HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN TRƯƠNG ANH NHẬT VƯƠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TÁC VỚI THÍNH GIẢ TRONG CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH TRỰC TIẾP CỦA ĐÀI PHÁT THANH – TRUYỀN HÌNH HÀ NỘI LUẬN VĂ
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TRƯƠNG ANH NHẬT VƯƠNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TÁC VỚI THÍNH GIẢ TRONG CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH TRỰC TIẾP CỦA ĐÀI PHÁT THANH – TRUYỀN HÌNH HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
HÀ NỘI - 2021
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TRƯƠNG ANH NHẬT VƯƠNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TÁC VỚI THÍNH GIẢ TRONG CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH TRỰC TIẾP CỦA ĐÀI PHÁT THANH – TRUYỀN HÌNH HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý Phát thanh – Truyền hình & Báo mạng điện tử
Mã số: 8 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS TRƯƠNG THỊ KIÊN
HÀ NỘI - 2021
Trang 3CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS, TS, Đinh Thị Thu Hằng
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS, TS Trương Thị Kiên Các thông tin, số liệu được
sử dụng trong luận văn là rõ ràng và xác thực Các kết quả nghiên cứu trong đề tài nghiên cứu chưa từng được công bố trong công trình khoa học nào trước đó
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trang 5Để hoàn thành đề tài Luận văn này, lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến PGS, TS Trương Thị Kiên, người trực tiếp hướng dẫn tôi, giúp tôi vượt qua được những khó khăn trong quá trình tìm kiếm tài liệu, triển khai hướng đi và cách trình bày đề tài Từ khi hình thành ý tưởng cho đến khi bắt tay vào triển khai, tôi nhận được nhiều sự góp ý của cô để có thể sửa chữa,
bổ sung, hoàn thiện đề tài theo hướng hoàn chỉnh nhất
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô là giảng viên của Học viện Báo chí và Tuyên truyền, đặc biệt là các thầy cô Khoa Phát thanh – Truyền hình
đã truyền cho tôi những bài giảng quý báu Những kiến thức thầy cô mang lại
là cơ sở nền tảng để chúng tôi xây dựng và phát triển đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo, các phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên của Đào Phát thanh – Truyền hình Hà Nội đã nhiệt tình hỗ trợ, giúp
đỡ chúng tôi trong quá trình phỏng vấn đề hoàn thiện sâu sắc hơn đề tài này
Chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã đồng hành, hỗ trợ, chia sẻ cùng tôi trong quá trình khảo sát, điều tra và hoàn thành đề tài
Trang 6CTV : Cộng tác viên GTĐT : Giao thông đô thị KTV : Kỹ thuật viên
MC : Người dẫn chương trình NXB : Nhà xuất bản
PGS,TS : Phó Giáo sư Tiến sĩ PTBT : Phó Tổng Biên tập PTGĐ : Phó Tổng Giám đốc PTTT : Phát thanh trực tiếp PTTH : Phát thanh Truyền hình
PV : Phóng viên PVS : Phỏng vấn sâu TBT : Tổng Biên tập TGĐ : Tổng Giám đốc
TS : Tiến sĩ Th.S : Thạc sĩ
Trang 7Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TÁC VỚI THÍNH GIẢ TRONG CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH
TRỰC TIẾP 18
1.1 Một số thuật ngữ, khái niệm liên quan đến đề tài 18
1.2 Vai trò của quản lý hoạt động tương tác với thính giả trong chương trình phát thanh trực tiếp 28
1.3 Chủ thể, đối tượng, nội dung và phương thức quản lý hoạt động tương tác với thính giả 33
1.4 Tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý hoạt động tương tác với thính giả trong chương trình phát thanh trực tiếp 46
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TÁC VỚI THÍNH GIẢ TRONG CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH TRỰC TIẾP CỦA ĐÀI PHÁT THANH TRUYỀN HÌNH HÀ NỘI 50
2.1 Giới thiệu chương trình “Giao thông đô thị FM90” của Đài Phát thanh truyền hình Hà Nội 50
2.2 Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động tương tác trực tiếp với thính giả của chương trình 53
2.3 Đánh giá chất lượng quản lý hoạt động tương tác trực tiếp với thính giả của chương trình 74
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯƠNG TÁC VỚI THÍNH GIẢ TRONG CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH TRỰC TIẾP 87
3.1 Một số vấn đề đặt ra 87
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quản lý tương tác trực tiếp với thính giả 89
KẾT LUẬN 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 117
Trang 8Biểu đồ 2.1 Mô hình tương tác trong chương trình Giao thông đô thị 69 Biểu đồ 2.2 Đánh giá mức độ hài lòng của thính giả về hoạt động tương tác
của chương trình Giao thông đô thị (Đơn vị %) 76 Biểu đồ 2.3: Thống kê số lượng cuộc gọi điện tương tác thính giả đến đường
dây nóng Chương trình GTĐT của FM90 năm 2020 76 Biểu đồ 2.4: Tình hình tiếp cận và tương tác chương trình Giao thông đô thị
qua facebook 4 tháng đầu năm 2020 78 Biểu đồ 2.5 Đánh giá của thính giả về các phương thức tương tác trên chương
trình PTTT (Đơn vị %) 80 Biểu đồ 2.6: Khảo sát mong muốn của thính giả về sự phát triển chương trình
Giao thông đô thị Đơn vị: % 84
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Với nỗ lực đổi mới không ngừng để tồn tại và khẳng định chỗ đứng, những năm gần đây các chương trình phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam cũng như các đài Phát thanh, truyền hình ở các địa phương không chỉ sáng tạo
để đổi mới nội dung, mà về hình thức thể hiện cũng đã có nhiều thể loại tác phẩm, dạng thức chương trình phát thanh mới ra đời, như phát thanh trực tiếp, phát thanh tương tác, phát thanh mở và phát thanh thực tế Trong đó phát triển rầm rộ và mạnh mẽ nhất phải kể đến phát thanh trực tiếp, tương tác
Có thể khẳng định, tương tác là yếu tố quan trọng của báo chí nói chung và phát thanh hiện đại nói riêng Sự tham gia của thính giả vào chương trình ngày ngay tại thời điểm phát sóng được coi là 1 trong những đặc điểm nổi bật tạo nên ưu thế của phát thanh trực tiếp so với phát thanh truyền thống Nhờ vào tính tương tác cao, thính giả có thể tham gia vào chương trình với nhiều hình thức khác nhau Thính giả có thể tham gia bình luận, trao đổi, nêu yêu cầu trong chương trình phát thanh trực tiếp và được đáp ứng ngay tại thời điểm chương trình phát sóng Họ góp phần tạo nên 1 chương trình hấp dẫn, cuốn hút người nghe Như vậy nhờ vào tính tương tác, thính giả không chỉ nghe, được trả lời mà còn được trực tiếp tham gia vào chương trình Chính sự gần gũi, thân thiết đến độ gần như không có khoảng cách ấy đã giúp phát thanh vẫn giữ được công chúng ngay cả ở những quốc gia mà truyền hình, internet và truyền thông xã hội phát triển mạnh hàng đầu thế giới
Chính thức lên sóng từ ngày 14/1/2019, Chương trình Phát thanh “Giao thông đô thị” FM90 cập nhật liên tục thông tin về tình hình giao thông thủ đô cũng như những tin tức thiết thực liên quan đời sống dân sinh, thông tin thương mại, thị trường, giá cả, mua sắm, du lịch và giải trí…nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của cư dân Thủ đô Các khung giờ “Hà Nội Sáng - Trưa -
Trang 10Chiều” của FM90 tại Hà Nội được xây dựng dựa trên khảo sát nhu cầu thông tin của hơn 2 triệu thính giả đang lái ô tô, hoặc ngồi trên ô tô tại Hà Nội và TP.HCM Đặc biệt chương trình còn kết nối trực tiếp với tài xế và người dân trên địa bàn để cung cấp thông tin giao thông xác thực, nhanh chóng và sinh động trên mọi nẻo đường, đồng thời tương tác liên tục với thính giả và chuyên gia để bàn về các vấn đề đang được xã hội và người dân quan tâm Đây cũng
là 1 trong những nét mới thu hút và hấp dẫn ngày càng đông đảo thính giả đến với những chương trình phát thanh của Đài PTTH Hà Nội, vốn đã có bề dày trên 65 năm, nhưng nay đang tưởng như bị lãng quên trước sự phát triển mạnh
mẽ như vũ bão của nhiều sản phẩm báo chí khác
