Khảo sát các công trình nghiên cứu về báo chí, tác giả luận văn được trang bị hệ thống kiến thức xuyên suốt về yếu tố thông điệp, loại hình báo mạng điện tử hay cách thức tổ chức sản xuấ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
*********
ĐINH LÊ MAI
QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP CHĂM SÓC SỨC KHỎE TRẺ EM TRÊN BA TỜ BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ VNEPXRESS.NET, DANTRI.COM.VN, VIETNAMNET.VN TỪ THÁNG 1/2018
ĐẾN HẾT NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
*********
ĐINH LÊ MAI
QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP CHĂM SÓC SỨC KHỎE TRẺ EM TRÊN BA TỜ BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ VNEPXRESS.NET, DANTRI.COM.VN, VIETNAMNET.VN TỪ THÁNG 1/2018
Trang 3Luận văn đã đƣợc chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền ngày 12 tháng 05 năm 2022
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
PGS.TS ĐINH THỊ THU HẰNG
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Luận văn “Quản lý thông điệp chăm sóc sức khỏe trẻ em trên 3 tờ báo
mạng điện tử Vnexpress.net, dantri.com.vn, vietnamnet.vn từ tháng 1/2018 đến hết năm 2020” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn
khoa học của PGS TS Mai Quỳnh Nam Luận văn có sử dụng, phát triển, kế thừa một số tư liệu, số liệu, kết quả nghiên cứu từ các sách, giáo trình, tài liệu…liên quan đến nội dung luận văn Tôi xin cam đoan các số liệu thống kê, kết quả nghiên cứu, phát hiện mới của luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào trước đây
Hà Nội, ngày…….tháng……năm 2022
Tác giả luận văn
Đinh Lê Mai
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Luận văn của tôi được hoàn thành với sự hỗ trợ và ủng hộ của các thầy,
cô giáo Viện Báo Chí, các cán bộ trường tại Trung tâm Thông tin điện tử, Học viện Báo chí và Tuyên Truyền Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn tới PGS TS Mai Quỳnh Nam-người thầy đã hết lòng hướng dẫn, chỉ dạy trong suốt quá trình tôi học và làm luận văn Học với thầy là một quãng thời gian quý báu để bản thân tôi được rèn giũa từ năng lực chuyên môn đến tác phong làm nghiên cứu khoa học nghiêm túc Nghiên cứu là con đường đòi hỏi nhiều công sức Thầy đặt niềm tin vào sự cố gắng ở học trò của mình cũng như biết cách động viên để học trò kiên nhẫn bước tiếp với con đường mình đã chọn Tôi xin được gửi đến thầy vô vàn yêu thương và lòng kính trọng từ đáy lòng
Lời cảm ơn sâu sắc cũng xin được gửi đến gia đình tôi, bạn bè và đồng nghiệp hiện đang công tác tại Bệnh viện Nhi Trung ương Đây là những người luôn sẵn sàng giúp đỡ, hỗ trợ thông tin trong quá trình tôi làm luận văn và cũng là những người luôn sát cánh bên tôi, tạo điều kiện để tôi hoàn thành chương trình đào tạo sau đại học tại Học viện Báo chí và Tuyên Truyền
Đề tài luận văn “Quản lý thông điệp chăm sóc sức khỏe trẻ em trên ba
tờ báo mạng điện tử Vnexpress.net, Dantri.com.vn, Vietnamnet.vn từ tháng 1/2018 đến hết năm 2020” là công trình nghiên cứu đầu tiên của tôi trên con
đường học thuật nên chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế nhất định Sự đóng góp của Hội đồng khoa học, của quý thầy, cô giáo sẽ là cơ sở vững chắc
để luận văn được hoàn thiện một cách tốt nhất
Tôi xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, tháng 4 năm 2022
Đinh Lê Mai
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC HÌNH ẢNH viii
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ix
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 14
4 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 15
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 15
5.1 Cơ sở lý luận 15
5.2 Phương pháp nghiên cứu 16
6 Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn của đề tài 18
6.1 Ý nghĩa lý luận 18
6.2 Ý nghĩa thực tiễn 19
7 Kết cấu của luận văn 19
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP CHĂM SÓC SỨC KHỎE TRẺ EM TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ 20
1.1 Các khái niệm liên quan 20
1.1.1 Quản lý 20
1.1.2 Thông điệp 21
1.1.3 Trẻ em 22
1.1.4 Sức khỏe 22
1.1.5 Chăm sóc sức khỏe trẻ em 23
1.1.6 Thông điệp chăm sóc sức khỏe trẻ em 23
Trang 71.1.7 Báo mạng điện tử 23
1.1.8 Thông điệp chăm sóc sức khỏe trẻ em trên báo mạng điện tử 24
1.1.9 Quản lý thông điệp chăm sóc sức khỏe trẻ em 24
1.2 Cơ sở lý thuyết về quản lý thông điệp chăm sóc sức khỏe trẻ em trên báo mạng điện tử 24
1.2.1 Lý thuyết về quản lý 24
1.2.2 Lý thuyết về báo chí học 29
1.2.3 Lý thuyết về xã hội học truyền thông đại chúng 34
1.2.4 Lý thuyết về y học chăm sóc sức khỏe cộng đồng 36
1.3 Đặc điểm của quản lý thông điệp chăm sóc sức khỏe trẻ em trên báo mạng điện tử 38
1.3.1 Thông điệp về chăm sóc sức khỏe trẻ em trên báo mạng điện tử 38
1.3.2 Quản lý thông điệp về chăm sóc sức khỏe trẻ em trên báo mạng điện tử 39
1.4 Sơ lược về 3 tờ báo mạng điện tử trong diện khảo sát 41
1.4.1 Vnexpress 41
1.4.2 Dân trí 42
1.4.3 Vietnamnet 43
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 45
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP CHĂM SÓC SỨC KHỎE TRẺ EM TRÊN BA TỜ BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ VNEXPRESS, DÂN TRÍ, VIETNAMNET TỪ THÁNG 1 NĂM 2018 ĐẾN HẾT NĂM 2020 46
2.1 Về nội dung 47
2.1.1 Quản lý nội dung thông điệp về chăm sóc sức khỏe thể chất cho trẻ em 47
2.1.2 Quản lý nội dung thông điệp về chăm sóc sức khỏe tinh thần cho trẻ em 66
2.2 Về hình thức thể hiện 82
2.2.1 Số lượng tin, bài 82
Trang 82.2.2 Về chuyên mục và thể loại 86
2.2.3 Về hình ảnh 91
2.2.4 Về các ứng dụng mạng xã hội 94
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 97
Chương 3: KHUYẾN NGHỊ VỀ QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP CHĂM SÓC SỨC KHỎE TRẺ EM TRÊN BA TỜ BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ VNEXPRESS.NET, DANTRI.COM.VN VÀ VIETNAMNET 99
3.1 Các khuyến nghị 99
3.1.1 Chọn lọc thông tin đăng tải 99
3.1.2 Đa dạng hóa nội dung thông tin và hình thức thể hiện 100
3.2 Một số đề xuất dành cho lãnh đạo ba tờ báo mạng điện tử nhằm nâng cao chất lượng quản lý thông điệp chăm sóc sức khỏe trẻ em trên 3 tờ báo mạng điện tử Vnexpress, Vietnamnet và Dân trí 102
3.2.1 Tăng cường công tác quản lý tờ báo theo đúng định hướng, tôn chỉ, mục đích 102
3.2.2 Lãnh đạo tổ chức nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ nhà báo, phóng viên 102
3.2.3 Định hướng về nội dung tin bài chăm sóc sức khoẻ trẻ em theo kế hoạch 104
3.2.4 Vấn đề nghiên cứu độc giả 105
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 106
KẾT LUẬN 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
Trang 10DANH MỤC HÌNH ẢNH
Ảnh 2 1 Video “Ronaldo dạy con cách rửa tay” đăng trên báo Vnexpress chuyên mục Thể thao ngày 22/03/2020 [1] 50 Ảnh 2.2: bài báo Những sai lầm khiến mỗi bữa ăn của con là một trận chiến 53 Ảnh 2.3 Bài báo Tuyệt chiêu đánh bay biếng ăn ở trẻ của các mẹ Châu Âu 57 Ảnh 2.4 Bài báo 11 tuổi chỉ nặng 23kg, mẹ “thúc con” bằng loạt sữa canxi trên báo vietnamnet 58 Ảnh 2.5 Công thức 4-3-2-1: cân bằng dinh dưỡng và vận động cho trẻ của báo vietnamnet 63 Ảnh 2.6 Bài báo Những sai lầm mẹ hay mắc phải khi giữ vệ sinh cho trẻ trên
1 tuổi 66 Ảnh 2.7 bài Tăng động giảm chú ý: Hiểu đúng để can thiệp kịp thời 69 Ảnh 2.8 Bài báo “Phòng bệnh tiêu chảy ở trẻ em” đăng trong chuyên mục Sức khỏe báo Vietnamnet 72 Ảnh 2.9 bài báo Những kỹ năng sống trẻ em Nhật được nuôi dạy 76 Ảnh 2.10 và 2.11 Loạt bài trong phóng sự điều tra “Bên trong Trung tâm đào tạo trẻ tự kỷ thành kỷ lục gia” 78 Ảnh 12: Bài báo Lưu ý phòng những tai nạn đáng tiếc hay gặp 81 với trẻ trong ngày Tết 81
