảng viên, sự tiên phong của tập thể, cá nhân trong việc thực hiên mục tiêu, lý tưởng

và nhiệm vụ của Đảng, chương trình truyền hình xây dựng Đảng thực sự là tiếng nói trung thành của Đảng và quần chúng đi theo Đảng đối với sự nghiệp cách mạng , do vậy chương trình truyền hình xây dựng Đảng vừa mang tính chất của báo chí nói chung, vừa mang đậm nét của tính Đảng

 Thứ hai: Chương trình truyền hình xây dựng Đảng vừa mang tính thời

sự vừa mang tính sự kiện chuyên đề

Tính thông tin thời sự là toàn bộ sự việc vừa mới xảy ra được nhiều người chú ý quan tâm, được biểu hiện ở ba khía cạnh: Một là, toàn bộ sự việc

Trang 38

vừa mới xảy ra; hai là, sự việc ít nhiều quan trọng, ba là, được nhiều người quan tâm (mối liên hệ thời gian - sự việc - nhiều người quan tâm) Thực tế cho thấy chương trình xây truyền hình xây dựng Đảng mang tính thời sự là chương trình phản ánh trực tiếp về sự kiện, những tin tức nóng hổi về xây dựng Đảng mới xảy ra, ngoài ra chương trình sử dụng các thể loại phóng sự, phỏng vấn đi thẳng vào vấn đề xây dựng Đảng mà xã hội đang quan tâm

Tính thông tin sự kiện chuyên đề: là những sự kiện xảy ra lâu, nhưng nay mới biết và mới được nhận thức lại, được nhiều người quan tâm, vấn đề này có nghĩa là chương trình thông tin sự kiện chuyên đề về xây dựng Đảng, vấn đề đã và đang xảy ra, có ý nghĩa xã hội và được nhiều người quan tâm Hoặc sự kiện xảy ra đã lâu nhưng vẫn mang ý nghĩa thời sự thời cuộc cần được thông tin, quảng bá, mọi vấn đề đều diễn ra dưới dạng các sự kiện, cho nên sự kiện là đối tượng phản ánh chủ yếu và là phương tiện chính của chương trình truyền hình xây dựng Đảng tác động vào công chúng xã hội

 Thứ ba: Ngôn ngữ chương trình truyền hình xây dựng Đảng là ngôn ngữ kết hợp giữa hình ảnh và âm thanh mang tính định hướng, chỉ đạo

Ngôn ngữ hình ảnh và âm thanh là ngôn ngữ riêng biệt của truyền hình, đây cũng là thế mạng của truyền hình so với các loại hình báo chí khác như báo

in, phát thanh, báo mạng, sự kết hợp giữa âm thanh và hình ảnh tác động trực tiếp vào thị giác, thính giác của con người, gây sự chú ý và truyền cảm, từ đó làm tăng khả năng nhận thức, tăng khả năng truyền tải thông tin, tạo điều kiện cho công chúng tiếp thu thông tin nhanh, hiệu quả

Nhưng âm thanh và hình ảnh trong chương trình truyền hình xây dựng Đảng không chỉ mang hàm nghĩa ngôn ngữ sự kiện mà nó mang đậm nét ngôn ngữ chỉ đạo, định hướng, đặc điểm ngôn ngữ này được quy định bởi đặc điểm tính Đảng của chương trinh Từ ngôn ngữ định hướng chỉ đạo trong từng tác phầm được cấu thành lên đặc điểm ngôn ngữ của cả chương trinh, nó khác hoàn toàn với ngôn ngữ của các chương trình khác như: Chương trình vui chơi

Trang 39

gải trí; Chương trình văn nghệ; Chương trình quảng cáo; Chương trình khoa học, y tế, giáo dục… Từ nhạc hiệu chương trình đến sau mỗi tác phẩm hoặc sau cả chương trình bao giờ cũng có những hình ảnh và âm thanh kết hợp ý kiến chỉ đạo định hướng từ lời bình của phóng viên hoặc phát biểu của lãnh đạo các cấp, giúp mang lại độ tin cậy cao cho công chúng, như vậy chương trình truyền hình xây dựng Đảng được coi là kênh truyền thông có khả năng định hướng cao nhất, hiệu quả nhất

