1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện ở các cơ quan thường trú thông tấn xã việt nam tại đồng bằng sông cửu long

125 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện ở các cơ quan thường trú thông tấn xã Việt Nam tại Đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả Nguyễn Thanh Liêm
Người hướng dẫn PGS,TS. Đỗ Thị Thu Hằng
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản lý báo chí - truyền thông
Thể loại Luận văn thạc sĩ báo chí học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 2,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi xin cam đoan, luận văn Quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện ở các cơ quan thường trú Thông tấn xã Việt Nam tại Đồng bằng sông Cửu Long là

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THANH LIÊM

QUẢN LÝ NỘI DUNG VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT SẢN PHẨM BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN Ở CÁC

CƠ QUAN THƯỜNG TRÚ THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

HÀ NỘI - 2022

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THANH LIÊM

QUẢN LÝ NỘI DUNG VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT SẢN PHẨM BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN Ở CÁC

CƠ QUAN THƯỜNG TRÚ THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Chuyên ngành: Quản lý báo chí - truyền thông

Mã số: 8 32 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS ĐỖ THỊ THU HẰNG

HÀ NỘI - 2022

Trang 3

luận văn thạc sĩ

Hà Nội, ngày tháng năm 2022

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS,TS Nguyễn Văn Dững

Trang 4

Tôi xin cam đoan, luận văn Quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản

phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện ở các cơ quan thường trú Thông tấn xã Việt Nam tại Đồng bằng sông Cửu Long là công trình nghiên

cứu của cá nhân tôi thực hiện, dưới sự hướng dẫn của PGS, TS Đỗ Thị Thu Hằng Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực, được tiến hành nghiên cứu một cách nghiêm túc, chưa từng công bố ở công trình khoa học nào Tôi

có sử dụng các nguồn tài liệu tham khảo trong quá trình làm luận văn, các trích dẫn đều được chú thích nguồn trung thực, đầy đủ

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Liêm

Trang 5

Tôi xin cảm ơn các thầy, cô giáo của Học Viện Báo chí và Tuyên truyền, Viện Báo chí và Khoa Phát thanh - Truyền hình đã truyền đạt những kiến thức quý báu, chuyên sâu về nghề báo trong suốt hơn 2 năm của khóa học Đặc biệt, tôi xin cảm ơn PGS, TS Đỗ Thị Thu Hằng - Viện trưởng Viện Báo chí, người đã trực tiếp dẫn dắt và tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu

Tôi cũng gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo Thông tấn xã Việt Nam, Cơ quan Thông tấn xã Việt Nam khu vực phía Nam, Trưởng Cơ quan thường trú Thông tấn xã Việt Nam tại thành phố Cần Thơ đã tạo điều kiện để tôi được tham gia khóa học này

Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, đặc biệt là vợ tôi - người đã luôn tin tưởng, đồng hành, ủng hộ tôi trên con đường học tập, cùng với bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian qua cũng như trong quá trình thực hiện luận văn này

Trân trọng

Cần Thơ, tháng 11 năm 2021

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Liêm

Trang 6

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NỘI DUNG VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT SẢN PHẨM BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN 10

1.1 Cơ sở lý luận công tác quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện ở các cơ quan thường trú Thông tấn xã Việt Nam 10

1.2 Cơ sở thực tiễn công tác quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện ở các cơ quan thường trú Thông tấn xã Việt Nam 25

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NỘI DUNG VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT SẢN PHẨM BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN Ở CÁC CƠ QUAN THƯỜNG TRÚ THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 32

2.1 Chủ thể, đối tượng quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện ở các cơ quan thường trú của Thông tấn xã Việt Nam 32

2.2 Thực trạng quản lý nội dung sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện ở các cơ quan thường trú Thông tấn xã Việt Nam 40

2.3 Thực trạng tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện tại các cơ quan thường trú thuộc diện khảo sát 44

2.4 Đánh giá chung về công tác quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện ở các cơ quan thường trú tại Đồng bằng sông Cửu Long 56

Chương 3:NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM TỐI ƯU HÓA QUẢN LÝ NỘI DUNG VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT SẢN PHẨM BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN Ở CÁC CƠ QUAN THƯỜNG TRÚ THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 67

3.1 Yêu cầu đối với công tác quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện ở các cơ quan thường trú 67

3.2 Một số khuyến nghị 83

KẾT LUẬN 94

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

PHỤ LỤC 102

Trang 7

B1 Cơ quan Thông tấn xã Việt Nam khu vực miền Trung -

Tây Nguyên B2 Cơ quan Thông tấn xã Việt Nam khu vực phía Nam CQTT Cơ quan thường trú

Nxb Nhà xuất bản

TTXVN Thông tấn xã Việt Nam

Vnews Kênh Truyền hình Thông tấn

Trang 8

Bảng 2.1: Số lượng tin bài CQTT Cần Thơ và CQTT Cà Mau thực hiện từ

6/2020 – 6/2021 44

Hình 1.1 Sơ đồ hoạt động của TTXVN 26 Hình 1.2 Thông tấn xã Việt Nam qua các con số 28 Hình 2.1 Sơ đồ phối hợp sản xuất thông tin đa phương tiện của các CQTT và

các đơn vị thông tin của TTXVN 41

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng của cơ quan thông tấn nhà nước, đăng tải, phổ biến thông tin, văn bản của Đảng và Nhà nước; cung cấp thông tin phục vụ yêu cầu lãnh đạo của Đảng và quản lý nhà nước; thu thập, phổ biến thông tin qua báo chí và phổ biến đa phương tiện, phục vụ các tổ chức thông tin đại chúng, công chúng và các đối tượng khác trong và ngoài nước

TTXVN có mạng lưới CQTT rộng khắp 63 tỉnh, thành phố trong cả nước, 30 CQTT ở nước ngoài tại năm châu lục, đội ngũ phóng viên trải dài khắp

cả nước và hầu hết các khu vực trọng điểm trên thế giới Đây là một ưu thế mà không một cơ quan báo chí nào ở Việt Nam có được

Với khoảng 60 sản phẩm thông tin do hơn 1.200 nhà báo, đội ngũ biên tập viên (tính toàn ngành là hơn 2.500 cán bộ, nhân viên) sản xuất, TTXVN hiện là hãng thông tấn có nhiều sản phẩm và loại hình thông tin nhiều nhất ở Việt Nam Từ thông tin nguồn bằng văn bản, ảnh, truyền hình, đồ họa, âm thanh đến các ấn phẩm, bao gồm các tờ báo hàng ngày, hàng tuần, tạp chí, báo ảnh, sách, báo điện tử, trang thông tin điện tử, báo mạng, thông tin trên các thiết bị cầm tay, mạng xã hội mạng, v.v

Thời gian qua, TTXVN đã dồn mọi nguồn lực để thực hiện có hiệu quả mục tiêu trở thành tổ hợp truyền thông đa phương tiện mạnh Ngay tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TTXVN nhiệm kỳ 2016 - 2020 và Quy hoạch phát triển TTXVN giai đoạn đến năm 2025 và tầm nhìn đến 2035, TTXVN đã khẳng định mục tiêu phát triển thành cơ quan truyền thông đa phương tiện chủ lực của Việt Nam, có uy tín cao trong khu vực và trên thế giới; là nguồn cung cấp thông tin chính thống, chuẩn xác, tin cậy, phong phú cho hệ thống truyền thông và công chúng, đạt kết quả cao trong tuyên truyền đối nội, đối

Trang 10

ngoại và phục vụ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; có nền tảng công nghệ hiện đại và đội ngũ phóng viên, biên tập viên chuyên nghiệp; hoạt động kinh tế báo chí phát triển

Góp phần làm nên sự phong phú của “ngân hàng” tin đa phương tiện TTXVN không thể không kể đến hệ thống CQTT, chủ lực là 63 CQTT tại 63 tỉnh, thành phố trên cả nước, trong đó có các CQTT tại Đồng bằng sông Cửu Long Bản thân tác giả là phóng viên thường trú trong nước của TTXVN, nhận thấy yêu cầu đối với công tác quản lý nội dung và tổ chức sản xuất tin, bài đa phương tiện ở các CQTT để nâng cao chất lượng thông tin của TTXVN

- trong bối cảnh hãng thông tấn quốc gia đang xây dựng thành tập đoàn truyền thông đa phương tiện mạnh - là hết sức cần thiết Do đó, học viên lựa chọn đề

tài: Quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện ở các cơ quan thường trú Thông tấn xã Việt Nam tại Đồng bằng sông Cửu Long để nghiên cứu trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí, trong đó có báo chí và truyền thông đa phương tiện đã được đề cập trong nhiều tài liệu về báo chí truyền thông Có thể kể đến các tác phẩm, công trình nghiên cứu sau:

“Sản xuất tin tức: Lý thuyết và Thực hành” (News Production: Theory and Practice) của Sarah Niblock và David Machin (2006) cung cấp những

kiến thức cơ bản về quy trình và phương pháp sản xuất tin tức thời sự Các tác giả đã đưa ra các bước sản xuất tin tức thông qua các ví dụ và nghiên cứu các trường hợp cụ thể, từ lúc chuẩn bị đến lúc phát hành và những vấn đề mà nhà báo có thể gặp phải cũng như cách giải quyết chúng