Tuy nhiên, có 1 vấn đề đặt ra trong quá trình sản xuất các chương trình phát thanh tương tác nói chung, cũng như chương trình Phát thanh “Giao thông đô thị” FM90 của Đài PTTH Hà Nội nói riêng, do đây là loại hình phát thanh mang tính tương tác trực tiếp, nội dung chương trình phụ thuộc 1 phần không nhỏ vào những thính giả tương tác với chính chương trình Do đó vai trò của người làm công tác tổ chức sản xuất, quản lý nội dung tương tác trên các chương trình phát thanh này hết sức quan trọng Bởi thực tế chỉ cần 1 sơ sảy nhỏ trong công việc của những người làm công việc này, không chỉ có thể làm hỏng cả 1 chương trình vốn được đầu tư rất nhiều công sức, thậm chí còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ về mất an ninh chính trị trên sóng phát thanh
Với mong muốn làm rõ bản chất, những quy tắc, nguyên tắc trong hoạt động của những người làm công việc tổ chức sản xuất, quản lý nội dung tương tác trực tiếp với thính giả trên các chương trình phát thanh hiện nay, trọng tâm là chương trình Phát thanh “Giao thông đô thị” FM90 trên sóng
Phát thanh Truyền hình Hà Nội, do đó tôi đã lựa chọn đề tài “Quản lý nội dung tương tác trên chương trình Giao thông đô thị FM90 của Đài PTTH
Hà Nội” để làm đề tài nghiên cứu trong luận văn thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Nói về vấn đề phát thanh thanh trực tiếp và tương tác trong chương
Trang 11trình phát thanh, có khá nhiều cuốn sách, đề tài khóa luận, luận văn nghiên cứu về vấn đề này Tác giả xin liệt kê sơ lược một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn, cụ thể như sau:
2.1 Tài liệu về quản lý báo chí
Trong cuốn sách “Công tác lãnh đạo, quản lý báo chí trong 25 năm
tiến hành sự nghiệp đổi mới”, PGS TS Nguyễn Thế Kỷ (chủ biên) đề cập đến
nội dung, phương thức, sự đổi mới tư duy, phong cách lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước đối với báo chí; chỉ ra những ưu điểm và hạn chế, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác lãnh đạo, quản lý báo chí của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn mới
Trong cuốn sách “Quản lý và phát triển thông tin báo chí ở Việt Nam”
nhà báo Đỗ Quý Doãn đã tập trung làm rõ thực trạng tình hình, những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý, chỉ đạo và phát triển báo chí hiện nay và đưa ra những giải pháp cơ bản cho công tác quản lý thông tin báo chí Việt Nam
Sách “Cẩm nang quản lý phát thanh truyền hình” của Keith Jacson,
Phil Charlay Tom Hogan do Đài Tiếng nói Việt Nam dịch và xuất bản (2010)
là công trình phổ biến những kinh nghiệm quản lý trong lĩnh vực phát thanh truyền hình
Sách “Lãnh đạo và quản lý hoạt động báo chí ở Việt Nam hiện nay”
của Hoàng Quốc Bảo (chủ biên) không chỉ cung cấp cho người học tri thức về lãnh đạo, quản lý báo chí mà còn góp phần quan trọng vào việc hình thành năng lực tham mưu, lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và năng lực tham gia vào việc tổ chức thực hiện sự quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí của người cán bộ văn hóa - tư tưởng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Cuốn sách “Thông tin báo chí với công tác lãnh đạo, quản lý” của tác
giả Nguyễn Đức Lợi với những nội dung về nhu cầu thông tin báo chí với mỗi cá nhân trong xã hội, nhất là đối với các cơ quan, cá nhân lãnh đạo quản
lý Những người lãnh đạo quản lý rất cần những thông tin báo chí trung
Trang 12thực, những bài báo phân tích tình hình, giúp hiểu được bản chất vấn đề, logic các sự kiện đang diễn ra hàng ngày trên thế giới và trong nước, những bài báo mang tính chuyên nghiệp… rõ ràng, báo chí đã đồng hành cùng Đảng và Nhà nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức, làm tốt công tác tư tưởng, phục vụ nhu cầu thông tin ngày càng tăng của đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý và nhân dân…
Cuốn sách "Tổ chức hoạt động cơ quan báo chí - Thực tiễn và xu
hướng phát triển” của tác giả TS Nguyễn Quang Hòa cung cấp cho độc giả
một bức tranh toàn cảnh về báo chí hiện nay, giúp người đọc hiểu rõ bản chất của hoạt động báo chí và mỗi trang báo, số báo, chương trình phát thanh - truyền hình, đưa đến cái nhìn một cách toàn diện và đầy đủ nhất về bộ máy tòa soạn các cơ quan báo chí, bao gồm tất cả các cơ quan báo in, phát thanh, truyền hình, hãng tin tức, báo mạng điện tử hiện nay và cả xu hướng phát triển của báo chí
Bài báo khoa học “Đổi mới tư duy về quản lý báo chí trong tình hình
mới”, tạp chí Quản lý nhà nước số 233, tháng 6/2015 của tác giả Nguyễn Thị
Mai Anh Trong điều kiện hội nhập, trong bối cảnh công nghệ thông tin và truyền thông đa phương tiện phát triển vượt bậc, nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp quản lý nhà nước về báo chí phù hợp, hiệu quả hơn nhằm tiếp tục tạo điều kiện cho báo chí phát triển đúng hướng là cần thiết
Các công trình nghiên cứu khoa học nêu trên sẽ cơ sở lý luận quan trọng để tác giả hiểu rõ hơn về vai trò và tầm quan trọng của việc quản lý báo chí, nhất là trong giai đoạn hiện nay
2.2 Tài liệu về báo phát thanh
Liên quan đến phát thanh, chương trình phát thanh, phát thanh trực tiếp, những đặc điểm của phát thanh, có một số sách, giáo trình đề cập đến vấn đề này:
Cuốn sách “Báo phát thanh”, Phân viện Báo chí & Tuyên truyền - Đài
Trang 13Tiếng nói Việt Nam, Nxb Văn hóa- Thông tin cung cấp thông tin căn bản nhất
về phát thanh và đề cập một cách khá toàn diện về những vấn đề của phát thanh Việt Nam hiện đại
Cuốn“Cơ sở lý luận báo chí” (Nxb Lao động, H.2013), tác giả Nguyễn
Văn Dững đã khái quát lịch sử phát triển của phát thanh và những thế mạnh, hạn chế của loại hình phương tiện truyền thông này Tác giả nêu rõ: “Chất liệu chính của phát thanh là sử dụng lời nói, tiếng động và âm nhạc trong việc tái hiện cuộc sống hiện thực”
Trong cuốn “Lý luận phát thanh” (Nxb Văn hóa - thông tin, H.2003), ở
chương 1, tác giả Đức Dũng đã dành 21 trang để đề cập đến phát thanh trực tiếp Tác giả khẳng định “Có thể nói phát thanh trực tiếp là hình thức thể hiện mới của phát thanh hiện đại, tạo ra sự hấp dẫn mới cho làn sóng phát thanh Tính thời sự và sự gần gũi, thân mật là hai yếu tố đảm bảo sức mạnh của phát thanh trong bối cảnh của đời sống hiện đại và phát thanh trực tiếp đã có cả hai
ưu thế quan trọng này”
Trong bài viết “Phương thức sản xuất chương trình phát thanh hiện đại
Việt Nam”, tác giả Đức Dũng đã chỉ ra rằng, xu hướng chuyển sang phương
thức sản xuất mới như phát thanh trực tiếp, phát thanh nhìn, phát thanh trên internet là sự tất yếu Tác giả khẳng định: “Phát thanh hiện đại là sự kế thừa
và phát triển của phát thanh truyền thống với những thay đổi trong phương thức sản xuất các chương trình phát thanh dựa trên nền tảng của công nghệ,
kỹ thuật mới để tạo ra được chất lượng nội dung và hình thức mới, từ đó đem lại hiệu quả tác động mới cho những lớp công chúng mới”
“Cẩm nang hướng dẫn phát thanh trực tiếp” do Đài Tiếng nói Việt
Nam- Bộ Văn hóa thông tin - Tổ chức SiDa (Thụy Điển) phối hợp sản xuất năm 2005 Nội dung sách được biên soạn từ kinh nghiệm của các giảng viên nước ngoài về cách thực hiện các chương trình phát thanh trực tiếp dành cho những người làm phát thanh Việt Nam
Trang 14Cuốn sách “Báo phát thanh lý thuyết và kỹ năng cơ bản” của tác giả Đinh
Thị Thu Hằng đề cập đến những lý luận cơ bản về báo phát thanh Tác giả giới thiệu về quá trình hình thành và phát triển của báo phát thanh; đặc trưng, công chúng và phương tiện hoạt động, viết và biên tập cho báo phát thanh, các thể loại của báo phát thanh và tổ chức sản xuất chương trình phát thanh
Trong cuốn sách “Các thể loại báo phát thanh” do PGS.TS Đinh Thị
Thu Hằng làm chủ biên nếu vai trò và đặc điểm của từng thể loại phát thanh: tin, phóng sự, diễn đàn, tọa đàm Đồng thời, cung cấp những kiến thức và kỹ năng cho phóng viên trong quá trình tác nghiệp
Cuốn “Phát thanh trực tiếp” của tác giả GS TS Vũ Văn Hiền và TS
Đức Dũng (chủ biên) đã phân tích vai trò quan trọng của chương trình phát thanh trực tiếp (PTTT) đối với báo phát thanh trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt giữa các loại hình truyền thông hiện đại Cuốn sách cung cấp những lý thuyết cơ bản về phát thanh tương tác trực tiếp, những đặc điểm và các dạng của chương trình PTTT, cũng như quy trình thực hiện các chương trình này