Ngôn ngữ của chương trình truyền hình xây dựng Đảng mang đậm ngôn ngữ chỉ đạo, định hướng còn được thể hiện ở công chúng của chương trình, công chúng của chương trình truyền hình xây dựng Đảng chủ yếu là đội ngũ cán bô, đảng viên và công dân trưởng thành, đa phần là người giữ vai trò trọng trách trong việc tổ chức, chỉ đạo, thực hiện phong trào để đưa đường lối lãnh đạo, chỉ thị, nghị quyết…của tổ chức Đảng các cấp vào cuộc sống, chính vì vậy ngôn ngữ hình ảnh, âm thanh trong chương trình truyền hình xây dựng Đảng mang ngôn ngữ lãnh đạo, chỉ đạo để định hướng cho công chúng

Thứ tư: Kết cấu chương trình truyền hình xây dựng Đảng có bản sắc riêng Kết cấu chương trình truền hình xây dựng Đảng thường được thực hiện theo một phác đồ riêng, không tuân thủ theo thứ tự thời gian hoặc thông tin theo thứ tự từng cấp: trên trước, dưới sau, tỉnh trước huyện sau, huyện trước xã sau… mà chương trình thường lựa chọn những sự kiện nổi bật, sự kiện nhiều người quan tâm hoặc những vấn đề theo yêu cầu của của tổ chức lãnh đạo cần phải thông tin tuyên truyền đến công chúng

Phong cách người dẫn chương trình (phát thanh viên) cũng có sắc thái riêng, người được dẫn chương trình xây dựng Đảng phải có phong thái chững trạc, lịch sự, nghiêm túc, cởi mở, phải có những hiểu biết nhất định về Đảng…đó

là nét tiêu biểu của phong cách chương trình truyền hình xây dựng Đảng

Nhạc hiệu chương trình chuyên đề truyền hình xây dựng Đảng cũng mang nét đặc trưng riêng, khi mở tyvi nghe nhạc hiệu là người xem nhận biết

Trang 40

ngay đây là chương trình xây dựng Đảng Nhạc hiệu chương trình xây dựng Đảng của các đài truyền hình không đồng nhất, tùy từng đài truyền hình của từng địa phương mà chọn nội dung nhạc hiệu cho phù hợp, nhưng sự đồng nhất

về nhạc hiệu của chương trình truyền hình xây dựng Đảng là những bản nhạc, bài hát về Đảng, Bác Hồ nên khi nghe nhạc hiệu của bất cứ đài truyền hình về xây dựng Đảng thì người xem cũng nhận ra một cách rễ ràng

 Thứ năm: Nội dung của chương trình truyền hình về xây dựng Đảng mang tính tổng hợp

Đây cũng là một đặc điểm nổi trội của chương trình truyền hình xây dựng Đảng, đặc điểm này được bắt nguồn từ vai trò lãnh đạo của Đảng, Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối trên tất cả các lĩnh vực, chính vì vậy đề cập tới công tác xây dựng Đảng là đề cập tới công việc của tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Hiệu quả công tác của bất cứ lĩnh vực nào cũng đều có vai trò lãnh đạo của Đảng, nên nội dung chương trình truyền hình xây dựng Đảng đề cập đến tất cả các lĩnh vực, do vậy rất phong phú, đa dạng, sinh động, mang tính tổng hợp

1.3 Chủ thể, đối tượng, nội dung, phương thức quản trị của chương trình truyền hình chuyên đề xây dựng Đảng

1.3.1 Chủ thể quản trị của chương trình truyền hình chuyên đề xây dựng Đảng

Chủ thể quản trị chương trình truyền hình là các giám đốc, phó giám đốc đài PT-TH, các trưởng, phó phòng, trưởng bộ phận quản lý các trang thiết bị kỹ thuật… tất cả nằm trong hệ thống tổ chức quản trị