Cuốn sách “Báo chí và Đa phương tiện” do tác giả Nguyễn Thị Trường

Giang (2017) chủ biên đã đề xuất và giải trình những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản của tin tức và truyền thông đa phương tiện, như: đặc điểm của báo chí đa phương tiện, truyền thông đa phương tiện và tác động xã hội của nó đối

Trang 11

với xu thế phát triển của báo chí thế giới trong thời đại kỹ thuật số.Tác giả cũng trình bày khá chi tiết, tỉ mỉ nhiều vấn đề về phương pháp luận, phương pháp làm việc liên quan trực tiếp đến công việc "bếp núc" của các nhà báo, người làm truyền thông trong lĩnh vực đa phương tiện

“Báo chí và Truyền thông - Những thách thức và giải pháp trong xu thế phát triển hiện đại”, Nhiều tác giả, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân

văn TP Hồ Chí Minh (2020) tập hợp 25 bài viết đề cập đến những chuyển động phức tạp của báo chí và truyền thông trong thời đại kỹ thuật số trên nhiều bình diện, quan hệ và cấp độ cùng những gợi ý về hướng đi khả dĩ cho người làm công tác báo chí - truyền thông

Quyển sách “Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại” của tác giả Nguyễn Thành Lợi (2014) trình bày những nét phổ biến nhất

về những vấn đề khá mới đã được thế giới nghiên cứu trong thời gian dài, chẳng hạn kỹ năng cần có của một "phóng viên đa năng" trong môi trường truyền thông hội tụ Tác giả giới thiệu những kiến thức cơ bản về báo chí đa phương tiện và minh họa cách xây dựng kế hoạch truyền thông cho một chủ

đề với hình ảnh minh họa sinh động từ các công ty truyền thông nổi tiếng thế giới, cụ thể là cách báo chí hiện đại sử dụng thông tin đa phương tiện và đồ họa, cách thức xây dựng kế hoạch truyền thông cho một chủ đề cụ thể

Trong quyển “Cơ sở lý luận báo chí”, tác giả Nguyễn Văn Dững (2012),

bên cạnh các vấn đề lý luận, tác giả cũng đề cập đến 4 kỹ năng của nhà báo, trong đó kỹ năng là khả năng vận dụng các vấn đề lý thuyết vào quá trình tác nghiệp, thu thập và xử lý thông tin Đối với nhà báo, kỹ năng là các hành vi

và nghiệp vụ hàng ngày, bao gồm việc nắm bắt tình hình chung và cụ thể ở một lĩnh vực được phân công theo dõi, phát hiện và tiếp cận các nguồn thông tin, trao đổi và sử dụng thông tin, sử dụng thông tin - dữ liệu để viết bài và theo dõi phản hồi của dư luận xã hội

Quyển sách “Lao động nhà báo” của tác giả Lê Thị Nhã (2016) cung

Trang 12

cấp những kiến thức cơ bản về nghề báo, những người tham gia sáng tạo ra tác phẩm báo chí, quy trình tạo dựng nên tác phẩm báo chí và một số vấn đề liên quan đến đạo đức nghề báo Đặc biệt, tác giả giải thích rõ các khái niệm

và đặc điểm hoạt động lao động của nhà báo, tổ chức lao động trong cơ quan báo chí, lao động nhà báo trong quy trình sáng tạo và sản xuất tác phẩm báo chí cũng như yêu cầu về phẩm chất và năng lực của nhà báo

Thông tin của TTXVN chủ yếu là tin thông tấn, nó mang những đặc trưng của thông tin báo chí nói chung cũng như đặc trưng thông tấn báo chí nói riêng Trong những năm gần đây, đã có một số luận văn, các tài liệu nghiên cứu về tin, bài của của TTXVN (gọi chung là tin), về việc nâng cao chất lượng, hiệu quả tin TTXVN; một số tài liệu về cách thức sản xuất tin của TTXVN, các bài viết về việc đổi mới công tác đào tạo phóng viên, biên tập viên TTXVN để đáp ứng yêu cầu phát triển thông tin đa phương tiện

Luận văn thạc sĩ Báo chí “Quy trình sản xuất tin của Thông tấn xã Việt Nam - Thành công và hạn chế” của Nguyễn Vũ Thành Đạt hoàn thành năm

2011 đã tìm hiểu quy trình sản xuất tin tức chung của TTXVN và đưa ra các khuyến nghị để thiết lập quy trình tiêu chuẩn hiệu quả cho sản xuất tin thông tấn.Tuy nhiên, luận văn chưa xác định rõ quy trình cho từng loại hình tin tức, đặc biệt là quy trình làm tin đa phương tiện ở các cơ quan thường trú trong giai đoạn mới

Luận văn thạc sĩ Báo chí học “Nâng cao chất lượng tin trong nước của Thông tấn xã Việt Nam khảo sát giai đoạn 2004-2006” của Trần Tiến Duẩn

bảo vệ thành công năm 2007 đã khái quát về TTXVN và các đơn vị thông tin trong ngành, cũng như quy trình làm tin thông tấn, từ đó đề xuất một số giải pháp năng cao chất lượng tin trong nước của TTXVN

Năm 2015, Vũ Thị Lộc thực hiện luận văn thạc sĩ Báo chí học “Tổ chức sản xuất tin nội chính, ngoại giao tiếng Việt cho trang web dịch vụ của Thông tấn xã Việt Nam khảo sát 6 tháng đầu năm 2015” tại Học viện Báo chí Tuyên

Trang 13

truyền Luận văn đã đánh giá tổng quan thực trạng và hiệu quả của việc tổ chức sản xuất tin nội chính, ngoại giao để đăng tải lên trang web dịch vụ của TTXVN qua việc đánh giá ưu điểm, hạn chế của thông tin cũng như các vấn

đề liên quan đến sản xuất những tin này Tuy nhiên, tin nội chính, ngoại giao chỉ là một phần trong hệ thống tin nguồn của TTXVN, chủ yếu là tin văn bản, chưa nêu bật được vai trò, giá trị của sản phẩm thông tin được thể hiện bằng nhiều loại hình (tin văn bản, tin ảnh, tin truyền hình) của TTXVN

Đối với vấn đề quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện ở các CQTT TTXVN thì chưa có tài liệu nào

nghiên cứu chi tiết, toàn diện và hệ thống Do vậy, học viên chọn đề tài “Quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện ở các cơ quan thường trú TTXVN tại Đồng bằng sông Cửu Long” để nghiên cứu nhằm đưa ra một cái nhìn toàn diện về tầm quan trọng, đóng góp của các CQTT,

trong đó có các CQTT tại Đồng bằng sông Cửu Long trong việc sản xuất các sản phẩm thông tin nguồn đa phương tiện của TTXVN

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông ở các CQTT TTXVN tại Đồng bằng sông Cửu Long, từ đó đề xuất giải pháp cải thiện công tác quản lý nội dung cũng như tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông phù hợp với định hướng phát triển thành tổ hợp truyền thông đa phương tiện mạnh của TTXVN hiện nay

Để đạt được mục đích này, tác giả luận văn sẽ tiến hành khảo sát hai CQTT

cụ thể để tìm hiểu phương thức hoạt động của CQTT trong việc sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông, so sánh với các CQTT trong khu vực cũng như các

cơ quan báo chí khác để có cái nhìn tổng quan về cách thức quản lý, vận hành CQTT của hãng thông tấn quốc gia Trong quá trình nghiên cứu và thu thập

Trang 14

thông tin, luận văn sẽ tập trung phân tích những điểm tích cực và hạn chế trong quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông của CQTT; phân tích và làm rõ thực trạng, yêu cầu và nhu cầu đối với sản phẩm thông tin của CQTT để phục vụ vai trò “ngân hàng tin” của TTXVN

Để làm sáng tỏ hơn các luận điểm, luận văn sẽ phân tích và làm rõ vai trò, trách nhiệm của Trưởng CQTT, phóng viên tại các CQTT cũng như mối quan hệ trong công tác sản xuất thông tin giữa CQTT và các đơn bị biên tập tin nguồn của TTXVN tại Hà Nội Qua đó, luận văn sẽ đánh giá về công tác quản lý, tổ chức sản xuất đồng thời đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị

để công tác quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện ở các CQTT tại Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng,

hệ thống CQTT trên cả nước nói chung tiếp tục hiệu quả, chất lượng thông tin được nâng cao trong thời gian tới

Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Hệ thống hóa những vấn đề liên quan đến công tác quản lý nội dung và

tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện ở các CQTT TTXVN tại Đồng bằng sông Cửu Long, hình thành cơ sở lý luận và thực tiễn của hai hoạt động này ở các CQTT hiện nay

+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động quản lý nội dung

và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông nói chung

+ Đánh giá thực trạng hoạt động quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông ở các CQTT Cần Thơ và Cà Mau

+ Đề xuất các giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện ở các CQTT trong thời gian tới

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản

Trang 15

lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện ở

các CQTT TTXVN tại Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay

Phạm vi thời gian: Năm 2020 và năm 2021

Phạm vi khảo sát: Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề quản lý nội

dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện của CQTT TTXVN tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, gồm CQTT Cần Thơ

và CQTT Cà Mau trong thời gian 12 tháng, từ tháng 6/2020 - 6/2021

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện theo một số phương pháp chính như sau:

a Phương pháp nghiên cứu trường hợp:

Khảo sát hoạt động sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông ở hai CQTT Cần Thơ và Cà Mau để thu được các số liệu cụ thể phản ánh thực trạng hoạt động quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông theo hướng đa phương tiện Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, TTXVN

có 13 CQTT, mô hình tổ chức, hoạt động của các CQTT là giống nhau nên luận văn này chỉ nghiên cứu hai CQTT đại diện là tại thành phố Cần Thơ (trung tâm của vùng) và Cà Mau (tỉnh cực Nam của Tổ quốc)

b Phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp, so sánh

Sử dụng để phân tích, đánh giá, so sánh công tác quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông ở các CQTT trong phạm vi khảo sát, nhằm đưa ra những đánh giá về thực trạng và những kết luận có tính khái quát về chất lượng sản phẩm báo chí đa phương tiện của CQTT trong nước của TTXVN

c Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:

Từ kinh nghiệm tác nghiệp đa phương tiện của các phóng viên ở các CQTT khảo sát cũng như kinh nghiệm trong quá trình hoạt động của các CQTT đã rút ra được nhiều vấn đề liên quan đến công tác quản lý nội dung và

Trang 16

tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông ở các CQTT của TTXVN tại Đồng bằng sông Cửu Long

d Phương pháp phỏng vấn sâu:

Tác giả luận văn thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu với lãnh đạo các đơn

vị thông tin thuộc TTXVN; phỏng vấn, trao đổi với các trưởng CQTT, phóng viên CQTT tại địa phương; phỏng vấn nhà báo, phóng viên đang công tác tại các cơ quan báo chí ở Đồng bằng sông Cửu Long về các vấn đề liên quan đến việc quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện

6 Đóng góp mới của đề tài

Đề tài là công trình đầu tiên dưới dạng luận văn thạc sĩ nghiên cứu về quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện ở các CQTT của TTXVN Luận văn chỉ ra ưu, nhược điểm trong nội dung, phương thức quản lý và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí đa phương tiện ở khối CQTT trong nước của TTXVN qua khảo sát thực tế tại Đồng bằng sông Cửu Long; đóng góp giải pháp, kiến nghị để thông tin nguồn được sản xuất bằng hình thức đa phương tiện của TTXVN hiệu quả, chất lượng hơn trong thời gian tới

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

7.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn trình bày lý luận báo chí về sản phẩm báo chí truyền thông

đa phương tiện, mang đến một cái nhìn mới về cách thức sản xuất, xu thế phát triển của tin bài đa phương tiện so với sản phẩm báo chí truyền thống Nêu bật tính ưu việt của tin bài đa phương tiện thực sự phù hợp với tình hình báo chí hiện nay ở Việt Nam và cần thiết để thích ứng với xu hướng phát triển chung của báo chí thế giới

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Qua nghiên cứu thực tiễn tin bài của các CQTT phát trên hệ thống tin

Trang 17

nguồn và các cơ quan báo chí của TTXVN, đặt trong bối cảnh phát triển của báo chí Việt Nam và thế giới, luận văn sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan, đa chiều về tin bài đa phương tiện cho phóng viên, biên tập viên Qua đó, giúp phóng viên, biên tập viên TTXVN trong quá trình tác nghiệp, sản xuất tin bài

sẽ trở nên chuyên nghiệp, hoàn thiện hơn

Những thành công và hạn chế được nêu ra sẽ là cơ sở để việc quản lý nội dung và tổ chức sản xuất tin bài ở CQTT TTXVN ngày càng trở nên tối ưu, đảm bảo tính thống nhất cũng như chất lượng các sản phẩm báo chí đa phương tiện của hãng thông tấn quốc gia

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn tập trung ở các chương, tiết mục

Chương 1: Lý luận chung về quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện

Chương 2: Thực trạng quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện ở các CQTT TTXVN tại Đồng bằng sông Cửu Long

Chương 3: Vấn đề đặt ra và một số khuyến nghị nhằm tối ưu hóa quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện ở các CQTT TTXVN tại Đồng bằng sông Cửu Long

Trang 18

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NỘI DUNG

VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT SẢN PHẨM BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG

ĐA PHƯƠNG TIỆN

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỘI DUNG VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT SẢN PHẨM BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN Ở CÁC CƠ QUAN THƯỜNG TRÚ THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

1.1.1 Một số khái niệm

Quản lý

Quản lý là sự tác động có định hướng của các chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng các phương thức, công cụ quản lý thích hợp nhằm đạt mục tiêu quản lý Trong nghiên cứu khoa học, thuật ngữ “quản lý” có nhiều cách hiểu, định nghĩa khác nhau tùy theo từng môn khoa học hay cách tiếp cận của người nghiên cứu

“Quản lý” đã tư tưởng có từ cách đây hơn 25 thế kỷ, nhưng vấn đề quản lý theo khoa học lại chỉ mới xuất hiện ở cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ

XX Ở Phương Tây, Frederick W.Taylor trong tác phẩm Những nguyên tắc khoa học quản lý cho rằng: Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái gì đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm bảo vệ sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác

Ở Phương Đông, thuật ngữ “quản lý” là từ Hán - Việt, được hiểu là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: “quản” và “lý” Quá trình

"quản" bao gồm việc chăm sóc, giữ gìn và duy trì để hệ thống luôn ở trạng thái "ổn định" Trong khi đó, “lý” là quá trình bao gồm việc sửa đổi, sắp xếp

và cập nhật hệ thống để hệ thống ở vị trí của "sự phát triển" Nếu nhà quản lý

Trang 19

chỉ quan tâm đến "quản", tức là chỉ quan tâm coi sóc và duy trì tổ chức thì tổ chức dễ bị trì trệ Ngược lại, nếu họ chỉ quan tâm đến "lý", tức là chỉ quan tâm đến việc sắp xếp, tổ chức và đổi mới mà không đặt nó trên cơ sở ổn định, hệ thống sẽ không thể phát triển liên tục Nói một cách khái quát, “quản” và “lý” luôn phải song hành, không được tách rời nhau, trong cái này có cái kia, để hoạt động của hệ thống luôn ở trạng thái cân bằng Quản lý để đạt được kết quả thực sự bền vững đòi hỏi một chiến lược tích hợp hai quá trình vào với nhau một cách hợp lý

Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, phát sinh khi cần có sự nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung Quản lý diễn ra

ở mọi tổ chức, từ phạm vi nhỏ đến phạm vi lớn, từ đơn giản đến phức tạp

Với ý nghĩa phổ biến thì quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách

có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý lên một đối tượng quản lý để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng quản lý theo những mục tiêu đã định

Quản lý bao gồm các yếu tố sau:

- Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý Chủ thể có thể là một cá nhân hoặc tổ chức

- Khách thể quản lý: chịu sự tác động hay chịu sự điều chỉnh của chủ thể quản lý, đó là hành vi của con người và các quá trình xã hội

- Đối tượng quản lý tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý Tùy theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau

- Mục tiêu quản lý là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý định trước

Quản lý là một hoạt động phức tạp và nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Các yếu tố đó là con người; hệ thống và tư tưởng chính trị tổ chức, thông tin, văn hóa…

Nhìn chung, dù ở phương Đông hay phương Tây, “quản lý” là hiện

Trang 20

tượng tồn tại trong mọi chế độ xã hội Bất kỳ ở đâu, lúc nào con người có nhu cầu kết hợp với nhau để đạt mục đích chung đều xuất hiện quản lý Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức điều hành các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên những quy luật khách quan Xã hội càng phát triển, nhu cầu và chất lượng quản lý càng cao

Như vậy, có thể hiểu: Quản lý là hoạt động có tổ chức, có thẩm quyền của một tổ chức chiến lược, tập thể hoặc cá nhân, nhằm điều phối nhân viên hoặc tình nguyện viên để đạt được mục tiêu của họ thông qua việc sử dụng các nguồn lực Các nguồn lực sẵn có bao gồm tài chính, kỹ thuật và nhân lực…

Với cách hiểu này, quản lý nội dung trong sản xuất sản phẩm báo chí là

sự tác động có kế hoạch và có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đưa nội dung thông tin báo chí đến với công chúng một cách chính xác và nhanh chóng, bài bản và sinh động, nó không chỉ đáp ứng nhu cầu của thông tin của chúng, mà còn hoàn thành nhiệm vụ của một tổ chức báo chí

Tổ chức sản xuất

+ Triết học định nghĩa: "Tổ chức, nói một cách rộng rãi, là cấu trúc mà

sự vật tồn tại Một sự vật không thể tồn tại nếu không có một số hình thức liên kết giữa các yếu tố trong nội dung của nó Do đó, tổ chức là thuộc tính của bản thân các sự vật." Tổ chức là thuộc tính của sự vật, hay nói cách khác, sự vật luôn tồn tại dưới dạng là một tổ chức nhất định

Khoa học tổ chức và quản lý định nghĩa tổ chức theo nghĩa hẹp là “một nhóm người cùng nhau thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc đạt được một mục tiêu xác định của nhóm”