Từ đó rút ra những kết luận khoa học để định hướng thực tiễn và đáp ứng được những yêu cầu đối với việc sản xuất các chương trình PTTT Cuốn sách cũng khẳng định, hoạt động tương tác là một phần không thể thiếu của các chương trình PTTT, phát thanh mở
Một số cuốn sách chuyên khảo về phát thanh như cuốn “Dựng nghiệp
phát thanh” (2005) và cuốn “70 năm Đài Tiếng nói Việt Nam” (2015) có nội
dung chung đề cập đến sự hình thành và phát triển của Đài Tiếng nói Việt Nam từ năm 1945 đến nay
Ngoài ra, trên thế giới cũng có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận
và thực tiễn của phát thanh:
Trong cuốn sách “Hướng dẫn sản xuất chương trình phát thanh” của
Lois Baird, Trường phát thanh- Truyền hình và Điện Ảnh Australia và cuốn
“Nghề phát thanh” của tác giả Michel Keye và Andrew Popperwel cũng có nội dung đề cập đến PTTT
Trang 15Tác giả Clas Thor đề cập đến công việc của biên tập viên trong cuốn
“Use Media to teach media” giúp người đọc hình dung và có thêm kiến thức
để làm chủ truyền thông và tăng cường chất lượng công tác quản lý tổ chức sản xuất, từ đó nâng cao hiệu quả truyền thông
Các nghiên cứu này đã giúp tác giả có được cái nhìn tổng quát về bức tranh báo phát thanh hiện đại, cung cấp những kiến thức về đặc trưng loại hình và các thể loại báo phát thanh Qua đó giúp người viết có những so sánh, đánh giá phù hợp khi phân tích các chương trình phát thanh trực tiếp hiện nay
2.3 Tài liệu về quản lý hoạt động tương tác trong báo chí và trong chương trình phát thanh
Tương tác trên phát thanh là vấn đề nhận được sự quan tâm của lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên nhiều cơ quan báo chí, đài phát thanh của trung ương và địa phương Những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu
đã được nghiệm thu và có đóng góp quan trọng về lý luận và thực tiễn cho đề tài này Có thể nêu ra 1 số công trình nổi bật sau:
Trong cuốn “Báo chí và Dư luận xã hội”, Nxb Lao động, H., 2011, tác
giả Nguyễn Văn Dũng đã chỉ ra tương tác là một trong nhiều đặc điểm phương thức thông tin báo chí hiện đại “Mục đích của tương tác và đối thoại
xã hội trên báo chí là nâng cao năng lực và hiệu quả tác động của báo chí, tạo
sự đồng thuận, khơi dậy và tập trung, phát huy tối đa nguồn lực quốc gia vì mục tiêu phát triển bền vững”
Bài báo “Tính tương tác trên báo phát thanh truyền thống và phát
thanh hiện đại” của TS Phạm Thị Thanh Tịnh đưa ra khái niệm về tương tác,
biểu hiện của tính tương tác trong một số chương trình phát thanh và vai trò của tính tương tác đối với phát thanh
Luận văn “Tổ chức sản xuất và quản lý chương trình phát thanh “Giờ
cao điểm” trên kênh VOVGT- Đài Tiếng nói Việt Nam năm 2018 của tác giả
Nguyễn Xuân Tú mới đề cập đến thực trạng tổ chức sản xuất nội dung của
Trang 16chương trình Giờ cao điểm, chưa đề cập đến hoạt động quản lý, chỉ đạo nội dung chương trình cũng như các hoạt động tương tác trong các chương trình PTTT khác
Tương tác trên phát thanh là vấn đề nhận được sự quan tâm của lãnh đạo Đài TNVN và lãnh đạo các Ban, cùng toàn bộ các nhà báo, phóng viên Những năm gần đây, nhiều hệ, kênh phát thanh của Đài đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu khoa học nhằm đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả tương tác trong các chương trình phát thanh Một số công trình nghiên cứu đã được nghiệm thu và có đóng góp quan trọng về lý luận và thực tiễn Chẳng hạn:
Năm 2006, Đề tài khoa học cấp Đài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả
chương trình phát thanh trực tiếp ở Việt Nam” của TS Nguyễn Đức Dũng đã
nghiên cứu 1 cách bài bản về phát thanh trực tiếp, từ quá trình triển khai đến cách thức tiến hành tại Đài Tiếng nói Việt Nam Công trình cũng đã đề xuất nhiều giải pháp để phát triển phát thanh trực tiếp – tiền đề của sự tương tác trên phát thanh hiện nay
Năm 2008, Thạc sỹ Đặng Thị Huệ - Hệ Phát thanh dân tộc Đài tiếng nói Việt Nam có đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đài: “Nâng cao chất lượng
và hiệu quả các chương trình phát thanh có giao lưu, tương tác với thính giả trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam” Trong nghiên cứu này, tác giả đặt ra nhiều vấn đề liên quan tới phát thanh tương tác, từ khái niệm đến ưu thế của phát thanh tương tác, chỉ ra đây là xu thế tất yếu của phát thanh hiện đại, đồng thời khái quát bức tranh tương tác trên sóng phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam với 1 số chương trình tiêu biểu, như Cửa sổ tình yêu, Bạn hãy nói với chúng tôi, Diễn đàn kinh tế
Năm 2010, nhóm tác giả Đồng Mạnh Hùng, Nguyễn Thị Mai Hồng, Phạm Hồng Nhung và Trần Trọng Nghĩa (Hệ VOV1 – Đài Tiếng Nói Việt
Nam) thực hiện đề tài khoa học: “Nghiên cứu và đề xuất giải pháp thực hiện
Trang 17hệ phát thanh mở” Trong đề tài này, các tác giả đã trình bày những vấn đề lý
luận về phát thanh trực tiếp, phát thanh mở và hệ phát thanh mở, khảo sát các chương trình “mở” trên hệ VOV1, so sánh giữa phát thanh “mở” với phát thanh “ngăn kéo” để thấy được ưu thế của cách làm phát thanh mới so với cách truyền thống, từ đó đề xuất các giải pháp để thực hiện và phát triển các
hệ phát thanh mở
Cũng trong năm 2010, Ths Kim Ngọc Anh – Phó Giám đốc Trung tâm Quảng cáo và Dịch vụ phát thanh – Đài Tiếng nói Việt Nam, có công trình
nghiên cứu khoa học cấp Đài, với đề tài: “Nghiên cứu các giải pháp nâng cao
hiệu quả tiếp nhận và xử lý tin giao thông trên kênh VOV Giao thông FM 91 MHz.” Trong đề tài này, vấn đề tương tác cũng được đặt ra như 1 trong các
công cụ để phục vụ cho việc thu thập thông tin, xử lý thông tin của VOV Giao thông Từ sự phân tích về quá trình tiếp nhận, xử lý thông tin và sử dụng thông tin của VOV Giao thông, tác giả chỉ ra những mặt hạn chế trong quá trình này cũng như trong phương thức tương tác của VOV Giao thông và đề xuất những giải pháp tương đối toàn diện Song do đối tượng nghiên cứu của tác giả là “quá trình tiếp nhận và xử lý thông tin trên Kênh VOV Giao thông”, nên tập trung chủ yếu vào thông tin giao thông và chương trình Giờ cao điểm, các quá trình sản xuất thông tin của chương trình đó, nên cũng chưa thực sự thể hiện 1 cách toàn diện về tính tương tác của Kênh
Năm 2011, Ths Tạ Đức Toàn – Ban Thư ký Biên tập và Thính giả của
Đài Tiếng nói Việt Nam có đề tài nghiên cứu khoa học “Truyền thông tương
tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam – thực trang và giải pháp” Trong đề tài này,
tác giả nghiên cứu về tương tác trong các loại hình truyền thông của Đài Tiếng nói Việt Nam, bao gồm phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử Riêng đối với tương tác trên các kênh và hệ phát thanh, tác giả chọn nghiên cứu 2 kênh phát thanh: VOV Giao thông và VOV1, chỉ ra đặc trưng tương tác của từng kênh, đánh giá những mặt thành công và hạn chế của tính tương tác
Trang 18trên từng kênh đó Theo đó, tính tương tác trên Kênh VOV Giao thông được nghiên cứu như 1 phương thức tương tác ở mảng phát thanh, là 1 loại hình trong các loại hình phương tiện truyền thống của Đài Tiếng Nói Việt Nam
Luận văn “Chương trình phát thanh trực tiếp trên Đài Tiếng nói nhân
dân TP Hồ Chí Minh” của tác giả Dương Thị Anh Đào (Bảo vệ năm 2011, tại
Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn) Trong đó, tác giả đã dành Chương 1 để đưa ra những lý luận chung về phát thanh trực tiếp Theo tác giả, phát thanh trực tiếp có ưu thế trong việc cung cấp thông tin nhanh, tức thời Đồng thời phát thanh trực tiếp còn hấp dẫn thính giả bởi tính tương tác cao
Năm 2013, Ths Lê Thị Ngọc Thanh Hoa – Học viện Báo chí và Tuyên
truyền với luận văn “Tính tương tác trong các chương trình phát thanh Xone
FM, Âm nhạc với bạn và tôi” đã nghiên cứu về nội dung và những đặc điểm
của sự tương tác trong các chương trình âm nhạc hấp dẫn của Đài Tiếng nói Việt Nam
Cũng trong năm 2013, Luận văn của Ths Phạm Thanh Hải – Học viện
Báo chí và Tuyên truyền bàn về “Đổi mới phương thức thông tin, nâng cao