Từ những vấn đề cơ bản về quản trị, coi quản trị là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể

hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định, quản trị là nghệ thuật đạt được mục đích thông qua người khác, là khoa học sử dụng tất cả các nguồn lực khác

của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đề ra, là sự tác động có hướng đích của chủ

Ngày đăng: 20/04/2023, 06:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Hồ Minh Trử (2006) trong Luận văn thạc sĩ “Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình truyền hình địa phương Đồng bằng sông Cửu Long”, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình truyền hình địa phương Đồng bằng sông Cửu Long
16. Khi văn kiện Đại hội nêu khái niệm “quản trị quốc gia” trên báo VietNamNet ngày 24/3/2021) của TS. Nguyễn Văn Đáng Sách, tạp chí
Tiêu đề: quản trị quốc gia
32. Phạm Hoàng Thy, Luận văn thạc sĩ “Vấn đề xây dựng Đảng trên sóng truyền hình của Đài PT-TH địa phương”, 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề xây dựng Đảng trên sóng truyền hình của Đài PT-TH địa phương
38. Trần Ngọc Lưu Ly, Luận văn thạc sĩ “Quản trị nội dung chuyên đề truyền hình của Đài PT-TH Cà Mau”, 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị nội dung chuyên đề truyền hình của Đài PT-TH Cà Mau
7. TS.Hà Văn Hội trong bài viết “Khái niệm và bản chất của quản trị” đăng trên trang Web quantri.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm và bản chất của quản trị
1. Ban Tổ chức Trung ương (2003), Một số văn kiện xây dựng Đảng về tổ chức, cán bộ và đảng viên, Hà Nội Khác
2. Ban Tổ chức Trung ương (2004-2012), Một số văn kiện xây dựng đảng về tổ chức, cán bộ, đảng viên, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Khác
3. Ban Tổ chức Trung ương (2004), Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên, Tập 1, Tạp chí Xây dựng Đảng, Hà Nội Khác
4. Ban Tổ chức Trung ương (2006), Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên, Tập 2, Tạp chí Xây dựng Đảng, Hà Nội Khác
5. Ban Tổ chức Trung ương Đảng (2008), Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tổ chức xây dựng đảng, Tạp chí Xây dựng Đảng, Hà Nội Khác
6. Ban Tuyên giáo Trung ương (2016), Tài liệu bồi dưỡng lý luận chính trị dành cho đảng viên mới, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Khác
7. Báo chí truyền thông hiện đại, từ hàn lâm đến đời thường 2011, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Khác
8. Bùi Thị Bích Hường (2018) Luận văn thạc sĩ Sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện, Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
9. Cơ sở lý luận báo chí của PGS.TS. Nguyễn Văn Dững, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội năm 2011 Khác
10. Cudơnhetxốp, X.L.Xvích, A.Ia.Iurốpxki (2007),Báo chí truyền hình, Nxb Thông tấn, Hà Nội Khác
11. Dương Xuân Sơn (2001), Các thể loại báo chí chính luận nghệ thuật. Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Khác
13. Hoàng Đức Chí (2009), Thông tin thời sự trên báo Đảng các tỉnh miền núi phía Bắc, Luận án Thạc sĩ Truyền thông đại chúng, Học viện Báo chí và tuyên truyền Khác
14. Hoàng Phê (chủ biên) (1995), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Khác
15. Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn (1995-2005), Từ điển Bách khoa Việt Nam, Nxb Từ điển Bách khoa Hà Nội Khác
17. Lê Thị Thanh Nhàn (2017), Luận văn thạc sĩ Tổ chức sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề về biên cương, hải đảo, Đại học Quốc gia Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Bảng khảo sát về số lượng chương trình truyền hình chuyên đề XDĐ của - Quản trị chương trình truyền hình chuyên đề xây dựng đảng tại đài truyền hình địa phương
Bảng 2.1. Bảng khảo sát về số lượng chương trình truyền hình chuyên đề XDĐ của (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w