Tổ chức được hiểu chung là xác định cấu trúc và cơ chế của hệ thống, xác định công việc phù hợp với từng nhóm, từng bộ phận và phân công các bộ phận cho người quản lý hoặc giám sát, có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn nhất định thực hiện các hoạt động cần thiết để thực hiện nhiệm vụ được giao

Trang 21

Việc tổ chức như vậy được gọi là tổ chức bộ máy Hoạt động tổ chức cũng là

sự sắp xếp các nhiệm vụ trong một cơ cấu tổ chức

Trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu thuật ngữ "tổ chức" trong truyền thông đại chúng, cần xem xét để hiểu nó từ hai khía cạnh:

Đầu tiên, chỉ tổ chức một nhóm người làm việc trong cùng một lĩnh vực chuyên môn Thứ hai, tổ chức chỉ được điều hành bởi các công ty truyền thông và các nhà quản lý báo chí - truyền thông nhằm tạo ra một sản phẩm báo chí hoàn chỉnh; một hoạt động nghề nghiệp dành cho các nhà báo với những công việc cụ thể như: lập kế hoạch, tổ chức sản xuất nội dung, thiết kế

và trình bày bài báo, in ấn và xuất bản

+ Sản xuất là quá trình biến đổi những yếu tố đầu vào thành đầu ra Mục đích của quá trình chuyển hóa này là tạo giá trị gia tăng để cung cấp cho khách hàng Đầu vào của quá trình chuyển đổi bao gồm nguồn nhân lực, vốn

kỹ thuật, nguyên vật liệu, đất, năng lượng, thông tin Đầu ra của quá trình chuyển đổi là sản phẩm, dịch vụ, tiền lương, những ảnh hưởng đối với môi trường Sản xuất là tạo ra của cải vật chất nói chung Hoạt động sản xuất tạo

ra vật chất cho xã hội bằng cách dùng tư liệu lao động tác động vào đối tượng lao động

Tổ chức sản xuất là sự bố trí các công đoạn, các khâu trong một dây chuyền nhằm thực hiện chu trình kinh doanh từ đầu vào đến đầu ra Mục tiêu của tổ chức sản xuất là sự bố trí các công đoạn, các khâu nhằm tạo ra năng suất, chất lượng cao hơn, nhịp độ sản xuất nhanh hơn, tận dụng và huy động tối đa các nguồn lực vật chất vào sản xuất, giảm chi phí sản xuất một đơn vị đầu ra tới mức thấp nhất, rút ngắn thời gian sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ Do đó, quyết định lựa chọn tổ chức sản xuất theo dây chuyền, tổ chức sản xuất theo nhóm hay tổ chức sản xuất đơn chiếc là tùy thuộc vào quy

mô sản xuất, chủng loại hay kết cấu sản phẩm của doanh nghiệp

Trang 22

Tổ chức sản xuất còn có thể xem xét như là một quá trình thì đó chính

là các biện pháp, các phương pháp, các thủ thuật để duy trì mối liên hệ và phối hợp hoạt động của các bộ phận sản xuất theo thời gian một cách hợp lý Nội dung tổ chức sản xuất sẽ bao gồm:

- Lựa chọn phương pháp tổ chức quá trình sản xuất

- Nghiên cứu chu kỳ sản xuất tìm cách rút ngắn chu kỳ sản xuất

- Lập kế hoạch tiến độ sản xuất và tổ chức công tác điều độ sản xuất

Sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện

+ Sản phẩm báo chí

Ở lĩnh vực báo chí, người ta thường dùng khái niệm sản phẩm báo chí

để chỉ những tác phẩm báo chí đã được hoàn thiện của các kênh truyền thông đại chúng, sau đó đưa đi in (đối với báo in), phát sóng (đối với truyền hình hình và phát thanh), đưa lên mạng internet (đối với báo điện tử) Điều đó có nghĩa sản phẩm báo chí đã được xã hội hóa thông tin, chỉ tồn tại có ý nghĩa trong mối quan hệ nhà báo - sản phẩm báo chí - công chúng Đó là cách hiểu theo nghĩa hẹp, với nghĩa sản phẩm đơn lẻ

Tác giả Tạ Ngọc Tấn quan niệm rằng, trong thông tin báo chí, sản phẩm báo chí hoàn chỉnh (tờ báo, bản tin, chương trình phát thanh, truyền hình) giữ vai trò phương tiện giao tiếp giữa chủ thể và khách thể thông tin [42]

Tác giả Nguyễn Thị Thương Huyền lại cho rằng, sản phẩm báo chí là những ấn phẩm hoàn chỉnh thuộc báo in, các chương trình phát thanh, chương trình truyền hình hoặc các trang thông tin, báo mạng điện tử chứa đựng nhiều loại tác phẩm nhằm chuyển tải thông tin đến cho công chúng Các loại sản phẩm báo chí hiện nay ngày càng đa dạng và phong phú [19]

Thực tế việc sản xuất các sản phẩm báo chí hiện nay đang đặt ra yêu cầu phải được tiếp cận toàn diện đầy đủ hơn về vấn đề này Điều đó có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu, đào tạo chuyên ngành báo chí mà còn cần thiết đối với công tác quản lý báo chí

Trang 23

+ Đa phương tiện

Đa phương tiện là thuật ngữ xuất phát từ cụm từ “multimedia" trong tiếng Anh Trong từ điển Oxford của Anh, multimedia - đa phương tiện có nghĩa là việc sử dụng nhiều hơn một loại phương tiện (đặc biệt là audio, video

và các chương trình tương tác) để truyền thông Thuật ngữ này xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ XX Năm 1965, cụm từ này được sử dụng để miêu tả một buổi trình diễn đặc biệt có tên là “Exploding Plastic Inevitable” buổi biểu diễn đầu tiên có sự kết hợp của nhạc rock, chiếu bóng, ánh sáng và trình diễn nghệ thuật (cũng có thông tin cho rằng thuật ngữ này xuất hiện vào tháng 7-1966 khi Bob Goldstein đặt ra để nói về cuộc khai mạc chuong trinh "LightWorks

at L'Oursin" & Southampton, Long Island (theo nghiên cứu của Richard Albarino trong cuốn “Goldstein‟s LightWorks at Southhampton”) Năm 1992,

sự xuất hiện của World Wide Web đã cho phép thiết lập những trang web đơn giản được viết bằng ngôn ngữ siêu văn bản HTML (Hyper Text Markup Language), đánh dấu sự phát triển quan trọng của "đa phương tiện"

Năm 1995, Viện Xã hội Ngôn ngữ Đức "Gesellschaft für deutsche Sprache" quyết định công nhận ý nghĩa của "đa phương tiện" bằng cách trao cho nó danh hiệu "Từ của năm và khẳng định: "Đa phương tiện đã trở thành một từ trung tâm trong các phương tiện truyền thông thế giới mới” Hiện nay, các “phương tiện” được tích hợp trên các trang web ngày càng đa dạng, bao gồm: Văn bản (text), hình ảnh tĩnh (still image), hình ảnh động (animation),

đồ họa (graphic), âm thanh (audio) video và chương trình tương tác (interactive program), nhưng trên thực tế, chỉ cần kết hợp ba, bón yếu tố trong

đó có audio hoặc video đã được coi là đa phương tiện

Đa phương tiện được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như chương trình video theo yêu cầu (VOD -video on demand), trò chơi điện tử, giao dịch

và thương mại điện tử, chính phủ điện tử, thư điện tử có kèm hình ảnh và âm

Trang 24

thanh, giáo dục từ xa (distance learning) - day học qua sóng của phát thanh, truyền hình, hoặc trên mạng Internet học trực tuyến (e-learning)…

Trong cuốn sách nổi tiếng về Đa phương tiện: “Multimedia - Making it work” (tạm dịch: Đa phương tiện làm cho nó hoạt động) được tái bản đến lần thứ 8, tác giả Tay Vaughan đưa ra khái niệm: “Đa phương tiện là bất kỳ sự kết hợp giữa văn bản, nghệ thuật, âm thanh, hình ảnh động, video được truyền tải, phân phối tới người xem bằng máy tính hoặc qua các phương tiện điện tử hay số hóa"

Ở góc độ viễn thông, công nghệ thông tin, có thể hiểu đa phương tiện là

kỹ thuật mô phỏng và sử dụng đồng thời nhiều dạng phương tiện chuyển hóa thông tin và các tác phẩm từ các kỹ thuật đó

Đa phương tiện có thể được hiểu theo 3 khía cạnh: Thứ nhất, là sự tích hợp đa mã ngôn ngữ biểu đạt (có thể bằng chữ viết, các loại hình ảnh, âm thanh tổng hợp, đỗ hoạ); Thứ hai, là sự tương tác (tương tác trực tiếp, đồng thời, đã chiêu, liên tục, trong mọi thời điểm, không gian); thứ ba, là kỹ thuật (hội tụ và ứng dụng tối đa các tính năng kỹ thuật mới)

Tác giả Nguyễn Văn Dững cho rằng: “Đa phương tiện chính là khả năng kết hợp các tài liệu văn bản, hình ảnh, âm nhạc, video, hình động và tài liệu in ấn có thể được sử dụng ở nhiều mức độ khác nhau nhằm “thay đổi” sự chú ý và truyền đạt một cách có hiệu quả thông điệp của bạn"

Theo tác giả Đỗ Trung Tuấn, liên quan đến đa phương tiện cần lưu ý những khía cạnh sau:

* Thông tin cần phải được số hóa, phù hợp với xu thế và rẻ;

* Phải dùng mạng máy tính, để đảm bảo truyền bá, hay truyền tải tốt;

* Sử dụng phần mềm có tương tác, cho phép người dùng trao đổi với phần mềm và thay đổi theo ý người dùng;

* Phải thiết kế giao diện phù hợp với phát triển của đa phương tiện Như vậy có thể hiểu, đa phương tiện là sự kết hợp của nhiều loại

Trang 25

phương tiện (ngôn ngữ văn tự và phi văn tự): Văn bản (Text), hình ảnh tĩnh (still image), hình ảnh động (animation), đồ hoạ (graphic), âm thanh tổng hợp (audio), video và chương trình tương tác (interactive program) nhằm gây sự chú ý, tăng độ hấp dẫn, đảm bảo độ tin cậy, chân thực, khách quan và nâng cao tính thuyết phục trong chuyển tải thông điệp [11]

+ Báo chí đa phương tiện

Bàn về báo chí đa phương tiện, Trung tâm báo chí Knight Science

Journalism của Mỹ cho rằng: Báo chí đa phương tiện kết hợp các hình thức kể chuyện khác nhau âm thanh, văn bản, video, đồ họa (bao gồm cả thông tin đồ họa - infographics) và hình ảnh, để kể câu chuyện báo chí một cách hấp dẫn

Nó tận dụng các công cụ kỹ thuật số để đưa ngành báo chí vào cuộc sống theo những cách mới

Báo chí đa phương tiện là loại hình báo chí có chứa các sản phẩm báo chí sử dụng đồng thời nhiều hình thức như: Văn bản, các loại hình ảnh, âm thanh tổng hợp, video, đồ họa và các chương trình tương tác để chuyển tải thông tin

Báo chí đa phương tiện là nơi phản ánh mọi mặt của đời sống hàng ngày, bày tỏ thái độ của quần chúng, bộc lộ quan điểm chính trị, vị trí công dân, thể hiện năng lực và đạo đức nghề nghiệp của nhà báo Một tác phẩm báo chí đa phương tiện được hình thành thông qua các giai đoạn lựa chọn chủ đề, sử dụng

và xử lý tài liệu, tạo lập văn bản (tác phẩm) bằng ngôn ngữ đa phương tiện

+ Truyền thông đa phương tiện

Có thể hiểu, truyền thông đa phương tiện là hình thức truyền thông mà

ở đó nhiều phương tiện như: văn bản, hình ảnh động, hình ảnh tĩnh, âm thanh,

đồ họa, video…được kết hợp lại với nhau và sử dụng công nghệ thông tin (máy tính là công cụ không thể thiếu) để sáng tạo, thiết kế, sản xuất và truyền

đi các sản phẩm, thông điệp có thể tác động đến nhiều giác quan của con người Những sản phẩm mang tính ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như quảng

Trang 26

cáo trên truyền hình, website, phần mềm học trực tuyến hay các sản phẩm giải trí hiện đại như trò chơi điện tử, ứng dụng di động, phim ảnh, hoạt hình đều là sản phẩm của ngành truyền thông đa phương tiện

+ Sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện:

Một sản phẩm báo chí và truyền thông được coi là sản phẩm đa phương tiện khi nó tích hợp nhiều trong số các phương tiện truyền tải thông tin sau: Văn bản (text), hình ảnh tĩnh (still image), hình ảnh động (animation), đồ họa (graphic), âm thanh (audio), video, và chương trình tương tác (interactive program)

Văn bản (Text): Mặc dù những yếu tố đa phương tiện khác có sức hấp

dẫn và ưu điểm vượt trội, song văn bản vẫn là yếu tố không thể thiếu của báo chí và truyền thông đa phương tiện và nhìn vào tổng thể của nhiều sản phẩm thì văn bản vẫn chiếm diện tích lớn nhất

Hình ảnh tĩnh (Still Image): Hình ảnh tĩnh bao gồm ảnh chụp và hình

họa, là thành phần được dùng nhiều, đóng vai trò quan trọng trong sản phẩm báo chí và truyền thông đa phương tiện Một bức ảnh được chụp đúng khoảnh khắc gắn liền với sự việc, sự kiện sẽ làm nổi bật cảm xúc, nhấn mạnh những thông tin quan trọng, có giá trị đôi khi bằng nghìn lời nói Đối với công chúng việc tiếp nhận thông tin qua ảnh sẽ nhanh chóng, dễ dàng và hấp dẫn hơn qua chữ viết

Hình ảnh động: Hình ảnh động trên báo chí và truyền thông đa phương

tiện thường được thể hiện qua hai hình thức là trình diễn ảnh (slideshow) và hình hoạt họa (animation) Các hình ảnh sẽ tự động hiển thị nối tiếp nhau trên màn hình giao diện nhằm diễn đạt những nội dung thông tin nhất định của bài báo Tùy theo thiết kế của từng sản phẩm báo chí và truyền thông đa phương tiện mà các slide ảnh có tốc độ chuyển ảnh, giao diện trình diễn khác nhau Bên cạnh trình diễn ảnh, báo chí và truyền thông đa phương tiện còn có khả

Trang 27

năng tích hợp một sản phẩm ảnh động khác gọi là hình hoạt họa (animation) Đây là những hình ảnh động được tạo ra từ sự kết hợp nhiều hình ảnh tĩnh, gần giống với nguyên lý làm phim hoạt hình

thông tin bằng đồ thị, biểu đồ, bảng, bản đồ, lược đồ Thông tin đồ họa giúp người tiếp nhận thông tin nhanh, dễ hiểu, dễ nhớ, ấn tượng

Dù trong sản phẩm báo chí và truyền thông có thể đưa ra các số liệu cụ thể, song việc sử dụng đồ họa sẽ giúp công chúng thấy được sự biến thiên của

số liệu và dễ dàng hình dung vấn đề mà tác giả bài viết đưa ra

Âm thanh (Audio): Âm thanh là một trong những yếu tố đa phương tiện

trên báo chí và truyền thông đa phương tiện có tác dụng tạo nên sự gần gũi với người tiếp nhận thông tin bởi có sự xuất hiện của tiếng nói trong các sản phẩm Các tập tin âm thanh còn làm tăng sức thuyết phục, tính chính xác của các sản phẩm báo chí và truyền thông đa phương tiện, nhất là trong các trường hợp phỏng vấn nhân vật hay ghi âm lời nhân chứng Đôi khi, chỉ cần một đoạn audio vài phút cũng có tác dụng và hiệu quả thông tin bằng những bài viết hàng nghìn chữ

Hiện nay có gần 10.000 đài phát thanh trên thế giới xây dựng trang web riêng để truyền tải chương trình của mình lên mạng Internet, không chỉ cung cấp thông tin mà còn cung cấp các chương trình giải trí, trò chơi, âm nhạc

để công chúng có thể nghe hoặc tải về

Video: Bản thân những đoạn video đã mang tính đa phương tiện khi

gồm cả hình ảnh và âm thanh, đem lại hình ảnh sống động và chân thực, là phương tiện tốt nhất để miêu tả hình ảnh động Sự sinh động qua các hình ảnh được ghi lại với màu sắc chân thực có tác động mạnh đến người tiếp nhận Do

đó, thông tin truyền tải đến công chúng hấp dẫn và có tính thuyết phục cao

Video sử dụng trên báo chí và truyền thông đa phương tiện gồm các

Trang 28

hình thức: Video đứng độc lập, video minh họa cho bài viết, video phát lại của các đài truyền hình chủ yếu có định dạng FLV với dung lượng nhỏ, phù hợp với việc xem trên Internet Ngoài ra, một số định dạng video khác có dung lượng lớn hơn cũng được sử dụng như WMV, MPEG

Chương trình tương tác (Interactive program): Với những chương trình

tương tác (trò chơi trực tuyến, trả lời câu hỏi, làm trắc nghiệm và có ngay đáp

án hay tham gia những chương trình trực tuyến ), công chúng có thể trực tiếp tham gia vào sản phẩm báo chí - đa phương tiện Chương trình tương tác trên báo chí và truyền thông đa phương tiện ngày càng đa dạng, phong phú và thu hút được sự quan tâm của công chúng bởi tính mới lạ và thú vị Có thể kể đến những chương trình tương tác đang được các báo chí và truyền thông đa phương tiện áp dụng ngày càng nhiều như giao lưu trực tuyến, trả lời trắc nghiệm Với giao lưu trực tuyến, công chúng có thể tiếp nhận những thông tin

và tham gia đặt câu hỏi, bày tỏ ý kiến về chủ đề mình quan tâm một cách trực tiếp, nhanh chóng

+ Vai trò của báo chí và truyền thông đa phương tiện

- Tạo nên mâm cỗ thông tin đa dạng, đa lớp, đa chiều: “Mâm cỗ” thông tin bao gồm rất nhiều “món": Văn bản, hình ảnh tĩnh, hình ảnh động, âm thanh, đồ họa, video, chương trình tương tác chứ không đơn thuần chỉ là đơn “món” gồm văn bản, hay hình ảnh “Mâm cỗ" ấy đáp ứng nhiều nhu cầu của nhiều đối tượng công chúng khác nhau Ngoài sử dụng thị giác để đọc chữ và xem ảnh, xem video, công chúng còn dùng thính giác để nghe âm thanh từ file audio, video và cảm nhận, bàn luận, phản hồi về nội dung thông tin của sản phẩm Báo chí và truyền thông đa phương tiện kích thích nhiều giác quan của công chúng (nghe, nhìn, xem, cảm nhận ), đem lại cho

họ cảm giác tiếp cận thông tin một cách chân thực, sống động nhất có thể Đây là sự đa dạng của báo chí đa phương tiện