hiệu quả của chương trình Giờ cao điểm trên kênh VOV Giao thông” Tuy
nhiên do tác giả đặc mục tiêu tập trung nghiên cứu về yêu cầu đổi mới đối với phương thức thông tin của chương trình Giờ cao điểm nên tương tác được nhắc tới như là 1 trong các cách thức thu thập và kiểm chứng thông tin, chức chưa phải là 1 thuộc tính đặc trưng hàng đầu của VOV Giao thông Cũng trong năm này, Ths Phan Hoàng Quỳnh, Học viện Báo chí và tuyên truyền có
luận văn “Tính tương tác trong chương trình Giờ cao điểm của Kênh VOV
Giao thông” Trong phạm vi luận văn, tác giả đã chỉ ra những hình thức
tương tác cơ bản trong phạm vi 1 chương trình được coi là chủ đạo, có tính hấp dẫn cao trên kênh VOV Giao thông Tác giả cũng đã cố gắng chỉ ra những ưu điểm, hạn chế của tính tương tác trong chương trình Giờ cao điểm
để làm căn cứ đề xuất giải pháp cho vấn đề Tuy nhiên, các đánh giá và nhận
Trang 19định nhìn chung mới dựa trên sự khảo sát 1 số sản phẩm phát sóng, đề xuất giải pháp do vậy cũng chưa sát thực tiễn
Năm 2014, Ths Mai Kiều Tuyết có Luận văn “Tính tương tác trên
kênh VOV Giao thông quốc gia” Luận văn đã khảo sát, phân tích về tính
tương tác của 3 chương trình đại diện cho 3 nhóm chương trình tương tác nổi bật trên kênh VOV Giao thông, gồm chương trình Giờ cao điểm, chương trình
365 ngày hạnh phúc, chương trình Phía sau tội ác Ở mỗi chương trình, Luận văn giới thiệu sơ lược về chương trình đó, tập trung phân tích và chỉ ra những thành công, hạn chế trong tính tương tác, đồng thời mở rộng ra các chương trình cùng nhóm Đặc biệt, phần hạn chế, luận văn đã khái quát 1 số hạn chế nổi bật trong các chương trình tương tác trên Kênh VOV Giao thông như Kịch bản chậm đổi mới; Nội dung tương tác đôi khi còn dàn trải, dễ dãi, thiếu tính chọn lọc, chất lượng MC chưa đồng đều… So với các công trình nghiên cứu đã được đề cập ở trên, đây là công trình tương đối toàn diện hơn cả về phát thanh tương tác, đồng thời cũng đã phần nào đề cập đến công tác quản lý nội dung tương tác trên sóng phát thanh – nội dung tương đối gần gũi với chủ
đề của Luận văn này
Năm 2014, luận văn của Ths Nguyễn Thị Thu Huyền – Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn từng đề cập “Tính tương tác trong các chương trình
phát thanh trực tiếp của Đài PTTH Hà Nội.” Tác giả phân tích 1 số chương
trình phát thanh trực tiếp nổi bật có yếu tố tương tác của Đài PTTH Hà Nội là
“60 phút bạn và tôi” và “Gặp gỡ thầy thuốc nổi tiếng”, từ đó khái quát về tính tương tác trong những chương trình này và nhấn mạnh về hiệu quả của chương trình phát thanh khi có sự tương tác Mặc dù vậy, ở thời điểm khảo sát tương tác mới chỉ xuất hiện ở 1 số ít chương trình của Đài PTTH Hà Nội,
số lượng công chúng quan tâm và biết tới những chương trình đó chưa nhiều, nên mức độ tương tác cũng còn hạn chế
Năm 2016, Ths Lê Vũ Tùng có Luận văn “Đổi mới phương thức
Trang 20tương tác với thính giả trong chương trình “Giờ cao điểm” của Đài Phát thanh Truyền hình Quảng Ninh” Đây là 1 trong các số ít công trình nghiên
cứu về tính tương tác trên sóng phát thanh ở địa phương với những tác động
cụ thể Đặc biệt Luận văn cũng đề cập tới những kỹ năng tương tác với thính giả của những phóng viên, biên tập viên của Đài PTTH Quảng Ninh, từ đó chỉ
ra những thành công, hạn chế cũng như đưa ra 1 số giải pháp và khuyến nghị
có giá trị thực tiễn cao
Gần đây nhất, có 2 luận văn, một của Tăng Thị Hải Hà (2019), Luận
văn “Quản lý hoạt động tương tác trong chương trình phát thanh trực tiếp
trên kênh VOV giao thông - Đài Tiếng nói Việt Nam hiện nay” và của Trần
Thị Mai Hương (2020), “Quản lý hoạt động tương tác với thính giả trong các
chương trình phát thanh trực tiếp của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh”, mang tính nghiên cứu gần nhất với luận văn Tuy nhiên, đối tượng
thực hiện khảo sát lại không giống nhau Điều này cũng dẫn đến tính chất nghiên cứu đối tượng và mục đích nghiên cứu khác nhau
Có thể thấy, các tài liệu được đề cập ở trên đã cơ bản hệ thống hoá những vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn, trong đó đề cập đến tính tương tác của phát thanh hiện đại nói chung, đồng thời làm sáng tỏ những thực trạng với những thành công, những hạn chế, nhược điểm của tính tương tác đó và qua
đó đề xuất 1 số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng chương trình phát thanh thông qua tương tác Tuy nhiên, làm thế nào để quản lý hiệu quả nội dung tương tác trên sóng phát thanh lại chưa được nhiều luận văn, công trình nghiên cứu khoa học đề cập tới Do đó, có thể nói đây là công trình đầu tiên sẽ đi sâu nghiên cứu về cách thức, phương thức quản lý nội dung tương tác trực tiếp với thính giả trên sóng phát thanh tại Việt Nam
Như vậy có thể thấy, đến nay đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến quản lý báo chí, phát thanh trực tiếp, tương tác báo chí, tương tác phát thanh cũng như nghiên cứu về các chương trình phát thanh trực tiếp tại ở
Trang 21các khía cạnh khác nhau, nhưng chưa có đề tài quản lý hoạt động tương tác trong các chương trình phát thanh trực tiếp tại Đài PTTH Hà Nội Do vậy, đề tài nghiên cứu là “Quản lý hoạt động tương tác với thính giả trong chương trình phát thanh trực tiếp Giao thông đô thị FM90 của Đài PTTH Hà Nội” vẫn
là một đề tài mới cần nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống những vấn đề lý luận về quản lý hoạt động tương tác với thính giả trong chương trình phát thanh trực tiếp, luận văn khảo sát thực trạng quản lý hoạt động tương tác trong chương trình Giao thông đô thị FM90, phân tích, đánh giá những ưu điểm và hạn chế, nguyên nhân, từ đó, đưa ra 1 số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng quản lý hoạt động tương tác trong chương trình Giao thông đô thị FM90 trên sóng phát thanh Đài PTTH Hà Nội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác lập khung lý thuyết về quản lý hoạt động tương tác với thính giả trong chương trình phát thanh trực tiếp
- Khảo sát, đánh giá thực trạng về nội dung, phương thức quản lý tương tác trực tiếp trên chương trình Giao thông đô thị FM90 của Đài PTTH Hà Nội
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng quản lý hoạt động tương tác trực tiếp với thính giả trong chương trình Giao thông đô thị FM90 của Đài PTTH Hà Nội
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Quản lý hoạt động tương tác với thính giả trong chương trình phát thanh trực tiếp của Đài PTTH Hà Nội
4.2 Phạm vi khảo sát
Luận văn khảo sát chương trình phát thanh trực tiếp Giao thông đô thị
Trang 22FM90 của Đài PTTH Hà Nội
Lý do lựa chọn chương trình: Đây là 1 trong những chương trình thể hiện sự thay đổi tầm nhìn của lãnh đạo đài Hà Nội đối với phát thanh, tuy chương trình ra mắt chưa lâu nhưng đã nhận được sự quan tâm và lượng tương tác không hề nhỏ của thính giả thủ đô Quan trọng hơn cả, không giống
như chương trình Giờ cao điểm trên VOV Giao thông, số lượng người tham gia sản xuất chương trình Giao thông đô thị FM90 ít hơn rất nhiều, do đó việc
nghiên cứu, khảo sát hoạt động quản lý tương tác với thính giả của chương trình sẽ giúp xác định nội dung, hình thức quản lý phù hợp trong bối cảnh các đài địa phương phải tinh giản biên chế, cắt giảm nhân sự
Thời gian khảo sát: Từ tháng 6/2020-6/2021
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài này là Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về vai trò, chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc hoạt động của báo chí cách mạng Luận văn cũng bám sát khung lý thuyết trong các giáo trình về báo chí truyền thông nói chung, báo phát thanh nói riêng để khai thác các luận điểm phù hợp, phục vụ cho đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Được sử dụng để khảo sát các văn
bản, các chỉ thị, nghị quyết và các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến báo phát thanh, quản lý hoạt động tương tác trên báo phát thanh, từ đó, hệ thống hóa một số vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn của báo chí nói chung và báo chí phát thanh nói riêng, xây dựng khung lý thuyết cho đề tài