Trang 11ba báo 68 Biểu đồ 2.7 Số lƣợng tin bài theo ba tạp chí điện tử 84 Biểu 2.8 Số lƣợng tin bài về chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần của ba báo điện tử 85 Biểu đồ 2.9 Tỷ lệ tin bài phân bố theo chuyên mục của ba báo điện tử 87 Biểu đồ 2.10 Tỷ lệ tin bài nội dung chăm sóc sức khỏe tinh thần phân bố theo chuyên mục ở ba báo điện tử 87 Biểu đồ 2.11 Tỷ lệ tin bài phân bố theo thể loại của ba báo điện tử 90
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự phát triển của công nghệ trong thời đại 4.0 khiến nhiều ngành nghề
bị tác động mạnh mẽ Xu thế hội nhập ấy khiến báo chí Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc Là công cụ định hướng xã hội của Đảng và Nhà nước, trong suốt chặng đường phát triển, các cơ quan báo chí đã có những đóng góp nhất định đối với sự phát triển của đất nước Qua các tin, bài, các tác phẩm báo chí, bằng sức mạnh ngôn ngữ, báo chí góp tiếng nói nhằm giáo dục tư tưởng, tình cảm, văn hoá, đạo đức Báo chí tham gia có hiệu quả vào công tác đấu tranh chống lại các tư tưởng tiêu cực, các tệ nạn xã hội và ngày càng chứng tỏ vị thế
là diễn đàn của nhân dân, là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống xã hội Chính vì điều đó, việc quản lý thông tin được đưa ra trên báo chí là một trong những mối quan tâm hàng đầu đối với các cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm quản lý báo chí nói chung và với các cơ quan báo chí nói riêng
Theo dòng lịch sử phát triển của báo chí, báo mạng điện tử là “thế hệ sinh sau”, ra đời muộn hơn so với báo in, báo phát thanh và truyền hình Tuy nhiên, nhờ những ưu điểm vượt trội như khả năng đa phương tiện, khả năng lưu trữ, tìm kiếm và truy xuất thông tin nhanh chóng, dễ dàng, báo mạng điện
tử sớm tỏ rõ tính ưu việt so với hai thể loại báo in, báo phát thanh và trở thành kênh truyền thông vô cùng hiệu quả bởi có tính thời sự cao, có tính cạnh tranh mạnh mẽ so với truyền hình
Song song với những điểm mạnh không thể phủ nhận, sự phát triển thần tốc của báo mạng điện tử, mặt khác, đặt ra cho các nhà quản lý, các cơ quan báo chí, các nhà báo những thách thức liên quan đến chất lượng sản phẩm báo chí-truyền thông Thách thức đầu tiên bắt nguồn từ việc các báo mạng điện tử hiện nay luôn phải cạnh tranh tốc độ truyền tin nhanh Cuộc cạnh tranh này dẫn đến thực tế là chất lượng thông tin đưa ra không chính xác, ví dụ: cùng một sự
Trang 13kiện nhưng mỗi báo đưa tin một kiểu khác nhau, hoặc các báo đưa tin sai giống nhau do thông tin được sao chép từ báo nọ sang báo kia làm thành hiệu ứng sai dây chuyền khi thông tin chưa được kiểm chứng Thêm vào đó, các cơ quan quản lý báo chí, các nhà quản lý báo chí, cũng phải đối diện với việc kiểm soát các luồng thông tin không lành mạnh lan truyền trên không gian mạng xã hội Chính vì vậy, mặc dù có nhiều ưu thế hơn các loại hình báo chí khác, nhưng các trang báo mạng điện tử luôn cần không ngừng nâng cao chất lượng thông tin nhằm đảm bảo thông tin đưa đến hàng triệu công chúng luôn chính xác
Nước ta hiện nay có khoảng 24.776.733 trẻ em, chiếm 25.75% tổng dân
số cả nước Trẻ em và các vấn đề về trẻ em luôn nằm trong ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước Nhà nước đã ban hành nhiều quy định nhằm bảo vệ trẻ em Điều 37 trong Hiến pháp 2013 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định: trẻ em là đối tượng cần được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục Năm 2016, trong Luật trẻ em, Nhà nước cũng đã chỉ ra đầy đủ, cụ thể về trách nhiệm các cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em trong đó có nghiêm cấm các hành vi xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động trẻ em Ngoài luật trẻ em, nhiều Nghị định, thông tư, chỉ thị…liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ trẻ em cũng được Nhà nước ban hành
Thực tiễn hoạt động báo chí ở Việt Nam thời gian qua cho thấy, mặc dù trẻ em và các vấn đề trẻ em đã nhận được sự quan tâm của các nhà báo, các
cơ quan báo chí, tuy nhiên, việc quản lý các thông tin thông điệp về trẻ em nói chung và sức khỏe trẻ em nói riêng vẫn còn nhiều bất cập Những thiếu sót trong công tác đưa tin, phản ánh về đối tượng trẻ em và các vấn đề sức khỏe trẻ em đưa đến nhiều hậu quả nghiêm trọng ví dụ như việc tiết lộ thông tin cá nhân khiến trẻ em trở thành nạn nhân hứng chịu những tiêu cực của dư luận
xã hội Thêm vào đó, việc quản lý các tác phẩm báo chí, đặc biệt là quản lý
Trang 14thông điệp trong các tác phẩm báo chí muốn hiệu quả cần có những tiêu chí
cụ thể, rõ ràng Một sản phẩm báo chí tốt sẽ đem đến những thông điệp tốt đối với công chúng, từ đó nâng cao nhận thức của cộng đồng, góp phần vào sự phát triển của xã hội
Bước sang năm thứ 11 Công tác tại phòng Truyền thông, Bệnh viện nhi Trung ương- Bệnh viện chuyên khám và điều trị các bệnh trẻ em, trực tiếp tiếp xúc với bệnh nhi và gia đình người bệnh với vai trò phóng viên trong bệnh viện, tác giả luôn tâm huyết với những vấn đề về trẻ em và việc đưa tin
về trẻ em trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là mạng xã hội
Với các lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Quản lý thông điệp chăm
sóc sức khỏe trẻ em trên ba tờ báo mạng điện tử Vnepxress.net, dantri.com.vn vietnamnet.vn từ tháng 1/2018 đến hết năm 2020” làm đề tài
luận văn của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Việc đọc, khảo sát các công trình nghiên cứu về / hoặc có liên quan đến
đề tài nghiên cứu trang bị cho tác giả những tri thức về lĩnh vực liên quan, đồng thời đúc rút ra những khoảng trống về tri thức trong những công trình đã khảo sát từ đó có những đóng góp mới cho đề tài Đề tài quản lý thông điệp không phải là một đề tài mới nhưng luôn cần có những nghiên cứu chuyên sâu bởi lẽ thông điệp là yếu tố quan trọng đóng góp vào chất lượng sản phẩm báo chí và chủ đề về chăm sóc sức khỏe trẻ em là một mảng đề tài rất phong phú, có ý nghĩa thiết thực trong đời sống
Nhóm công trình nghiên cứu về báo chí
Hoạt động báo chí được định nghĩa là hoạt động của người làm báo nhằm thu thập, xử lý và truyền tải thông tin thời sự đến người dân hay còn gọi cách khác là công chúng trong xã hội Có nhiều công trình nghiên cứu về báo chí và các hoạt động báo chí Để tổng quan các nghiên cứu trực tiếp về báo mạng điện tử không thể không đề cập đến các công trình có tính nền tảng về
Trang 15tác phẩm báo chí, sáng tạo tác phẩm báo chí bởi lẽ báo mạng điện tử nằm trong hệ thống báo chí, vì thế, cơ sở lý luận phải xuất phát từ báo chí truyền thống Khảo sát các công trình nghiên cứu về báo chí, tác giả luận văn được trang bị hệ thống kiến thức xuyên suốt về yếu tố thông điệp, loại hình báo mạng điện tử hay cách thức tổ chức sản xuất, thiết kế nội dung, trình bày tác phẩm báo chí… Từ đó, tác giả có cơ sở tổng luận, hình thành khung lý thuyết
và xác định các tiêu chí về thông điệp truyền thông trên báo mạng điện tử
Trong cuốn Báo chí truyền thông hiện đại (Từ Hàn lâm đến đời
thường) (Nxb Đại học Quốc Gia, năm 2011), tác giả Nguyễn Văn Dững
khẳng định rằng, báo chí trong thời kỳ hiện đại phát triển cả về số lượng và chất lượng Với sức mạnh của mình, báo chí đã tham gia vào tiến trình xã hội,
có những đóng góp lớn lao cho sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước Cuốn sách gồm 5 chương đã hệ thống những kiến thức cơ bản về lý luận báo chí Chương mở đầu của cuốn sách bàn về truyền thông đại chúng với ba nhóm kiến thức như: hệ thống khái niệm về truyền thông đại chúng, truyền thông đại chúng với việc phát triển văn hóa, giáo dục, một số vấn đề đặt ra cho sự phát triển của báo chí truyền thông Việt Nam Theo tác giả Nguyễn Văn Dững, truyền thông đại chúng nhìn từ phương tiện truyền tải thông điệp,
là hệ thống các kênh truyền thông hướng tác động vào đông đảo công chúng
xã hội nhằm mục đích thông tin và chia sẻ tư tưởng, tình cảm, kỹ năng và kinh nghiệm… Báo chí là một bộ phận của truyền thông đại chúng, bên cạnh các kênh truyền thông khác như sách, điện ảnh, các phương tiện nghe nhìn
Xã hội học truyền thông đại chúng cho rằng báo chí chiếm vị trí trung tâm, nền tảng và có vai trò chi phối Theo tác giả, báo chí là hiện tượng xã hội phức tạp vì nó được tiếp cận theo nhiều góc độ và quan điểm khác nhau Tuy nhiên, trong số các hướng tiếp cận, tiếp cận báo chí xuất phát từ quan điểm hệ thống là một trong những cố gắng nhằm cung cấp thêm cái nhìn rõ hơn bản
Trang 16chất chính trị-xã hội của hiện tượng này Bàn về vấn đề trẻ em, tác giả cũng chú trọng cung cấp kiến thức về nghiên cứu công chúng-nhóm đối tượng trẻ
em và những yêu cầu về đạo đức của nhà báo trong quá trình tác nghiệp với đối tượng trẻ em
Thông điệp được định nghĩa là thông tin, kiến thức, dữ liệu, tâm tư, tình cảm, mong muốn, đòi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học-kỹ thuật được mã hóa theo hệ thống ký hiệu nào đó, được bên phát và bên nhận cùng chấp nhận và có chung cách hiểu, tức có khả năng giải mã Trong dòng nghiên cứu về thông điệp báo chí, có tác giả Hà Minh Đức với tác phẩm
Cơ sở lý luận báo chí-Đặc tính và phong cách Xem thông điệp truyền thông
là một trong các yếu tố cơ bản của quá trình truyền thông, trong cuốn sách của mình, tác giả Hà Minh Đức cho rằng các cấp độ thông điệp của báo chí gồm có: thông điệp của số báo, chương trình phát thanh, chương trình truyền hình, thông điệp các tác phẩm báo chí Thông điệp báo chí phải gắn liền với đặc điểm và yêu cầu của kênh truyền tải
Một trong những tiêu chí cho thang đo chất lượng thông điệp trên báo chí nói chung và báo mạng điện tử nói riêng chính là ngôn ngữ báo chí bởi lẽ các phương tiện truyền thông đại chúng luôn có rất nhiều người sử dụng, thêm vào đó là chuẩn mực của ngôn ngữ báo chí, truyền thông được coi là chuẩn mực của việc sử dụng ngôn từ, những sai sót về mặt ngôn ngữ trên báo chí-truyền thông sẽ nhanh chóng ảnh hưởng dẫn đến sai sót trong toàn xã hội Nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí-truyền thông ở Việt Nam có thể nói tới giáo
trình Ngôn ngữ báo chí của tác giả Vũ Quang Hào Cuốn sách đã tập trung
các lý giải để làm rõ tầm quan trọng của sự chuẩn xác ngôn ngữ trên truyền thông, đặc biệt là chuẩn mực ngôn ngữ trên báo chí
Khi nghiên cứu về lý thuyết, kỹ năng và phương pháp sáng tạo tác phẩm
báo chí, có thể nói đến một số công trình nghiên cứu như Tác phẩm báo chí
Trang 17đại cương (Nguyễn Thị Thoa), tác phẩm báo chí (Tạ Ngọc Tấn, Nguyễn Văn Dững, Trần Thế Phiệt), và một số công trình nghiên cứu về cách thức tổ chức
sản xuất sản phẩm báo in như Tổ chức nội dung và thiết kế, trình bày báo in
(2006), Tổ chức sản xuất sản phẩm báo in (2015) của tác giả Hà Huy Phượng
Những cuốn sách này cung cấp các kiến thức cơ bản nhất về tác phẩm báo chí: khái niệm, chức năng, giá trị sử dụng của tác phẩm báo chí; vấn đề bản quyền tác phẩm báo chí và hoạt động sáng tạo tác phẩm báo chí của nhà báo; nguyên tắc, phương pháp tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí Ngoài ra, các nghiên cứu
đã sử dụng phương pháp đối chiếu, so sánh, phân tích để phân biệt tác phẩm báo chí với các loại tác phẩm khác trên cùng một sản phẩm báo chí Đồng thời, chỉ ra vai trò quan trọng của tác phẩm báo chí đối với đời sống xã hội, cũng như những bài học đạo đức nghề nghiệp của nhà báo
Dành sự quan tâm đến quy trình, kỹ năng sáng tạo tác phẩm báo chí, nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Dũng cho ra đời nhiều nhiều tác phẩm nghiên cứu
chuyên sâu, trong đó có các công trình tiêu biểu như Sáng tạo tác phẩm báo chí
(2002), Viết báo như thế nào? và 100 câu hỏi về cách viết báo (2012 Những
công trình này đưa ra những câu hỏi và giải đáp cho các vấn đề có liên quan
đến công việc sáng tạo tác phẩm báo chí như: khái niệm báo chí, nhà báo và nghề báo, tác phẩm báo chí và thể loại báo chí; cách viết tin, bài phản ánh, thể loại ký chân dung, phóng sự và viết phóng sự như thế nào? Đây là những khái niệm cơ bản xuyên suốt cuộc đời mà mỗi người làm báo cần nắm vững Mặt khác, nghiên cứu cũng chỉ ra các nguyên tắc cần phải hiểu đúng khái niệm, tuân thủ các yêu cầu đặc thù trong việc thực hiện các bước của quy trình sáng tạo tác phẩm báo chí, đó là điều kiện cơ bản cho tính chuyên nghiệp của nhà báo trong tổ chức thực hiện các hoạt động sáng tạo tác phẩm báo chí [Đức
Dũng, Sáng tạo tác phẩm báo chí, Nxb Văn hóa thông tin, 2002]
Viết về báo mạng điện tử, cuốn Các thủ thuật làm báo điện tử (2006)
Trang 18đã đề cập đến những nội dung cơ bản về lý luận và thực tiễn báo chí, những vấn đề về kỹ năng, nghiệp vụ đặc thù Cuốn sách được xem là cuốn sổ tay phóng viên, được biên soạn theo từng bài viết: Báo điện tử điểm sáng của cuộc cách mạng thông tin, báo điện tử thế mạnh và tiện ích; thiết kế báo điện tử; giật tít tin bài trên báo điện tử; đặt tít ngắn; giải pháp 10%; viết bài cho báo điện tử; giật tít tin, bài trên báo điện tử; thẩm định các nguồn thông tin trên internet, website tin tức qua mắt độc giả; báo giấy điện tử-kênh thông tin mới; ảnh hưởng của báo điện tử với báo chí truyền thống Các bài viết được trình bày hết sức cô đọng về mặt lý thuyết, mở rộng và cập nhật đối với các phương tiện, công nghệ thông tin hiện đại, đặc biệt chú trọng về mặt kỹ năng
và kinh nghiệm thực tế trong công việc nghề báo
Cuối cùng, để hình thành khung lý thuyết cho luận văn về nghiên cứu thông điệp trên báo mạng điện tử, không thể không đề cập đến các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến thể loại báo mạng điện tử Trong số các tác giả có nhiều công trình nghiên cứu tâm huyết về báo mạng điện tử, có thể kể đến
tác giả Nguyễn Thị Trường Giang Trong cuốn Sáng tạo tác phẩm báo mạng
điện tử [Nxb Chính trị Quốc gia-Hà Nội năm 2014], tác giả đề cập đến đặc trưng
và phương pháp sáng tạo các thể loại báo chí trong chuyên ngành báo mạng điện
tử một cách hệ thống, bài bản và quy mô nhất Nội dung cuốn sách gồm có 9 chương, đi từ những nguyên tắc cơ bản khi viết cho báo mạng điện tử, đề cập đến các thể loại cơ bản nhất như thể loại tin, tường thuật, phỏng vấn…đến các thể loại phức tạp, có chiều sâu như phóng sự, điều tra hay bình luận Thông qua cuốn sách, tập thể tác giả vừa hệ thống những vấn đề lý thuyết, vừa đề cập đến những vấn đề thực tế bằng cách bao quát nhiều kỹ năng thực hành cho từng thể loại khác nhau trong sáng tạo tác phẩm Tuy nhiên, ở cuốn sách này, các tác giả vẫn chưa đưa ra được quan điểm thống nhất và chuẩn hóa về các thể loại báo chí Các công trình này đã khẳng định vai trò và ưu điểm vượt trội của loại hình
Trang 19báo mạng điện tử, tìm hiểu về tính đa phương tiện, đồng thời phân tích cách viết cho từng thể loại báo chí khi viết trên báo mạng điện tử để có thể tận dụng tốt nhất những ưu thế của loại hình báo chí này
Tóm lại, các công trình nghiên cứu về báo mạng điện tử được triển khai theo hướng nghiên cứu lý thuyết cơ bản về khái niệm, bản chất, chức năng; về hoạt động sáng tạo tác phẩm; về cơ chế tác động của báo chí và các nghiên cứu sâu về kỹ năng, thủ thuật làm báo mạng điện tử, thiết kế giao diện, và xu hướng phát triển của báo mạng điện tử Hệ thống kiến thức về báo mạng điện
tử hiện nay chủ yếu có các công trình nghiên cứu tiêu biểu của tác giả Nguyễn Thị Trường Giang Các công trình này có tính hệ thống, logic và tương đối hoàn chỉnh các kiến thức lý thuyết và thực tiễn về báo mạng điện tử giúp luận văn tiếp cận, hiểu và nắm rõ hơn về khách thể nghiên cứu, cũng như các kiến thức kỹ năng, phương pháp sáng tạo thông điệp trên báo mạng điện tử
Quan sát các công trình nghiên cứu về báo chí có thể thấy, các tác giả mới chỉ chú trọng hướng vào nghiên cứu lí luận, chủ yếu hướng đến nghiên cứu về công chúng, về chủ thể, bộ máy truyền thông, về hiệu quả của truyền thông mà chưa chú ý đến lĩnh vực nghiên cứu nội dung thông điệp truyền thông, đặc biệt là trong lĩnh vực báo mạng điện tử, nội dung thông điệp truyền thông vẫn còn là một khoảng trống Tổng quan các công trình nghiên cứu giúp tác giả nắm bắt được khoảng trống trong tri thức, giúp tác giả có được hướng đi cho đề tài của mình
Nhóm công trình nghiên cứu về thông điệp và quản lý thông điệp
Thông điệp là yếu tố quan trọng làm nên giá trị của một tác phẩm báo chí Quản lý thông điệp không thể tách rời quản lý báo chí hay nói cách khác, quản lý thông điệp là một bộ phận trong quản lý báo chí
Hiện nay, nước ta có hệ thống báo chí và truyền thông đại chúng khá hoàn chỉnh với hơn 700 cơ quan báo chí với 800 sản phẩm báo chí in ấn, 67
Trang 20đài phát thanh- truyền hình, có hơn 600 đài huyện, thị xã cùng mạng lưới truyền thanh cơ sở nối dài sóng phát thanh truyền hình đến tận các vùng sâu vùng xa, hải đảo của Tổ quốc Một hệ thống phong phú như vậy cho phép công dân bảo đảm được quyền thông tin và quyền tiếp nhận sản phẩm truyền
thông Trong cuốn “Lãnh đạo và Quản lý hoạt động báo chí ở Việt Nam hiện
nay” (Hoàng Quốc Bảo (2010, nxb Chính trị, hành chính) cho rằng, trong bối
cảnh toàn cầu hóa và truyền thông công nghệ số hiện nay, khi mà vị thế xã hội
và điều kiện tham gia vào diễn đàn báo chí truyền thông của công chúng đang
có sự thay đổi lớn, từ bị động sang chủ động và phạm vi lan tỏa nhanh thì vai trò của báo chí càng trở nên to lớn hơn bao giờ hết Quản lý báo chí ra đời chính là đòi hỏi tất yếu khách quan Quản lý báo chí giúp phát huy tối đa năng lực tác động của báo chí vào mục đích phát triển đất nước Thêm vào đó, giúp hạn chế đến mức thấp nhất những hiệu ứng ngoài mong đợi
Trong bối cảnh hội nhập thông tin quốc tế, báo chí ngoài việc cung cấp thông tin cho môi trường truyền thông trong nước, mỗi quốc gia trên thế giới đều xây dựng cho mình một chiến lược truyền thông đối ngoại để phát triển Nghiên cứu về vấn đề lãnh đạo quản lý báo chí có công trình nghiên cứu
“Quản lý nhà nước về báo chí đối ngoại ở Việt Nam hiện nay” của NCS Bùi
Thị Vân (2021, Học viện báo chí và Tuyên truyền) Công trình nghiên cứu dựa trên hệ thống lý thuyết về “quản lý tổng quát”, lý thuyết lãnh đạo dựa trên
cơ sở tố chất, cơ sở hành vi Trong công trình nghiên cứu của mình, trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn, tác giả phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về báo chí đối ngoại ở Việt Nam hiện nay Trong hai công trình nghiên cứu nói trên, khi đề cập đến công tác lãnh đạo, quản lý báo chí ngoài năm chức năng của nhà quản lý bao gồm: kế hoạch-tổ chức-chỉ huy-phối hợp-kiểm soát, tác giả Bùi Thị Vân bổ sung thêm đặc tính của nhà lãnh đạo dẫn đến thành công của tổ chức
Trang 21Nghiên cứu hai công trình về lãnh đạo quản lý báo chí, tác giả luận văn nắm bắt được các nguyên tắc trong lãnh đạo quản lý nhà nước về báo chí, các học thuyết về quản lý để từ đó hình thành khung lý thuyết cho đề tài quản lý thông điệp của mình
Thông điệp và quản lý thông điệp là hướng nghiên cứu luôn được coi trọng bởi lẽ thông điệp là sức sống của bất kỳ tác phẩm báo chí nào Các nghiên cứu về chủ đề quản lý thông điệp cung cấp hệ thống tri thức nền tảng, đóng vai trò là công cụ, là phương thức để định hướng, tổ chức thực hiện, xác định mục tiêu, cách thức thực hiện đề tài quản lý thông điệp Trong nhóm
công trình nghiên cứu về thông điệp có bài viết “Thông điệp về trẻ em trên
báo hình, báo in” của Mai Quỳnh Nam Bài viết này là một phần của một
nghiên cứu phân tích quốc tế “Hình ảnh trẻ em trên báo chí” do Trung tâm Thông tin và Truyền thông Châu Á (AMIC) phối hợp với Viện Xã hội học tiến hành vào năm 1999 Bài báo đã tìm hiểu và phân tích các nội dung chính như: báo hình, báo in và việc đưa tin về các vấn đề liên quan đến trẻ em, cách đưa tin trên báo hình, báo in về các vấn đề liên quan đến trẻ em, vấn đề trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên báo hình, báo in Là một nhà nghiên cứu
xã hội học, trong công trình của mình, Mai Quỳnh Nam nhấn mạnh, các tổ chức truyền thông cần phải coi mọi vi phạm các quyền của trẻ em, các vấn đề liên quan đến tính sự an toàn, tính riêng tư, an ninh, giáo dục, sức khỏe, phúc lợi xã hội của trẻ em và phê phán các hình thức bóc lột trẻ em là vấn đề quan trọng Để tiến hành nghiên cứu, tác giả và các cộng sự đã tiến hành quan sát các thông điệp về trẻ em được thông báo trong tháng 10 năm 1999 trên 10 tờ báo và 2 đài truyền hình lớn của cả nước là Đài Truyền hình Việt Nam và Đài Truyền hình Hà Nội Mai Quỳnh Nam và cộng sự đã tiến hành phân tích thời lượng phủ sóng, số lượng tác phẩm báo hình và báo in về vấn đề trẻ em để thấy được mức độ quan tâm của các tờ báo in và báo hình trong diện khảo sát đối với vấn đề về trẻ em Thông qua phân tích các thông điệp về trẻ em đưa ra
Trang 22trên báo hình, báo in, tác giả Mai Quỳnh Nam và cộng sự cũng đưa ra các đề xuất cho Nhà nước và các cơ quan quản lý báo chí nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ người làm báo, tăng hiệu quả hoạt động báo chí trong vấn đề liên quan đến trẻ em
Trong nhóm nghiên cứu quản lý thông điệp có thể kể đến công trình
nghiên cứu Quản lý thông điệp về trẻ em trên báo Phú Thọ, tác giả Nguyễn
Thị Hạnh Thúy (năm 2020), Học viện báo chí và tuyên truyền Báo Phú Thọ
là cơ quan của Đảng bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam tỉnh Phú Thọ, tiếng nói của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong tỉnh Với định hướng và nhiệm vụ là phản ánh một cách kịp thời, chính xác những sự kiện mang tính thời sự, nổi bật trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội không chỉ của tỉnh Phú Thọ mà còn trên phạm vi cả nước và quốc tế trong đó có bao gồm nội dung trẻ em và quyền trẻ em Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, thông điệp về trẻ em trên báo Phú Thọ vẫn còn nhiều hạn chế Tác giả đã tiếp cận cơ sở nghiên cứu liên ngành: báo chí truyền thông, khoa học quản lý, văn hóa học, luật học, dựa vào cơ sở qua điểm, tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và tỉnh Phú Thọ; hệ thống lý luận về quản
lý báo chí-truyền thông để làm rõ các khái niệm cơ bản và các vấn đề lý luận liên quan đến quản lý thông điệp về trẻ em Đồng thời, tác giả cung cấp những giải pháp có tính khả thi để tối ưu hóa công tác quản lý thông điệp về trẻ em trên báo Phú Thọ
Các công trình nghiên cứu về thông điệp đã giúp tác giả nắm được tầm quan trọng của thông điệp trong tác phẩm báo chí Thông qua các nghiên cứu này, tác giả được trang bị những kiến thức về phương pháp nghiên cứu cho dạng đề tài quản lý thông điệp, thể thức trình bày và ngôn ngữ chuẩn mực của một nghiên cứu khoa học Những tri thức này được hình thành một cách hệ thống, là công cụ và cũng là cơ sở để tác giả tiến đến phần tiếp theo của đề tài: khảo sát thực trạng quản lý thông điệp về chăm sóc sức khỏe trẻ em trên
Trang 23ba tờ báo mạng điện tử Vnexpress.net, dantri.com.vn và Vietnamnet.net
Nhóm tài liệu nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe trẻ em
Điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị của mỗi quốc gia nói chung
và Việt Nam nói riêng được phản ánh khách quan qua tình trạng sức khỏe và bệnh tật của trẻ em
Để thực hiện được đề tài về quản lý thông điệp chăm sóc sức khỏe trẻ
em trên 3 tờ báo mạng điện tử vnexpress.net, dantri.com.vn và vietnamnet.vn tác giả đã tham khảo các nhóm tài liệu trang bị hệ thống lý thuyết về báo chí,
về quản lý báo chí, quản lý thông điệp, những kiến thức chung về y tế mà cụ thể là kiến thức chung về trẻ em và vấn đề chăm sóc sức khỏe trẻ em là rất quan trọng Những kiến thức này giúp cho tác giả hình thành các khái niệm liên quan đến vấn đề sức khỏe trẻ em, định hình các vấn đề phù hợp trong
khuôn khổ luận văn Trong cuốn Sổ tay phóng viên Báo chí với trẻ em (nxb
Lao động, năm 2011) tác giả Nguyễn Văn Dững đã dành phần mở đầu để nói
về những vấn đề đáng quan tâm này Chương mở đầu của cuốn sách là chương tổng quan các vấn đề cơ bản về trẻ em và các vấn đề chăm sóc bảo vệ trẻ em như: thực hiện quyền trẻ em là vấn đề mang tính toàn cầu, những nỗ lực của chính phủ và nhân dân Việt Nam hướng vào mục tiêu vì trẻ em, luật pháp và trẻ em, các vấn đề tâm lý trẻ em, những mục tiêu của chương trình Hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai đoạn 2001 đến 2010 Tác giả nêu
ra những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sống của trẻ em, những nỗ lực của chính phủ toàn thế giới trong đó có Việt Nam nhằm hướng tới mục tiêu vì trẻ
em Trong chương này, tác giả cũng thống kê các vấn đề về tâm lý của trẻ em Đây là nguồn tham khảo sát thực cho đề tài quản lý thông điệp chăm sóc sức khỏe trẻ em Bên cạnh sức khỏe thể chất, chăm sóc sức khỏe trẻ em còn có nghĩa là chăm sóc sức khỏe tinh thần trong đó vấn đề tâm lý là cốt lõi
Bàn về vấn đề chăm sóc sức khỏe nhưng dưới góc nhìn của các nhà báo
Trang 24còn có giáo trình Quản lý chăm sóc sức khỏe cộng đồng, tác giả Trần Thị Anh
Đào (chủ biên), (nxb Chính trị, hành chính, 2012) Giáo trình này cung cấp kiến thức cơ bản về công tác khoa giáo ở nước ta hiện nay trên các lĩnh vực khoa học và công nghệ; giáo dục và đào tạo; trí thức và nhân tài; y tế, dân số, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; thể dục, thể thao Nhóm tác giả thông qua cuốn sách đã trang bị cho học viên, sinh viên chuyên ngành Quản lý hoạt động văn hóa- tư tưởng nói riêng- nguồn cơ bản của đội ngũ cán bộ tuyên giáo ở nước ta hiện nay-hệ thống kiến thức và kỹ năng cơ bản về lãnh đạo, quản lý hoặc tham mưu cho lãnh đạo, quản lý đối với bốn lĩnh vực y tế; dân số; trẻ em và thể dục, thể thao
Dưới góc độ của các chuyên gia y tế, giáo trình Bài giảng Nhi khoa,
(Nguyễn Thị Diệu Thúy, Nxb Y học, 2020) là nguồn tham khảo dành cho đối tượng là các sinh viên sau đại học liên quan đến nhi khoa Bài giảng Nhi khoa cung cấp những kiến thức về chăm sóc sức khỏe trẻ em với các bệnh lý thường gặp trong nhi khoa từ đó trang bị cho các bác sĩ các kiến thức, kỹ năng
cơ bản về chăm sóc và điều trị các bệnh lý trẻ em
Cùng hướng về mục tiêu giáo dục sức khỏe còn có cuốn Sổ tay truyền thông giáo dục sức khỏe, Nxb Lâm Đồng, năm 2009 của tác giả Hồ Ngọc Quý Những kiến thức phổ thông dễ nắm bắt, dễ thực hiện để phòng chống một số bệnh truyền nhiễm thường gặp đối với phụ nữ, trẻ em và người cao tuổi được đề cập trong cuốn sách này Ngoài ra, tác giả cũng chú trọng cập nhật bổ sung thông tin về một số bệnh truyền nhiễm như cúm A (H5N1), bệnh chân tay miệng…
Tài liệu cuối cùng trong nhóm sách chuyên khảo về chăm sóc sức khỏe trẻ em là tập sách Chăm sóc sức khỏe trẻ em (6 cuốn), bác sĩ Thôi Ngọc Đào, chủ nhiệm khoa Nhi Bệnh viện Bắc Kinh, bác sĩ khoa Nhi, chủ tịch bệnh viện Gia đình hòa thuận Thiên Tân (Trung Quốc) cung cấp hệ thống kiến thức cơ
Trang 25bản dành cho đối tượng không làm về y khoa 6 cuốn sách chia thành các nhóm vấn đề cơ bản, thường gặp trong quá trình chăm sóc sức khỏe trẻ em như: khi trẻ bị sốt, dinh dưỡng ăn dặm, bệnh đường ruột…
Các kiến thức về chăm sóc sức khỏe trẻ em mà tác giả có được chủ yếu đến từ các sách giáo trình về y học, về xã hội học Từ hệ thống tài liệu đã đọc,
tác giả nhận thấy số lượng công trình nghiên cứu về quản lý thông điệp chăm
sóc sức khỏe trẻ em trên báo mạng điện tử còn rất hạn chế Các giáo trình
tham khảo, các luận văn đã thực hiện mới chỉ tập trung nghiên cứu về một trong các vấn đề riêng biệt như quản lý thông điệp trên báo mạng điện tử, chăm sóc sức khỏe trẻ em, quản lý báo chí…Chính vì lý do đó, tác giả chọn
đề tài Quản lý thông điệp chăm sóc sức khỏe trẻ em trên ba tờ báo mạng điện
tử Vnexpress.net, Dantri.com.vn, Vietnamnet.vn từ tháng 1/2018 đến hết năm
2020 với mục tiêu làm rõ thêm một số vấn đề lý luận liên quan đến quản lý
thông điệp chăm sóc sức khỏe trẻ em trên báo mạng điện tử
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
-Dựa trên cơ sở lý luận về khoa học quản lý, báo chí học, xã hội học truyền thông đại chúng, y học, luận văn này nghiên cứu thông điệp về chăm sóc sức khỏe trẻ em trên ba tờ báo mạng điện tử được quan sát, từ đó nhận thức các vấn đề trong hoạt động quản lý thông điệp về chăm sóc sức khỏe trẻ
em và đề xuất giải pháp giúp cho việc quản lý thông điệp về chăm sóc sức khỏe trẻ em trên báo mạng điện tử được quan sát trở nên chặt chẽ hơn, phù hợp với môi trường truyền thông về trẻ em hiện nay
Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất trên cơ sở những vấn đề lý luận về báo chí học, xã hội học
truyền thông đại chúng, khoa học quản lý, chuyên ngành y khoa lĩnh vực chăm sóc sức khỏe trẻ em, nghiên cứu thực trạng quản lý thông điệp về chăm sóc sức khỏe trẻ em trên báo mạng điện tử trong diện khảo sát
Trang 26Thứ hai, khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý thông điệp về trẻ em trên
báo mạng điện tử trong diện khảo sát, làm rõ vai trò và hoạt động quản lý thông điệp về chăm sóc sức khỏe trẻ em
Thứ ba, đề xuất giải pháp, khuyến nghị, nhằm nâng cao chất lượng quản
lý thông điệp về chăm sóc sức khỏe trẻ em, đặc biệt các báo thuộc diện khảo sát Từ đó, đánh giá được thực trạng quản lý thông điệp về chăm sóc sức khỏe trẻ em trên báo mạng điện tử hiện nay, đề xuất giải pháp giúp quy trình quản lý thông điệp về chăm sóc sức khỏe trẻ em trên báo mạng điện tử được chặt chẽ, hiệu quả hơn trong thời gian tới
4 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng
-Hoạt động quản lý thông điệp về chăm sóc sức khỏe trẻ em của một số
tờ báo điện tử theo diện khảo sát
Đối tượng khảo sát và phạm vi khảo sát
-Đối tượng khảo sát : khảo sát ba cơ quan báo mạng điện tử là
Vnexpress, Dân trí, Vietnamnet
-Phạm vi khảo sát: luận văn đánh giá thực trạng quản lý thông điệp về
chăm sóc sức khỏe trẻ em trên ba cơ quan báo mạng điện tử thuộc diện khảo sát trong thời gian từ tháng1 năm 2018 đến hết năm 2020
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn tiếp cận cơ sở nghiên cứu liên ngành: khoa học quản lý, báo chí học, xã hội học truyền thông đại chúng, y học Bởi lẽ, đề tài quản lý thông điệp chăm sóc sức khỏe trẻ em trên ba tờ báo mạng điện tử: vnexpress.net, dantri.com.vn, vietnamnet.vn từ tháng 1 năm 2018 đến hết năm 2020 đòi hỏi phải có sự tiếp cận từ nhiều lĩnh vực bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau để có cái nhìn triệt để, thấu đáo
Trang 275.2 Phương pháp nghiên cứu
-Phương pháp phân tích nội dung
Thế mạnh của phương pháp phân tích nội dung là hệ thống, khách quan
và có thể đo lường các biến số khi phân tích nội dung định lượng
Về tính hệ thống: các tin bài về chăm sóc sức khỏe trẻ em trong mẫu
nghiên cứu được thực hiện theo quy tắc thống nhất và công khai Đó là những tin bài xuất hiện từ ngữ có liên quan đến chăm sóc sức khỏe trẻ em được xem như các từ khoá Việc chọn mẫu được thực hiện theo quy trình chặt chẽ để đảm bảo tất cả các tin bài đều có cơ hội được lựa chọn vào phân tích như nhau Toàn bộ 822 tin, bài thu thập từ 3 tờ báo trong diện khảo sát được lựa chọn để phân tích đều được xử lý theo cùng một phương pháp Việc mã hóa và phân tích cho đến thời gian nhà nghiên cứu dành cho tài liệu có sự thống nhất chặt chẽ Bảng mã thông điệp trong suốt quá trình phân tích là bộ hướng dẫn quy chuẩn
Tính khách quan: nghiên cứu được đảm bảo tính khách quan trong tất
cả các quy trình Những giá trị hay cái tôi chủ quan, hoặc định kiến không được xen vào hay làm ảnh hưởng đến quá trình phân tích
Phương pháp tiến hành: đi từ thiết kế nghiên cứu với cơ sở lý luận, lý
thuyết, tổng quan tình hình nghiên cứu đến câu hỏi nghiên cứu, thao tác hoá khái niệm, khảo sát thử, lập bảng mã định lượng, phân tích trên các bài báo được lựa chọn, tập trung mô tả và làm rõ thông điệp về chăm sóc sức khoẻ trẻ
em trong khuôn khổ tin bài của 3 báo được lựa chọn khảo sát Bảng mã được
sử dụng để phân tích định lượng và để sử dụng cho phân tích với các chỉ báo dựa trên kết quả phân tích các lý thuyết nghiên cứu, điểm luận các công trình nghiên cứu và phân tích thử trên các tin bài đã được sưu tầm
Kết cấu bảng mã: Bảng mã có kết cấu gồm có 3 phần lớn: phần từ
khoá, phần quản lý hình thức thông điệp, phần quản lý nội dung thông điệp
Trang 28Trong đó, phần quản lý nội dung thông điệp được chia thành 2 phần nhỏ: quản lý nội dung chăm sóc sức khoẻ thể chất và quản lý nội dung chăm sóc sức khoẻ tinh thần của trẻ em
Phần thứ nhất là các từ khóa giúp tìm kiếm, chọn lọc và phân loại các tin, bài nội dung chăm sóc sức khỏe trẻ em Sau khi khai thác tối đa các từ khóa, tác giả đã thu được kết quả tìm kiếm với 822 tin, bài nội dung chăm sóc sức khỏe trẻ em
Phần thứ hai của bảng mã hàm chứa yếu tố quản lý hình thức thông điệp Phần quản lý hình thức thông điệp bên cạnh các các thông tin định danh như tên tờ báo, trang, chuyên mục, thể loại tin bài, các vấn đề chăm sóc sức khoẻ trẻ em, tác giả luận văn còn khai thác các khía cạnh giúp nắm bắt được phương thức quản lý tin bài của 3 tờ báo mạng điện tử trong diện khảo sát như: nguồn tin đăng tải, hàm ý tít của bài báo, nội dung bài viết thể hiện tính chất gì, số lượng ảnh trong bài báo, đối tượng xuất hiện trong các tin, bài, ảnh thuộc nhóm đối tượng nào…
Phần thứ 3- quản lý nội dung thông điệp được tác giả chia thành hai mảng nội dung lớn: quản lý nội dung thông điệp chăm sóc sức khỏe thể chất cho trẻ em và quản lý nội dung thông điệp chăm sóc sức khỏe tinh thần cho trẻ em trong đó ở mỗi phần lớn lại chia thành các phần nhỏ Cụ thể là:
Quản lý nội dung thông điệp chăm sóc sức khỏe trẻ em về thể chất gồm dinh dưỡng, giấc ngủ, vận động, vệ sinh,
Quản lý thông điệp chăm sóc sức khỏe trẻ em về tinh thần gồm y tế, giáo dục, vui chơi-giải trí
Tất cả các nội dung nhỏ được bao quát trong hai nội dung lớn bằng
hệ thống câu hỏi bao quát nhất ứng với 822 tin, bài được chọn lọc đưa vào phân tích Để làm được điều này, tác giả luận văn đã tiến hành đọc và phân loại 822 tin, bài theo 3 tờ báo được khảo sát (Vnexpress, Vietnamnet, Dantri), theo các năm (2018-2019-2020), theo chuyên mục
Trang 29(thời sự, văn hóa, giáo dục, luật…), theo thể loại (thông tấn, chính luận, các thể loại ký) Với phần quản lý nội dung thông điệp, tác giả luận văn
đã phân loại tin, bài về nội dung chăm sóc sức khỏe thể chất, chăm sóc sức khỏe tinh thần theo các khái niệm về “sức khỏe thể chất” và “sức khỏe tinh thần” đã được làm rõ trong chương 1 của luận văn Bảng mã được hoàn thiện sau khi tác giả tiến hành tất cả các bước đã nêu như trên
để có được hệ thống thông tin bao quát nhất
- Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp phỏng vấn sâu sẽ được tiến hành phỏng vấn các phóng viên, nhà báo thực hiện mảng chăm sóc sức khỏe trẻ em nhằm thu thập, đánh giá, nhận định
Phỏng vấn sâu 6 trường hợp ở 3 tờ báo mạng điện tử được chọn để nghiên cứu: Vnexpress, Dân trí, Vietnamnet Mỗi tờ báo chọn phỏng vấn 3 đối tượng: 1 tổng biên tập/phó tổng biên tập, l lãnh đạo là trưởng/ phó ban sức khoẻ, 1 phóng viên giữ chuyên trang chăm sóc sức khỏe trẻ em
Luận văn đặt ra 3 giả thiết nghiên cứu
Một là, thông điệp về quản lý chăm sóc sức khoẻ trẻ em đã phản ánh được những nội dung cơ bản đặt ra trong chăm sóc sức khoẻ trẻ em
Hai là, việc quản lý nội dung thông điệp và hình thức thông điệp về cơ bản đã theo sát nội dung thông điệp
Ba là, ứng dụng mạng xã hội đã tạo nên sự tương tác tốt giữa công chúng và các báo mạng điện tử về chủ đề được đề cập
6 Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn của đề tài
Trang 30thực tiễn liên quan đến vấn đề quản lý báo chí
Trên cơ sở khảo sát thực tiễn, luận văn đánh giá ưu điểm, hạn chế của vấn đề quản lý thông điệp chăm sóc sức khỏe trẻ em trên báo mạng điện tử ở Việt Nam: vietnamnet, dantri.com.vn, vnexpress.net trong giai đoạn từ 1/2018 đến hết năm 2020 Kết quả nghiên cứu là những gợi mở để các cơ quan báo mạng nói chung và ba tờ báo khảo sát nói riêng tham khảo
7 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thông điệp chăm sóc sức khỏe trẻ em trên báo mạng điện tử
Chương 2: Thực trạng quản lý thông điệp chăm sóc sức khỏe trẻ em trên 3 tờ báo mạng điện tử VnExpress.net, Dantri.com.vn, Vietnamnet.vn từ tháng 1 năm 2018 đến hết năm 2020
Chương 3: Khuyến nghị về quản lý thông điệp chăm sóc sức khỏe trẻ
em trên 3 tờ báo mạng điện tử trong diện khảo sát
Trang 31Chương 1:
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THÔNG ĐIỆP CHĂM SÓC SỨC KHỎE TRẺ EM TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ 1.1 Các khái niệm liên quan
1.1.1 Quản lý
Trong tài liệu bồi dưỡng chức danh biên tập viên, phóng viên của bộ Thông tin Truyền thông: Đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước về báo chí, xuất bản (2013) cho rằng hoạt động quản lý ra đời và tự phân công, hợp tác lao động, là hoạt động tổ chức của chủ thể tác động vào đối tượng
để điều chỉnh quan hệ xã hội và con người theo mục tiêu đã định (8, tr 29)
Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động quản lý, là nhân tố đặc
biệt quan trọng trong công tác quản lý Chủ thể này có thể là một cá nhân hoặc tổ chức, với các đặc điểm như: là chủ thể được giao những những quyền lực nhất định, phải có những năng lực và phẩm chất nhất định và có
lợi ích xác định Chủ thể quản lý Có những quyền năng nhất định được trao bởi những chủ thể có thẩm quyền
Chủ thể quản lý phải sở hữu những năng lực và phẩm chất cần thiết để
có thể đưa ra định hướng chính xác và thích hợp với từng đối tượng quản lý, trong từng hoàn cảnh và môi trường nhất định Ngoài ra, bên cạnh nghĩa vụ của chủ thể quản lý thì những chủ thể này cũng sẽ có được những lợi ích xác định từ công tác quản lý
Khách thể quản lý là những con người, sự vật, tổ chức… tiếp nhận sự tác
động của chủ thể quản lý Chính những đối tượng này cũng có thể tham gia ở mức độ nhất định vào việc tạo lập các tác động quản lý Tùy theo từng loại đối tượng khác nhau mà khách thể quản lý có thể được chia thành các dạng khác nhau như: quản lý tự nhiên, quản lý con người, quản lý xã hội…
Trang 321.1.2 Thông điệp
Trong cuốn “Truyền thông thay đổi hành vi trong lĩnh vực dân số và chăm sóc sức khỏe sinh sản”, khái niệm thông điệp được Tạ Ngọc Tấn, Phạm Đình Huỳnh, Lương Khắc Hiếu và cộng sự định nghĩa như sau: thông điệp là nội dung thông tin về một vấn đề nào đó được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận Thông điệp truyền thông chứa đựng những thông tin mà người truyền thông muốn chia sẻ đối với đối tượng của mình [tr 91]
Trong lĩnh vực truyền thông, thông điệp là một phát ngôn hoàn chỉnh dành cho nhóm đối tượng cụ thể, trong một hoàn cảnh nhất định nhằm đạt tới các mục tiêu đã đề ra Hiệu quả tác động của thông điệp phụ thuộc vào đối tượng, phương pháp, phương tiện và bối cảnh của truyền thông Việc kiểm tra, theo dõi tác động của thông điệp tới đối tượng, nhận thông tin phản hồi từ đối tượng để kịp thời điều chỉnh thông điệp hoặc về nội dung hoặc hình thức cho phù hợp với đối tượng và bối cảnh là điều cần thiết Trong cuốn “Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản”, tác giả Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thu Hằng cho rằng: “Thông điệp là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận Thông điệp chính là tâm tư, tình cảm mong muốn, đòi hỏi, ý kiến hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học-kỹ thuật…được mã hóa theo một hệ thống ký hiệu nào đó Hệ thống này phải được cả bên phát và bên nhận cùng chấp nhận và có chung cách viết-tức là có khả năng giải mã Tiếng nói, chữ viết, hệ thống biển báo, hình ảnh, cử chỉ biểu đạt của con người được sử dụng để truyền đạt thông điệp
Thông điệp là hệ thống ký hiệu hàm chứa nội dung thông tin cụ thể Hệ thống ký hiệu này là quy ước giữa nguồn phát và nguồn nhận, nói cách khác
hệ thống ký hiệu ấy phải được giải mã bởi đầu nhận Hệ thống ký hiệu ấy có thể là lời nói, chữ viết, đường nét, màu sắc, cử chỉ, thái độ…
Tóm lại, “Thông điệp là một hệ thống ký hiệu hàm chứa nội dung
Trang 33thông tin cụ thể Hệ thống ký hiệu này là quy ước giữa đầu phát và đầu nhận”
Đối với báo in, thông điệp là một phát ngôn chỉnh thể cả về nội dung và hình thức Kết cấu gồm:
(Copy)- đoạn văn thể hiện nội dung của thông điệp
(Slogan)- câu khẩu hiệu, đại diện cho một bài viết
(Hình ảnh)- Hình ảnh hàm chứa nội dung thông điệp
1.1.3 Trẻ em
Theo quy định của Luật trẻ em năm 2016, “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” Việt Nam thừa nhận độ tuổi trẻ em cần được bảo vệ, chăm sóc là công dân dưới 16 tuổi
Mặc dù có nhiều cách gọi tên khác nhau, nhưng có thể thống nhất khái niệm trẻ em sử dụng trong luận văn như sau: trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của
sự phát triển con người cho đến 16 tuổi theo pháp luật Việt Nam
Sức khỏe Thể chất là sự sảng khoái và thoải mái về thể chất Cơ sở của
sự sảng khoái, thoải mái về thể chất là sức lực, sự nhanh nhẹn, sự dẻo dai, khả năng chống được các yếu tố gây bệnh, khả năng Chịu đựng các điều kiện khắc nghiệt của Môi trường
Sức khỏe Tinh thần được thể hiện ở sự sảng khoái, ở cảm giác dễ chịu,
Cảm xúc vui tươi, thanh thản, ở những ý nghĩ lạc quan, ở những quan niệm sống tích cực, dũng cảm, chủ động; ở khả năng chống lại những quan niệm bi quan và lối sống không lành mạnh
Trang 341.1.5 Chăm sóc sức khỏe trẻ em
Tiến sĩ Trần Thị Anh Đào trong cuốn “Quản lý chăm sóc sức khỏe cộng đồng” có định nghĩa, chăm sóc sức khỏe trẻ em là những hoạt động phòng chống bệnh tật, tăng cường sức khỏe, nâng cao thể chất, bồi bổ tinh thần cho trẻ em nhằm giúp cho trẻ dần thích ứng dễ dàng với các điều kiện sống của cộng đồng
Chăm sóc sức khỏe trẻ em là sự quan tâm để cải thiện sức khỏe của trẻ, đồng thời là một hoạt động liên ngành và được thực hiện bởi các dịch vụ của ngành y tế và dịch vụ ngoài y tế
Theo nghĩa hẹp, dịch vụ y tế là những dịch vụ chăm sóc sức khỏe dành cho người ốm, là công tác chữa bệnh Thực chất, dịch vụ y tế là những dịch vụ phân công cho ngành y tế phụ trách, liên quan đến công tác bảo vệ, duy trì và nâng cao sức khỏe toàn dân, chứ không chỉ đơn thuần là công tác chữa bệnh
Dịch vụ ngoài y tế là những dịch vụ chăm sóc sức khỏe do các ngành khác phụ trách có liên quan đến sức khỏe toàn dân, có sự hợp tác và hỗ trợ của ngành y tế
Như vậy, chăm sóc sức khỏe trẻ em là một hoạt động với nhiều nội dung, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, đòi hỏi phải có sự lồng ghép, phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng, đa ngành, trong đó trách nhiệm chính thuộc về ngành y tế
1.1.6 Thông điệp chăm sóc sức khỏe trẻ em
Dựa theo khái niệm thông điệp được đưa ra trong Cơ sở lý luận báo chí, thông điệp chăm sóc sức khỏe trẻ em có thể được định nghĩa là: nội dung thông tin liên quan đến các hoạt động tăng cường về dinh dưỡng, thể chất, tinh thần dành cho trẻ em để cơ thể của trẻ đạt đến trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội
1.1.7 Báo mạng điện tử
Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình
Trang 35thức một trang web, phát hành trên mạng internet, có ưu thế trong chuyển tải thông tin một cách nhanh chóng, tức thời, đa phương tiện và tương tác cao
1.1.8 Thông điệp chăm sóc sức khỏe trẻ em trên báo mạng điện tử
Thông điệp chăm sóc sức khỏe trẻ em trên báo mạng điện tử là việc các thông tin liên quan các hoạt động tăng cường về dinh dưỡng, thể chất, tinh thần dành cho trẻ em để cơ thể trẻ em đạt đến trạng thái hoàn toàn thoải mái
về thể chất, tâm thần và xã hội Các thông tin này được đăng tải trên một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức một trang web, phát hành trên mạng internet, có ưu thế trong chuyển tải thông tin một cách nhanh chóng, tức thời, đa phương tiện và tương tác cao
1.1.9 Quản lý thông điệp chăm sóc sức khỏe trẻ em
Quản lý thông điệp về chăm sóc sức khỏe trẻ em là một khâu trong chuỗi hoạt động nhằm mục đích thiết lập, duy trì thông điệp hai chiều, cải thiện nhận thức, hành vi của cộng đồng về các hoạt động liên quan đến chăm sóc sức khỏe trẻ em, truyền thông điệp về chăm sóc sức khỏe trẻ em tới cộng đồng hiệu quả Nội dung về chăm sóc sức khỏe trẻ em được đưa ra phải thuyết phục hiệu quả, tạo làn sóng ảnh hưởng của hoạt động, hành vi chăm sóc sức khỏe trẻ em tới công chúng Hiệu quả của việc quản lý thông điệp chăm sóc sức khỏe trẻ em được đo lường khi nhận thức về vai trò của công tác chăm sóc trẻ em được cộng đồng nhớ tới qua các hoạt động tuyên truyền giúp tăng mức độ nhận biết của cộng đồng đối với các hoạt động chăm sóc sức khỏe trẻ em
1.2 Cơ sở lý thuyết về quản lý thông điệp chăm sóc sức khỏe trẻ em trên báo mạng điện tử
1.2.1 Lý thuyết về quản lý
Trên thế giới, ở các lĩnh vực khác nhau, cách tiếp cận khác nhau, các nhà quản lý và nghiên cứu đưa ra nhiều cách định nghĩa khác nhau
Trang 36“Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức và điều khiển, phối hợp và kiểm tra” do tác giả Henry Fayol (184-1925) định nghĩa [68] Trong thuyết quản lý hành chính của mình, ông đưa ra 5 chức năng cần thiết của một người quản lý: dự báo và lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, điều khiển, phối hợp và kiểm tra Hoạt động quản lý xuất hiện bất kỳ nơi nào, lúc nào nếu
ở đó có hoạt động chung của con người nhằm điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người kết hợp cùng hoạt động riêng của từng cá nhân để tạo nên một hành động thống nhất tập thể, hướng đến mục tiêu đã định trước Hoạt động quản lý được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy nhằm đảm bảo
sự phục tùng và tạo sự thống nhất trong hoạt động của tập thể, hướng đến mục tiêu đã được định trước Hoạt động quản lý được thực hiện bằng tổ chức
và quyền uy nhằm đảm bảo sự phục tùng và tạo sự thống nhất trong hoạt động của tập thể [4, tr30]
Sự suy thoái hay thịnh vượng của một tổ chức, một quốc gia, thậm chí
là sự phát triển toàn cầu phụ thuộc phần lớn vào hiệu quả của hoạt động quản
lý Sức lao động, tri thức, nguồn vốn tài nguyên, năng lực quản lý là các yếu
tố ảnh hưởng đến sự phát triển xã hội, trong đó, năng lực quản lý là yếu tố tiên quyết sự phát triển của một quốc gia Năng lực quản lý là năng lực tổ chức, điều hành, kết hợp tri thức với việc sử dụng sử dụng nguồn vốn, tài nguyên thế nào để phát triển được xã hội Xã hội muốn phát triển thì các nhà quản lý cần có năng lực quản lý tốt Nếu buông lỏng hay việc quản lý không hiệu quả sẽ dẫn đến rối loạn xã hội, kìm hãm sự phát triển