Các sản phẩm báo chí và truyền thông đa phương tiện giúp người sử

Trang 29

dụng có cơ hội trải nghiệm thông tin với nhiều lớp khác nhau Khi truy cập vào đọc một bài báo trên mạng Internet, ở lớp đầu tiên - tổng quát, người đọc

có thể lựa chọn việc xem lướt qua một cách tổng quan bài báo qua các phần tít chính, sa pô, các tít phụ, hay đọc thông tin tóm tắt qua Infographic (thông tin đồ họa - minh họa trực quan sinh động bằng các số liệu, hình ảnh, sự kiện một cách tóm lược) nếu có Ở lớp tiếp theo, khi muốn tiếp cận thông tin sâu

và cụ thể hơn, người đọc tìm đến các đoạn văn bản mô tả nội dung chính của bài, xem loạt ảnh trong bài để phần nào mường tượng được sự kiện được phóng viên truyền tải thông tin qua ảnh Nếu muốn cụ thể và chi tiết hơn nữa, người đọc lựa chọn tiếp cận đến lớp thông tin tiếp theo bằng cách xem video ghi lại toàn bộ quá trình diễn ra sự việc, nghe âm thanh phỏng vấn nhân vật liên quan Đa lớp thể hiện ở những góc độ này

Thông qua những cuộc thảo luận, thăm dò ý kiến công chúng, giao lưu trực tuyến trên báo chí và truyền thông đa phương tiện, nhà báo, tòa soạn có thể tương tác trực tiếp với công chúng Ở đó, người đọc được bình luận về các vấn đề, về nội dung bài viết ngay dưới bài viết Đây được xem như cuộc đối thoại diễn ra giữa phóng viên, biên tập viên với độc giả hay giữa các độc giả với nhau Mối quan hệ giữa nhà báo và công chúng lúc này là tương tác qua lại nhiều chiều (nhà báo mang thông tin đến, công chúng đón nhận và phản hồi lại nhà báo, hay công chúng phản hồi với nhau về vấn đề nhà báo đề cập ) Tương tác trực tuyến dựa trên các bài báo xuất hiện trên mạng Internet cung cấp cơ hội cho công chúng được tham gia nhiều hơn với những gì họ đang đọc Khả năng

dễ tương tác, giao tiếp, trao đổi, phản hỏi với các phóng viên, biên tập viên, tòa soạn là rất quan trọng đối với những công chúng của báo chí đa phương tiện Công chúng không muốn cảm thấy họ đang là lực lượng được “cho ăn” thông tin, họ muốn cảm nhận, bàn luận, chia sẻ, trao đổi về những gì mình được đọc, được nghe, được thấy, trên báo chí đa phương tiện Họ thích cảm giác được hài lòng, được đáp ứng tức thì hay đúng hơn là làm một cái gì đó ngay tại chỗ và biết tiếng nói của họ sẽ được lắng nghe Đó chính là đa chiều

Trang 30

- Thay đổi mối quan hệ giữa nguồn phát và nguồn nhận: Báo chí và truyền thông đa phương tiện đang làm thay đổi mối quan hệ giữa báo chí và công chúng Công chúng ngày nay đã trở nên chủ động hơn, họ không còn chỉ

là nguồn nhận thông tin thụ động đơn thuần

Thứ nhất, công chúng đã chủ động ngay cả trong việc tiếp nhận thông

tin Xuất bản trong môi trường mở và "toàn cầu hóa" của Internet, báo chí đa phương tiện khiến thông tin trở nên lưu động và được nhiều người tiếp cận Thông tin luôn luôn được lưu lại trên mạng Internet, không bị phụ thuộc vào thời gian phát sóng như truyền hình hay phát thanh, cũng như không bị phụ thuộc vào thời gian xuất bản, phát hành như báo in Công chúng của báo chí trên mạng Internet được lựa chọn thời gian rảnh rỗi của bản thân để đọc báo bất cứ khi nào, tại bất cứ nơi đâu mà họ cảm thấy thuận tiện, miễn là có kết nối mạng Hơn nữa, trình tự, cách thức và hình thức tiếp nhận thông tin của công chúng ngày nay cũng chủ động hơn bao giờ hết Họ không còn phải căn giờ để chờ báo

ra, không phải ngồi chờ cho những chương trình truyền hình mà họ không mấy hứng thú đi qua thật nhanh để đến phần yêu thích của bản thân, họ chủ động chọn bài báo mình muốn để nhấp chuột vào đọc, dễ dàng nhất là họ còn có thể tự tìm kiếm chủ đề bài báo mình yêu thích để đọc ngay cho nóng

Thứ hai, công chúng chủ động biến mình thành nguồn phát thông tin

Thông tin khi ấy đảm bảo tính chất nhanh nhạy, tức thời vượt trội và lan truyền rộng Công chúng đóng một vai trò tích cực trong tiến trình thu thập, tường thuật, phân tích, phổ biến tin tức và thông tin đến mọi người và báo chí Nhiều tòa soạn, trước những vấn đề “nóng" có thể tập hợp đội ngũ nòng cốt

để triển khai ý tưởng Hơn bao giờ hết, công chúng được quan tâm và ở một góc độ nào đó, có khả năng “gợi ý định hướng” thông tin dư luận, tham gia vào quá trình ra đời một bài báo

- Thay đổi phương thức thu thập và sản xuất thông tin của nhà báo: Sự

phát triển kỹ năng đa phương tiện vừa là nhu cầu phát triển tự thân, vừa để

Trang 31

tránh khỏi bị đào thải trong quá trình cạnh tranh của các cơ quan báo chí nói chung, các nhà báo nói riêng khi thời kỳ truyền thông đa phương tiện lên ngôi Đáp ứng yêu cầu đó, nhà báo có những thay đổi trong phương thức thu thập và sản xuất thông tin để thích ứng với xu hướng phát triển của báo chí

hiện đại, bao gồm: đa kỹ năng (nhà báo "đa kỹ năng" ngoài việc nắm bắt các

công nghệ làm báo truyền thông, phải biết xử lý ảnh và video, file âm thanh

từ đó tăng khả năng sáng tạo các tác phẩm báo chí đa loại hình, thu hút đa

dạng các đối tượng người đọc và người xem); kỹ năng khai thác, chặt lọc thông tin (nhà báo cần có kỹ năng sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại

phục vụ hoạt động nghiệp vụ báo chí, có kỹ năng phát hiện vấn đề, kỹ năng

thu thập, khai thác, xử lý kiểm chứng thông tin và xây dựng tác phẩm); tư duy

đa phương tiện: Những cách “kể chuyện" mới đang khiến nhà báo phải dân

tách khỏi cách sáng tạo tác phẩm báo chí thông thường Họ phải thu thập, sản xuất và trình bày thông tin theo cách có thể kết hợp nhiều loại phương tiện

truyền tải để cho ra đời những sản phẩm hiệu quả, sống động, chân thực; hội nhập, làm chủ công nghệ: Nếu như trước đây, nhà báo chỉ cần biết chụp ảnh,

hoặc chỉ chuyên về viết tin, bài cho báo in, quay phim cho truyền hình hoặc chỉ chuyên biên tập cho phát thanh thì bây giờ, nhà báo có thể tham gia vào việc thực hiện các tác phẩm thuộc các loại hình báo chí khác nhau, vừa quay phim, vừa chụp ảnh, vừa viết bài, vừa dàn dựng, lồng ghép âm thanh

- Góp phần nâng cao hiệu quả truyền thông: Hiệu quả truyền thông

được nâng cao rõ rệt trong quá trình truyền tải thông tin nhờ vào những yếu tố

đa phương tiện bởi thông tin dễ gây chú ý hơn Đồng thời, thông tin đa phương tiện chân thực, dễ hiểu, dễ tiếp nhận bởi video, hình ảnh, âm thanh,

đồ họa Tất cả thông tin cần diễn đạt đều gói gọn trong các hình ảnh, độc giả không cần tưởng tượng, mà chỉ việc xem và nắm bắt thông tin Việc sử dụng

đa phương tiện giúp cho quá trình tiếp nhận thông tin của công chúng ngắn hơn, tiết kiệm được nhiều thời gian hơn Ví dụ, thay vì những tin bài dài, tác

Trang 32

phẩm báo chí đa phương tiện có sử dụng video, audio để cung cấp thông tin cho độc giả chỉ mất 2 tới 3 phút như khi đưa tin về vụ xe Camry gây tai nạn liên hoàn tại Hà Nội khiến 3 người chết vào ngày 29/2/2016

1.1.2 Tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện

Tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí là việc xây dựng một quy trình bao gồm các công đoạn bắt buộc kế tiếp nhau trong quá trình sản xuất các sản phẩm báo chí, bao gồm báo in, tạp chí, chương trình truyền hình, phát thanh, truyền hình, báo mạng Do sản phẩm báo chí đa dạng nên quy trình tổ chức sản xuất cũng khác nhau để phù hợp với đặc điểm của từng thể loại