- Phương pháp quan sát tham dự: Với tư cách cán bộ phóng viên Đài
Trang 23PTTH Hà Nội, tác giả quan sát thực tế quá trình quản lý hoạt động tương tác tại Đài PTTH Hà Nội nhằm nắm bắt được cách thức thực hiện công việc quản
lý nội dung tương tác của các phóng viên, biên tập viên trong chương trình Giao thông đô thị FM90 qua quá trình tác nghiệp hàng ngày, trên cơ sở đó đề cập đến những vấn đề mang tính lý luận nhưng sát với thực tế để việc thực hiện đạt hiệu quả hơn
- Phương pháp phân tích nội dung: Phương pháp này được vận dụng
nhằm phân tích nội dung tương tác trong các chương trình, qua đó, đánh giá được thành công và hạn chế của quản lý hoạt động tương tác với thính giả trong chương trình Giao thông đô thị FM90 của Đài PTTH Hà Nội
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Được sử dụng qua hình thức phỏng vấn 4 cán bộ lãnh đạo, quản lý, phóng viên, biên tập viên nhằm khai thác các thông tin của họ về quá trình quản lý nội dung tương tác, những thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện, những yếu tố quan trọng trong quá trình tương tác với thính giả và kinh nghiệm sản xuất cũng như đề xuất của họ Phát 200 phiếu điều tra xã hội học, thu về 195 phiếu hợp lệ các phiếu này được phát cho các chức danh nghề nghiệp Báo chí-truyền thông 17 (8.7%); Công chức, cán bộ Nhà nước 53 (27.2%); Công ty tư nhân 46 (23.6%); Lái xe 49 (29.7%); Lao động tự do 24 (12.3%); Khác 6 (3.1%) ở độ tuổi từ 18 đến 60 tuổi
- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp: Thống kê số lượng, tần suất
thực hiện các tương tác với thính giả trong chương trình Giao thông đô thị FM90 nhằm có được những luận cứ sinh động để tổng hợp thành các luận điểm, kết luận phù hợp
6 Đóng góp mới của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên hệ thống hoá kỹ năng, phương thức quản lý nội dung tương tác trên sóng phát thanh hiện đại Việc phân tích để làm rõ thực trạng, chỉ ra những đặc điểm, ưu điểm, hạn chế trong quản lý nội dung tương tác trên sóng phát thanh trực tiếp và nêu ra những
Trang 24kiến nghị, giải pháp sẽ là những đóng góp mới vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nội dung tương tác trên các chương trình phát thanh trực tiếp ở Đài PTTH Hà Nội nói riêng, ở các đài phát thanh tại Việt Nam nói chung trong bối cảnh hiện nay
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
7.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn bước đầu tổng hợp và đề xuất mới hệ thống lý thuyết về quản
lý hoạt động tương tác với thính giả trong các chương trình phát thanh trực tiếp, bao gồm: Xác lập khái niệm, vai trò, nội dung và phương thức quản lý hoạt động tương tác với thính giả; xác định tiêu chí đánh giá chất lượng quản
lý hoạt động tương tác trong các chương trình phát thanh trực tiếp
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn sẽ góp phần giúp cho Đài PTTH Hà Nội nhìn nhận, đánh giá lại hiệu quả việc thực hiện công tác quản lý nội dung tương tác trong chương trình Giao thông đô thị FM90; rút ra những ưu điểm, hạn chế và những bài học kinh nghiệm để thực hiện tốt hơn trong thời gian tiếp theo
Ngoài ra, Luận văn cũng chỉ ra tầm quan trọng của việc tương tác với thính giả và việc sử dụng như thế nào cho hợp lý, nhằm nâng cao chất lượng chương trình Giao thông đô thị FM90 hướng tới những chương trình phát thanh hiện đại, có sự tham gia của thính giả ngày càng nhiều hơn, khách quan hơn Bên cạnh đó Luận văn cũng sẽ giúp đội ngũ những người làm công tác quản lý, các biên tập viên phát thanh có những kiến thức cơ bản về công tác quản lý nội dung tương tác trên các chương trình phát thanh trực tiếp để thực hiện hiệu quả hơn Các đài địa phương khác trong cả nước thông qua thực tế của Đài PTTH
Hà Nội cũng có thể áp dụng linh hoạt cho thực tiễn tại đài mình
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung chính của luận văn được kết cấu làm 3 chương, 9 tiết
Trang 25Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý hoạt động tương tác với thính giả trong chương trình phát thanh trực tiếp
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động tương tác với thính giả trong chương trình phát thanh trực tiếp của Đài Phát thanh Truyền hình Hà Nội
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động tương tác với thính giả trong chương trình phát thanh trực tiếp
Trang 26Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
TƯƠNG TÁC VỚI THÍNH GIẢ TRONG CHƯƠNG TRÌNH
PHÁT THANH TRỰC TIẾP
1.1 Một số thuật ngữ, khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1 Phát thanh và chương trình phát thanh
Trước khi tìm hiểu Phát thanh trực tiếp, chúng ta cần hiểu rõ thế nào là một Chương trình phát thanh Các chuyên gia, các nhà khoa học ngành Báo chí truyền thông đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về vấn đề này
Trong cuốn sách “Báo phát thanh” (2002) do Học viện Báo chí và tuyên truyền, phối hợp với Đài Tiếng nói Việt Nam đưa ra khái niệm về báo
phát thanh: “Báo phát thanh được hiểu như một kênh truyền thông, một loại
hình báo chí điện tử hiện đại mà đặc trưng cơ bản của nó là dùng thế giới âm thanh phong phú sinh động (lời nói, tiếng động, âm nhạc) để chuyển tải thông điệp nhờ sử dụng kỹ thuật sóng điện từ và hệ thống truyền thanh, tác động vào thính giác (vào tai) của công chúng Nhờ sử dụng lời nói, tiếng động và
âm nhạc tác động vào tai người nghe cho nên báo phát thanh có những tru thế đặc biệt và những hạn chế cố hữu” [65]
Theo tác giả Nguyễn Văn Dững: “Phát thanh là kênh truyền thông đại
chúng sử dụng kỹ thuật sóng điện từ và hệ thống truyền dẫn, truyền đi âm thanh tác động trực tiếp vào thính giác người tiếp nhận Chất liệu chính của phát thanh là sử dụng lời nói tiếng động và âm nhạc trong việc phản ánh cuộc sống Thông điệp được mã hóa truyền qua kênh phát thanh và người nhận phải có máy thu thanh mới tiếp nhận được thông điệp” [13, tr.188]
GS.TS Tạ Ngọc Tấn nêu khái niệm trong cuốn sách “Truyền thông đại
chúng” như sau: “Chương trình phát thanh là sự tổ chức các tin tức, bài vở, tài liệu cùng các chất liệu khác trong phát thanh theo thời lượng nhất định,
Trang 27mục đích nhất quán và nhằm vào đối tượng.” [68, tr.117]
Trong cuốn sách “Lý luận báo phát thanh”, PGS TS Nguyễn Đức Dũng giải thích: “Chương trình phát thanh là sự sắp xếp một cách hợp lý các
thành phần tin, bài, băng, âm thanh trong một chính thể trong khoảng thời gian xác định nhằm đáp ứng nhiệm vụ tuyên truyền của cơ quan phát thanh
và mang lại hiệu quả cao nhất đối với người nghe.” [10, tr.103]
Trong cuốn sách “Báo Phát thanh - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản”, PGS, TS Đinh Thị Thu Hằng định nghĩa: “Chương trình phát thanh là một
chính thể trong đó có các thành phần tin, bài, âm nhạc, lời dẫn… được bố trí, sắp xếp một cách hợp lý trong một khoảng thời gian xác định nhằm đáp ứng nhiệm vụ của cơ quan truyền thông và mang lại hiệu quả cao nhất đối với người nghe.” [34, tr.153]
Trong các khái niệm nêu trên, có thể hiểu như sau: Chương trình phát
thanh là sự liên kết, sắp xếp hợp lý tin, bài, âm nhạc, băng tư liệu trong một thời lượng nhất định, mở đầu bằng nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm biệt nhằm đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí và nhu cầu thông tin của một nhóm đối tượng với mục đích khác nhau
1.1.2 Phát thanh trực tiếp
Bàn về vấn đề Phát thanh trực tiếp, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm này
Trong giáo trình “Báo Phát thanh” của Phân viện Báo chí và Tuyên
truyền phối hợp với Đài Tiếng nói Việt Nam, khi viết về phát thanh đã giải
thích: “Phát thanh trực tiếp có thể được hiểu là công nghệ sản xuất chương
trình phát thanh được thực hiện đồng thời với quá trình phát sóng nhằm chuyển đến cho người nghe những thông tin đồng thời với sự kiện đang xảy ra
và có thể thu hút người nghe tham gia vào quá trình sản xuất chương trình.”