Chủ thể quản lý nhà nước về báo chí
Chủ thể quản lý nhà nước về báo chí vừa bao gồm các cơ quan chuyên trách, vừa bao gồm các cơ quan quản lý hành chính nhà nước về báo chí, trong đó vai trò chính là các cơ quan được giao nhiệm vụ chuyên trách quản
lý nhà nước về báo chí
Trang 37Điều 7, Luật Báo chí năm 2016 chỉ rõ, Chính Phủ thống nhất quản lý nhà nước về báo chí và Bộ thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm trước Chính Phủ thực hiện quản lý Nhà nước về báo chí [116] Bộ Thông tin và Truyền thông có nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức thực hiện quy hoạch mạng lưới báo chí, các văn phòng đại điện cơ quan thường trú ở nước ngoài, đồng thời có nhiệm vụ quản lý các loại hình báo chí gồm báo in, báo hình, báo mạng điện tử, thông tấn và thông tin trên mạng Có thể thấy, chủ thể quản
lý nhà nước về báo chí thống nhất ở Trung ương và ở cấp Bộ, song khác nhau
về đối tượng, nội dung, phương pháp quản lý, nội dung thông điệp trên báo chí …trong đó Bộ Thông tin và Truyền thông trực tiếp quản lý nhà nước về báo chí
Trong Luật Báo chí có quy định, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về báo chí tại địa phương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình Ở cấp địa phương, Sở Thông tin và Truyền thông là
cơ quan quản lý báo chí Sở Thông tin và Truyền thông có nhiệm vụ xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển báo chí, kiểm tra việc thực hiện pháp luật, chính sách, chế độ về báo chí ở địa phương Thanh tra, phối hợp kiểm tra, xử lý vi phạm đối với các hoạt động báo chí theo quy định của pháp luật, của Đảng
Như vậy, chủ thể quản lý báo chí nói chung cao nhất là Chính Phủ quản
lý chung, Bộ Thông tin và Truyền thông quản lý báo chí ở Trung ương Đồng thời, các tỉnh có các cơ quan báo chí chịu sự quản lý của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Khách thể quản lý nhà nước về báo chí
Đối tượng quản lý báo chí là cơ quan, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực báo chí, các phóng viên, biên tập viên và cả các đội ngũ các chuyên gia nước ngoài được thuê để biên tập, biên dịch từ tiếng Việt ra tiếng nước ngoài
Trang 38Quản lý cơ quan báo chí:
Theo Quyết định số 2434/QĐ-TTg về việc Phê duyệt Quy hoạch, điều chỉnh báo in, tạp chí in, báo điện tử Cùng với việc quy hoạch phát triển báo chí ở Trung ương, quy hoạch và phát triển báo chí ở các địa phương cũng được chú trọng, nhấn mạnh vào tính hiệu quả trong việc tuyên truyền, thông tin về tình hình của địa phương ra nước ngoài
Từ đó có thể thấy việc quản lý các cơ quan báo chí hoạt động đảm bảo tính hiệu quả và đảm bảo đúng tôn chỉ, mục đích, tránh chạy theo xu hướng thương mại hóa Tăng cường việc dùng chung cơ sở hạ tầng, dữ liệu trong và ngoài nước để thực hiện các nhiệm vụ thông tin truyền thông, tiết kiệm, hiệu quả
Quản lý người làm báo chí:
Người làm báo không chỉ nắm vững về chuyên môn mà còn phải nắm vững quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Đồng thời, người làm báo phải có tư tưởng vững vàng, bởi phạm vi hoạt động của họ có thể ở trong nước và nước ngoài, dễ bị tác động bởi những tư tưởng tiêu cực Bên cạnh đó, để báo chí phục vụ tốt nhất cho độc giả, Chính phủ có chủ trương cho phép các cơ quan báo chí tăng cường hợp tác với các đối tác nước ngoài, đồng thời, mời các phóng viên báo chí nước ngoài vào Việt Nam làm phóng viên, biên tập viên
Quản lý nội dung thông tin trên báo:
Việc quản lý nội dung thông tin trên báo chí làm cho các bài viết phản ánh trung thực, có sức thuyết phục để người nước ngoài, người Việt Nam có cái nhìn đúng về các nội dung thông tin đăng tải Báo chí góp phần vào việc thông tin tuyên truyền về thành tựu phát triển của đất nước, về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các giá trị văn hóa của con người Việt Nam
Trang 39Bên cạnh đó, để có thể đưa tin kịp thời, phù hợp với nhu cầu độc giả, các cơ quan báo chí còn quản lý công tác dự báo, các hoạt động nghiên cứu khoa học, các bài viết, chuyên mục có sức thuyết phục không chỉ các vấn đề văn hóa xã hội mà còn các vấn đề tồn tại và nảy sinh trong quan hệ giữa Việt Nam và các nước khác
Sự bùng nổ của các hình thức truyền thông giúp các cơ quan báo chí có thể liên kết với các tập đoàn truyền thông, các tập đoàn công nghệ để đưa các nội dung thông tin trên nền tảng ứng dụng mới để cung cấp thông tin nhanh chóng, kịp thời và độc giả cũng dễ tiếp nhận Tuy nhiên, đi liền với tiện lợi, sự phối hợp cũng đưa lại những bất lợi Cho nên, không chỉ quản lý về nội dung thông tin mà còn quản lý việc phối hợp, liên kết giữa cơ quan báo chí và các đối tác
Nội dung quản lý nhà nước về báo chí
Nội dung quản lý nhà nước về báo chí là những công việc mà cơ quan quản lý nhà nước cần phải làm để đảm bảo báo chí thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, tôn chỉ, mục đích của mình, phục vụ lợi ích quốc gia- dân tộc Có 5 nội dung chính về quản lý nhà nước về báo chí như sau: xây dựng, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển báo chí, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về báo chí, xây dựng chế độ, chính sách
về báo chí, tổ chức thông tin và quản lý thông tin của báo chí Nhà nước quản
lý hoạt động tổ chức nội dung thông tin và đổi mới nội dung báo chí Cách tổ chức thông tin và đổi mới nội dung thông tin của báo chí là yêu cầu thiết yếu
để đáp ứng yêu cầu của độc giả cũng như sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông hiện đại Cuối cùng, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ người làm báo và cán bộ quản lý báo chí
Nhà nước quản lý việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ làm báo chí Sự ra đời của công nghệ truyền thông hiện
Trang 40đại và sự thay đổi của mô hình, phương thức hoạt động của báo chí đòi hỏi báo chí phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Trong tác nghiệp, các nhà báo cần phải đa kỹ năng để sử dụng các phương tiện, cách thức tác nghiệp
Do đó, đòi hỏi cần phải đổi mới nhanh chóng mô hình đào tạo nguồn nhân lực báo chí có tính chuyên nghiệp
Theo định hướng đó, để công tác đào tạo phát huy hiệu quả, các cơ sở đào tạo phải đổi mới chương trình, phương thức đào tạo, tăng cường đầu tư vào công nghệ truyền thông hiện đại và đi liền với yêu cầu này việc quản lý đào tạo, tăng cường đầu tư công nghệ truyền thông hiện đại đi liền với việc quản lý, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực đáp ứng theo chuẩn, tránh việc đào tạo tự phát, thiếu đồng bộ Một yếu tố quan trọng nữa là các cơ quan báo chí cần nâng cao trình độ chính trị, góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, nhất là đội ngũ những người làm báo ở nước ngoài Bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý cho đội ngũ cán bộ quản lý báo chí bởi đây là lực lượng tham gia vào việc đào tạo, chỉ đạo các hoạt động khai thác tin, tổ chức nội dung thông tin đến phát hành
và quan trọng nhất là thông tin phải đảm bảo tính trung thực, tính đảng
Phương thức quản lý nhà nước về báo chí
Hoạt động quản lý báo chí của Nhà nước diễn ra qua ba phương thức:
Thứ nhất, nhà nước quản lý báo chí thông qua các văn bản quy phạm
pháp luật
Thứ hai, Nhà nước quản lý báo chí thông qua các cơ quan quản lý nhà
nước về báo chí
Thứ ba, Nhà nước quản lý báo chí thông qua công tác thanh tra, kiểm
tra, giám sát hoạt động của báo chí
1.2.2 Lý thuyết về báo chí học
Thuật ngữ về truyền thông đại chúng xuất hiện lần đầu trong Lời nói
đầu của Hiến chương Liên Hiệp quốc về văn hóa, khoa học và giáo dục