Dù vậy, đối với bất kỳ quy trình nào, nguyên liệu đầu vào đều là một loại “hàng hóa” đặc biệt Đó chính là thông tin, tin tức Thông tin được xử lý theo quy trình trước khi cho ra đời sản phẩm báo chí được thể hiện dưới hình thức tương ứng với nội dung, theo các thể loại tác phẩm báo chí như tin tức, phóng sự, phỏng vấn, chụp nhanh, điều tra, phóng sự ,

Quy trình sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện

Mỗi tác phẩm báo chí từ khi bắt đầu sản xuất đến khi được công chúng tiếp nhận đều tuân theo một trình tự các bước nhất định, gọi là quy trình sáng tạo tác phẩm báo chí Đó là sự sáng tạo của nhà báo (hoặc của một nhóm nhà báo) trong quá trình phản ánh hiện thực khách quan, là khung cơ bản, định dạng trình tự, cách thức phối hợp thực hiện và các kỹ năng tác nghiệp của nhà báo

Báo chí đa phương tiện là một loại hình báo chí có sự liên kết và phụ thuộc lớn vào công nghệ, cụ thể ở đây là sử dụng kết hợp các phương tiện truyền thông (như hình ảnh, audio, video, đồ họa bên cạnh văn bản) để chuyển tải thông tin Chính vì thế, quy trình sáng tạo tác phẩm báo chí đa phương tiện cũng có những đặc thù và lưu ý nhất định, gồm 7 bước cơ bản

dưới đây:

- Xác định đề tài, hình thành ý tưởng

- Thu thập, khai thác và xử lý thông tin

Trang 33

- Xây dựng kịch bản thô cho “câu chuyện” đa phương tiện

- Sản xuất và truyền tải thông tin qua các phương tiện như ảnh, video, audio, thông tin đồ họa và các chương trình tương tác

- Biên tập và xử lý dữ liệu bằng các phần mềm chuyên dụng

- Xuất bản lên hệ thống quản lý nội dung (CMS) hoặc mạng Internet

- Tiếp nhận, theo dõi và xử lý phản hồi

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỘI DUNG VÀ

TỔ CHỨC SẢN XUẤT SẢN PHẨM BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN Ở CÁC CƠ QUAN THƯỜNG TRÚ THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

1.2.1 Giới thiệu TTXVN

TTXVN là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng của cơ quan thông tấn nhà nước, đăng tải, phổ biến thông tin, văn bản của Đảng và Nhà nước; cung cấp thông tin phục vụ yêu cầu lãnh đạo của Đảng và quản lý nhà nước; thu thập, phổ biến thông tin bằng nhiều hình thức thông tin, truyền thông

đa phương tiện, phổ biến thông tin phục vụ công chúng và các tổ chức thông tấn trong nước, quốc tế

TTXVN là tổ hợp thông tin đa phương tiện với 32 đơn vị đầu mối, trong đó có 7 đơn vị thông tin nguồn (gồm 5 đơn vị biên tập và 2 trung tâm thông tin), cung cấp thông tin cho các hệ thống truyền thông trong và ngoài nước; các cơ quan báo chí, xuất bản (trong đó có 10 báo in, báo điện tử, 1 kênh truyền hình, 1 nhà xuất bản ), 5 trung tâm dịch vụ thông tin Ngoài ra, còn có khối đơn vị chức năng và 2 nhà in

Với hơn 60 ấn phẩm thông tin, TTXVN là cơ quan báo chí có nhiều sản phẩm và loại hình thông tin nhất cả nước Các sản phẩm và loại hình thông tin bao gồm tin văn bản, tin ảnh, tin tức truyền hình, tin ảnh, tin âm thanh ; từ nhật báo, tuần báo, tạp chí, báo ảnh, ấn phẩm sách đến các kênh truyền hình, báo điện tử, báo giấy trực tuyến, thông tin trên thiết bị di động, trang mạng xã hội, v.v

Trang 34

Trong những năm qua, TTXVN không ngừng nỗ lực cập nhật cơ chế và phương thức hoạt động, với mục tiêu phát triển thành một tổ chức thông tấn

có uy tín trong khu vực, theo mô hình tổ hợp báo chí hiện đại, đa dạng, phong phú về nội dung, cung cấp thông tin cho nhiều đối tượng Theo mô hình này, TTXVN gồm 3 khối tác nghiệp lớn như sau:

Hình 1.1 Sơ đồ hoạt động của TTXVN

Nguồn: dhtn.ttxvn.org.vn

 Khối thông tin thông tấn (thông tin nguồn)

Đóng vai trò là “ngân hàng tin” của Việt Nam, TTXVN thực hiện chức năng thông tấn nhà nước, cung cấp tin nguồn chính thức và chính thống cho các cơ quan báo chí trong và ngoài nước thông qua 7 đơn vị thông tin nguồn,

với gần 30 sản phẩm thông tin thuộc mọi loại hình truyền thông, gồm: Ban biên tập Tin Trong nước, Ban biên tập Tin Thế giới, Ban biên tập Tin Đối ngoại, Ban biên tập Tin Kinh tế, Ban Ảnh, Trung tâm Truyền hình Thông tấn,

Trung tâm Thông tin Tư liệu và Đồ họa

 Khối truyền thông đối nội

Trang 35

Bên cạnh chức năng là hãng thông tấn quốc gia, TTXVN còn là một tổ hợp truyền thông phục vụ trực tiếp nhu cầu thông tin của đông đảo công chúng người Việt thông qua các cơ quan báo chí, xuất bản với hơn 20 sản

phẩm thông tin thuộc nhiều loại hình đa dạng như sau: Kênh truyền hình Thông tấn (Vnews), Báo Tin tức, Báo Thể thao và Văn hoá, Báo ảnh Dân tộc

và Miền núi, Báo điện tử VietnamPlus, Trang thông tin kinh tế điện tử Bnews, Nhà xuất bản Thông tấn

 Khối truyền thông đối ngoại

Là trung tâm thông tin đối ngoại hàng đầu của Việt Nam, ngoài việc cung cấp tin nguồn cho các cơ quan thông tấn, báo chí nước ngoài, TTXVN còn có hàng loạt cơ quan báo chí cung cấp thông tin trực tiếp cho công chúng nước ngoài bằng nhiều thứ tiếng Các cơ quan báo chí đối ngoại của TTXVN

gồm có: Báo Ảnh Việt Nam, Báo Việt Nam News, Báo Le Courrier du Vietnam, Tạp chí Vietnam Law and Legal Forum, Tuần báo Thời báo Việt – Hàn

Hiệu quả hoạt động của ba khối thông tin TTXVN chỉ có thể đạt được nhờ có sự hỗ trợ chủ động và tích cực của các đơn vị phục vụ thông tin trong ngành, gồm có 5 trung tâm: Trung tâm Kỹ thuật Thông tấn, Trung tâm Bồi dưỡng nghiệp vụ Thông tấn, Trung tâm Phát triển Truyền thông Thông tấn, Trung tâm Tin học và Trung tâm Hợp tác quốc tế Thông tấn

Trang 36

Hình 1.2 Thông tấn xã Việt Nam qua các con số

Trang 37

1.2.2 Hệ thống CQTT trong nước của TTXVN

Các CQTT trong nước là đơn vị trực thuộc Tổng Giám đốc TTXVN, đại diện TTXVN tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong cả nước CQTT chịu sự lãnh đạo, quản lý của Tổng Giám đốc TTXVN Ban Quản lý chỉ đạo CQTT trong nước, trực tiếp là Ban Thư ký Biên tập là đơn vị giúp Tổng Giám đốc chỉ đạo, quản lý CQTT

Mỗi CQTT có biên chế từ 2 đến 3 phóng viên, gồm Trưởng CQTT và phóng viên, dựa trên vị trí địa lý, tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, diện tích, dân số của từng địa phương Riêng 5 thành phố trực thuộc Trung ương, CQTT có biên chế phóng viên nhiều hơn Tổng Giám đốc TTXVN quyết định xây dựng CQTT trọng điểm tại một số địa bàn, căn cứ vị trí địa lý, kinh tế, văn hóa xã hội, quốc phòng an ninh và yêu cầu thông tin ở địa phương đó Mỗi CQTT trọng điểm được bố trí ít nhất 4 phóng viên, gồm phóng viên tin, ảnh và truyền hình

Mỗi phóng viên ở CQTT thường trong một nhiệm kỳ kéo dài 3 năm Trường hợp do yêu cầu công tác mà phải kéo dài nhiệm kỳ hoặc điều động đến CQTT khác, Tổng Giám đốc TTXVN căn cứ vào khả năng, nguyện vọng

và hoàn cảnh của phóng viên đó để quyết định

Hệ thống các CQTT trong nước được quản lý về mặt hành chính theo

ba khu vực: phía Bắc gồm 29 CQTT (từ Quảng Bình trở ra); khu vực miền Trung - Tây Nguyên gồm 13 CQTT (từ Quảng Trị đến Khánh Hòa và 5 tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lắk, Đăk Nông, Lâm Đồng) do Cơ quan TTXVN khu vực Miền Trung - Tây Nguyên đóng tại Đà Nẵng quản lý và phía Nam bao gồm 21 CQTT còn lại (từ Ninh Thuận trở vào), đặt dưới sự quản lý của