và “Điều quan trọng nhất, cốt lõi nhất của Phát thanh trực tiếp chính là
phóng viên hoặc người đưa tin, cộng tác viên phải đang ở chỗ xảy ra sự kiện
Trang 28hoặc là người trong cuộc đang trực tiếp nói trước máy phát sóng.” [62, tr.35]
Trong cuốn sách “Cẩm nang hướng dẫn phát thanh trực tiếp”, các chuyên gia Thụy Điển nêu: “Phát thanh trực tiếp là một phương pháp làm
phát thanh mới, tiên tiến với với sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ hiện địa, cho phép phát huy thế mạnh của loại hình báo nói.” [22, tr.12]
Trong cuốn “Phát thanh trực tiếp”, GS.TS Vũ Văn Hiền, TS Đức Dũng cho rằng: “Phát thanh trực tiếp có thể được hiểu là công nghệ sản xuất
chương trình phát thanh được thực hiện đồng thời với quá trình phát sóng nhằm chuyển đến người nghe những thông tin đồng thời với sự kiện đang xảy
ra và có thể thu hút người nghe tham gia vào quá trình sản xuất chương trình.” [40, tr.23]
Trong sách “Báo phát thanh: Lý thuyết và kỹ năng cơ bản”, PGS.TS Đinh Thị Thu Hằng cho rằng: “Phát thanh trực tiếp theo cách hiểu chung
nhất là phương thức sản xuất chương trình mang đến thông tin đồng hành với sự kiện, sự việc đang diễn ra và thính giả có thể tham gia chương trình.” [34, tr.159]
Trong Giáo trình “Báo phát thanh” của Học viện Báo chí và Tuyên
truyền kết hợp với Đài tiếng nói Việt Nam do NXB Văn hóa - Thông tin Hà
Nội xuất bản năm 2002 có viết: “Phát thanh trực tiếp có thể được hiểu là
công nghệ sản xuất chương trình phát thanh được thực hiện đồng thời với quá trình phát sóng nhằm chuyển đến cho người nghe những thông tin đồng thời với sự kiện đang xảy ra và có thể thu hút người nghe tham gia vào quá trình sản xuất chương trình.” [65, tr.380]
Từ những phân tích trên, có thể hiểu Chương trình phát thanh trực tiếp
là chương trình phát thanh có quá trình sản xuất chương trình diễn ra đồng thời với thời điểm phát sóng và thời điểm tiếp nhận của thính giả, có khả năng thu hút người nghe, tương tác trực tiếp tức thì Phương thức sản xuất chương trình phát thanh trực tiếp mang tới thông tin đồng hành cùng sự kiện, sự việc
Trang 29đang diễn ra và thính giả có thể tham gia vào quá trình sản xuất chương trình Đặc điểm của phát thanh trực tiếp là chương trình mở với sự tham gia của thính giả, thông tin nhanh, sinh động, linh hoạt với phong cách sản xuất chương trình theo nhóm, ưu tiên sử dụng đối thoại và văn nói, sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại
1.1.3 Hoạt động tương tác với thính giả
1.1.3.1 Tương tác
Theo tác giả Hoàng Phê trong Từ điển Tiếng Việt (2000) - NXB Đà
Nẵng: “Tương tác là sự tác động qua lại lẫn nhau” [63, tr.1081]
Trong giáo trình Báo chí và dư luận xã hội (2011), NXB Lao Động, PGS TS Nguyễn Văn Dững cho rằng: “Tương tác xã hội có những đặc thù
riêng Mỗi cá nhân hay nhóm, trong quá trình tương tác vừa là chủ thể vừa là khách thể, đều chịu ảnh hưởng chi phối của chuẩn mực giá trị xã hội, tâm lý
xã hội và môi trường văn hóa với những tương đồng và khác biệt Trong quá trình tương tác, vừa tạo nên diện mạo, chân dung mỗi cá nhân, nhóm tham gia với những tương đồng, khác biệt, hợp tác và chia sẻ, vừa giúp mỗi cá nhân và nhóm tham gia giao tiếp tự điều chỉnh nhận thức, thái độ và hành vi của mình.” [15, tr.162]
Như vậy có thể hiểu tương tác là hoạt động, tác động qua lại lẫn nhau của hai hay nhiều chủ thể nhằm thể hiện quan hệ hai chiều giữa các sự vật và hiện tượng mang đến những kết quả mới hơn trong sự vận động của xã hội Tương tác bao gồm nhiều loại như tương tác vật lý, tương tác hóa học, tương tác xã hội… Trong đó tương tác xã hội là quá trình tác động qua lại giữa các
cá nhân, nhóm xã hội với tư cách là chủ thể - khách thể trong xã hội Tương tác Báo chí thuộc loại tương tác xã hội
Trong hoạt động truyền thông, tương tác là sự tác động qua lại giữa chủ thể (người truyền thông điệp) và khách thể (người nhận thông điệp) Trong hoạt động báo chí, tương tác là sự trao đổi, phản hồi một cách thường xuyên,
Trang 30liên tục về một chủ đề nào đó giữa nhà báo đại diện cho cơ quan báo chí và công chúng Sự phản hồi đó có thể thông qua nhiều phương tiện khác nhau như điện thoại, thư tay, email…Tương tác ở đây có thể là đóng góp ý kiến, cũng có thể là thể hiện quan điểm về vấn đề nào đó mà cơ quan báo chí đưa ra
1.1.3.2 Tương tác trong hoạt động báo chí
Báo chí cũng là một loại hình truyền thông Tương tác trong báo chí diễn ra thường xuyên
Đối với tương tác trong hoạt động báo chí truyền thông, theo tác giả
Nguyễn Văn Dững: “Trong truyền thông, tương tác có nghĩa là sự tác động
giao tiếp hai chiều qua lại giữa chủ thể và khách thể truyền thông, giữa nhà truyền thông với công chúng trong những điều kiện và vấn đề cụ thể nào đó Một trong những nguyên lý quan trọng của truyền thông là tương tác càng nhiều, tần suất càng cao, tương tác càng bình đẳng bao nhiêu thì năng lực truyền thông và hiệu quả càng cao bấy nhiêu” [14, tr.86]
Cũng theo tác giả Nguyễn Văn Dững: “Tương tác càng không phải là
thông tin áp đặt một chiều, mà là sự trao đổi, chia sẻ một cách bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, trên cơ sở tăng dần những tương đồng, giảm dần sự khác biệt giữa chủ thể truyền thông và công chúng, trong đó vai trò của công chúng ngày càng được coi trọng, được nâng lên cao đến mức bình đẳng trong việc bàn thảo và tìm ra cách giải quyết vấn đề trên cơ sở lợi ích chung.”[16, tr.163]
Theo tác giả Phạm Thị Thanh Tịnh: “Tương tác” đồng nghĩa với việc
thu hút người đọc, người nghe, người xem đến với các phương tiện truyền thông, “tương tác” là tăng cường mối quan hệ giữa báo chí với công chúng
và “tương tác” còn thể hiện đời sống dân chủ trong báo chí Trong báo chí
sự trao đổi giữa người truyền đạt và công chúng tiếp nhận càng nhiều thì quá trình truyền đạt hiệu quả càng cao [73]
Trong mô hình truyền thông tương tác, công chúng được đặt vào vị trí
Trang 31trung tâm, công chúng vừa là mục tiêu hướng tới, vừa là đối tượng tham gia quá trình truyền thông Trong mô hình này, công chúng không chỉ tiếp nhận thông tin một cách thụ động mà còn được bày tỏ mong muốn, yêu cầu thông tin và tham gia trực tiếp vào quá trình truyền thông Quá trình tương tác sẽ làm cho sự vật, hiện tượng, thông điệp trở nên khách quan, khoa học và tạo được niềm tin đối với người tiếp nhận, đồng thời nâng cao năng lực và giúp cho quá trình truyền thông hiệu quả hơn
Vì vậy, từ các quan niệm nói trên, có thể hiểu, tương tác trong báo chí
là sự trao đổi, chia sẻ thông tin, tình cảm, quan điểm, thái độ, kinh nghiệm, kỹ năng giữa công chúng tiếp nhận với cơ quan báo chí Sự chia sẻ, trao đổi, phản hồi đó có thể thông qua nhiều phương tiện khác nhau như: điện thoại, thư tay, thư điện tử , qua kênh trực tiếp hay gián tiếp
1.1.3.3 Hoạt động tương tác với thính giả:
Tương tác trong phát thanh là sự giao lưu, tác động qua lại giữa những người thực hiện chương trình phát thanh và thính giả về các nội dung mà chương trình đề cập nhằm mục đích trao đổi thông tin, đem lại cho cả hai bên những nhận thức mới, làm thỏa mãn nhu cầu thông tin đa chiều và nhu cầu được tham gia vào các chương trình phát thanh của thính giả Người làm phát thanh từ những thông tin phản hồi của thính giả có thể điều chỉnh nội dung, cách thức thể hiện để đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng thời hiện đại
Một chương trình phát thanh được gọi là phát thanh tương tác khi nó có:
- Sự giao lưu tác động qua lại giữa người làm chương trình với thính giả diễn ra đồng thời với việc sản xuất chương trình phát thanh Điều này có nghĩa là thính giả tham gia vào nội dung, làm nên một phần của nội dung chương trình Ở chương trình phát thanh tương tác, phương thức tối ưu là phát thanh trực tiếp
- Đây là chương trình phát thanh mở, có tính linh hoạt theo diễn tiến của nhu cầu thính giả đang tham gia vào chương trình Ở một số chương trình
Trang 32tương tác có tính đặc thù, nếu thính giả không tham gia tương tác, chương trình không thể tồn tại như: các chương trình mang tính chất tư vấn, giải đáp thắc mắc của công chúng …
- Thông tin có tính chất hai chiều và mang tính đối tượng cao Đặc trưng chủ yếu của phát thanh tương tác chính là khán giả có khả năng tác động trực tiếp vào nội dung của chương trình Mỗi chương trình hướng đến một nhóm đối tượng nhất định
- Sự giao lưu với thính giả khiến chương trình sinh động, hấp dẫn, cuốn hút người nghe Tương tác trong phát thanh đồng nghĩa với việc thu hút người đọc, người nghe, người xem đến với các phương tiện truyền thông, tăng cường mối quan hệ giữa báo chí với công chúng và thể hiện đời sống dân chủ trong báo chí Trong báo chí sự trao đổi giữa người truyền đạt và công chúng tiếp nhận càng nhiều thì quá trình truyền thông đạt hiệu quả càng cao Đối với loại hình báo phát thanh, các dạng chương trình không phát sóng trực tiếp, phát sóng trực tiếp, phát thanh trên mạng Internet đều xuất hiện yếu tố tương tác
Trong chương trình phát thanh không trực tiếp, dù không xuất hiện nhiều nhưng tính tương tác cũng đã được các nhà sản xuất chương trình phát thanh áp dụng trong quy trình sản xuất hay thu thập thông tin Thông thường, các chương trình thu trước với tính chất không phát trực tiếp nên sự tương tác qua lại giữa thính giả và một chương trình phát thanh cần một thời gian nhất định Ví dụ chương trình “Sóng trẻ” của FM90 Đài PTTH Hà Nội Chương trình sẽ là kênh kết nối, trả lời, giải đáp thắc mắc những bạn trẻ về tất cả các vấn đề trong cuộc sống, những vấn đề quan trọng của thanh niên Các chương trình ca nhạc như Ca nhạc theo yêu cầu của Đài PTTH Hà Nội là điển hình mang tính tương tác, do tiếp nhận yêu cầu từ phía thính giả và phát sóng bài hát theo yêu cầu đó
Giữa nhóm thực hiện chương trình và thính giả có mối liên hệ với nhau thông qua việc tương tác qua thư hay qua điện thoại Bên cạnh đó, chương
Trang 33trình phát thanh không trực tiếp vẫn có sự xuất hiện của nhiều yếu tố tương tác khác như: đối với chương trình tọa đàm sẽ có tương tác giữa người dẫn với khách mời, trong chương trình có hai người dẫn sẽ có sự tương tác giữa người dẫn với nhau Hoạt động tương tác với thính giả trong chương trình phát thanh là quá trình trao đổi, chia sẻ thông tin giữa các thành viên tham gia vào chương trình phát thanh đang phát sóng trực tiếp
1.1.3.4 Tương tác trong chương trình phát thanh trực tiếp
Tương tác trong phát thanh là sự giao lưu, tác động qua lại giữa những người thực hiện chương trình phát thanh và thính giả về các nội dung mà chương trình đề cập, nhằm mục đích trao đổi thông tin, thỏa mãn nhu cầu thông tin và mong muốn tham gia chương trình của thính giả, những người làm chương trình có thể điều chỉnh nội dung và hình thức cho phù hợp
Thính giả, bạn nghe đài có thể tham gia bình luận, trao đổi, nêu yêu cầu trong một chương trình phát thanh trực tiếp và được đáp ứng ngay tại thời điểm chương trình phát sóng Những chương trình như vậy thường hấp dẫn, tạo hiệu quả cao và thu hút được số lượng lớn thính giả tham gia vào chương trình Xu thể mở của phát thanh cũng như sự tham gia của thính giả vào chương trình đôi khi còn là yếu tố quyết định đến sự thành công hay thất bại của chương trình
Một chương trình phát thanh được gọi là phát thanh tương tác khi có:
- Sự giao lưu, tác động qua lại giữa người làm chương trình với thính giả Điều này có nghĩa là thính giả tham gia vào nội dung, làm nên một phần của nội dung chương trình
- Có tính linh hoạt theo diễn tiến của nhu cầu thính giả đang tham gia vào chương trình Ở một số chương trình tương tác đặc thù, nếu thính giả không tham gia tương tác, chương trình không thể tồn tại Chẳng hạn như các chương trình mang tính chất tư vấn, giải đáp thắc mắc của công chúng )
- Thông tin có tính chất hai chiều và mang tính đối tượng cao Nếu như
Trang 34trong chương trình phát thanh không tương tác, thông tin tác động một chiều (chỉ cung cấp thông tin cho thính giả), thì trong các chương trình phát thanh tương tác, hệ thống liên kết hai chiều đã được thiết lập rõ ràng Đặc trưng chủ yếu của phát thanh tương tác chính là ở chỗ thính giả có khả năng tác động trực tiếp vào nội dung chương trình Mỗi chương trình thường hướng đến một nhóm đối tượng nhất định
- Sự giao lưu với thính giả khiến chương trình sinh động, hấp dẫn, linh hoạt, cuốn hút người nghe
Qua những quan niệm và các yếu tố vừa nêu trên, có thể rút ra một khái niệm về tương tác trong chương trình phát thanh như sau:
Tương tác trong chương trình phát thanh trực tiếp là sự trao đổi, chia sẻ qua lại giữa chủ thể (những người làm chương trình) và khách thể (thính giả, nhân vật, khách mời, cơ quan chức năng ) về một chủ đề, vấn đề nào đó được phát trong chương trình, thông qua hình thức trao đổi trực tiếp, phản hồi liên tục và được truyền ngay lập tức đến người nghe nhằm mục đích đem lại cho cả hai bên những nhận thức mới, thỏa mãn nhu cầu thông tin đa chiều và nhu cầu được tham gia vào các chương trình phát thanh của thính giả Từ những thông tin phản hồi của thính giả, người làm chương trình có thể điều chỉnh nội dung, cách thức thể hiện để đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng thời hiện đại
1.1.4 Quản lý hoạt động tương tác với thính giả trong chương trình phát thanh trực tiếp
1.1.4.1 Quản lý
Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có
cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau nên có nhiều cách giải thích khác nhau về quản lý
Theo C.Mác thì “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất
xã hội của quá trình lao động” [57, tr 29-30] Luận điểm này của C.Mác có thể
Trang 35áp dụng với mọi hoạt động chung của con người trong xã hội Quản lý chỉ xuất hiện trong quá trình lao động
Theo Từ điển Tiếng Việt, quản lý là “trông nom, coi giữ”, là “trông
coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định Giúp tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [80, tr.235] So với quan niệm
của C.Mác thì khái niệm “quản lý” trong ở đây được mô tả cụ thể, rõ ràng hơn Đó là hoạt động có chủ đích; là điều làm nên sự khác biệt giữa con người
PGS TS Trương Thị Kiên trong cuốn “Lao động nhà báo và quản
trị tòa soạn báo chí” (Nxb Lý luận Chính trị, 2016)) nhận định: “Trong bất
kỳ tổ chức nào, từ quy mô gia đình đến cấp quốc gia, quốc tế, từ tổ chức chính trị xã hội đến an ninh, kinh tế, quốc phòng, giáo dục, y tế, thể thao đều cần đến vai trò của quản lý” [48, tr.151] Và, có thể hiểu quản lý là: “Sự tác động của chủ thể vào khách thể quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức; là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu: lập kế hoạch, phân công, điều khiển và kiểm soát các nỗ lực của cá nhân, bộ phận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác của các tổ chức để đạt được mục tiêu
đã đề ra [48, tr.155]
Từ những quan điểm nêu trên, kết hợp với thực tiễn tìm hiểu, đúc rút, tác giả xin khái quát và đưa ra cách hiểu của mình về quản lý như sau để tiện cho
quá trình nghiên cứu: Quản lý là hoạt động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể
quản lý lên đối tượng quản lý thông qua các nội dung, phương pháp nhất định, nhằm điều khiển, dẫn dắt đối tượng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác của các tổ chức để đạt được mục tiêu đã đề ra
Trang 361.1.4.2 Quản lý hoạt động tương tác với thính giả trong chương trình phát thanh trực tiếp
Tổng hợp những quan điểm về chương trình phát thanh trực tiếp, tương tác, quản lý đã nêu trên, chúng ta có thể hiểu:
Quản lý hoạt động tương tác là toàn bộ hoạt động của chủ thể quản lý tác động có định hướng, có mục đích, có tổ chức lên hoạt động tương tác thông qua những nội dung, công cụ và phương thức quản lý cụ thể nhằm điều khiển, điều chỉnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả tương tác trong các chương trình phát thanh trực tiếp
Quản lý hoạt động tương tác với thính giả trong các chương trình phát thanh trực tiếp là một quá trình từ khi xây dựng chiến lược, kế hoạch, định hướng thông tin cho một chương trình phát thanh, đến việc quản lý các quy trình, cách thức tổ chức thực hiện, huy động các nguồn lực sẵn có trong cơ quan báo chí nhằm đạt được mục tiêu của chương trình đã đề ra Đây là quá trình diễn
ra thường xuyên, liên tục và kịp thời trong suốt quá trình diễn ra chương trình phát thanh trực tiếp, cũng như trước và sau chương trình phát sóng
1.2 Vai trò của quản lý hoạt động tương tác với thính giả trong chương trình phát thanh trực tiếp
1.2.1 Vai trò tương tác với thính giả đối với chương trình phát thanh trực tiếp
- Tạo sự đa dạng âm thanh cho chương trình
Công chúng của báo phát thanh rộng lớn và đa dạng Phát thanh trực tiếp là chương trình mở với sự tham gia trực tiếp của thính giả Sự tham gia của thính giả vào chương trình được coi là một trong những đặc điểm nổi bật làm nên ưu thế của phát thanh trực tiếp so với phát thanh truyền thống
Chương trình phát thanh trực tiếp được thực hiện ở Studio, sự có mặt của công chúng, sự tương tác tích cực của công chúng có tác dụng kích thích bầu không khí giao lưu, giúp cho chương trình trở nên sống động hơn, chân
Trang 37thực hơn (vì người dẫn chương trình không phải tưởng tượng ra thính giả ở trước mặt mình) Nếu trong phần kịch bản có sự giao lưu trực tiếp giữa khán giả và nhân vật thì không khí giao lưu càng sống động hơn Nếu với âm thanh phong phú, sinh động của nhiều giọng nói lại được mọi người cùng lắng nghe, cùng suy ngẫm và đồng cảm thì có thể tạo ra những hiệu ứng lan tỏa vô cùng
to lớn và sâu sắc Điều này đương nhiên khác hẳn với các chương trình chỉ có giọng đọc của phát thanh viên hay biên tập viên
- Tạo sự đa dạng thông tin cho chương trình
Thính giả có thể tham gia vào chương trình phát thanh trực tiếp với phạm vi rất rộng với nhiều hình thức khác nhau như đưa thông tin, tham gia bình luận, chất vấn, đố vui, bình chọn tác phẩm, nêu yêu cầu… Sự xuất hiện tiếng nói của công chúng thính giả đem đến nhiều thông tin mới cho chương trình Không chỉ nghe thông tin một chiều từ nhà báo, MC, tương tác với thính giả đem lại thông tin đời thường, gần gũi với nhu cầu tiếp nhận của công chúng
- Tạo bầu không khí ngôn luận dân chủ trên sóng
Thính giả góp phần cùng với người làm chương tình tạo ra không khí cởi mở, sôi nổi, nhiệt tình, hấp dẫn và cuốn hút Vì vậy phát thanh trực tiếp có thể tạo ra một không khí lành mạnh, bổ ích, dân chủ trên sóng Trong chương trình, thính giả không chỉ được tôn trọng, được lắng nghe, được trả lời mà còn được trực tiếp tham gia
Công chúng thính giả được quyền tham gia vào một phần cuộc giao lưu trong các chương trình phát thanh trực tiếp Sự tham gia có thể bằng hình thức gọi điện thoại, gửi thư, email, tương tác qua trang fanpage
Trong chương trình phát thanh trực tiếp, thính giả gọi điện đến bao giờ cũng xuất phát từ nhu cầu riêng nào đó mang tính cá nhân Nếu chương trình không đáp ứng được nhu cầu đó, họ sẽ không nghe đài Chính vì vậy, những người làm chương tình phải hiểu đầy đủ và chính xác về việc bằng cách nào
Trang 38mà thính giả có thể nhận được các kinh nghiệm, kỹ năng mà chương trình sẽ truyền đạt Điều này cũng đồng thời với việc giúp họ những kinh nghiệm để phải làm gì có được các tri thức đó Vì vậy phải biết cách biến các cuộc giao lưu thành một câu chuyện, qua đó khéo léo giới thiệu nội dung, chủ đề và duy trì chương trình đi đúng hướng
- Củng cố niềm tin cho người nghe đài
Sự có mặt của công chúng, tiếng nói của thính giả trong các chương trình phát thanh trực tiếp còn tạo cho người nghe đài niềm tin vào những dòng thông tin được cung cấp Bởi thính giả luôn là người có mặt trực tiếp tại hiện trường, chứng kiến các dòng sự kiện, sự việc xảy ra, hoặc là “người trong cuộc”, nên có góc nhìn trung thực, đầy đủ về vấn đề, sự kiện Ngược lại, người tổ chức chương trình cần phải mời đúng đối tượng Đây cũng chính là yếu tố tạo niềm tin cho người nghe, và cũng là yếu tố góp phần đảm bảo thành công của chương trình
- Lôi kéo sự tham gia của nhiệt tình của công chúng
Trong chương trình phát thanh trực tiếp, thính giả rất quan tâm đến số liệu về số lượng người gọi điện đến, kỹ năng giao tiếp của người dẫn chương trình, kỹ năng tạo sự nối tiếp liên tục cho chương trình, sự chuẩn bị hiệu quả, hồi âm thính giả tích cực, kỹ năng phỏng vấn, âm nhạc xen chương trình, trình bày văn bản… Đó cũng là những điểm chính đảm bảo cho thành công của chương trình Những người làm phát thanh trực tiếp, cần phải biết cách gây sự chú ý và lôi kéo thính giả vào cuộc trò chuyện bằng chính lợi ích của thính giả khi tham gia chương trình, cho thính giả biết họ sẽ thu nhận được những gì thông qua việc nghe và tham gia chương trình, đồng thời cũng cho thính giả biết thông qua việc nghe và tham gia chương trình, họ sẽ được gặp
gỡ, học hỏi, vấn đề quan tâm Cách thức quảng bá của người làm chương
trình là: “Thính giả có thể làm gì với chương trình, chứ không phải chương
tình có thể làm gì với họ”
Trang 391.2.2 Vai trò của quản lý hoạt động tương tác với thính giả
1.2.2.1 Quản lý hoạt động tương tác giúp đảm bảo tính định hướng thông tin của chương trình
Vai trò của quản lý chương trình nói chung và quản lý tương tác trong chương trình nói riêng là đảm bảo an toàn của dòng thông tin tương tác Nói cách khác, dòng thông tin tương tác từ thính giả tạo nên cấu trúc thông tin của
cả chương trình Chủ thể quản lý phải có trách nhiệm đảm bảo thông tin tương tác đúng định hướng, kế hoạch thông tin đã được xác lập từ đầu Nhận nhiệm vụ ban lãnh đạo cho, ban lãnh đạo các phòng biên tập phát thanh, các đạo diễn sẽ xây dựng kế hoạch thực hiện các chương trình phát thanh trực tiếp Thông qua hoạt động quản lý tương tác, các chủ thể quản lý xác định các nhóm đối tượng thính giả, nhu cầu thông tin của công chúng để xây dựng những format chương trình phát thanh trực tiếp vừa đáp ứng được nhiệm vụ thông tin tuyên truyền của ban biên tập, ban lãnh đạo, vừa phù hợp với mong muốn của thính giả Đồng thời, chủ thể quản lý cũng xây dựng được kế hoạch tương tác, nội dung và hình thức tương tác phù hợp với từng nhóm đối tượng thính giả Dựa vào kế hoạch và mục tiêu thông tin tuyên truyền, nội dung và hình thức tương tác đã được vạch sẵn, hoạt động tương tác trong chương trình phát thanh sẽ diễn ra theo đúng định hướng, tập trung mọi nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó
1.2.2.2 Quản lý hoạt động tương tác giúp đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng của các thành viên trong ê kíp, giảm độ bất định
Hoạt động sản xuất chương trình phát thanh trực tiếp đa dạng, phức tạp với sự tham gia của nhiều bộ phận, phòng ban khác nhau trong đội ngũ phóng viên, biên tập viên, MC, kỹ thuật, cộng tác viên hiện trường Trong đó hoạt động tương tác với thính giả diễn ra xuyên suốt cả trước, trong và sau khi chương tình phát sóng
Vai trò của người quản lý là phân công nhiệm vụ, trách nhiệm cho từng
Trang 40cá nhân, bộ phận rõ ràng, hướng dẫn hoạt động của các bộ phận, các thành viên tham gia phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng nhằm đem lại hiệu quả tương tác cao nhất, hạn chế thấp nhất rủi ro xảy ra, ví dụ như trống sóng hay lọt âm thanh lạ lên sóng khi thính giả đang thực hiện tương tác Trong trường hợp phát sinh những tình huống tương tác mới, người quản lý có thể dễ dàng điều phối phóng viên, biên tập viên ở các bộ phận khác nhau thực hiện tin, bài để đảm bảo tiến độ phát sóng và thông tin được phản ánh đa dạng, sinh động, nhiều chiều
1.2.2.3 Quản lý hoạt động tương tác giúp nhanh chóng nắm bắt, xử lý các tình huống bất ngờ
Chương trình phát thanh trực tiếp là chương trình có thời điểm sản xuất chương trình diễn ra đồng thời với thời điểm phát sóng nên độ rủi ro rất cao Những rủi ro xảy ra có thể có thể là nội dung thông tin thính giả cung cấp không chính xác, chất lượng thính giả tương tác không đảm bảo, sự cố máy móc kỹ thuật hay vấn đề sự cố khách mời Quản lý hoạt động tương tác giúp các nhà quản lý xây dựng những phương án dự phòng rủi ro, có những phương án xử lý kịp thời
Như vậy, có thể khẳng định, quản lý hoạt động tương tác giữ vai trò quan trọng đối với các chương trình phát thanh trực tiếp là vì quản lý hoạt động tương tác giúp cho quá trình tiếp nhận, xử lý và phản hồi thông tin đối với thính giả được thực hiện nhanh chóng, kịp thời đạt được mục đích thông tin của chương trình Đồng thời, khuyến khích sự tham gia tương tác với thính giả, các nhà quản lý, các khách mời…làm cho nội dung các chương trình trở nên chân thực, khách quan và làm tăng sự sinh động, hấp dẫn Chương trình như một bức tranh âm thanh sinh động với những giai điệu thu hút nhiều người cùng lắng nghe, suy ngẫm và đồng cảm nên có thể tạo ra những hiệu ứng lan tỏa lớn hơn Đây là ưu thế nổi bật của phát thanh trực tiếp so với chương trình phát thanh chỉ có sự xuất hiện của biên tập viên và phát thanh viên