HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN TRẦN THỊ NHUNG QUẢN LÝ NỘI DUNG VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT SẢN PHẨM TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN QUẢNG BÁ HÌNH ẢNH ĐỊA PHƯƠNG TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH VÀ CỔNG THÔN
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TRẦN THỊ NHUNG
QUẢN LÝ NỘI DUNG VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT SẢN PHẨM TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN QUẢNG BÁ HÌNH ẢNH ĐỊA PHƯƠNG TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH VÀ CỔNG THÔNG TIN
ĐIỆN TỬ TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
HÀ NỘI - 2021
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TRẦN THỊ NHUNG
QUẢN LÝ NỘI DUNG VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT SẢN PHẨM TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN QUẢNG BÁ HÌNH ẢNH ĐỊA PHƯƠNG TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH VÀ CỔNG THÔNG TIN
ĐIỆN TỬ TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản lý báo chí - Truyền thông
Mã số: 8 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS Nguyễn Ngọc Oanh
HÀ NỘI - 2021
Trang 3năm 2021
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS,TS Mai Đức Ngọc
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, do tôi thực
hiện dưới sự hướng dẫn của PGS,TS Nguyễn Ngọc Oanh (Học viện Báo chí
Trang 5Sau hai năm học tập và nghiên cứu chương trình cao học chuyên ngành Quản lý báo chí truyền thông tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh), đến nay tôi đã hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp
Để có được kết quả này, trước hết, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình tới PGS,TS Nguyễn Ngọc Oanh (Học viện Báo chí và Tuyên truyền), người trực tiếp tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi về phương pháp nghiên cứu và hoàn thiện luận văn; các giảng viên đã tham gia giảng dạy lớp Cao học Quản lý báo chí truyền thông khóa 25.2 Thái Nguyên - những người thầy đã cung cấp cho tôi nhiều kiến thức quý báu cả về lý luận
và thực tiễn Đặc biệt là các thầy, cô đã truyền lửa yêu nghề báo và quản lý báo chí trong tôi Sự nhiệt huyết và những kiến thức của các thầy, cô đã, đang
và sẽ giúp ích cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu, công tác hiện tại cũng như trong tương lai
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Đảng ủy, Ban Giám đốc, Ban biên tập, các đồng nghiệp tại Đài PT-TH Thái nguyên, Cổng Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên và lãnh đạo UBND tỉnh, lãnh đạo Văn phòng UBND tỉnh tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp tôi hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, ngày 19 tháng 11 năm 2021
TRẦN THỊ NHUNG
Trang 6BTV Biên tập viên
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 7MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀQUẢN LÝ NỘI DUNG VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT SẢN PHẨM TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN QUẢNG BÁ HÌNH ẢNH ĐỊA PHƯƠNG TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH VÀ Ở CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ 15
1.1 Một số khái niệm 15
1.2 Vai trò của quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện quảng bá hình ảnh địa phương trên sóng truyền hình và Cổng Thông tin điện tử 31
1.3 Chủ thể, đối tượng, nội dung, phương thức quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện quảng bá hình ảnh địa phương trên sóng truyền hình và cổng thông tin điện tử 36
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NỘI DUNG VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT SẢN PHẨM TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN QUẢNG BÁ HÌNH ẢNH ĐỊA PHƯƠNG TRIÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH VÀ CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH THÁI NGUYÊN 51
2.1 Giới thiệu chung về Đài PT-TH và Cổng thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên 51
2.2 Kết quả khảo sát thực trạng quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện quảng bá hình ảnh địa phương trên Đài PT-TH và Cổng Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên 56
2.3 Đánh giá chung 86
Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NỘI DUNG, TỔ CHỨC SẢN XUẤT SẢN PHẨM TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN QUẢNG BÁ HÌNH ẢNH ĐỊA PHƯƠNG TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH VÀ CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH THÁI NGUYÊN 95
3.1 Những vấn đề đặt ra đối với quản lý tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện trên sóng truyền hình và CổngThông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên 95
3.2 Giải pháp tăng cường quản lý tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiệnở Cổng Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên 100
3.3 Kiến nghị, đề xuất 115
KẾT LUẬN 119
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 122
PHỤ LỤC 126
TÓM TẮT LUẬN VĂN 139
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sau hơn 35 năm đổi mới đất nước, báo chí Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc Xu hướng báo chí đa phương tiện và hội tụ truyền thông đã được nhiều cơ quan báo chí thúc đẩy triển khai Phần lớn các cơ quan báo in có trang thông tin điện tử hoặc song hành ra báo điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam
có báo in VOV, Đài Truyền hình Việt Nam và nhiều đài Phát thanh - Truyền hình (PT-TH) địa phương có tạp chí riêng, đa số các đài đều có trang thông tin điện tử Sự pha trộn thông tin, nguyên lý một đầu vào nhiều đầu ra đang được các cơ quan báo chí tận dụng tối đa để đáp ứng cao nhất nhu cầu thông tin đa dạng của công chúng trong xã hội
Nắm được xu thế phát triển đa phương tiện, thời gian qua Đài PT-TH
và Cổng Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên đã chú trọng hơn tới sản xuất các sản phẩm truyền thông đa phương tiện nhằm quảng bá hình ảnh địa phương.Thực tế cho thấy, công tác quản lý, tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện quảng bá hình ảnh địa phương tại Thái Nguyên thời gian qua đã diễn ra theo một quy trình chặt chẽ, thống nhất từ ban biên tập tới các phóng viên Ban biên tập, các trưởng, phó phòng phòng/ban, biên tập viên, phóng viên và kỹ thuật viên, nhân viên đồ họa có sự gắn kết chặt chẽ trong công việc; công tác chỉ đạo xuyên suốt từ trên xuống dưới Các phóng viên chấp hành nghiêm túc chỉ đạo của các trưởng ban và ban biên tập trong
tổ chức sản xuất sản phẩm Vì thế, công việc tổ chức sản xuất luôn đảm bảo tiến độ, đáp ứng yêu cầu đặt ra của báo, đảm bảo tính thời sự, chính xác và nhu cầu thông tin của công chúng Sản phẩm truyền thông đa phương tiện trên Đài PT-TH tỉnh đã được lựa chọn những sự kiện có vấn đề để thực hiện vừa đáp ứng được tính thời sự, vừa mang lại nhiều cảm xúc cho công chúng, được công chúng đón nhận tích cực, phản hồi, tương tác nhiều Tập thể lãnh đạo cơ
Trang 9quan luôn có tư tưởng đổi mới, chịu đầu tư, áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ mới, tiến bộ vào hoạt động sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện, đã tạo ra những sản phẩm truyền thông mới mẻ, đa dạng, phong phú, với những thông tin đưa ra hữu ích cho công chúng Các cơ quanbáo chí của tỉnh đã nắm bắt được xu hướng đọc, xem, nghe của công chúng; đồng thời tận dụng khả năng nền tảng công nghệ để thay đổi phương thức chuyển tải thông tin thông qua sản xuất sản phẩm báo chí từ truyền thống sang sản xuất sản phẩm đa phương tiện, tích hợp để cung cấp thông tin một cách toàn diện đến công chúng, giúp công chúng như đang chứng kiến sự kiện, tự đánh giá, thẩm định, đưa ra ý kiến và bình luận của mình
Tuy đã có nhiều cố gắng, nhưng nhìn chung việc quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện quảng bá hình ảnh địa phương trên sóng truyền hình và Cổng Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên vẫn còn nhiều hạn chế Ngay trong các tin bài đa phương tiện trong loạt bài khảo sát ở Cổng thông tin điện tử tỉnh còn nhiều nội dung hạn chế, biên tập chưa kỹ, vẫn còn có những sản phẩm chất lượng kém mà vẫn cho lên trang Một số video nội dung text còn dài, hình ảnh chưa tốt, khuôn hình chưa phù hợp, bị rung, lắc, nhạc nền chưa phù hợp làm kéo chất lượng sản phẩm xuống
Có những clip quay bằng điện thoại di động nhưng không theo nguyên tắc xoay ngang máy mà để dựng máy nên hình ảnh khi xem trên máy vi tính không đầy khuôn hình, hơi tức mắt Việc Các báo sử dụng đồ họa/infographic
và radio còn ít, đặc biệt Cổng thông tin điện tử tỉnh chưa thực hiện được phương thức chuyển tải thông tin bằng chương trình radio
Số lượng các tác phẩm truyền thông đa phương tiện quảng bá hình ảnh địa phương trên sóng truyền hình và Cổng Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên chưa nhiều, chất lượng còn tương đối hạn chế Đặc biệt là việc quảng bá hình ảnh địa phương trên sóng truyền hình chưa được coi trọng Đặc biệt là việc tạo dựng bản sắc riêng cho từng tác phẩm, tổ chức các cuộc thi chưa nhiều
Trang 10Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó công tác quản
lý là một trong những nguyên nhân chính Việc quản lý trong một số thời điểm chưa thực sự chặt chẽ, phương thức quản lý chưa mang tính khoa học, bài bản đã dẫn tới các sản phẩm truyền thông đa phương tiện chưa thực sự thu hút công chúng Thực trạng này cho thấy, việc nghiên cứu về quản lý tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện ở Thái Nguyên là cần thiết và
cấp bách Do đó, tác giả chọn đề tài:“Quản lý nội dung và tổ chức sản xuất
sản phẩm truyền thông đa phương tiện quảng bá hình ảnh địa phương trên sóng truyền hình và Cổng Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên”làm Luận
văn Thạc sĩ, chuyên ngành Quản lý báo chí - truyền thông, với mong muốn có một cái nhìn khái quát, đầy đủ và toàn diện hơn về vai trò và giá trị thực tiễn của Đài truyền hình và Cổng Thông tin điện tử Từ đó có cách thức quản lý tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện ở Đài PT-TH và Cổng Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên một cách chặt chẽ; tạo kênh giao tiếp hữu hiệu giữa chính quyền với doanh nghiệp, với Nhân dân và cả cơ quan báo chí; đảm nhận tốt vai trò là cơ quan phát ngôn, cung cấp thông tin chính thống của chính quyền trên môi trường mạng; phục vụ việc chỉ đạo, điều hành của các cấp chính quyền tỉnh Thái Nguyên vvv…
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Qua nghiên cứu của tác giả, đề tài luận văn đã được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau bằng những công trình khoa học khác nhau như:
2.1 Các công trình nghiên cứu về quản lý
Tác giả Lưu Văn An trong cuốn Truyền thông đại chúng (TTĐC) trong
hệ thống tổ chức quyền lực chính trị ở các nước tư bản phát triển (2008), đã phân tích thực trạng hoạt động của TTĐC trong hệ thống tổ chức quyền lực chính trị ở ba nước Tư bản phát triển là Mỹ, Anh, Pháp và ý nghĩa những giá trị phù hợp đối với phát triển TTĐC ở Việt Nam Tác giả luận văn kế thừa được hệ thống khái niệm về truyền thông và TTĐC
Trang 11- Hoàng Quốc Bảo (chủ biên) (2010): Lãnh đạo và quản lý hoạt động
báo chí ở Việt Nam hiện nay, Nxb Lý luận chính trị Cuốn sách đã khái quát
quan điểm của Đảng về lãnh đạo và quản lý báo chí, cách thức tổ chức hoạt động của cơ quan báo chí và thực trạng hoạt động báo chí và lãnh đạo, quản
lý hoạt động báo chí trong sự nghiệp đổi mới đất nước Từ những nghiên cứu trên thực tiễn, cuốn sách đã đưa ra những vấn đề đặt ra đối với hoạt động báo chí và quản lý hoạt động báo chí ở nước ta hiện nay Như vậy cuốn sách đã cung cấp những kiến thức trong công tác lãnh đạo của Đảng và hoạt động quản lý báo chí nói chung trong sự nghiệp đổi mới đất nước chứ chưa đi sâu nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước (QLNN)
- Trịnh Thị Thanh (2017), Quản lý nhà nước về hoạt động báo chí ở
Quảng Ninh hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Luận văn đã làm rõ những vấn đề lý luận QLNN về hoạt động báo chí, nội dung và phương thức quản lý, cơ sở chính trị - pháp lý về quản lý hoạt động báo chí; khảo sát thực trạng, từ đó phân tích rõ những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân trong công tác QLNN về hoạt động báo chí ở Quảng Ninh thời gian qua; đề xuất những phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm tăng cường công tác QLNN về hoạt động báo chí ở tỉnh Quảng Ninh thời gian tới
- Vũ Xuân Dần (2019), Quản lý thông điệp truyền thông về huấn luyện
quân sự trên Báo Quân đội nhân dân (Khảo sát trên trang Quốc phòng - An
ninh, Báo Quân đội nhân dân năm 2018) - Luận văn thạc sĩ, Học viện Báo chí
và Tuyên truyền Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về quản lý thông điệp truyền thông về HLQS trên báo chí; đã làm rõ thực trạng quản lý thông điệp truyền thông về HLQS trên trang QP-AN Báo QĐND trong năm 2018 Luận văn cũng đã khái quát những vấn đề đặt ra và đề xuất, luận giải cơ sở khoa học của các giải pháp tăng cường quản lý thông điệp truyền thông về HLQS trên Báo QĐND trong những năm tới
- Bùi Thị Hồng Nhung (2019), Quản lý thông điệp về quân sự trên kênh
Trang 12truyền hình Quốc phòng Việt Nam hiện nay (Khảo sát từ tháng 6 năm 2017
đến tháng 6 năm 2018 trên Kênh truyền hình QPVN), Luận văn thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Ở luận văn tác giả đã triển khai những nhiệm
vụ sau: Thứ nhất: Hệ thống hóa, làm rõ những lý luận chung về quản lý thông điệp về quân sự (khái niệm, nội dung, phương thức, công cụ quản lý; vai trò của quản lý thông điệp quân sự trên truyền hình và tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động quản lý…) Thứ hai: Khảo sát thực trạng hoạt động quản lý thông điệp về Quân sự trên kênh QPVN, chỉ rõ kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế Thứ ba: Đề xuất giải pháp và kiến nghị phù hợp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động quản lý thông điệp về Quân sự trên kênh QPVN trong thời gian tới
- Triệu Thị Kim Cúc (2019), Quản lý thông điệp hình ảnh về người dân
tộc thiểu số trên báo mạng điện tử khu vực Tây bắc Việt Nam hiện nay (Khảo
sát các báo: baotuyenquang.com.vn, baolaichau.vn, baolaocai.vn, năm 2018), Luận văn thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Luận văn nghiên cứu các tài liệu lý luận báo chí nói chung và tài liệu lý luận về ảnh báo chí nói riêng để hệ thống hoá các vấn đề lý luận về ảnh, hiểu rõ thêm một số vấn đề
lý luận liên quan đến quản lý thông điệp hình ảnh trên báo mạng điện tử làm
cơ sở cho quá trình nghiên cứu, khảo sát Khảo sát thực trạng, phân tích, đánh giá thành công và hạn chế hoạt động quản lý nội dung và hình thức thông điệp hình ảnh về người dân tộc thiểu số trên ba tờ báo mạng điện tử baotuyenquang.com.vn; baolaichau.vn và baolaocai.vn trong năm 2018 Đề xuất những giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thông điệp hình ảnh về người dân tộc thiểu số trên báo mạng điện tử khu vực Tây Bắc Việt Nam hiện nay
- Lê Thị Minh Lệ (2019), Quản lý thông tin báo chí về bảo vệ chủ
quyền biển đảo Việt Nam (Khảo sát báo Biên phòng, Vnexpress.net, VTV4 từ tháng 6/2018 – 6/2019) Luận văn đã làm rõ thêm một số vấn đề lý luận và
Trang 13thực tiễn về báo chí và quản lý thông tin báo chí, vai trò quản lý thông tin báo chí về chủ quyền biển đảo Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý thông tin báo chí về bảo vệ quyền biển đảo ở Việt Nam thông qua khảo sát báo Biên phòng, Vnexpress.net, VTV4 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý thông tin báo chí về bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam trong thời gian tới
- Trương Văn Linh (2019), Quản lý báo chí ở tỉnh Bắc Kạn hiện nay
Luận văn cần phải thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, đó là: Làm rõ cơ sở lý luận hoạt động quản lý báo chí ở nước ta hiện nay Khảo sát thực trạng quản
lý hoạt động báo chí ở tỉnh Bắc Kạn hiện nay Đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm tăng cường quản lý hoạt động báo chí của tỉnh Bắc Kạn trong thời gian tới
- Nguyễn Đức Thuận (2020), Quản lý các cơ quan báo chí trong Tổng cục chính trịQuân đội nhân dân Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Trên cơ sở phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, khảo sát thực trạng Tổng cục chính trị quản lý các cơ quan báo chí, từ đó tác giả đã đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường công tác quản lý của Tổng cục chính trị đối với các cơ quan báo chí quân đội trong thời gian tới
- Lý Công Tự (2020), Vấn đề quản lý nhà nước về báo chí của tỉnh Quảng Ninh hiện nay, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Từ sự phân tích về lý luận và khảo sát, đánh giá tình hình báo chí tại Quảng Ninh và công tác quản lý Nhà nước về báo chí trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, tác giả luận văn đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của báo chí Quảng Ninh và tăng cường, phát huy vai trò quản lý Nhà nước về báo chí của tỉnh Quảng Ninh
2.2 Các công trình nghiên cứu về tổ chức sản xuất
- Tạ Văn Dương (2012), Tổ chức sản xuất chương trình chuyên đề ở
Đài Phát thanh - truyền hình địa phương, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Báo chí
Trang 14và Tuyên truyền Luận văn tập trung làm rõ một số vấn đề chung về truyền hình và chương trình chuyên đề trên sóng Đài Phát thanh - Truyền hình (PT-TH) địa phương; thực trạng tổ chức sản xuất các chương trình chuyên đề trên sóng truyền hình ở Đài PT-TH Bắc Giang và Đài PT-TH Bắc Ninh; một số giải pháp trong việc tổ chức sản xuất chương trình chuyên đề truyền hình ở các Đài PT-TH địa phương
- Đỗ Thị Phương Lan (2013),“Tổ chức sản xuất các chương trình
chuyên đề truyền hình của Đài Phát thanh - Truyền hình Yên Bái”, Luận văn
Thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Luận văn hệ thống hóa những vấn
đề cơ bản liên quan đến chuyên đề Truyền hình Khảo sát phân tích hiệu quả cũng như hạn chế của các chuyên đề truyền hình của Đài PT-TH Yên Bái Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức sản xuất các chương trình chuyên đề truyền hình của Đài PT-TH Yên Bái
- Gần đây nhất (năm 2016), trong đề tài cơ sở trọng điểm, PGS.TS Đỗ Thị Thu Hằng đã chủ nhiệm đề tài về “Quy trình tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông trong môi trường truyền thông số hiện nay” đã đề cập khá nhiều vấn đề liên quan đến: Lý luận chung về sản phẩm truyền thông và tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông trong môi trường truyền thông số hiện nay; quy trình và yêu cầu về kiến thức, kỹ năng trong tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông trong môi trường truyền thông số; quy trình tổ chức, sản xuất sản phẩm truyền thông in ấn; quy trình tổ chức, sản xuất sản phẩm truyền thông nghe nhìn; sử dụng các phần mềm ứng dụng trong thiết kế sản phẩm báo chí và sản phẩm truyền thông Đây là tài liệu quý giúp cho tác giả có cái nhìn bao quát
về quy trình tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông ở nhiều loại hình báo chí
- truyền thông; tham khảo trong quá trình đề xuất giải pháp để hoàn thiện việc quản lý tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện ở Đài PT-TH
và Cổng Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên
- Nguyễn Thu Ngân (2018), “Tổ chức sản xuất các chương trình
Trang 15chuyên đề ở một số Đài phát thanh - truyền hình địa phương hiện nay”, Luận
văn Thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Luận văn tập trung làm rõ lý thuyết chung về tổ chức sản xuất các chương trình chuyên đề; thực trạng hoạt động tổ chức sản xuất các chương trình chuyên đề ở một số Đài PT-TH Quảng Ninh; phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức sản xuất các chương trình chuyên đề ở một số Đài PT-TH địa phương
- Nguyễn Văn Trường (2018), “Tổ chức sản xuất chương trình thời sự
truyền hình ở Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội hiện nay”, Luận văn Thạc
sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Luận văn hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu; khảo sát thực tiễn, chỉ ra thực trạng việc
tổ chức sản xuất chương trình thời sự ở Đài PT-TH Hà Nội hiện nay, thành công, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trong công tác tổ chức sản xuất; từ đó đưa ra những giải pháp và kiến nghị phù hợp
2.3 Các công trình nghiên cứu về sản phẩm truyền thông đa phương tiện
Nghiên cứu về truyền thông đa phương tiện trên thế giới là hướng đi mới với nhiều công trình khoa học, nhiều bài nghiên cứu đã đề cập đến Trong đó, nổi bật là các nghiên cứu của các tác giả về hội tụ truyền thông
Nhà báo David Brewer, nhà tư vấn chiến lược truyền thông, người sáng lập và điều hành trang web Mediahelpingmedia đã khái quát về hội tụ truyền thông như sau: “Hội tụ truyền thông là một điều kiện tiên quyết cơ bản trong
cơ quan báo chí đa phương tiện Nó cung cấp một gói thông tin nhất quán về mặt nội dung cho bất cứ thiết bị đầu cuối nào được sử dụng để tiếp nhận thông tin đó”
Đặc biệt, trong cuốn “Báo chí hội tụ - cơ sở đưa tin của truyền thông đa phương tiện” xuất bản năm 2005, tác giả Stephen Quinn - nhà nghiên cứu truyền thông của Đại học Deakin Australia đã chỉ ra rằng, hội tụ truyền thông
có những ảnh hưởng cơ bản đến sự vận hành trong nội bộ của cơ quan báo chí, đặc biệt là sự phối hợp giữa cơ quan báo chí với nhà báo
Trang 16Tay Vaughan trong cuốn "Mutilmedia: Making it word" (Nxb McGraw-Hill Education Pvt Limited, Ấn Độ, 2006) thì hướng dẫn sử dụng văn bản, hình ảnh, âm thanh và video; thiết kế, tổ chức, sản xuất và các dự án
đa phương tiện, như CD-ROM, DVD và các trang web chuyên nghiệp Những kiến thức được chuyển tải trong quyển sách này rất bổ ích cho những người làm truyền thông sử dụng, kết hợp các yếu tố như: Văn bản, hình ảnh, âm thanh và video trong tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện trên báo chí - truyền thông nói chung, Cổng Thông tin điện tử các cơ quan nhà nước nói riêng
Ngoài ra, cũng có một số Luận văn nghiên cứu về truyền thông đa phương tiện theo hướng ứng dụng như: Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Kim Dung, năm 2009, bảo vệ tại Hội đồng Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn Hà Nội, nghiên cứu đề tài “Ứng dụng truyền thông đa phương tiện trong việc thể hiện tác phẩm báo chí”; Luận văn Thạc sĩ về: “Truyền thông đa phương tiện trên internet - xu thế của truyền thông hiện đại” của tác giả Nguyễn Xuân Hương Nghiên cứu Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Công Minh về: “Tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện ở Cổng Thông tin điện tử tỉnh Đồng Nai”, tác giả nhận thấy giữa Cổng Thông tin điện
tử tỉnh Thái Nguyên có những điểm tương đồng, do đều là tiếng nói của Đảng
bộ, chính quyền và Nhân dân Mặc dù quy mô, cách thức hoạt động có nhiều điểm khác nhau nhưng nội dung thông tin cơ bản giống nhau Đặc biệt, một
số giải pháp nhằm tăng cường ứng dụng truyền thông đa phương tiện trên Cổng Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên; đầu tư, đổi mới hệ thống cơ sở hạ tầng, hệ thống kỹ thuật; đào tạo đội ngũ phóng viên, biên tập viên và cộng tác viên đa phương tiện có thể tham khảo và vận dụng trong quá trình quản lý tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện ở Cổng Thông tin điện
tử tỉnh Thái Nguyên
2.4 Nghiên cứu về Cổng Thông tin điện tử
Dựa vào nguồn tư liệu tham khảo được và trong phạm vi quan tâm của
Trang 17đề tài, điểm lại lịch sử nghiên cứu Cổng Thông tin điện tử trong những năm gần đây, tác giả nhận thấy, tài liệu, công trình nghiên cứu về phương tiện truyền thông này rất ít trong việc nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống
về “Quản lý tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện ở Cổng Thông tin điện tử” các cơ quan nhà nước nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng Luận văn Thạc sĩ của Dương Phương Liên (2015): “Cổng Thông tin điện tử Chính phủ với nhiệm vụ thông tin hành chính điện tử từ tháng 01/2013 - tháng 4/2013” đã đưa ra hệ thống lý thuyết về Cổng Thông tin điện
tử Tuy nhiên, tác giả đi theo một hướng tiếp cận khác, chủ yếu khảo sát và đánh giá về phương thức thông tin hành chính điện tử Đề tài này sẽ xem xét dưới góc độ quản lý của một Cổng Thông tin điên tử với vai trò một công cụ, phương tiện truyền thông của cơ quan QLNN cấp tỉnh
Đặc biệt, Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Công Minh về: “Tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện ở Cổng Thông tin điện tử Đồng Nai” khảo sát từ tháng 6/2015 đến tháng 6/2017 đưa ra cách tiếp cận có ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn, dựa trên phương thức truyền thông đa phương tiện và hội tụ truyền thông nhằm vận dụng vào quá trình hoạt động, góp phần phát triển, nâng cao năng lực và tính hiệu quả của Cổng Thông tin điện tử Tuy nhiên, tác giả Nguyễn Công Minh chỉ nghiên cứu về tổ chức sản xuất mà chưa nghiên cứu vấn đề quản lý Câu hỏi còn lại là quản lý việc tổ chức sản xuất như thế nào cho phù hợp và hiệu quả thì chưa có câu trả lời Đó
là lý do đề tài này cần phải tiếp tục làm rõ
Vấn đề về truyền thông đa phương tiện, như đã đề cập ở phần trên thì nhiều sách, báo và công trình nghiên cứu đã đi sâu phân tích, mổ xẻ, làm rõ nhiều vấn đề rất đáng quan tâm về xu hướng truyền thông hội tụ và truyền thông đa phương tiện, việc ứng dụng các tính năng nổi trội của loại hình truyền thông số vào thực tiễn hoạt động của báo chí - truyền thông hiện nay vvv…
Như vậy có thể thấy, đề tài của tác giả đã được tiếp cận dưới nhiều
Trang 18nghiên cứu khác nhau, tuy nhiên chưa có công trình nào bàn luận trực tiếp về quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện quảng bá hình ảnh địa phương trên sóng truyền hình và Cổng Thông tin điện
tử tỉnh Thái Nguyên Do vậy, đề tài nghiên cứu của tác giả có tính mới, không trùng lặp với các công trình công bố trước đó
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về quản lý nội dung và
tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện quảng bá hình ảnh địa phương trên sóng truyền hình và Cổng Thông tin điện tử tỉnh, tác giả khảo sát, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp tăng cường quản lý nội dung và
tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện quảng bá hình ảnh địa phương trên sóng truyền hình và Cổng Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, hệ thống một số vấn đề lý luận về quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện trên sóng truyền hình và Cổng Thông tin điện tử tỉnh như khái niệm, vai trò, chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp quản lý
Thứ hai, khảo sát, phân tích thực trạng hoạt động, chỉ ra những mặt thành công và hạn chế trong quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện trên sóng truyền hình và Cổng Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên, chỉ rõ ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân
Thứ ba, đánh giá những vấn đề đặt ra và đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện ở Cổng Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên theo hướng khoa học, hợp lý hơn, nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc hiện nay; định hướng cho loại hình truyền thông này hoạt động hiệu quả hơn trong thời gian tới
Trang 194 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Quản lý nội dung tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện trên sóng truyền hìnhvà Cổng Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian:Năm 2020
Phạm vi khảo sát:
- Cổng Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên
- Đài Phát thanh -Truyền hình Thái Nguyên
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của đề tài là Chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, lý thuyết về báo chí, quản lý báo chí truyền thông
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những nhiệm vụ khoa học đề tài đặt ra, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tiến hành tra cứu sách, các tài liệu
có liên quan đến đề tài nhằm hệ thống hóa, xây dựng khung lý thuyết, làm cơ
sở lý luận để phục vụ cho mục đích nghiên cứu đề tài
- Phương pháp thống kê, phân tích: Phương pháp này dùng để thống kê các số liệu thu được trong quá trình khảo sát để từ đó có những phân tích nhận định phù hợp với kết quả thu được một cách khoa học nhất
- Phương pháp quan sát: Sử dụng phương pháp này, giúp chúng tôi nắm bắt quy trình làm việc của các phóng viên, biên tập viên và kỹ thuật viên
để có được những nhận xét khách quan nhất về quy trình tác nghiệp của họ
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Ngoài việc thống kê, so sánh, phân tích
Trang 20để có được những con số cụ thể, mang tính định lượng, trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi phỏng vấn sâu những người có trách nhiệm, những người có liên quan, đồng nghiệp báo chí, công chúng đến quá trình quản lý và
tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện ở Đài PT-TH và Cổng Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên, công chúng xem truyền hình để việc nghiên cứu mang lại hiệu quả cao nhất
6 Đóng góp mới của đề tài
- Bổ sung các vấn đề lý luận và thực tiễn về Đài PT-TH và Cổng Thông tin điện tử, một loại hình truyền thông chính phủ cấp tỉnh, thành phố
- Các vấn đề về lý luận và thực tiễn của việc quảng bá hình ảnh địa phương qua sóng truyền hình và Cổng Thông tin điện tử
- Nghiên cứu thực tiễn và nêu ra được các bài học kinh nghiệm
- Đồng thời, đưa ra những kiến nghị và đề xuất phát huy tính tích cực
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng trong thực tế Luận văn là cơ
sở kiểm chứng, đồng thời đánh giá lại quá trình quản lý tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện, nhất là các tác phẩm truyền hình ở Đài PT-TH và Cổng Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên; giúp các cơ quan QLNN, cơ quan chủ quản và những người trực tiếp điều hành tham khảo trong quá trình xây dựng, hoạch định chiến lược phát triển loại hình truyền
Trang 21thông còn mới mẻ này Đây là tài liệu tham khảo hữu ích cho những người đang học tập, nghiên cứu và tác nghiệp trên lĩnh vực Báo chí - Truyền thông
mà cụ thể là hoạt động ở Cổng Thông tin điện tử các các cơ quan nhà nước
8 Kết cấu của Luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục tóm tắt luận văn, danh mục bảng biểu, danh mục các chữ viết tắt, nội dung Luận văn gồm 3 chương
Trang 22Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀQUẢN LÝ
NỘI DUNG VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT SẢN PHẨM TRUYỀN THÔNG
ĐA PHƯƠNG TIỆN QUẢNG BÁ HÌNH ẢNH ĐỊA PHƯƠNG TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH VÀ Ở CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Quản lý
Trong đời sống xã hội, quản lý xuất hiện khi có hoạt động chung của con người Quản lý điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân tạo thành hoạt động chung thống nhất của tập thể hướng tới mục tiêu đã định trước Trong Từ điển tiếng Việt, quản lý là “trông nom, coi giữ” là “trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [45, tr.303] Theo khái niệm này thì quản lý là chức năng vốn có của mọi tổ chức, mọi hành động của các cá nhân, các bộ phận trong tổ chức có sự
điều khiển từ trung tâm, nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ chức
Xã hội ngày càng phát triển con người đúc rút thêm nhiều kinh nghiệm mang tính quy luật để áp dụng vào thực tiễn cuộc sống, trong đó có hoạt động quản lý Trong xã hội hiện tại hoạt động quản lý dựa trên những cơ sở khoa học và kinh nghiệm thực tiễn để con người đúc rút thành khoa học quản lý
Trong cuốn “Tài liệu bồi dưỡng về quản lý nhà nước”, các tác giả cho
rằng: “Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra
những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt được những mục đích cụ thể” [31, tr.14-15] hoặc “làmột tiến trình bao gồm tất cả các khâu: Lập kế hoạch, phân công, điều khiển và kiểm soát các nỗ lực của cá nhân, bộ phận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác của các tổ chức để đạt được mục tiêu đã đề ra” [31, tr.155].Định
Trang 23nghĩa này có thể hiểu,về công việc, quy trình của hoạt động quản lý; hoạt động quản lý có tổ chức và có kế hoạch cụ thể mới có thể đạt được những
mục đích đặt ra Quan điểm khác lại cho rằng, “quản lý là sự tác động của
chủ thể vào khách thể quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức” [31, tr.88] Định nghĩa này tập trung nói về các nhóm đối tượng trong
quản lý và mục đích của việc quản lý
Từ những cách tiếp cận trên, có thể thấy quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định, thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận là chủ thể quản lý và khách thể quản lý Đó chính là mối quan hệ ra lệnh
- phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc Trong nội dung quản lý, có thể xem xét phương pháp, quy trình, nguyên tắc quản lý tùy theo nhu cầu cần nhận thức và hoạt động thực tiễn
Như vậy, quản lý là một yếu tố khách quan của mọi quá trình lao động
xã hội, bất kể dưới hình thái xã hội nào, quản lý cần thiết đối với mọi lĩnh vực hoạt động trong xã hội, là một yếu tố quan trọng và quyết định nhất đến sự phát triển của mỗi tổ chức, mỗi quốc gia Nếu xét quản lý dưới tư cách là một hoạt động, có thể hiểu quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra Xét ở góc
độ chung nhất có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản
lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan Với cách hiểu này thì quản lý có những đặc điểm chính: Là một hoạt động nhằm hướng tới mục tiêu đã định; thể hiện thông qua mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý và là mối quan hệ mang tính quyền uy; là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan; nếu xét về mặt công nghệ thì đó là sự vận động của thông tin
Từ những quan niệm trên chúng ta có thể rút ra khái niệm chung nhất
Trang 24về quản lý như sau: Quản lý là sự tác động có tổ chức có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu đã đặt ra trong môi trường luôn biến động Như vậy quá trình quản lý được thực hiện thông qua hai đối tượng nhất định: Chủ thể quản lý (đưa ra quyết định quản lý) và khách thể quản lý (chịu
sự tác động những quyết định của chủ thể quản lý)
1.1.2 Quản lý nội dung
Theo cuốn Phương thức quản lý (2009), Bộ Thông tin và truyền thông - Đại sứ quán Thụy Điển tại Việt Nam: “Là một nhà lãnh đạo quản lý báo chí,
dù ở bất kỳ cấp bậc nào, bạn cũng phải xử lý những rắc rối chung Trên hết, bạn luôn phải hành động thận trọng vớitính hai mặt của báo chí: Báo chí là sản phẩm, nhưng báo chí có độc giả mục tiêu phục vụ thông tin”
Theo từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê, khái niệm nội dung như sau: “Nội
dung là mặt bên trong của sự vật, cái được hình thức chứa đựng hoặc biểu hiện”[45, tr.766]
Vậy ta có thể hiểu, “Quản lý nội dung là hoạt động có mục đích, có tổ
chức của chủ thể tác động vào nội dung bằng các phương thức, biện pháp nhất định nhằm điều khiển, dẫn dắt nội dung, duy trì ổn định và phát triển để đạt được hiệu quả cao nhất mục tiêu quản lý”
Theo tác giả Hà Huy Phượng trong cuốn Tổ chức nội dung thết kế,
trình bày báo in có đề cập đến “Tổ chức nội dung báo và tạp chí là việc lập kế
hoạch nội dung từng số báo, trang báo, tạp chí sắp xuất bản, tổ chức thực hiện
để đạt được mục đích mục tiêu và đáp ứng nhu cầu tiếp nhận thông tin của
Trang 25công chúng mà cơ quan báo chí đó hướng đến” [46, tr 2]
Vậy, Tổ chức là “một trạng thái có trật tự trong hoạt động phối hợp, hoạt động liên hiệp, hoạt động tập thể của con người” hoặc “Tổ chức là làm thành một chỉnh thể, một cấu trúc với những chức năng nhất định hoặc làm những gì cần thiết để tiến hành một hoạt động nào đó nhằm đạt hiệu quả tốt nhất”
Tổ chức còn có thể hiểu là cách sắp xếp những gì liên quan với nhau thành một hệ thống và dựa trên một quy chế nhất định Nói tới tổ chức có nghĩa là nói tới các mối liên hệ và phương thức, cách thức tạo ra mối liên hệ
Khi xác định được cơ cấu, guồng máy của hệ thống, xác định được những công việc phù hợp với từng nhóm và mối liên hệ giữa các bộ phận sản xuất, người nắm vai trò tổ chức sẽ trực tiếp thực hiện việc điều phối, triển khai, giám sát toàn bộ quy trình sản xuất với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn nhất định
Sản xuất là hoạt động cơ bản nhất trong tất cả các hoạt động của con
người, là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Sản xuất là việc sử dụng sức lao động gồm trí lực và thể lực thông qua phương thức sản xuất tác động vào đối tượng để biến đổi nó thành sản phẩm vật chất và tinh thần nhằm phục vụ nhu cầu của con người, cho xã hội, “tạo ra của cải vật chất hoặc hoạt động sản xuất tạo ra vật phẩm cho xã hội bằng cách dùng tư liệu tác động vào đối tượng lao động”
Theo cách tiếp cận của Marx - Lenin, hai mặt của nền sản xuất gồm có: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Trong đó lực lượng sản xuất gồm người lao động và tư liệu sản xuất (con người giữ vai trò quyết định), còn quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất Đây là hai mặt có mối quan hệ biện chứng với nhau
Như vậy: “Tổ chức” là làm cho thành một chỉnh thể có một cấu tạo và
cấu trúc với những chức năng nhất định
Sản xuất” là tạo ra của cải vật chất
Trang 26Có thể hiểu, tổ chức sản xuất là tập hợp các nhóm người, các phương thức, cách thức tốt nhất, phù hợp nhất và sử dụng sức lao động (chân tay, trí óc) với các tư liệu sản xuất hiện có (phương tiện, máy móc, trang thiết bị) để sản xuất ra một sản phẩm đạt hiệu quả cao nhất theo đúng các kế hoạch sản xuất đã định ra
Thực chất của việc tổ chức sản xuất chính là phân chia quá trình sản xuất phức tạp thành những quá trình thành phần (các công đoạn cụ thể) với yêu cầu về con người, phương tiện hỗ trợ phù hợp Đồng thời, kết hợp hài hòa giữa các bộ phận tham gia sản xuất sao cho nhịp nhàng để đạt được hiệu quả cao nhất
1.1.4 Sản phẩm truyền thông đa phương tiện
Truyền thông
Truyền thông ra đời, phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của xã hội loài người Thông qua các tín hiệu, âm thanh, tiếng nói và chữ viết, qua đó mỗi cá thể xã hội loài người giao lưu được với nhau, hiểu biết nhau hơn, gắn
bó, liên kết với nhau và thúc đẩy xã hội phát triển
Theo tiếng La-tinh, truyền thông (communicare) có nghĩa là biến nó thành thông thường (hay thực tế), chia sẻ, truyền tải thành cái chung Truyền thông được mô tả như việc truyền ý nghĩ, thông tin, ý tưởng, ý kiến hoặc kiến thức từ một người/ một nhóm người sang một người/ hoặc một nhóm người khác bằng lời nói, hình ảnh, văn bản hoặc các loại ký hiệu khác [15, tr.15]
Dưới góc độ tiếp cận của xã hội học báo chí, “Truyền thông là quá trình truyền đạt, tiếp nhận và trao đổi thông tin, nhằm thiết lập các mối quan hệ giữa con người với con người” [17, tr.2]
Dưới góc độ cấu trúc, Bess Sodel cho rằng, truyền thông là một quá trình chuyển đổi từ một tình huống đã có cấu trúc như một tổng thể sang tình huống khác theo một thiết kế có chủ đích
Còn dưới góc độ lý luận báo chí, tác giả Nguyễn Văn Dững cho rằng:
Trang 27“Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm , chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người với nhau nhằm mở rộng hiểu biết, nâng cao nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm và của cộng đồng xã hội nói chung, đảm bảo sự phát triển bền vững” [14, tr.14-15]
Trong cuốn Truyền thông- lý thuyết và kỹ năng cơ bản, các tác giả Nguyễn Văn Dững (chủ biên)- Đỗ Thị Thu Hằng đã trích một số định nghĩa của các tác giả nước ngoài để hiểu rõ thêm về truyền thông, như:
Theo John R Hober (1954), truyền thông là quá trình trao đổi tư duy hoặc ý tưởng bằng lời
Martin P Adelsm thì cho rằng, truyền thông là quá trình liên tục, qua
đó chúng ta hiểu được người khác và làm cho người khác hiểu được chúng ta
Đó là một quá trình luôn thay đổi, biến đổi, biến chuyển và ứng phó với tình huống
Theo Gerald Miler (1966), về cơ bản, truyền thông quan tâm nhất đến tình huống hành vi, trong đó nguồn thông tin truyền nội dung đến cho người nhận với mục đích tác động đến hành vi của họ [24, tr.11-12]
Từ các quan niệm nêu trên đây và thực tiễn phát triển của truyền thông,
có thể hiểu: Truyền thông là quá trình trao đổi thông tin, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm một cách liên tục giữa hai hoặc nhiều người nhằm mở rộng hiểu biết, nâng cao nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm và của cộng đồng xã hội nói chung
Đa phương tiện
Đa phương tiện (Multimedia) là một thuật ngữ trong tiếng Anh, xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ XX Lần đầu tiên cụm từ này được sử dụng để miêu tả một buổi trình diễn có sự kết hợp của nhạc rock, chiếu bóng, ánh sáng
và trình diễn nghệ thuật, có tên là “Exploding Plastic Inevitable” [24, tr.124] Dần dần, cụm từ này được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sống
Trang 28xã hội như: các chương trình biểu diễn văn hóa, nghệ thuật, báo chí truyền thông Đặc biệt, từ năm 1991, khi World Wide Web chính thức ra đời, đánh dấu bước ngoặt quan trọng của lịch sử hình thành internet toàn cầu, thì tính đa phương tiện càng thể hiện rõ nét và phát triển nhanh chóng Đến nay, thuật ngữ đa phương tiện đã xuất hiện thường xuyên trong đời sống xã hội Có nhiều định nghĩa về đa phương tiện, song nhìn chung đều có điểm chung nhất
là đa phương tiện sử dụng tích hợp các tài liệu văn bản, hình ảnh tĩnh, hình ảnh động, đồ họa, âm thanh, video,
Tác giả Nguyễn Văn Dững cho rằng: Multimedia được hiểu là đa phương tiện; đa truyền thông hay truyền thông đa phương tiện (phương pháp giới thiệu thông tin bằng máy tính, sử dụng nhiều phương tiện truyền tải thông tin (như) văn bản, đồ họa và âm thanh, hình ảnh, cùng với khả năng gây ấn tượng bằng tương tác) [17, tr.89]
Nhóm tác giả Lê Đắc Nhường- Nguyễn Gia Như cho rằng, “Đa phương tiện (Multimedia): Là dạng tích hợp của văn bản, âm thanh (voice), hình ảnh (picture), phim (video) trong một môi trường thông tin số Đa phương tiện có nhiều loại với những phương tiện biểu diễn khác nhau như: radio, vô tuyến, quảng cáo, phim, ảnh [24, tr.223]
Như vậy, hiểu một cách chung nhất, đa phương tiện là khả năng kết hợp nhiều loại hình phương tiện như văn bản (text), hình ảnh tĩnh, hình ảnh động, audio, video để chuyển tải thông điệp một cách hiệu quả đến đối tượng tiếp nhận
Truyền thông đa phương tiện
Truyền thông đa phương tiện (Multimedia communication) là thuật ngữ mới được xuất hiện trong thời gian hơn 10 năm lại đây, khi mà công nghệ thông tin, mạng internet toàn cầu phát triển
Multimedia được hiểu là đa phương tiện; đa truyền thông hay truyền thông đa phương tiện Multimedia cho phép kết hợp các loại hình truyền
Trang 29thông trong việc chuyển tải thông điệp, nhằm gây chú ý, hấp dẫn và thuyết phục công chúng [30, tr.167]
Định nghĩa của Tony Cawkell trong cuốn Multimedia Handbook (Sổ tay Đa phương tiện): Truyền thông đa phương tiện là quá trình xử lý và thể hiện thông tin dưới hai hoặc nhiều dạng truyền thông (media) [30]
Một góc nhìn khác, trong bài tham luận “Sáu vấn đề về báo chí đa phương tiện” tại Hội thảo khoa học Bồi dưỡng các kỹ năng cho người làm báo đa phương tiện, TS Hà Huy Phượng cho rằng: Trong truyền thông đa phương tiện, nội dung và thông điệp đưa ra được biểu đạt bằng sự tích hợp đa ngôn ngữ như: Văn bản (text), hình ảnh tĩnh (image still, picture, graphic), hình ảnh động (amimation, video), âm thanh (audio), và các chương trình tương tác (interaction) để phù hợp với từng loại hình và kênh chuyển tải khác nhau[tr.12]
Truyền thông đa phương tiện (Multimedia Communication) là tập hợp các công nghệ, kỹ thuật, giao thức mã hóa, xử lý tín hiệu, âm thanh, hình ảnh, video để phục vụ quá trình truyền thông qua mạng máy tính
Qua các định nghĩa nêu trên, có thể hiểu khái quát: Truyền thông đa phương tiện là một dạng truyền thông tin từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận bằng nhiều cách thức như: Văn bản (text), hình ảnh tĩnh (image still, picture, graphic), hình ảnh động (amimation, video), âm thanh (audio) và tương tác với công chúng thông qua môi trường mạng internet
Sản phẩm truyền thông đa phương tiện, trước hết là sản phẩm truyền
thông hoàn chỉnh về nội dung cũng như hình thức, chuyển tải nội dung thông tin có kết hợp dạng văn bản (text), hình ảnh tĩnh, hình ảnh động, đồ họa, video, clip, radio , ít nhất từ 2 đến 3 cách thức truyền tải trở lên, dựa trên nền tảng mạng internet
*Văn bản (text):
Văn bản là dạng chữ viết dưới dạng ký tự để chuyển tải thông tin đến
Trang 30bạn đọc Bản thân nó còn có khả năng truyền tải đầy đủ và trọn vẹn những nội dung thông điệp Nó thường dùng để thể hiện nội dung chính dẫn dắt bài báo
và được kết hợp với hình ảnh tĩnh, đồ họa để tăng tính hấp dẫn, chân thực của thông tin Ngoài ra, văn bản còn được dùng để chú thích, bổ trợ, cung cấp làm
rõ nội dung cho các đoạn video, đồ họa [20, tr.123]
*Hình ảnh tĩnh (Still image):
Hình ảnh tĩnh bao gồm ảnh chụp và hình họa, được thực hiện một cách
tự nhiên hoặc sắp đặt theo ý đồ của người thực hiện Hình ảnh tĩnh được sử dụng phổ biến và có vai trò hết sức quan trọng vào thành công của sản phẩm truyền thông nói chung và sản phẩm báo mạng điện tử nói riêng Nó giúp cho người tiếp nhận thông tin dễ hiểu, dễ nhận biết và tạo được cảm xúc mạnh
*Hình ảnh động:
Hình ảnh động là chuỗi hình ảnh theo hình thức trình diễn ảnh (slideshow) hoặc hình hoạt họa (animation) được sắp xếp theo một ý đồ nhất định nhằm diễn đạt những nội dung thông tin của thông điệp truyền thông hay của tác phẩm báo chí “Trong slideshow có audio slideshow (trình chiếu ảnh kết hợp âm thanh) Đây là hình thức sử dụng âm thanh lồng vào slideshow, tích hợp các yếu tố như hình ảnh, âm thanh và text, trong đó hình ảnh và âm thanh là 2 yếu tố chính của một audio slideshow” [30, tr.57-58]
*Đồ họa:
Đồ họa thông tin (Inforgraphic) là việc sử dụng dữ liệu, hình ảnh để trình bày tạo thành hình vẽ với số liệu thống kê cụ thể, rõ ràng để bạn đọc dễ dàng theo dõi, hiểu biết nội dung thông tin Hay nói cách khác “đồ họa là những hình được vẽ, thiết kế bằng các chương trình phần mềm đồ họa ứng dụng trên máy vi tính để mô tả, minh họa cho những chi tiết, ý tưởng nào đó
Sự kết hợp giữa hình khối và màu sắc trong đồ họa đã tạo ra những hình ảnh, không gian có chiều sâu” [30, tr.129]
* Âm thanh (Audio):
Trang 31Âm thanh là các dao độngcơ học (biến đổi vị trí qua lại) của các phân
tử, nguyên tử hay các hạt làm nên vật chất và lan truyền trong vật chất như các sóng Âm thanh, giống như nhiều sóng, được đặc trưng bởi tần số, bước sóng, chu kỳ, biên độ và vận tốc lan truyền (tốc độ âm thanh) [30]
Âm thanh là một trong những yếu tố đa phương tiện trên báo mạng điện tử có tác dụng tạo nên sự gần gũi hơn với người tiếp nhận thông tin bởi
có sự xuất hiện của tiếng nói trong các sản phẩm báo chí Các tập tin âm thanh còn làm tăng sức thuyết phục, tính chính xác của báo mạng điện tử [30, tr.64]
*Video:
Video là dạng hình ảnh nối tiếp nhau (thường là 24 hình/giây) ghi lại hoạt động của con người, và hoạt động, hình ảnh khác trong đời sống xã hội Video là phương tiện tốt nhất để miêu tả hình ảnh động, mang đến cho công chúng nội dung chính của sự kiện, tác phẩm chân thực, hấp dẫn, có tác động mạnh đến công chúng
Video sử dụng trên báo mạng điện tử gồm các hình thức: Video minh hoạ cho bài viết, video dành riêng cho web, các chương trình video phát lại từ các đài truyền hình và các chương trình video theo yêu cầu [30, tr.140]
Như vậy, phương thức tổ chức, quản lý sản xuất sản phẩm truyền thông
đa phương tiện là cách thức và phương pháp tổ chức, quản lý của cơ quan báo chí truyền thông trong việc hoạch định kế hoạch, triển khai cho đội ngũ phóng viên, cộng tác viên, biên tập viên, kỹ thuật viên, kết hợp với máy móc, công nghệ, mạng internet thực hiện sản phẩm truyền thông tích hợp nhiều phương thức chuyển tải thông tin như văn bản (text), hình ảnh, video, audio, đồ họa
Trang 32Theo từ điển tiếng Việt, “Quảng bá” có nghĩa là phổ biện rộng rãi bằng các phương tiện thông tin
Theo cuốn sách “PR - Kiến thức cơ bản và Đạo đức nghề nghiệp” của
TS Đinh Thị Thúy Hằng - Khoa Quan hệ công chúng, Học viện Báo chí và
tuyên truyền, khái niệm “Quảng bá” được định nghĩa là “hoạt động được thiết
kế nhằm tạo ra và kích thích sự quan tâm vào một cá nhân, một sản phẩm, một tổ chức hoặc một vấn đề gì đó”
“Hình ảnh” trong tiếng Anh là Imagine, một từ có nguồn gốc Latinh là Imago có nghĩa là mô phỏng, phỏng theo
Hình ảnh được chia thành 3 nhóm, tùy thuộc vào các yếu tố kết hợp, là hình ảnh tự thân, hình ảnh được tiếp nhận, hình ảnh được đòi hỏi Hình ảnh tự thân là hình ảnh có sẵn của bản thân chủ thể hoặc của các đối tượng xuất phát
từ những kinh nghiệm trước đó và phản ánh trạng thái tự nhiên Hình ảnh được tiếp nhận là những hình ảnh của một người nhận thấy từ đối tượng khác Hình ảnh được đòi hỏi là những hình ảnh nói lên đặc trưng riêng của các đối tượng sự kiện
1.1.6 Truyền hình
Hiện nay có nhiều khái niệm, quan niệm về truyền hình Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia "Truyền hình là loại hình báo chí truyền tải nội dung chủ yếu bằng hình ảnh sống động và các phương tiện biểu đạt khác như lời, chữ, ảnh, âm thanh "
Theo Giáo trình báo chí truyền hình của PGS.TS Dương Xuân Sơn:
“Truyền hình là một loại hình truyền thông đại chúng chuyển tải thông tinbằng hình ảnh và âm thanh về một vật thể hoặc một cảnh đi xa bằng sóng
vô tuyến điện” Thuật ngữ truyền hình (Television) có nguồn gốc từ tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp Theo tiếng Hy Lạp, từ “Tele” có nghĩa là ở xa còn
“videre” là “thấy được”, còn tiếng Latinh nghĩa là xem được từ xa Ghép hai
từ đó lại thành “Televidere” có nghĩa là xem được ở xa Tiếng Anh là
Trang 33“Television”, tiếng Pháp là “Télévision”… Như vậy, dù phát triển ở bất cứ đâu, ở quốc gia nào thì tên gọi truyền hình cũng có chung một nghĩa là nhìn được từ xa
PGS.TS Tạ Ngọc Tấn trong cuốn Truyền thông đại chúng nêu: “Truyền hình là một loại hình phương tiện truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh Nguyên nghĩa của thuật ngữ vô tuyến truyền hình (television) bắt đầu từ hai từ tele có nghĩa là “ở xa” và vision là
“thấy được”, tức là “thấy được ở xa”
Như vậy, nguyên nghĩa gốc của từ truyền hình đều chung nghĩa là thấy được ở xa Nếu xem xét truyền hình dưới góc độ kỹ thuật thì nó là hệ thống cho phép truyền hình ảnh và âm thanh tương ứng từ trạm phát đến người xem
ở một khoảng cách nhất định Phương thức truyền dẫn là sử dụng khả năng truyền lan của sóng điện từ trong môi trường xác định Môi trường ở đây có thể là không gian, bề mặt kim loại Khi truyền ra không gian thì người ta gọi là sóng vô tuyến Khi được truyền trên bề mặt của dây dẫn bằng kim loại thì gọi là hữu tuyến Thế mạnh của truyền hình là khả năng tích hợp trong nó hầu hết các loại thông tin từ báo in, phát thanh, điện ảnh Sự kết hợp hài hoà giữa hình ảnh và âm thanh, tạo ra cho nó khả năng truyền tải thông tin vô cùng phong phú, có sức hấp dẫn đặc biệt nhờ việc tạo sự giao tiếp với con người bằng cả thị giác và thính giác
Nói về điều này PGS-TS Tạ Ngọc Tấn viết: Thông tin truyền hình tái hiện cuộc sống hiện thực trong trạng thái sống Nghĩa là truyền hình có thể
là một phạm vi, một bộ phận nguyên dạng của những gì đang diễn ra ngoài đời nhưng nó được cho là rõ hơn, đẹp hơn Người xem truyền hình có cảm giác như họ có mặt, trực tiếp chứng kiến hay đang tham gia vào những sự kiện thực tế đó Tuy nhiên, truyền hình vẫn có những hạn chế nhất định, đó
là tín hiệu hình ảnh động và âm thanh được truyền theo tuyến tính, người tiếp nhận thông tin hầu như tập trung toàn bộ các giác quan vào những gì
Trang 34diễn ra trên màn hình, làm hạn chế khả năng tiếp nhận thông tin truyền hình với các hoạt động khác của con người Mặt khác về mặt thiết bị cũng đòi hỏi công chúng phải có sự đầu tư tương đối lớn mới có thể tiếp cận được với truyền hình
Ở thập kỉ 50 của thế kỉ XX, truyền hình chỉ được sử dụng như là công
cụ giải trí, rồi thêm chức năng thông tin Dần dần truyền hình đã trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý và giám sát xã hội, tạo lập và định hướng dư luận, giáo dục và phổ biến kiến thức, phát triển văn hóa, quảng cáo và các dịch vụ khác Sự ra đời của truyền hình đã góp phần làm cho hệ thống truyền thông đại chúng càng thêm hùng mạnh, không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng về chất lượng Công chúng của truyền hình ngày càng đông đảo trên khắp hành tinh Với những ưu thế về kỹ thuật và công nghệ truyền hình đã làm cho cuộc sống như được cô đọng lại làm giàu thêm ý nghĩa, sáng tỏ hơn
về hình thức và phong phú hơn về nội dung
Xét theo góc độ kỹ thuật truyền tải có truyền hình sóng (wireless TV)
và truyền hình cáp (CATV) Xét dưới góc độ thương mại có truyền hình công cộng (public TV) và truyền hình thương mại (commercial TV)
Xét theo tiêu chí mục đích nội dung, người ta chia truyền hình thành truyền hình giáo dục, truyền hình giải trí
Xét theo góc độ kỹ thuật có truyền hình tương tự (Analog TV) và truyền hình số (Digital TV)
Truyền hình sóng: (vô tuyến truyền hình- Wireless TV) được thực hiện theo nguyên tắc kỹ thuật như sau: hình ảnh và âm thanh được mã hóa dưới dạng các tín hiệu sóng và phát vào không trung Các máy thu tiếp nhận các tín hiệu rồi giải mã nhằm tạo ra hình ảnh động và âm thanh trên máy thu hình (ti vi) Còn sóng truyền hình là sóng phát thẳng, vì thế ăngten thu bắt buộc phải ''nhìn thấy'' được ăngten máy phát và phải nằm trong vùng phủ sóng thì mứoi nhận được tín hiệu tốt Từ những đặc điểm kỹ thuật trên, nên truyền hình sóng
Trang 35chỉ có khả năng đáp ứng nhu cầu của công chúng bằng các chương trình cho các đối tượng; không có khả năng đáp ứng mọi nhu cầu hay dịch vụ cá nhân
Truyền hình cáp: (hữu tuyến - CATV- viết tắt tiếng Anh là Community Antenna Television) đáp ứng nhu cầu phục vụ tốt hơn cho công chúng Nguyên tắc thực hiện của truyền hình cáp là tín hiệu được truyền trực tiếp qua cáp nối từ đầu máy phát đến từng máy thu hình Từ đó, truyền hình cáp trong cùng một lúc có thể chuyển đi nhiều chương trình khác nhau đáp ứng theo nhu cầu của người sử dụng Ngoài ra truyền hình cáp còn phục vụ nhiều dịch
vụ khác mà truyền hình sóng không thể thực hiện được
1.1.7 Cổng Thông tin điện tử
So với các loại hình Báo chí - Truyền thông, Cổng Thông tin điện tử của các cơ quan nhà nước ra đời khá muộn và chưa có nhiều nghiên cứu về phương tiện truyền thông này
Cổng Thông tin điện tử (Portal) là một thuật ngữ tin học xuất hiện từ năm 1998 Nội hàm khái niệm còn có nhiều vấn đề cần phải tiếp tục bàn bạc, trao đổi, bởi vậy cho đến thời điểm hiện nay vẫn chưa đưa ra được có một định nghĩa hoàn chỉnh Sau đây là một số khái niệm về Cổng Thông tin điện
tử thường được sử dụng:
- Cổng Thông tin điện tử là giao diện dựa trên nền web được tích hợp
và cá nhân hóa tới các thông tin, ứng dụng và các dịch vụ hợp tác
- Cổng Thông tin điện tử như là một cổng tới các trang web, cho phép một khối lượng lớn các thông tin sẵn có trên Internet và các ứng dụng được tích hợp, được tuỳ biến, được cá nhân hóa theo mục đích của người sử dụng
- Cổng Thông tin điện tử là điểm đích truy cập trên Internet mà qua đó người dùng có thể khai thác mọi dịch vụ cần thiết và "không cần thiết phải đi đâu nữa"
- Cổng Thông tin điện tử là một giao diện dựa trên nền Web, tích hợp các thông tin và dịch vụ có thể có Nó cho phép khai báo, cá biệt hóa thông tin
Trang 36và dịch vụ, cho phép quản trị nội dung và hỗ trợ một chuẩn về một nội dung
và giao diện hiển thị Nó cung cấp cho người dùng một điểm truy cập cá nhân, bảo mật tương tác với nhiều loại thông tin, dữ liệu và các dịch vụ rộng rãi đa dạng ở mọi lúc mọi nơi nhờ sử dụng một thiết bị truy cập Web
Thông tư 25/2010/TT-BTTTT ngày 15/11/2010 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT) quy định việc thu thập, sử dụng, chia sẻ, đảm bảo an toàn và bảo vệ thông tin cá nhân trên trang thông tin điện tử hoặc Cổng Thông tin điện tử của cơ quan nhà nước Đây được xem là văn bản đầu tiên đề cập đến thuật ngữ "Cổng Thông tin điện tử"
Nghị định 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ (Nghị định
43) quy định về "Cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang
thông tin điện tử hoặc Cổng Thông tin điện tử của cơ quan nhà nước" được
ban hành, tiếp tục kế thừa và phát triển những quan điểm trên Mặc dù muộn nhưng các thuật ngữ này trở nên rõ ràng hơn và là cơ sở pháp lý để nghiêu
cứu, áp dụng thực hiện trên thực tế Theo Nghị định này, "Trang thông tin
điện tử là trang thông tin hoặc một tập hợp trang thông tin trên môi trường mạng phục vụ cho việc cung cấp, trao đổi thông tin"; "Cổng Thông tin điện tử
là điểm truy cập duy nhất của cơ quan trên môi trường mạng, liên kết, tích hợp các kênh thông tin, các dịch vụ và các ứng dụng mà qua đó người dùng
có thể khai thác, sử dụng và cá nhân hóa việc hiển thị thông tin"
Giữa Trang thông tin điện tử và Cổng Thông tin điện tử có những điểm khác nhau Vì vậy, cũng cần có sự phân biệt để việc tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện phù hợp và mang lại hiệu quả cao
Khi đưa ra quan niệm về truyền thông xã hội, PGS,TS Nguyễn Thành Lợi cũng so sánh với Cổng Thông tin điện tử:
Truyền thông xã hội là gì, hiện vẫn chưa hình thành được nhận thức chung, song từ "xã hội" được coi là khái niệm then chốt "Nhân vật" là cư dân mạng (user), do đó, khác với Cổng Thông tin điện tử, truyền thông xã hội là
Trang 37diễn đàn để các "user" giao lưu, chia sẻ thông tin và sản xuất nội dung… Xét
về phương diện nội dung, bản chất của truyền thông xã hội là mối liên hệ cá nhân mang tính bình đẳng trong quá trình kết nối và truyền tải tin tức Đây là
sự khác biệt rõ nét nhất giữa truyền thông xã hội với các phương tiện truyền thông chính thống - nơi các cơ quan truyền thông chuyên nghiệp giữ vai trò là hạt nhân kết nối truyền thông và đưa tin [36, tr.10]
1.1.8 Quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông
đa phương tiện quảng bá hình ảnh địa phương trên sóng truyền hình và Cổng thông tin điện tử
Từ những phân tích nêu trên có thể hiểu quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện quảng bá hình ảnh địa phương trên sóng truyền hình và Cổng thông tin điện tử là sự tác động có định hướng,
có kế hoạch, có chủ đích của các chủ thể quản lý từ UBND tỉnh, các Sở, ban ngành có liên quan và đội ngũ lãnh đạo truyền hình, Cổng thông tin điện tử tới đội ngũ nhân lực, quản lý cấp dưới nhằm sản xuất các sản phẩm truyền thông đa phương tiện đáp ứng yêu cầu quảng bá hình ảnh địa phương
Quản lý nội dung sản phẩm truyền thông đa phương tiện quảng bá hình ảnh địa phương thực chất là việc quản lý nhằm đảm bảo các sản phẩm truyền thông quảng bá hình ảnh địa phương một cách hiệu quả nhất, nội dung thông tin bám sát vào các chỉ đạo, định hướng của tỉnh uỷ, UBND tỉnh, hình ảnh địa phương được thể hiện dưới dạng sản phẩm truyền thông đa phương tiện tận dụng được tối đa ưu thế của bối cảnh truyền thông số hiện nay
Quản lý tổ chức sản xuất nhằm đảm bảo nhân lực, quy trình tổ chức được diễn ra hiệu quả nhất, kết hợp hài hoà, tối ưu các nguồn lực vào sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện
Quản lý nội dung và tổ tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện quảng bá hình ảnh địa phương trên sóng truyền hình và Cổng thông tin điện tử chính là sự định hướng, chỉ đạo của các chủ thể lãnh đạo
Trang 38nhằm đảm bảo các sản phẩm truyền thông đa phương tiện trên sóng truyền hình và cổng thông tin điện tử hướng tới quảng bá hình ảnh địa phương một cách tối ưu, hiệu quả nhất, đáp ứng các yêu cầu, mục đích đặt ra và tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật và cơ quan báo chí truyên thông
1.2 Vai trò của quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện quảng bá hình ảnh địa phương trên sóng truyền hình và Cổng Thông tin điện tử
1.2.1 Đảm bảo tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc đặt ra trong hoạt động sản xuất sản phẩm truyền thông
Là sản phẩm truyền thông đa phương tiện quảng bá hình ảnh địa phương phát sóng trên truyền hình và Cổng thông tin điện tử nên việc quản lý nội dung và tổ chức sản xuất các sản phẩm này góp phần đảm bảo tính định hướng, chính xác, phù hợp với tôn chỉ, mục đích; đảm bảo tính nhất quán, thống nhất và phù hợp với từng đối tượng công chúng tiếp nhận, cụ thể:
Thứ nhất, đảm bảo tính định hướng, chính xác, phù hợp với tôn chỉ, mục đích
Đề cập về đặc điểm, tính chất của truyền thông đại chúng, Nguyễn Văn
Dững cho rằng:
Tính mục đích ở đây trước hết là mục đích chính trị Mục đích chính trị
ấy có thể biểu hiện trực tiếp thông qua các khẩu hiệu chính trị, quyết tâm chính trị, hoặc gián tiếp qua các tầng nấc trung gian và dưới nhiều dạng thức khác nhau Điều này khác hẵn với giao tiếp gia đình - linh hoạt và uyển chuyển hơn, còn giao tiếp trên các phương tiện truyền thông đại chúng mang tính định hướng và xác định rõ ràng hơn [14, tr.45]
Với vai trò là cơ quan phát ngôn chính thống của Chính phủ/Ủy ban nhân dân tỉnh/Thành phố, sản phẩm truyền thông trên các Cổng Thông tin điện tử và sóng truyền hình phải được đầu tư một cách nghiêm túc, kỹ lưỡng
và bài bản, không chỉ quan tâm đặc biệt về nội dung mà còn phải chú trọng
Trang 39đến hình thức, kết hợp cho bằng được các tính năng của truyền thông đa phương tiện để phát huy và nâng cao hiệu quả truyền thông
Với nhiệm vụ là truyền thông chính sách, tạo dựng hình ảnh địa phương, đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm, tăng năng suất và hiệu quả hoạt động của bộ máy công quyền, tiến tới xây dựng chính phủ điện
tử, chính quyền điện tử và công dân điện tử, kênh truyền thông này phải cần
có lãnh đạo, định hướng rõ ràng và quản lý chặt chẽ của cơ quan nhà nước để thông điệp phát ra mang tính nhất quán, phù hợp với các chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước, kênh giao hữu hiệu, đáng tin cậy tiếp giữa chính quyền với doanh nghiệp và Nhân dân
Muốn vậy, trong quá trình tổ chức sản xuất sản phẩm, nhà truyền thông phải nắm vững, áp dụng triệt để và xuyên suốt nguyên tắc đảm bảo tính định hướng, phù hợp với tôn chỉ, mục đích…
Thứ hai, đảm bảo tính nhất quán, thống nhất
Truyền thông và truyền thông theo chủ đề, chủ điểm đối với một chủ trương, chính sách, sự kiện, vấn đề nào đó phải được thực hiện thường xuyên, liên tục Trong quá trình ấy, nhiều sản phẩm truyền thông sẽ được tạo ra Để tránh tình trạng "tiền , hậu" bất nhất, việc tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông nói chung, truyền thông đa phương tiện nói riêng phải chú ý nguyên tắc này nhằm đảm bảo sự tin cậy về sản phẩm của mình đối với công chúng
Ngoài ra, với các tiện ích về lưu trữ và tìm kiếm thông tin trên Cổng Thông tin và sóng truyền hình bắt buộc chúng ta phải tuân thủ và đảm bảo nguyên tắc này Nếu thiếu tính nhất quán trong sản xuất sản phẩm truyền thông sẽ rất dễ bị phát hiện, ảnh hưởng đến quá trình truyền thông và uy tín của một cơ quan phát ngôn chính thống Điều đó sẽ làm cho hiệu quả, hiệu lực truyền thông sẽ suy giảm, niềm tin của công chúng xã hội thậm chí bị đánh mất dần
Thứ ba, phù hợp với từng đối tượng công chúng tiếp nhận
Như đã đề cập ở phần trên, "tính mục đích ở đây trước hết là mục đích
Trang 40chính trị", nhất là đối với các cơ quan truyền thông chính thống như Cổng Thông tin điện tử và truyền hình Nhưng nếu tuyệt đối hóa mục đích chính trị dẫn đến thông tin đơn điệu, nghèo nàn… Đây là vấn đề đòi hỏi bản lĩnh, tính chuyên nghiệp, nghệ thuật thông tin của nhà truyền thông, Ban biên tập và Tòa soạn để có thể đảm nhận tốt việc tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông
đa phương tiện
Nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng hết sức đa dạng và phong phú Trong lý luận và thực tiễn báo chí hiện đại, công chúng có vai trò, vị thế đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao năng lực và hiệu quả tác động cũng như khách hàng - thị trường của mỗi cơ quan hay sản phẩm báo chí - truyền thông Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, sẽ có cách phân chia thành các nhóm công chúng khác nhau [, tr.138]
Để tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông đa phương tiện trên truyền thông nói chung, Cổng Thông tin điện tử và truyền hình nói riêng, việc tìm hiểu từng đối tượng công chúng tiếp nhận là cần thiết
Khi đó, sự kết hợp của nhiều loại phương tiện (ngôn ngữ văn tự và phi văn tự) như: Văn bản, hình ảnh tĩnh, hình ảnh động, âm thanh, video và các chương trình tương tác trong cùng một sản phẩm truyền thông, nếu được tổ chức tốt, sản phẩm làm ra sẽ phù hợp hơn với nhu cầu công chúng và hiệu quả truyền thông cũng được nâng lên đáng kể
1.2.2 Đảm bảo hội tụ tối đa, hiệu quả các tính năng đa phương tiện
Theo PGS,TS Đỗ Thị Thu Hằng: Internet phát triển với sự ra đời của
vô vàn các trang tin điện tử, các kênh truyền hình, phát thanh trực tuyến (online), các giao thức liên lạc (chatting) và thoại (voice) được tích hợp đã thỏa mãn tất cả các nhu cầu thông tin của công chúng, bao gồm cả nghe, nhìn, đọc, nói của công chúng Sự phát triển của công nghệ truyền thông đã tạo cho báo chí hướng đi mới: Tích hợp các phương tiện truyền thông Tính đa phương tiện được thể hiện rõ ràng nhất qua sự tích hợp này (…) Do vậy, đi theo sự phát triển này là sự lựa chọn đúng đắn của nhà truyền thông [27]