Cơ quan TTXVN khu vực phía Nam tại TP Hồ Chí Minh

CQTT trong nước tham gia trực tiếp quy trình sản xuất tin của TTXVN khi thực hiện chức năng nắm bắt các nguồn tin và phản ánh bằng các loại

Trang 38

thông tin từ mọi sự kiện quan trọng, có ý nghĩa xảy ra ở các địa phương, phù hợp với đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của TTXVN

TTXVN hiện có 63 cơ CQTT trong nước với hơn 190 phóng viên

thường trú tại tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó có 21 CQTT khu vực phía Nam, 14 CQTT khu vực miền Trung - Tây nguyên và 28 CQTT khu vực phía Bắc, là cơ quan báo chí duy nhất ở Việt Nam có hệ thống cơ quan đại diện trải đều khắp 63 tỉnh, thành phố trong cả nước Có thể nói, đây

là thế mạnh của TTXVN, và là một yếu tố quan trọng đến việc thực hiện sản xuất thông tin báo chí một cách đồng bộ và hiệu quả nhất Ở đây, cần nói thêm tính quyết định khi thực hiện việc tổ chức sản xuất thông tin là việc phối hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn giữa các bộ phận trong TTXVN

Vì CQTT là đại diện của TTXVN tại một địa phương nên có trách nhiệm nắm bắt, phản ánh cập nhật bằng các loại thông tin, thể loại thông tấn mọi sự kiện quan trọng, có ý nghĩa xảy ra tại địa phương đó, trên tinh thần phù hợp với đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước và định hướng tuyên truyền của Ngành Đây là mạng lưới thông tin rộng khắp, mang tính đặc thù của TTXVN, vừa phục vụ cho yêu cầu thông tin mang tính toàn quốc, vừa trực tiếp tuyên truyền, cổ động đắc lực cho các phong trào hoạt động tại địa phương mình trú đóng, phản ánh cả những mặt làm được, những mặt chưa làm được, những thuận lợi, khó khăn, làm cho cả nước và thậm chí cả nhân dân thế giới hiểu rõ tình hình mới nhất của địa phương

đó Để đảm bảo tính toàn quốc của thông tin, đảm bảo chức năng của cơ quan thông tấn Trung ương, CQTT không được bỏ sót một sự kiện quan trọng nào xảy ra ở địa phương

Trang 39

Các nội dung này là cơ sở, nền tăng lý luận quan trọng giúp tác giả khảo sát đánh giá thực trạng về cách thức quản lý nội dung và tổ chức sản xuất sản phẩm báo chí truyền thông đa phương tiện ở các CQTT trong nước của TTXVN, đồng thời làm cơ sở để giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra trong các chương tiếp theo của luận văn

Trang 40

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NỘI DUNG VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT SẢN PHẨM BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN Ở CÁC CƠ

QUAN THƯỜNG TRÚ THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

2.1 CHỦ THỂ, ĐỐI TƯỢNG QUẢN LÝ NỘI DUNG VÀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT SẢN PHẨM BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG ĐA PHƯƠNG TIỆN Ở CÁC CQTT CỦA TTXVN

2.1.1 Chủ thể quản lý

+ Ban Thư ký biên tập và Quan hệ đối ngoại: Làm thư ký tổng hợp,

tham mưu và giúp việc cho Ban lãnh đạo TTXVN trong việc chỉ đạo, quản lý, điều hành công tác thông tin và công tác đối ngoại của ngành Trong các cuộc họp giao ban của TTXVN, Ban Thư ký biên tập và Quan hệ đối ngoại có nhiệm vụ tổng hợp các ý kiến chỉ đạo của Ban lãnh đạo và ý kiến từ các đơn

vị trong TTXVN; nhận xét, góp ý các thông tin được phát trên mạng dịch vụ của TTXVN

+ Ban biên tập Tin Trong nước: Kết hợp với mạng lưới 63 cơ quan

thường trú tại các tỉnh, thành phố trong cả nước, hàng ngày cung cấp các tin tức thời sự về chính trị, ngoại giao, văn hóa - xã hội, công nghệ - môi trường của Việt Nam, v.v Đây là những thông tin có tính định hướng phản ánh kịp thời quá trình thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; đính chính những thông tin sai lệch, phản bác luận điệu xuyên tạc, chống phá nhà nước của các thế lực thù địch Ban thực hiện Tin trong nước (phát liên tục trên cổng điện tử news.vnanet.vn) và Báo cáo tham khảo nội bộ (phần trong nước)

Trong cơ cấu tổ chức của Ban biên tập Tin trong nước có Phòng Quản

lý CQTT trong nước Đây là đơn vị quản lý hoạt động hàng ngày của các CQTT trong nước trong công tác thông tin, chịu trách nhiệm tổng hợp tin bài

Ngày đăng: 20/04/2023, 06:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hồng Chương (1997), Tìm hiểu lịch sử báo chí Việt Nam, Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu lịch sử báo chí Việt Nam
Tác giả: Hồng Chương
Nhà XB: Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin
Năm: 1997
2. Đức Dũng (2000), Viết báo như thế nào, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viết báo như thế nào
Tác giả: Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2000
3. Nguyễn Văn Dững (chủ biên) (2006), Tác phẩm báo chí, tập II, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm báo chí, tập II
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2006
4. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí truyền thông hiện đại (từ hàn lâm đến đời thường), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí truyền thông hiện đại (từ hàn lâm đến đời thường)
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2011
5. Nguyễn Văn Dững (2013), Cơ sở lý luận báo chí, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2013
6. Nguyễn Văn Dững (chủ biên) (2017), Báo chí giám sát, phản biện xã hội ở Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí giám sát, phản biện xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2017
7. Đảng bộ Thông tấn xã Việt Nam (2020), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thông tấn xã Việt Nam lần thứ XXVI, nhiệm kỳ 2020-2025, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thông tấn xã Việt Nam lần thứ XXVI, nhiệm kỳ 2020-2025
Tác giả: Đảng bộ Thông tấn xã Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2020
8. Nguyễn Thị Trường Giang (2010), Báo Mạng điện tử - Những vấn đề cơ bản, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Mạng điện tử - Những vấn đề cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Trường Giang
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
Năm: 2010
9. Nguyễn Thị Trường Giang (2014), Sáng tạo tác phẩm báo mạng điện tử, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tạo tác phẩm báo mạng điện tử
Tác giả: Nguyễn Thị Trường Giang
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2014
10. Nguyễn Thị Trường Giang (chủ biên) (2017), Báo chí và Truyền thông đa phương tiện, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và Truyền thông đa phương tiện
Tác giả: Nguyễn Thị Trường Giang
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2017
11. Đỗ Thị Thu Hằng (2016), Quy trình tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông trong môi trường truyền thông số hiện nay, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình tổ chức sản xuất sản phẩm truyền thông trong môi trường truyền thông số hiện nay
Tác giả: Đỗ Thị Thu Hằng
Nhà XB: Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Năm: 2016
12. Đỗ Thị Thu Hằng (chủ biên) (2016), Giáo trình Báo chí điều tra, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Báo chí điều tra
Tác giả: Đỗ Thị Thu Hằng
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2016
13. Đỗ Thị Thu Hằng (chủ biên) (2019), Báo chí truyền thông - Những điểm nhìn từ thực tiễn Tập 4, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí truyền thông - Những điểm nhìn từ thực tiễn Tập 4
Tác giả: Đỗ Thị Thu Hằng
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2019
14. Đinh Thị Thúy Hằng (2008), Báo chí thế giới và xu hướng phát triển, Nxb Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí thế giới và xu hướng phát triển
Tác giả: Đinh Thị Thúy Hằng
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2008
15. Trần Quang Hải (2010), Chi tiết trong tác phẩm báo chí, Luận án Tiến sĩ truyền thông đại chúng, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chi tiết trong tác phẩm báo chí
Tác giả: Trần Quang Hải
Nhà XB: Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Năm: 2010
16. Vũ Quang Hào (2004), Báo chí và đào tạo báo chí Thụy Điển, Bộ Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và đào tạo báo chí Thụy Điển
Tác giả: Vũ Quang Hào
Nhà XB: Bộ Văn hóa - Thông tin
Năm: 2004
17. Vũ Quang Hào (2009), Ngôn ngữ Báo chí, Nxb Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ Báo chí
Tác giả: Vũ Quang Hào
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2009
18. Nguyễn Quang Hòa (2016), Tổ chức hoạt động cơ quan báo chí - Thực tiễn và xu hướng phát triển, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động cơ quan báo chí - Thực tiễn và xu hướng phát triển
Tác giả: Nguyễn Quang Hòa
Nhà XB: Nxb Thông tin và Truyền thông
Năm: 2016
19. Nguyễn Thị Thương Huyền (2019), Quy trình sản xuất sản phẩm báo chí đối ngoại ở Việt Nam hiện nay, Học Viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình sản xuất sản phẩm báo chí đối ngoại ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Thương Huyền
Nhà XB: Học Viện Báo chí và Tuyên truyền
Năm: 2019
20. Đinh Văn Hường (2007), Các thể loại báo chí thông tấn, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thể loại báo chí thông tấn
Tác giả: Đinh Văn Hường
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2007

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm