1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nội dung trên nền tảng số tại trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số đthvn

132 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển Và Quản Lý Nội Dung Trên Nền Tảng Số Tại Trung Tâm Sản Xuất Và Phát Triển Nội Dung Số Đài Truyền Hình Việt Nam
Tác giả Phạm Thị Kim Thoa
Người hướng dẫn TS. Trần Quang Diệu
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Chuyên ngành Quản lý Báo chí - Truyền thông
Thể loại Luận văn thạc sĩ báo chí học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 4,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ thực trạng trên cho thấy việc khảo sát, nghiên cứu “Phát triển và quản lý nội dung trên nền tảng số tại Trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số - ĐTHVN” nhằm có những đ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM

(Khảo sát trên dữ liệu năm 2020)

Chuyên ngành: Quản lý Báo chí - Truyền thông

Mã số: 8 32 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Trần Quang Diệu

HÀ NỘI – 2022

Trang 2

Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

Hà Nội, ngày 14 tháng 6 năm 2022

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS,TS Nguyễn Văn Dững

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng, các kết quả nêu trong luận văn là trung thực Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn, tác giả nhận thấy đề tài “Phát triển và quản lý nội dung trên nền tảng số tại Trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số - ĐTHVN” bao gồm cả hai yếu tố “phát triển” và “quản lý” là quá rộng Do vậy, để luận văn được xúc tích và cô đọng, mang đến nhiều giá trị hơn, tác giả xin phép chỉ phân tích khía cạnh: “Quản lý nội dung trên nền tảng

số tại Trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số - ĐTHVN”

Hà Nội, ngày 14 tháng 6 năm 2022

Tác giả

Phạm Thị Kim Thoa

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 13

1.1 Các khái niệm cơ bản của đề tài 13

1.2 Vai trò của việc quản lý nội dung trên nền tảng số của CQBC 25

1.3 Chủ trương, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về chuyển đổi số trong lĩnh vực báo chí 29

1.4 Các yếu tố trong quản lý nội dung trên nền tảng số tại CQBC 31

1.5.Tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý nội dung trên nền tảng số tại VTV Digital 37

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN NỘI DUNG TRÊN NỀN TẢNG SỐ TẠI TRUNG TÂM SẢN XUẤT VÀ PHÁT TRIỂN NỘI DUNG SỐ– ĐÀI THVN 41

2.1 Vài nét về trung tâm Sản xuất và Phát triển nội dung số 41

2.2 Khảo sát thực trạng quản lý nội dung trên nền tảng số tại Trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số VTV Digital 51

2.3 Thành công, hạn chế và nguyên nhân 74

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHÁT TRIỂN VÀ QUẢN LÝ NỘI DUNG TRÊN NỀN TẢNG SỐ TẠI TRUNG TÂM SẢN XUẤT VÀ PHÁT TRIỂN NỘI DUNG SỐ – ĐÀI THVN 83

3.1 Một số vấn đề về nâng cao chất lượng phát triển và quản lý nội dung trên nền tảng số tại Trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số – Đài THVN 83

3.2 Nhóm giải pháp về nội dung quản lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nội dung trên nền tảng số tại VTV Digital 87

3.3 Nhóm giải pháp về phương pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tại VTV Digital 97

KẾT LUẬN 101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

PHỤ LỤC 110

Trang 5

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH

Bảng 2.1 Thống kê lượng người dùng, theo dõi và truy cập trên các nền tảng của VTV Go 45 Bảng 2.2 Thống kê lượng người dùng, theo dõi và truy cập trên các nền tảng số của VTV News 45 Bảng 2.3 Thống kê lượng người dùng, theo dõi và truy cập trên các nền tảng số của VTV24 46 Bảng 2.4 Thống kê số lượng, định dạng nội dung tin bài đăng tải trên các nền tảng mạng xã hội của VTV Digital 49 Bảng 2.5 Thống kê lượng người dùng, theo dõi và truy cập trên các nền tảng số của VTV Digital 67 Bảng 2.6 Thống kê số lượng tin, bài và tương tác công chúng của VTV Digital trên trang Fanpage Trung tâm tin tức VTV24 69 Bảng 2.7 Nhận xét của công chúng về các nội dung trên nền tảng số của VTV Digital 73 Bảng 2.8 Mức độ tương tác, phản hồi của công chúng khi theo dõi các nội dung trên nền tảng số của VTV Digital? 81 Biểu đồ 1.1 Triển vọng thị trường kỹ thuật số: chi tiêu quảng cáo kỹ thuật số trên toàn thế giới 2017-2025 2 Biểu đồ 2.1 Tỉ lệ các lĩnh vực VTV Digital phản ánh trên các nền tảng số 47 Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức Trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số VTV Digital 43 Hình 2.2 Giao diện VTV go trên nền tảng Web 44 Hình 2.3 Giao diện VTV go trên ứng dụng di động 44 Hình 2.4 Sơ đồ quy trình sản xuất sản phẩm báo chí tại Trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số VTV Digital 61 Hình 2.5 Một số nội dung đăng tải trên Fanpage Trung tâm tin tức VTV24 68

Trang 6

11 VTV Digital Trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số

Trang 7

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, khoa học - kỹ thuật, công nghệ và Internet phát triển mạnh mẽ đã tạo nên những hoạt động siêu kết nối thông tin toàn cầu Điều này đã tác động sâu rộng đến các lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó không thể không kể tới lĩnh vực báo chí truyền thông Báo chí đã nhanh chóng tiếp cận với tiến bộ của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin để hình thành những phương thức làm báo mới, mang đến mâm cỗ thông tin đa dạng, nhiều chiều phục vụ nhu cầu ngày càng cao của công chúng Một hệ sinh thái báo chí truyền thông đa dạng được hình thành với công nghệ sản xuất và truyền phát hiện đại, với sự xuất hiện của những phương thức làm báo tự động, thông minh, tương tác đa chiều; báo chí từ đơn nền tảng thành báo chí đa nền tảng Công chúng báo chí từ bị động tiếp nhận thông tin trở thành người chủ động tiếp nhận thông tin và trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và phân phối nội dung báo chí Sản phẩm báo chí từ việc chỉ là sản phẩm độc quyền của CQBC trở thành sản phẩm với sự cộng tác nội dung từ người dùng Sự thay đổi trên đã thúc đẩy, tạo môi trường sôi động và thách thức hơn bao giờ hết cho các CQBC

Hơn hết, một thực tại đã và đang xảy ra đó là hoạt động quảng cáo chuyển dịch mạnh mẽ sang các nền tảng số đặc biệt là các nền tảng mạng xã hội thay

vì báo chí truyền thống như báo in, hay phát thanh, truyền hình Theo các ước tính của Statista về triển vọng chi tiêu quảng cáo kỹ thuật số trên toàn thế giới 2017-2025 cho thấy, chi tiêu cho quảng cáo kỹ thuật số trên thế giới đã và sẽ ngày càng tăng, trong đó dự báo chi tiêu quảng cáo kỹ thuật số năm 2025 có thể lên tới khoảng 600 tỷ đô

Trang 8

Biểu đồ 1.1 Triển vọng thị trường kỹ thuật số: chi tiêu quảng cáo kỹ thuật số

trên toàn thế giới 2017-2025

Nguồn: Statista, 2021[39]

Đặt trong bối cảnh này, báo chí trên nền tảng số xuất hiện như là một hình thức báo chí hiệu quả và có nhiều ưu điểm vượt trội và trở thành mục tiêu hướng đến của nhiều nền báo chí trên thế giới Phát triển báo chí trên nền tảng

số giúp CQBC giải được bài toán về tăng sức hút với công chúng, đồng thời tăng nguồn thu cho CQBC

Tại Việt Nam, chính sách của Đảng và nhà nước trong những năm gần

đây là một trong những yếu tố then chốt thúc đẩy chuyển đổi số tại các cơ quan báo chí Ngày 03/4/2019 Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quyết định số 362/QĐ-TTg Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025 Trong đó: “Sắp xếp hệ thống báo chí gắn với đổi mới mô hình tổ chức, nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý báo chí để phát triển”; “Xây dựng một số cơ quan báo chí chủ lực, đa phương tiện làm nòng cốt, có vai trò định hướng dư

Trang 9

luận xã hội, thông tin đối ngoại”; Đài Truyền hình Việt Nam là một trong những đơn vị nòng cốt “thực hiện theo mô hình cơ quan truyền thông đa phương tiện.” [30]

Để bắt kịp những xu thế báo chí hiện đại, đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng, đồng thời đáp ứng yêu cầu công tác thông tin, truyền thông của nhà nước, tại Đài Truyền hình Việt Nam đã diễn ra quá trình hiện đại hóa công nghệ hoá theo hướng truyền thông hội tụ, tận dụng những lợi thế truyền thống

và thương hiệu của VTV để tạo ra các bước đột phá mới Một trong những nội dung được ĐTHVN đầu tư là chiến lược phát triển nội dung số, với sự ra đời của Trung tâm Sản xuất và Phát triển nội dung số Đây được coi là một trong những đơn vị được giao nhiệm vụ phát triển nội dung số tại ĐTHVN với mục tiêu cung cấp các nội dung sáng tạo, đa dạng; đổi mới chất lượng dịch vụ trực tuyến để tạo ra một nền tảng số cá nhân hóa, từ đó tăng cường kết nối cá nhân chặt chẽ hơn nữa

Xuất phát từ thực trạng trên cho thấy việc khảo sát, nghiên cứu “Phát triển và quản lý nội dung trên nền tảng số tại Trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số - ĐTHVN” nhằm có những đánh giá về quá trình phát triển và quản

lý các sản phẩm truyền hình số, những mặt ưu điểm, hạn chế và thách thức cần đối mặt trong quá trình sản xuất nội dung trên nền tảng này, để từ đó có nghiên cứu đề xuất phù hợp, góp phần giải quyết các vấn đề gặp phải hiện nay, tạo chuyển biến về chất lượng nội dung trên nền tảng số - một nền tảng được coi

là chiếm phần lớn thời gian sử dụng của công chúng, đặc biệt là công chúng trẻ

Tuy vậy, trong quá trình thực hiện đề tài luận văn, tác giả nhận thấy đề tài “Phát triển và quản lý nội dung trên nền tảng số tại Trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số - ĐTHVN” là quá rộng, do vậy, để luận văn được xúc tích và cô đọng, mang đến nhiều giá trị hơn, tác giả xin phép chỉ phân tích khía cạnh:

“Quản lý nội dung trên nền tảng số tại Trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số - ĐTHVN”

Trang 10

2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1 Nhóm nội dung về báo chí và quản lý báo chí

Cuốn “Cơ sở lý luận báo chí” - Tác giả Nguyễn Văn Dững đã khái quát

về khái niệm báo chí, những đặc điểm của thông tin báo chí và 8 đặc điểm cơ bản của thông tin báo chí Trong cuốn sách, tác giả cũng đề cập đến công chúng báo chí, và 5 bình diện về công chúng báo chí Cuốn sách là nguồn tài liệu tham khảo quý giá, góp phần định hướng một số vấn đề về lý luận cho nghiên cứu của luận văn

Cuốn sách “Quản lý và phát triển thông tin báo chí ở Việt Nam” tác giả

Đỗ Quý Doãn đã tập trung làm rõ thực trạng quản lý, chỉ đạo và phát triển báo chí ở Việt Nam; đồng thời cũng đưa ra những giải pháp cơ bản tạo điều kiện để thông tin báo chí Việt Nam phát triển nhưng vẫn bảo đảm quản lý tốt

Trong cuốn sách “Công tác lãnh đạo, quản lý báo chí trong 25 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới”, PGS-TS Nguyễn Thế Kỷ (chủ biên) đề cập đến nội dung phương thức, sự đổi mới tư duy, phong cách lãnh đạo, quản lý của Đảng

và Nhà nước đối với báo chí; chỉ ra những ưu điểm và hạn chế, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác lãnh đạo, quản lý báo chí của Đảng

và Nhà nước trong giai đoạn mới

Trong cuốn sách “Quản lý và phát triển thông tin báo chí ở Việt Nam” nhà báo Đỗ Quý Doãn đã tập trung làm rõ thực trạng tình hình, những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý, chỉ đạo và phát triển báo chí hiện nay và đưa ra những giải pháp cơ bản cho công tác quản lý thông tin báo chí Việt Nam

2.2 Nhóm nội dung về báo chí trong kỷ nguyên số

Trong những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật

và công nghệ số đã tạo nên thói quen mới trong cách tiếp nhận thông tin của công chúng Đồng thời cũng mang lại những diện mạo mới cho CQBC Những khái niệm về báo chí trong trong kỷ nguyên số như; “nền tảng số”, “nền tảng mạng xã hội”, “báo chí đa nền tảng”, “truyền thông hội tụ”; “toà soạn hội tụ”,

Trang 11

“báo chí đa phương tiện”; “công nghệ số”; “truyền thông xã hội”… đã không còn xa lạ với những người làm báo nữa Do vậy, nhiều nghiên cứu về những vấn đề này cũng được ra đời như:

Cuốn sách “Báo chí truyền thông hiện đại” (2011) của tác giả Nguyễn

Văn Dững Tác giả đã đã tổng kết những vấn đề cốt lõi của hoạt động báo chí Trong đó, trong cuốn sách tác giả cũng đã đưa ra những đặc điểm của báo chí hiện đại và hoạt động của báo chí trong bối cảnh truyền thông hội tụ

Sách “Báo chí, truyền thông Việt Nam: Một số lý luận và thực tiễn”

(2020) của tác giả Nguyễn Thế Kỷ cung cấp cho người đọc những hiểu biết cơ bản về toàn cảnh nền báo chí, truyền thông Việt Nam Đặc biệt, trong phần 2, tác giả cung cấp cho luận văn một hệ thống quan điểm về báo chí trong kỷ nguyên số, báo chí đa loại hình, báo chí đa nền tảng, và những vấn đề trong quản lý báo chí; đào tạp, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm báo

Cuốn “Báo chí và mạng xã hội” tác giả: Đỗ Đình Tấn Cuốn đã đi sâu

nghiên cứu: Mạng xã hội là gì? Tính 2 mặt và lý do thu hút của nó MXH đã và đang mở rộng không gian và công việc của nhà báo ra sao Hiểu rõ những điều

mà mạng xã hội và truyền thông xã hội mang đến cho báo chí và nhà báo Tác giả cũng trình bày mặt tích cực và tiêu cực của mạng xã hội phụ thuộc vào người dùng Từ đó đưa ra các biện pháp đấu tranh cho một hệ sinh thái truyền thông an toàn

“Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại” (2019) -

Nhà Xuất Bản Thông Tin Và Truyền Thông; tác giả Nguyễn Thành Lợi Cuốn sách mang đến cho độc giả những vấn đề mới được quan tâm trong nhiều thập

kỷ qua như hội tụ truyền thông, tòa soạn hội tụ Đồng thời tác tả cũng đưa ra quan điểm về những kỹ năng cần thiết đối với nhà báo trong môi trường hội tụ

truyền thông

Bên cạnh các cuốn sách trên, các bài báo khoa học liên quan đến đề tài nghiên cứu như:

Trang 12

Trong bài viết “Báo chí thời công nghệ 4.0” của tác giả TS Trần Quang

Diệu, PGS, TS Đỗ Thị Thu Hằng 24/10/2017 Tạp chí Người làm báo Tác giả

đã đưa ra nhận định toàn diện về cách mạng công nghệ 4.0 và tính tất yếu của

sự đổi mới, có chiến lược nghiên cứu, thay đổi chính sách quản lý báo chí truyền thông trước thách thức của sự phát triển mạng xã hội, truyền thông xã hội, sự ra đời của nền báo chí đa nền tảng, báo chí dữ liệu và báo chí sáng tạo

“Sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề trong bối cảnh Truyền thông đa phương tiện” luận văn thạc sỹ báo chí và truyền thông của Bùi Thị Bích Hường, năm 2018 Tác giả đã đề cập đến cách tiếp cận công chúng trên nhiều phương tiện như điện thoại thông minh, máy tính bảng, máy vi tính kết nối internet và phương pháp sản xuất sản phẩm báo chí đa phương tiện, một khía cạnh mà luận văn tôi sẽ nghiên cứu

Các bài phân tích, nghiên cứu trên đã nói lên tính cấp thiết trong việc các toà soạn báo, cơ quan báo chí cần thay đổi, phát triển báo chí phù hợp với thời đại 4.0, thời đại công nghệ số, đẩy mạnh yếu tố hội tụ nâng cao chất lượng báo chí Trong đó, nhiều bài nghiên cứu chỉ ra, sức mạnh của số hoá nội dung báo chí, sứ mệnh, vai trò của báo chí trên Internet, mạng xã hội Tuy nhiên chưa có bài nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu mô hình quản lý nội dung truyền hình trên nền tảng số tại Trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số VTV digital

Vì vậy, xuất phát từ hoạt động thực tiễn, đề tài luận văn này sẽ cố gắng

đi vào nghiên cứu, xây dựng một khung mô hình đã và đang bước đầu hoạt động hiệu quả trong số hoá nội dung tại Việt Nam, từ đó đề xuất những giải pháp quản lý và phát triển dòng sản phẩm truyền hình số, gắn với truyền hình liên kết, nhằm tạo thế cạnh tranh lành mạnh, đóng góp vào tổng doanh thu của Trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số VTV digital nói riêng, Đài truyền hình Việt Nam nói chung, định hình 1 lĩnh vực để sản xuất nội dung mới phù hợp với sự phát triển của báo chí thế giới, thay đổi chất lượng dịch vụ cung cấp nội dung truyền hình hướng tới thị trường công chúng

Trang 13

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Dựa trên mục đích nghiên cứu trên, tác giả sẽ thực hiện những nhiệm vụ sau:

⁃ Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn về báo chí, báo chí trên nền tảng số, công chúng báo chí trên nền tảng số và quản lý báo chí trên nền tảng số

⁃ Nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý nội dung trên nền tảng

số tại Trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số ĐTHVN

⁃ Đánh giá thành công, hạn chế, nguyên nhân thành công và hạn chế của vấn đề quản lý nội dung trên nền tảng số tại Trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số - ĐTHVN

⁃ Khuyến nghị giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý nội dung trên nền tảng số tại Trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số - ĐTHVN

và các CQBC nói chung

4 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là “Quản lý nội dung trên nền tảng

số tại Trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số - ĐTHVN”

Trang 14

- Khảo sát 300 công chúng báo chí trên nền tảng số tại thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà Nẵng Đây 3 thành phố trọng tâm của

cả nước, đại điện cho 3 miền, miền Bắc, miền Trung và miền Nam Khảo sát tại 3 địa điểm trên sẽ giúp tác giả có cái nhìn toàn diện về vấn đề tiếp nhận thông tin trên nền tảng số của công chúng Việt Nam

Điều tra cho thấy một số điểm như sau:

Tỉ lệ giới tính: nam 130 người, chiếm 43%; nữ 170 người, chiếm 57% Khả năng tiếp nhận thông tin báo chí trên nền tảng số của công chúng ở mức tương tối đốt; công chúng từ 18-55 chiếm 91%, trong khi đó độ tuổi trên 55 có

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Phương pháp luận chung: Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin: sử dụng phép duy vật biện chứng và phép duy vật lịch sử; quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng về báo chí truyền thông, lý luận báo chí truyền thông

Phương pháp luận chuyên ngành: Luận văn tổng hợp các nghiên cứu lý thuyết liên quan đến đề tài, bao gồm: lý thuyết về quản lý; Lý thuyết về báo chí; Lý thuyết về nền tảng số, báo chí trên nền tảng số; và lý thuyết về công chúng trên nền tảng số, để từ đó tạo nên cơ sở để phân tích cũng như khảo sát vấn đề nghiên cứu trong luận văn

5.2 Phương pháp nghiên cứu công cụ

Trang 15

5.2.1 Phương pháp nghiên cứu định tính

Phân tích tài liệu: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp nhằm phân tích, tổng hợp những tài liệu, tư liệu, số liệu có liên quan đến

đề tài nghiên cứu, xây dựng cơ sở lý luận cho luận văn Phương pháp phân tích nội dung để khảo sát, phân tích, tổng hợp nội dung và hình thức các báo trên nền tảng số tại Việt Nam Tài liệu được luận văn sử dụng bao gồm: sách, báo, các bài nghiên cứu khoa học Từ khoá chính được tác giả sử dụng để làm cơ sở cho nghiên cứu, đánh giá trong luận văn bao gồm: nền tảng số, báo chí đa phương tiện, báo chí trong kỉ nguyên số, truyền thông số, truyền thông xã hội, nền tảng mạng xã hội,… Tiếp đó, lựa chọn các bài viết, thông tin từ các nguồn chính thống, uy tín để làm cơ sở, nền tảng cho việc đánh giá

Phương pháp phân tích nội dung: Thông qua việc phân tích các hoạt động

về quy trình sản xuất; kế hoạch sản xuất, cách thức phân phối; hình thức và nội dung sản phẩm trên nền tảng số; cách sử dụng các nguồn lực như con người và công nghệ, kỹ thuật trong quá trình sản xuất và phân phối nội dung trên nền tảng số tại VTV Digital, xem xét đây là kết quả của quá trình quản lý, tác giả

sẽ tổng hợp, đánh giá những ưu, nhược điểm của quản lý nội dung trên nền tảng

số của VTV Digital

Phỏng vấn sâu: 5 phỏng vấn, đối tượng phỏng vấn là lãnh đạo VTV Digital, các phóng viên, biên tập viên tại VTV Digital để biết về quy trình tổ sản phẩm trên nền tảng số hiện nay, định hướng về nội dung, kế hoạch thực hiện quản lý nội dung trên nền tảng số tại VTV Digital Bảng hỏi phỏng vấn tham dự được ghi trực tiếp từ người hỏi và người trả lời và được mã hóa là [PVS1], [PVS2], [PVS3], [PVS4], [PVS5]

Phương pháp thảo luận nhóm: Tổ chức thảo luận nhóm 5 người là PV, BTV viên đại diện cho từng phòng ban tại VTV Digital để thu thập thông tin,

ý kiến đánh giá về những thuận lợi, khó khăn, thế mạnh, hạn chế trong quá trình sản xuất sản phẩm trên nền tảng số tại VTV Digital Đồng thời lắng nghe ý kiến

Trang 16

của các thành viên về kiến nghị, nguyện vọng của các thành viên về vấn đề nâng cao hiệu quả quản lý nội dung trên nền tảng số tại VTV Digital Bảng hỏi thảo luận nhóm được ghi trực tiếp từ người hỏi và người trả lời, và được lưu tại Phụ lục 3

5.2.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng

Tác giả thực hiện khảo sát bằng bảng hỏi Anket với 300 phiếu được phát thông qua hình thức trực tiếp và online (Google form) đến nhóm đối tượng được khảo sát là công chúng tại: thành phố Hà Nội (128 phiếu, 42,7%), thành phố Đà Nẵng (75 phiếu; 25%) và thành phố Hồ Chí Minh (97 phiếu; 32,3%) Đây là 3 thành phố đại diện cho 3 vùng miền: Bắc, Trung, Nam, cũng là 3 thành phố lớn với số lượng người sử dụng các thiết bị kỹ thuật số, thiết bị thông minh,

và các sản phẩm số nhiều nhất Do vậy việc khảo sát tại ba thành phố trên, phần nào sẽ giúp tác giả có cái nhìn tổng quát về vấn đề mà tác giả đang nghiên cứu Tổng cộng số phiếu được phát ra là 300 phiếu thu được và có thể sử dụng 300 phiếu (tuy nhiên có 17 phiếu được chọn là chưa từng tiếp nhận bất kì nội dung nào trên nền tảng số của VTV Digital) Bảng hỏi được lưu tại Phụ lục 1 và cho kết quả tại Phụ lục 2, trong đó cụ thể:

Số lượng nam chiếm 130 phiếu, 43%; nữ chiếm 170 phiếu, 57%

Độ tuổi từ 18-30 tuổi chiếm 162 phiếu 54%; Từ 30-55 tuổi chiếm 111 phiếu; 37%; Từ 55-60 tuổi chiếm 27 phiếu 9% Như vậy có thể thấy, độ tuổi từ 18-50 chiếm phần lớn (91%) trong tổng số lượng người được khảo sát Điều này là hợp lý, do những đối tượng này là đối tượng còn đang đi học, hoặc đi làm, do vậy về đặc trưng của họ là dịch chuyển nhiều Hơn hết nhóm này, đặc biệt là nhóm từ 18-30 tuổi, là nhóm mà tiếp cận nhiều với các thiết bị thông minh và các nền tảng mạng xã hội Do vậy, đây cũng sẽ là nhóm đối tượng công chúng tiềm năng của CQBC trên các nền tảng số

Về trình độ học vấn người được lựa chọn bao gồm: Sinh viên 108 phiếu, chiếm 36,1%; Công chức – viên chức 85 phiếu, chiếm 28,3%; Nhân viên văn phòng 78 phiếu, chiếm 25,3%; đối tượng khác chiếm 31 phiếu; 10,3% Có thể

Trang 17

thấy, các đối tượng được phỏng vấn đều có trình độ văn hoá nhất định, do vậy, việc khảo sát về cách thức tiếp cận nội dung, và đánh giá của các đối tượng này

về hình thức, nội dung trên nền tảng số của VTV Digital sẽ giúp cho tác giả có cái nhìn bao quát về cách tiếp cận và mức độ hài lòng của công chúng với nội dung trên nền tảng số của VTV Digital Để từ đó, đưa ra những giải pháp, kiến nghị về quản lý để nội dung trên nền tảng số được hiệu quả và gần gũi với công chúng hơn

6 Đóng góp của mới của đề tài

Đây là luận văn thạc sĩ đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về Quản lý nội dung trên nền tảng số tại Trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số - ĐTHVN Luận văn sử dụng hệ thống lý luận về báo chí, báo chí trên nền tảng

số, quản lý nội dung báo chí trên nền tảng số, công chúng báo chí trên nền tảng

số để luận giải những vấn đề của báo chí trên nền tảng số nói riêng và báo chí

và truyền thông hiện đại nói chung

Về tính thực tiễn, đây là công trình áp dụng đa dạng phương pháp nghiên cứu, qua đó, kết quả nghiên cứu sẽ đánh giá hiện trạng quản lý nội dung báo chí trên nền tảng số tại Trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số Những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý nội dung trên nền tảng số tại VTV Digital nói riêng, mà còn cho các CQBC tại Việt Nam nói chung

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

7.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn là công trình đầu tiên trong lĩnh vực báo chí nghiên cứu về vấn

đề quản lý nội dung trên nền tảng số tại Trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số - ĐTHVN Từ đó, Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần mở ra những hướng nghiên cứu mới về một loại hình truyền thông mới, phát triển lý luận quản lý nội dung báo chí trên nền tảng số dưới góc độ nội dung quản lý và phương thức quản lý Luận văn cũng góp phần đưa ra khẳng định, việc quản lý tốt nội dung trên nền tảng số là yêu cầu cấp bách trong thời buổi hiện nay đối

Trang 18

với CQBC, đồng thời xây dựng và gợi mở những điểm mới cho các hướng nghiên cứu tiếp theo

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu góp phần đánh giá cụ thể, chi tiết về hiện trạng quản

lý nội dung trên nền tảng số tại Trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số - ĐTHVN, đồng thời là cơ sở, tài liệu tham khảo có tính ứng dụng cao trong hoạt động nghề báo Luận văn cung cấp các cơ sở thực tiễn làm cơ sở để sản xuất sản phẩm và xây dựng mô hình báo chí trên nền tảng số cho các các cơ quan báo chí, truyền thông Đặc tính cơ bản của công chúng báo chí trên nền tảng số được luận văn khái quát nhằm giúp CQBC nhận diện được công chúng và nhu cầu của công chúng Những giải pháp được luận văn đề cập có thể giúp các CQBC hoạch định các chiến lược phát triển phù hợp trên các nền tảng số

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn được gói gọn trong 3 chương

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

Chương 2 Thực trạng quản lý nội dung trên nền tảng số tại Trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số - ĐTHVN

Chương 3 Xu hướng và giải pháp nâng cao chất lượng quản lý nội dung trên nền tảng số tại Trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số - ĐTHVN

Trang 19

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.1.1 Quản lý

Theo Từ điển Tiếng Việt định nghĩa, quản lý gồm hai yếu tố “quản” là

“trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định” và “lý” là “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [18, tr.303]

Hay trong cuốn Tiếp xúc mặt đối mặt trong quản lý, NXB Khoa học kỹ

thuật, tác giả D Torrington có đề cập khái niệm “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu trong điều kiện biến động của môi trường” [36]

Trong đó, quá trình quản lý được thực hiện thông qua hai đối tượng nhất định: chủ thể quản lý (đưa ra quyết định quản lý) và đối tượng quản lý (chịu sự tác động những quyết định của chủ thể quản lý)

Chính vì vậy, trong luận văn tác giả sử dụng khái niệm: Quản lý là sự tác

động có tổ chức, có định hướng, có mục đích và có kế hoạch của chủ thể quản

lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt được mục tiêu đã đề ra

Chủ thể quản lý là cá nhân hay tổ chức - những đại diện có quyền hạn và trách nhiệm liên kết, phối hợp những hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân hướng tới mục tiêu chung nhằm đạt được kết quả nhất định trong quản lý Đối tượng quản lý là đối tượng chịu sự tác động của chủ thể quản lý Tùy theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau Bên cạnh đó, khách thể của quản lý là trật tự quản lý Trật tự quản lý được quy định bởi nhiều loại quy phạm xã hội khác nhau như quy phạm đạo đức, quy phạm tôn giáo, quy phạm pháp luật tùy theo từng loại hình quản lý

Trang 20

Quản lý bao gồm 4 chức năng, cụ thể: Lập kế hoạch:Xác định mục tiêu hoạt động, phương án hoạt động và các yếu tố để đạt mục tiêu; Tổ chức: Thiết

kế cơ cấu tổ chức và cơ chế phối hợp giữa các bộ phận; Kiểm tra: Đo lường việc thực hiện các kế hoạch trong thực tế, phát hiện sai lệch và đưa ra biện pháp điều chỉnh; Lãnh đạo: Tác động đến các bộ phận, cá nhân trong tổ chức, hướng

họ đến mục tiêu, kế hoạch đã đề ra

1.1.2 Báo chí

1.1.2.1 Khái niệm về báo chí

Báo chí đã hình thành và phát triển, trở thành nơi cung cấp các thông tin

về kinh tế, văn hoá, xã hội, Xã hội càng hiện đại, việc phổ biến thông tin báo chí trên phạm vi rộng lại càng trở nên quan trọng hơn, do vậy, báo chí luôn phát triển, luôn đổi mới theo dòng chảy của thông tin, để tiếp cận với nhiều công chúng nhất Khái niệm báo chí do vậy cũng được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau

Theo Từ điển Tiếng Việt “Báo (danh từ) là (1) Xuất bản phẩm định kỳ

in trên giấy khổ lớn, đăng tin, bài, tranh ảnh để thông tin, tuyên truyền Ra báo Đọc báo Toà soạn báo (2) Hình thức thông tin tuyên truyền có tính chất quần chúng và nội bộ, bằng bài viết, tranh vẽ trực tiếp trên giấy, trên bảng, v,v, Báo bảng Báo tay.” [25, tr.40]

Tác giả Nguyễn Thế Kỷ trong cuốn Báo chí, truyền thông Việt Nam: Một

số vấn đề lý luận và thực tiễn cho rằng: “Báo chí là các loại hình, các công cụ

bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, kí hiệu, tín hiệu của con người trên giấy, trên bảng, trên sóng phát thanh, truyền hình, truyền thanh, mạng Internet… nhằm trao đổi, thu nhận thông tin giữa cơ quan báo chí và công chúng phục vụ cho một hoặc một số giai cấp, đảng phái, tổ chức, nhóm người và các cá nhân trong xã hội.” [24,tr.104]

Trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí, tác giả Nguyễn Văn Dững cũng đề

cập đến khái niệm báo chí được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp: Theo

Trang 21

nghĩa hẹp, “Báo chí được hiểu bao gồm báo và tạp chí”, theo nghĩa rộng, báo chí “bao gồm các loại hình báo chí: báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử (và báo chí công dân).” Hay ở góc độ tiếp cận từ lý thuyết, báo chí được coi là “tư liệu sinh hoạt tinh thần nhằm thông tin và nói rõ về những sự kiện thời sự đang diễn ra cho một nhóm đối tượng nhất định, nhằm mục đích nhất định, xuất bản định kỳ, đều đặt.” [7]

Trong khi đó, Điều 3, Luật Báo chí 2016 qui định: “Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng qua các loại hình báo in, báo nói, báo viết hay báo điện tử.” [29, tr38]

Mỗi nhà nghiên cứu đưa ra một khái niệm khác nhau, song tổng kết lại,

bản chất của báo chí, tác giả có thể rút ra kết luận: báo chí là một loại hình

thông tin có khả năng phản ánh sự kiện, nhân vật, hay những vấn đề có thật,

có ý nghĩa xã hội theo một quan điểm, khuynh hướng nhất định Báo chí được chuyển tải đến công chúng qua các loại hình như báo in, báo phát thanh, báo truyền hình và báo điện tử

1.1.2.2 Đặc điểm cơ bản của thông tin báo chí

Thông tin báo chí có những đặc điểm xã hội cơ bản đó là: tính thông tin thời sự; tính công khai; tính mục đích; tính định kỳ; tính phong phú; tính đa dạng, nhiều chiều; tính dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo; tính tương tác và tính đa

phương tiện, cụ thể như sau:

Thông tin thời sự

Thời sự theo Đại từ điển tiếng Việt là “Toàn bộ sự việc ít nhiều quan

trọng vừa mới xảy ra, được nhiều người quan tâm”, “có tính thời sự còn mới mẻ” [7] Do vậy, tính thời sự trong thông tin báo chí được hiểu là báo chí thông tin sự kiện và vấn đề đã và đang xảy ra, là vấn đề được xã hội quan tâm, là những sự kiện mà công chúng cần được biết, hay là những sự kiện mang mục

Trang 22

đích chính trị mà lãnh đạo cần thông tin cho công chúng Sự kiện có thể đang xảy ra tại thời điểm phản ảnh, hoặc đã xảy ra nhưng nay mới biết, hoặc mang tính thời sự, thời cuộc Thông tin báo chí phản ánh phải cắt nghĩa, giải thích và giải đáp được vấn đề phản ánh Tính thời sự có nghĩa là người làm báo cần tôn trọng sự thật, và thuyết phục công chúng báo chí bằng sự thật, và phản ánh sự thật bằng sự khách quan của người làm báo

Tính công khai

Công khai trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí có đề cập đến, được hiểu là

“không giữ kín, mà để cho mọi người có thể biết”.[7] Công khai trên báo chí tức là báo chí cần thông tin sự kiện, vẫn đề và làm cho nó tác động vào nhận thức, thái độ, hành vi của phần lớn công chúng Tính công khai góp phần tạo nên dư luận xã hội, và là sức mạnh xã hội của báo chí Tính công khai, minh bạch của báo chí phụ thuộc vào ba yếu tố bao gồm: 1, Thông tin sự kiện có xác thực, đúng bản chất không; 2, Thông tin có công khai, minh bạch nhiều chiều không; 3, Thông tin sự kiện, phân tích vấn đề thời sự cần được tập hợp và phân tích dưới nhiều góc độ khác nhau

Tính mục đích

Thông tin báo chí tác động đến đông đảo người, liên quan đến việc tập hợp và thuyết phục công chúng Tính mục đích của thông tin báo chí được thể hiện trước tiên là ở mục đích chính trị, sau đó là các mục đích văn hoá, dân sinh,… Do đó, tính tất yếu, khách quan và phổ biến của mục đích thông tin và

tính chính trị của mục đích trong thông tin báo chí là điều dễ hiểu

Tính định kỳ, đều đặn

Định kỳ trong báo chí được hiểu là sau một khoảng thời gian, sản phẩm báo chí lại được xuất bản, truyền phát Tính định kỳ trong báo chí thực chất là giao ước của CQBC với cộng đồng, mỗi loại hình báo chí sẽ thể hiện tính định

kỳ tuỳ thuộc theo đặc trưng của loại hình báo chí đó Chẳng hạn như báo in, tính định kỳ thể hiện ở những ấn phẩm xuất bản theo buổi, ngày, tuần,… Với

Trang 23

phát thanh, truyền hình tính định kỳ có thể ngắn hơn và được thể hiện theo giờ

cụ thể như bản tin thời sự 16h, 17h, 19h,… Đối với báo mạng điện tử, tính định

kỳ gần như biến mất, do sự hỗ trợ của công nghệ và internet Trên môi trường Internet, bài báo có thể được xuất bản bất cứ lúc nào ngay khi sự kiện xảy ra Tuy nhiên, báo mạng điện tử vẫn có tính định kỳ tương đối, như: “định kỳ tiếp nhận thông tin theo múi giờ và chu kỳ hoạt động của công chúng, theo thói quen giờ truy cập”[7] Theo đó, báo chí sẽ dựa vào chu kỳ và thói quen đó của công chúng để lựa chọn ưu tiên nhóm công chúng, hoặc địa bàn để lựa chọn đẩy bài Tính định kỳ tạo ra phản xạ có điều kiện tiếp nhận thông tin cho công chúng, từ đó phản ánh kịp thời sự kiện, vấn đề, đồng thời cũng xây dựng kỷ luật cho người làm báo và CQBC, tạo nên nhịp điệu giao tiếp với công chúng

Tính phong phú, đa dạng, nhiều chiều của thông tin

“Phong phú” có thể được hiểu là nhiều kiểu cách thông tin Và lắm màu

vẻ; “đa dạng” là có nhiều dạng biểu hiện khác nhau Trong các loại hình truyền

thông đại chúng, thông tin báo chí Phong phú và đa dạng nhất Điều đó thể hiện trên các bình diện: Đối tượng phản ánh của báo chí; đối tượng tác động của báo

chí; tâm lý và tâm trạng, sử thích, nhu cầu, thụ hiếu của công chúng Bên cạnh

đó, các kênh truyền tải thông tin báo chí cũng vô cùng đa dạng từ báo in; báo phát thanh; báo truyền hình; báo mạng điện tử Mỗi loại hình sẽ có một đặc trưng và cách thức truyền tải khác nhau Như báo in khai thác triệt để khả năng phân tích vấn đề, tác động vào tư duy, logic; báo truyền hình tác động với đầy

đủ hình ảnh, âm thanh, khơi dậy sự sống động trong việc phản ánh thông tin,

sự kiện; báo mạng điện tử đáp ứng yếu tố, nhanh, di động, và thuận tiện của

công chúng,… Tính phong phú, đa dạng cũng được thể hiện trong phương thức

thông tin của báo chí từ đưa tin; phân tích, bình luận chuyên sâu đến ký sự,

tranh ảnh,… Phù hợp với thị hiếu của từng nhóm công chúng Thông tin báo

chí mang tính nhiều chiều, tức tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, điều này giúp

Trang 24

công chúng nhận thức được đúng bản chất của sự kiện, vấn đề mà báo chí phản

ánh

Tính dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo

Công chúng của báo chí là đông đảo dân cư nói chung, là đối tượng với

đa dạng đặc tính, không phân biệt trình độ, học vấn, địa bàn sinh sống, với tâm

lý và cách tiếp nhận thông tin khác nhau Báo chí cần đảm bảo hàng triệu người

có thể tiếp cận thông tin ngay lập tức và hiểu như nhau Do vậy, tính dễ hiểu,

dễ nhớ, dễ làm theo là yêu cầu tất yếu của báo chí Thông tin báo chí cần đảm bảo, người có trình độ cao tiếp nhận mà không thấy nhàm chán, người có trình

độ thấp và trung bình không khó tiếp nhận, tuy nhiên phải đảm bảo tính chuẩn mực

Tính tương tác

Tương tác là tác động qua lại với nhau, quan hệ nhiều chiều giữa các sự vật hiện tượng Trong báo chí, tương tác là một trong những đặc điểm nổi bật, đặc biệt là trong môi trường báo chí truyền thông hiện đại Sự tác động qua lại liên tục, trực tiếp giữa báo chí và công chúng giúp cho các ý kiến phản ánh, nhu cầu thông tin được phản ánh khách quan, chân thực, đầy đủ và đa chiều Thông qua hoạt động tương tác, các cơ quan báo chí nắm bắt được nhu cầu, nguyện vọng, mong muốn của công chúng, đề xuất với các cơ quan quản lý có những điều chỉnh về các quy định, chính sách, đưa ra những giải pháp kịp thời

giải quyết những vấn đề nổi cộm trong xã hội

Tính đa phương tiện

Đa phương tiện có nghĩa rộng, là tổ hợp của văn bản, hình, hoạt hình, âm thanh và video Các loại hình đa phương tiện có tương tác với nhau Ba loại đa phương tiện tương tác thông dụng là: Thể hiện tuần tự, theo các nhánh chương trình hóa; siêu đa phương tiện Như vậy, đa phương tiện là kỹ thuật mô phỏng đồng thời và sử dụng nhiều dạng phương tiện chuyển hóa thông tin và các tác phẩm tạo từ kỹ thuật đó” Đa phương tiện trong lĩnh vực báo chí có thể hiểu

Trang 25

đó là khả năng hội tụ, tích hợp đa loại hình sản phẩm truyền thông – báo chí trong một tòa soạn Nó có khả năng chuyển tải đồng thời dữ liệu bằng đa mã ngôn ngữ (text, ảnh, đồ họa, audio clip, video clip) và sự tương tác đa chiều

Nó cho phép kết hợp các loại hình truyền thông trong việc chuyển tải thông điệp báo chí Điều này, không chỉ tăng độ hấp dẫn hay khả năng cuốn hút, mà quan trọng là nó đảm bảo tính khách quan, chân thực, độ tin cậy của thông tin

mà báo chí chuyển tải đến công chúng

1.1.3 Báo chí trên nền tảng số

1.1.3.1 Khái niệm báo chí trên nền tảng số

Theo Bộ Thông tin và Truyền thông nhận định: Nền tảng số là hệ thống thông tin “trực tuyến hoạt động theo mô hình sử dụng công nghệ số để tạo môi trường mạng cho phép nhiều bên cùng tham gia để cung cấp dịch vụ cho các tổ chức, cá nhân, có thể sử dụng ngay, đơn giản, thuận tiện, linh hoạt theo yêu cầu, dễ dàng phổ biến trên diện rộng, các bên tham gia không cần tự đầu tư, quản lý, vận hành, duy trì.” [32]

Có thể hiểu, nền tảng số là môi trường mà các nền tảng kỹ thuật số tạo ra nhiều khả năng siêu việt, tạo ra thách thức trong quá trình phân phối nội dung của CQBC Do vậy, báo chí trên nền tảng số là dạng báo chí tiếp cận công chúng bằng nhiều nền tảng khác nhau như công cụ tìm kiếm kỹ thuật số, phương tiện truyền thông xã hội (mạng xã hội), trình tổng hợp nội dung, email, ứng dụng trên điện thoại thông minh, từ một nguồn phát nhất định Mỗi sản phẩm báo chí được xây dựng để phù hợp với các hình thức tiếp nhận của từng nền tảng số khác nhau Báo chí trên nền tảng số phân phối nội dung đa dạng hơn dựa vào mã nhúng, các liên kết nguồn, cho phép tải về, giúp cho công chúng dễ dàng chia sẻ bài viết, nội dung thông tin lên các nền tảng truyền thông

xã hội và giữa các nền tảng truyền thông xã hội với nhau

Báo chí trên nền tảng số thực chất là báo chí đa nền tảng Do đó, nó cũng mang tính chất của báo chí đa nền tảng, đòi hỏi thông tin phải xuất hiện bất cứ

Trang 26

đâu khi có độc giả, và chủ động đưa tin đến với độc giả thay vì cách tiếp cận truyền thống là độc giả tìm đến với thông tin Ngoài ra, phát hành báo chí trên các nền tảng số giúp các nguồn đầu tư và các phương thức sử dụng nguồn lực

có hiệu quả, nó cũng giúp các cơ quan báo chí khai thác tối đa tài nguyên của mình trong khi tiết kiệm được chi phí, và phục vụ khán thính giả một cách hiệu quả hơn

1.1.2.2 Đặc điểm của báo chí trên nền tảng số

Ngoài những đặc điểm chung của báo chí, báo chí trên nền tảng số mang những đặc điểm nổi bật sau:

Thông tin nhanh

Thay vì những thông tin chỉnh chu về hình ảnh, câu từ như trên các nền tảng báo chí truyền thống Các nền tảng số, trong có tiêu biểu là các nền tảng truyền thông xã hội, là nơi có thể tiếp nhận các thông tin nhanh, chính xác mà chưa cần gọt giũa nhiều về mặt hình thức Các tin đòi hỏi yếu tố tức thời đôi khi chỉ là một dòng trạng thái, một phần tóm tắt thông tin,… nhưng vẫn truyền đạt đầy đủ ý nghĩa của thông tin và được công chúng nắm bắt nhanh, chia sẻ rộng rãi

Phù hợp với từng nền tảng tiếp nhận thông tin

Hầu hết các sản phẩm báo chí hiện đại đều được sản xuất và chuyển tải đến nhiều nền tảng khác nhau Các sản phẩm báo chí có thể cùng một lúc xuất hiện

ở nhiều thiết bị, phương tiện khác nhau như có thể xem trên máy tính để bàn, latop, máy tính bảng, điện thoại thông minh, thông qua các trang web của tờ báo, qua các nền tảng truyền thông xã hội, tuy nhiên mỗi hình thức xuất hiện, các sản phẩm báo chí đều được thể hiện dưới một hình thức phù hợp với từng nền tảng cũng như thói quen tiếp nhận thông tin của từng nền tảng khác nhau

Thông tin tự cập nhật, chuyển tải đến công chúng

Báo chí trên nền tảng số là dạng báo chí tiếp cận chủ động công chúng Thông qua các thuật toán, các thông báo đến người dùng, các ứng dụng đọc

Trang 27

báo, các ứng dụng mạng xã hội và các chỉ dẫn công nghệ, các sản phẩm báo chí sẽ được đưa đến công chúng, sẽ điều hướng và gợi ý cho người dùng những nội dung cần thiết Ngoài ra, tính năng thông báo, nhắc, gợi ý nội dung cho người dùng của các ứng dụng trên điện thoại di động còn cho phép thông tin đến với người dùng một cách tự nhiên, liên tục và kịp thời

Người dùng có thể tiếp nhận thông tin mọi lúc, mọi nơi

Báo chí trên nền tảng số phân phối nội dung trên nhiều nền tảng khác nhau, từ nhiều thiết bị khác nhau, từ các thiết bị cố định như máy tính để bàn, đến các thiết bị di động như điện thoại thông minh, máy tính bảng, laptop, người dùng gần như có thể tiếp cận nội dung thông tin ở mọi lúc, mọi nơi Thông tin đến một cách chủ động ngay cả khi người dùng tham gia vào các hoạt động trên các nền tảng mạng xã hội – nơi vốn được coi là giải trí

Tính kết nối, chia sẻ

Nền tảng số mang đến những ưu việt về khả năng nhanh chóng và liên tục trong kết nối và chia sẻ nội dung Chỉ với một thiết bị thông minh, với kết với Internet, người dùng có thể truy cập, tìm kiếm, bày tỏ chính kiến, quan điểm

ở bất kì đâu, tại bất kì thời điểm nào Các tính năng chia sẻ, bình luận, tương tác, kết nối trên các nền tảng số còn cho phép người dùng tương tác với người dùng khác và tương tác với chính CQBC Chính tính thuận tiện trong việc chia

sẻ của các nền tảng số, đặc biệt là nền tảng mạng xã hội đã tạo thuận lợi cho công chúng trong việc tiếp nhận thông tin, tạo một hệ sinh thái kết nối người dùng thông qua tính chia sẻ, kết nối của các nền tảng số

Tính tương tác cao

Thay vì phải gọi điện hay gửi thư về để phản hồi thông tin như trước đây, nhờ sự phát triển nội dung trên nền tảng số, công chúng giờ có thể dễ dàng tương tác ngay dưới phần thông tin báo chí đăng tải, từ đó các cơ quan báo chí

có thể nắm bắt tâm lý công chúng, điều chỉnh hay sáng tạo các sản phẩm với hình thức, nội dung dễ tiếp cận công chúng hơn

Trang 28

Công chúng báo chí tham gia vào quá trình sáng tạo, phân phối thông tin

Khi truyền thông xã hội phát triển, đôi khi chính công chúng lại góp phần trở thành một nguồn tin lớn đối với các cơ quan báo chí Có những sự kiện bất ngờ xảy ra, mà công chúng tại hiện trường với chiếc điện thoại thông minh của

họ có thể ghi lại những hình ảnh đắt giá, trong khi báo chí có thể chưa kịp tiếp cận Những nguồn tin, video do công chúng cung cấp, đăng tải sẽ là một phần

cơ sở dữ liệu cho tin bài của cơ quan báo chí Hành động chia sẻ (share), thích (like), bình luận (comment), đăng (post) cũng được coi là cách mà những người dùng trở thành người phân phối thông tin báo chí Ngoài việc tự tạo ra thông tin do sự xuất hiện kịp thời, những người dùng hoàn toàn có thể biến mình thành nguồn phát trên các nền tảng mạng xã hội thông qua nút chia sẻ

1.1.4 Quản lý nội dung trên nền tảng số

Tổng hợp những quan điểm nêu trên, tác giả đưa ra khái niệm: Quản lý

nội dung trên nền tảng số là toàn bộ hoạt động của chủ thể quản lý (lãnh đạo CQBC, các lãnh đạo phòng và những người phụ trách sản xuất các chương trình) tác động có định hướng, có mục đích, có tổ chức lên các đối tượng quản lý: PV, BTV, KTV và các kênh trên nền tảng số thông qua những nội dung, công cụ và phương thức quản lý để điều khiển, điều chỉnh và nâng cao hiệu quả nội dung trên các nền tảng số

Quản lý nội dung trên nền tảng số là một quá trình từ khi xây dựng chiến lược, kế hoạch, định hướng thông tin cho mỗi nội dung được phát triển mỗi nền tảng số, đến việc quản lý các quy trình, cách thức tổ chức thực hiện, huy động các nguồn lực sẵn có trong cơ quan báo chí nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra Đây là quá trình diễn ra thường xuyên, liên tục và kịp thời trước và sau khi nội dung được đưa lên các nền tảng số

1.1.5 Công chúng báo chí trên nền tảng số

1.1.5.1 Khái niệm công chúng báo chí trên nền tảng số

Trang 29

Theo tác giả Nguyễn Văn Dững trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí, công

chúng báo chí được hiểu là “quần thể dân cư, hay nhóm đối tượng mà báo chí gây ảnh hưởng hoặc hướng vào để gây ảnh hưởng.” Công chúng báo chí được hiểu thông qua mối quan hệ với sản phẩm báo chí, cơ quan báo chí và với nhà báo Công chúng báo chí là tập hợp người không phân biệt tuổi tác, giới tính, địa vị, nghề nghiệp; nhóm đối tượng chuyên biệt có nhu cầu, sở thích, thói quen khác nhau; tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến báo chí và thị trường báo chí; vừa

là khách hàng của báo chí vừa là đối tượng để báo chí phản ánh; là nguồn tin, sức mạnh và sáng tạo của CQBC; là nhóm đối tượng tiếp nhận sản phẩm đầu

ra của báo chí [7]

Từ khái niệm về công chúng báo chí và khái niệm về nền tảng số và báo

chí trên nền tảng số đã nghiên cứu trước đó, có thể hiểu: Công chúng báo chí

trên nền tảng số là tập hợp nhóm đối tượng tiếp nhận thông tin hoặc chịu tác động của báo chí một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các nền tảng số Giữa các đối tượng công chúng này có cơ chế lan truyền và phản ứng dây chuyền thông qua các tương tác như bình luận (comment), chia sẻ (share), đăng tải (post), thích (like), Công chúng báo chí trên nền tảng số là nhóm công chúng có khả năng tương tác, phản hồi và tham gia vào quá trình sản xuất và phân phối nội dung cao

1.1.5.2 Đặc điểm công chúng báo chí trên nền tảng số

Công chúng báo chí trên nền tảng số về cơ bản vẫn là công chúng báo chí nói chung Tuy nhiên, với những đặc trưng của nền tảng số, công chúng báo chí trên nền tảng số cũng mang những đặc trưng riêng biệt, điều này được hình thành do tính di động, nhanh, và thuận tiện trong tiếp nhận thông tin của các nền tảng số

Công chúng số tiếp cận thông tin mọi lúc, mọi nơi: Chỉ cần có kết nối

mạng, và các thiết bị thông minh, công chúng có thể tiếp nhận thông tin ở bất

kỳ đâu, trong bất kỳ khoảng thời gian nào Tính chất tiếp nhận thông tin trên

Trang 30

nền tảng số gắn với thiết bị đầu cuối nhỏ gọn, tiện lợi là một trong các đặc điểm

để người dùng có thể tiếp cận thông tin nhanh chóng nhất Bên cạnh đó, nền tảng số đa dạng với nhiều nền tảng khác nhau bao gồm, web, app, các nền tảng

mạng xã hội, do vậy thông tin luôn di động cùng với công chúng

Công chúng trên nền tảng số chú trọng thông tin nhanh, đơn giản, thông tin mang tính thời sự và giải trí: Trong bối cảnh công nghệ số, thời gian hạn hẹp,

phương thức tiếp nhận trong hoàn cảnh đặc biệt, bên cạnh đó thói quen của người dùng số đa phần là chạm và lướt, do đó, trên các nền tảng số, thông tin thường ở dạng ngắn, nhanh, thời sự, dạng tin tức breaking news, và thông tin được cập nhật liên tục Công chúng trên nền tảng số cũng có xu hướng tương tác cao với các thông tin thời sự (chính trị, xã hội) ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, Bên cạnh

đó, với đặc trưng của công chúng số, mà cụ thể là công chúng trên các nền tảng mạng xã hội, họ sử dụng các nền tảng này chủ yếu phục vụ mục đích giải trí,

do vậy, thông tin mang tính giải trí sẽ thu hút công chúng

Công chúng trên nền tảng số chủ động tham gia công tác biên tập, sản xuất và phân phối nội dung: Sáng tạo nội dung là hoạt động thường xuyên của

công chúng trên nền tảng số Bên cạnh việc tạo dựng những nội dung mới, công chúng trên nền tảng số còn có xu hướng dễ bị tác động bởi các thông tin hoặc các trào lưu trên mạng xã hội Hành động chia sẻ (share), thích (like), bình luận (comment), đăng (post) là những cách mà người dùng có thể tạo ra thông tin hoặc nguồn tin, hoặc phân phối thông tin để sản xuất, nhân rộng sản phẩm Công việc

này là thế mạnh được thực hiện liên tục ở người dùng trên nền tảng số

Công chúng số gắn liền với hoạt động tương tác, chia sẻ và kết nối cao:

Nền tảng số vốn là nền tảng với đặc trưng với tính chia sẻ, kết nối và tương tác cao Do vậy, công chúng trên các nền tảng này cũng thừa hưởng những đặc trưng như vậy Công chúng báo chí trên nền tảng số tận dụng các tính năng này để vừa tiếp cận thông tin vừa chia sẻ thông tin, cùng bàn luận, phân tích, bày tỏ chính kiến về các tin tức của các trang báo, từ đó hình thành các nhóm

Trang 31

công chúng với nhiều hình thức khác nhau Bên cạnh đó, tính dễ dàng tương tác với sản phẩm và nhà sản xuất đem đến cho công chúng truyền thông nhiều

cơ hội để lựa chọn cách thức, không gian và thời điểm hưởng thụ một nội dung truyền thông nào đó trên nhiều thiết bị khác nhau hay trên nhiều nền tảng số

khác nhau ở cùng trên một thiết bị

Công chúng trên nền tảng số có chủ kiến và tính cá nhân cao: Công

chúng số cũng như công chúng báo chí bao gồm nhiều nhóm đối tượng khác nhau, đa dạng về tuổi tác, ngành nghề, trình độ văn hoá Tuy nhiên, nhóm công chúng này có khả năng tiếp cận chủ động và bị động với nhiều luồng thông tin trong cùng một thời điểm hơn nhóm công chúng truyền thống, do vậy, họ thường có chủ kiến, sự so sánh, và có môi trường để dễ dàng chủ động bày tỏ quan điểm Nhóm công chúng này có nhu cầu cá nhân cao, họ tiếp cận thông tin đa chiều, nhiều nguồn và tin tức để phục vụ cho nhu cầu cá nhân Do đặc trưng trên các trền tảng số là nguồn thông tin mang tính đa dạng, nhiều chiều,

và bất kì ai cũng có thể đóng vai trò là người sản xuất thông tin, thông tin đôi khi xuất hiện dưới hình thức “thô” trước khi báo chí đưa tin Công chúng số dễ dàng nắm bắt thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, do đó, họ có xu hướng hình thành theo hai nhóm tin theo thông tin báo chí, và một số cũng có xu hướng bài trừ thông tin báo chí do ảnh hưởng bởi những luồng thông tin khác Trong nhóm công chúng số nói chung, có một nhóm công chúng với đặc trưng yêu cầu chất lượng thông tin cao, và họ sẵn sàng đọc báo có phí nếu thông tin đáp ứng giá

trị nội dung mong muốn

1.2 Vai trò của việc quản lý nội dung trên nền tảng số của CQBC

Quản lý nội dung trên nền tảng số giúp cho các thông tin phát sóng đúng định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng và Nhà nước

Báo chí là một trong những công cụ đắc lực tuyên truyền cho các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Khi chưa có sự phát triển của mạng

xã hội và các thông tin trên mạng xã hội, báo chí là kênh thông tin duy nhất, và

Trang 32

là kênh thông tin để công chúng tìm tới Tuy nhiên, khi mạng xã hội phát triển kéo theo những hệ luỵ về tin giả, tin thiếu kiểm chứng, tin tức xuyên tạc, bôi nhọ chính quyền, những nhà báo tự xưng khiến cho công chúng hiểu sai lệch, mất niềm tin vào hoạt động của chính quyền Các sản phẩm báo chí trên nền tảng số tuy mới được phát triển nhưng lại là kênh tiếp cận với đông đảo công chúng Do vậy, việc phát triển và quản lý nội dung báo chí trên nền tảng số là cần thiết để thông tin đến với công chúng chính xác, tránh những ảnh hưởng tiêu cực từ thông tin mang tính đả phá của các tổ chức phản động

Định hướng chính trị tư tưởng đối với các nội dung trên nền tảng số cần đảm một số vấn đề cơ bản sau: Thông tin nhanh, trung thực về mọi mặt của tình hình đất nước và thế giới; Tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thành tựu văn hoá, khoa học, kỹ thuật trong nước và thế giới theo đúng tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí, góp phần nâng cao kiến thức, đáp ứng nhu cầu văn hoá lành mạnh của nhân dân, bảo vệ truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát triển nền dân chủ XHCN, tăng cường khối đoàn kết toàn dân, xây dựng cơ sở vật chất cho thời kỳ quá độ lên CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việc phát triển và quản lý nội dung tin tức trên nền tảng số một cách chặt chẽ, khoa học sẽ giúp định hướng công chúng đến với những thông tin chính thống, đúng và thể hiện được quan điểm, mục tiêu của Đảng và Nhà nước

Từ nhiệm vụ được ĐTHVN giao cho, ban lãnh đạo Trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số, lãnh đạo các phòng, ban xây dựng kế hoạch, chiến lược phát triển các kênh trên nền tảng số của VTV Digital Thông qua hoạt động quản

lý nội dung trên nền tảng số, các chủ thể quản lý xác định công chúng số, nhu cầu thông tin của công chúng trên các nền tảng số để xây dựng những nội dung, những format chương trình đảm bảo thực hiện được nhiệm vụ của ĐTHVN và đáp ứng nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng Đồng thời, chủ thể quản lý cũng xây

Trang 33

dựng được kế hoạch nội dung và mục tiêu của kế hoạch này, tập trung mọi nguồn lực để thực hiện đúng mục tiêu đó

Đảm bảo thông tin đến với công chúng một cách nhanh chóng, kịp thời, đúng lúc, từ đó cung cấp cho khán giả nguồn thông tin đa dạng, phong phú

Vai trò của việc quản lý là phân công nhiệm vụ, trách nhiệm cho từng cá nhân, bộ phận rõ ràng và điều hòa, hướng dẫn hoạt động của các bộ phận, các thành viên tham gia phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng nhằm đem lại hiệu quả về các nội dung trên từng nền tảng số tốt nhất Trong những trường hợp phát sinh những sự kiện mới, người quản lý có thể dễ dàng điều phối PV, BTV ở các bộ phận khác nhau cùng thực hiện tin, bài để đảm bảo tiến độ phát sóng và thông tin được phản ánh đa dạng, sinh động, nhiều chiều

Việc quản lý tốt nội dung trên nền tảng số giúp đa dạng nguồn phát, thay

vì để công chúng phải tự tìm thông tin, hay thông tin mang tính cố định như khung giờ phát sóng Thông tin trên các nền tảng số thường tự tìm đến công chúng thông qua các thuật toán phân tích người dùng, thông qua việc chia sẻ giữa những người dùng với nhau, Quản lý giúp phân công, đặt thứ tự ưu tiên, phân nối nội dung trên các nền tảng phù hợp theo khung giờ, nội dung, hình thức, phù hợp với cách thức tiếp nhận thông tin của từng nhóm công chúng số Chẳng hạn như đặc trưng của nhóm công chúng trên nền tảng mạng xã hội là thường truy cập vào khung giờ 20 – 21 giờ Vì vậy đẩy bài mang tính chuyên sâu, giáo dục, định hướng cao vào khung giờ này sẽ nhận được sự tương tác, phản hồi cao của công chúng Hay với những thông tin mang tính thời sự, đòi hỏi yếu tố tức thời, một dòng trạng trái, một bức ảnh, hay phát trực tiếp,… là

điều mà các nền tảng số có thể đáp ứng trong quá trình đưa tin đến công chúng

Quản lý nội dung trên nền tảng số giúp các nhà quản lý tổ chức, điều hoà, phối hợp và hướng dẫn hoạt động của các bộ phận, phòng ban cùng tham gia vào quá trình sản xuất và phân phối các nội dung trên nền tảng số, đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả về mặt truyền thông

Trang 34

Hoạt động sản xuất tại VTV Digital trên truyền hình truyền thống và trên các nền tảng số vô cùng đa dạng, phức tạp với sự tham gia của nhiều bộ phận, phòng ban khác nhau cùng đội ngũ PV, BTV, MC, Kĩ thuật, CTV Hơn hết, các nền tảng số tại VTV Digital cũng vô cùng đa dạng với nền tảng Web, App, và trên hầu hết các nền tảng mạng xã hội Do vậy, vai trò của quản lý là phân công nhiệm vụ, trách nhiệm cho từng cá nhân, bộ phận rõ ràng và điều hòa, hướng dẫn hoạt động của các bộ phận, các thành viên tham gia phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng nhằm đem lại hiệu quả về mặt nội dung, hình thức và truyền thông một cách cao nhất, đảm bảo tiến độ phát sóng và thông tin được phản ánh đa dạng, sinh động, nhiều chiều, phù hợp với đặc trưng của công chúng số

Giúp cơ quan báo chí phát hiện, phát triển những đề tài sâu, kịp thời hơn

Dựa vào thống kê về lượt xem, chia sẻ, bình luận hay ngôn ngữ chung trên nền tảng số, từ đó có thể định hướng đề tài, ngôn ngữ, hình thức triển khai phù hợp, ngôn ngữ mà công chúng dễ tiếp nhận hơn Khi truyền thông xã hội phát triển, và công chúng trở thành một nguồn tin lớn đối với các cơ quan báo chí

Có những sự kiện bất ngờ xảy ra, mà công chúng tại hiện trường với chiếc điện thoại thông minh của họ có thể ghi lại những hình ảnh đắt giá, trong khi báo chí có thể chưa kịp tiếp cận Những nguồn tin, video do công chúng cung cấp, đăng tải sẽ là một phần cơ sở dữ liệu cho tin bài của cơ quan báo chí Đôi khi những tin bài công chúng đăng tải, có thể trở thành một nguồn để báo chí xác minh và đưa tin

Góp phần nâng cao vị thế của cơ quan báo chí

Công chúng trên nền tảng số đông, đa số là người trẻ, hay những người đang đi làm và thường ít cập nhật thông tin thông qua các kênh truyền thống Phủ sóng trên nền tảng số, nơi họ xuất hiện thường xuyên và có thể theo dõi bất kỳ thời điểm nào giúp tăng độ nhận diện thương hiệu với công chúng số

Từ trên môi trường số, công chúng sẽ biết đến cơ quan báo chí, từ đó chủ động

Trang 35

tìm đến các kênh truyền thống, nhờ vậy mà độ nhận diện của cơ quan báo chí cũng được nâng cao hơn

Đảm bảo nguồn thu cho cơ quan báo chí

Khi các doanh nghiệp dành nhiều nguồn kinh phí hơn cho hoạt động quảng cáo trên các nền tảng số, việc chuyển dịch nội dung lên các nền tảng này giúp CQBC đa dạng hoá nguồn thu thay vì chỉ có một nguồn thu duy nhất từ các phương tiện báo chí truyền thống Việc đa dạng hoá, đảm bảo nguồn thu là yêu cầu tiên quyết để các cơ quan báo chí tăng khả năng cạnh tranh thông qua tái đầu tư, nâng cấp trang thiết bị, đội ngũ sản xuất

1.3 Chủ trương, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về chuyển đổi số trong lĩnh vực báo chí

Qua nhiều kỳ đại hội, đặc biệt đặt trong bối cảnh công nghệ phát triển, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư với nhiều thành tựu khoa học, công nghệ mới, nhất là công nghệ số, Đảng đã luôn chủ trương đẩy mạnh chuyển đổi

số, phát triển kinh tế số Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27-9-2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ

tư, trong đó nhấn mạnh yêu cầu cấp bách để đẩy nhanh quá trình chuyển đổi

và bảo đảm an toàn, an ninh thông tin mạng.” [30] Đề án “Quy hoạch phát triển

Trang 36

và quản lý báo chí toàn quốc đến 2025” được phê duyệt đã thực hiện hàng loạt các cuộc sáp nhập trên quy mô lớn và phạm vi toàn quốc toàn bộ báo chí thuộc

cả các ngành và địa phương Hình thành sáu cơ quan truyền thông đa phương tiện chủ lực Trong đó Đài Truyền hình Việt Nam là một trong những đơn vị nòng cốt “thực hiện theo mô hình cơ quan truyền thông đa phương tiện.”

Bên cạnh đó, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nhiệm vụ chủ yếu trong lĩnh vực báo chí, truyền thông được Bộ Thông tin và Truyền thông gồm: “xây dựng và phân phối nội dung lên môi trường số”,

“làm chủ nền tảng phân phối nội dung trên không gian mạng.” Theo đó Bộ thông tin và Truyền thông đã thúc đẩy, tạo điều kiện cho các cơ quan báo chí chuyển đổi số bằng việc đưa ra ba nền tảng hỗ trợ bao gồm: Nền tảng quản lý tòa soạn điện tử-cho phép xây dựng tòa soạn hội tụ công nghệ, đưa toàn bộ nghiệp vụ báo chí lên môi trường số; Nền tảng phân tích thông tin dư luận trên mạng xã hội; Nền tảng phòng, chống tấn công và ứng cứu khẩn cấp cho hệ thống thông tin nhằm bảo vệ các cơ quan trên môi trường số được Bộ Thông tin và Truyền thông đưa ra nhằm hỗ trợ cho các cơ quan báo chí

Ngoài ra, trung tâm xử lý tin giả thuộc Cục Phát thanh - Truyền hình và Thông tin bắt đầu hoạt động từ ngày 12-1-2021, tại tên miền www.tingia.gov.vn và hotline 18008108 với nhiệm vụ tiếp nhận, phát hiện, thẩm định, gắn nhãn tin giả; công bố thông tin xác nhận tin giả, tin sai sự thật,chủ động phát hiện các xu hướng thông tin có lượng người chia sẻ tương tác lớn

Việc đổi mới, sửa đổi luật, nghị quyết, xác định đúng và trúng nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, đột phá phùh ợp với từng giai đoạn như Luật Báo chí sửa đổi năm 2016; Nghị định số 27/2018/NĐ-CP ngày 01 tháng 3 năm 2018 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2013; sự ra đời của Luật an ninh mạng năm 2018,… cùng với công cuộc đổi mới mạnh mẽ công tác tư tưởng, tuyên truyền, phổ biến, quán triệt trong cơ quan nhà nước

Trang 37

các cấp; các đề án đổi mới, quy hoạch; sự ra đời của một cơ quan chuyên trách,

đã thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong công cuộc chuyển đổi số báo chí, tạo điều kiện tốt nhất cho báo chí phát triển nội dung trên các nền tảng số Tổng kết lại, so với nhiều năm về trước, khi mà báo chí còn phản ứng gay gắt về việc các nền tảng truyền thông xã hội đang dần chiếm quyền, chiếm đoạt người dùng; hay làm giảm lòng tin của công chúng với báo chí vì tin rác, tin độc,… Hiện nay, xét về mặt pháp lý, cơ quan báo chí-truyền thông đang có một nền tảng vững chắc, một sự hậu thuẫn mạnh mẽ của các văn bản luật, của chủ trương đường lối Đảng, Nhà nước để phát triển các nội dung của mình trên nền tảng số Do vậy, việc phân phối nội dung và công chúng đón nhận ra sao hoàn toàn phụ thuộc vào sự linh hoạt trong quản lý của CQBC-truyền thông

1.4 Các yếu tố trong quản lý nội dung trên nền tảng số tại CQBC

1.4.1 Chủ thể và đối tượng quản lý

1.4.1.1 Chủ thể quản lý

Ở cấp vĩ mô, chủ thể quản lý là các cơ quan quản lý nhà nước Luật Báo chí 2016 quy định, CQQL Nhà nước về báo chí bao gồm: Chính phủ, Bộ Thông tin và Truyền thông, Các Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện quản lý nhà nước về báo chí

Ở cấp vi mô, chủ thể quản lý trực tiếp về báo chí là lãnh đạo các cơ quan báo chí; lãnh đạo kênh Có nhiều cấp khác nhau trong đó:

Quản lý cấp cao, cấp Đài: Tổng Giám đốc Đài truyền hình Việt Nam có trách nhiệm và quyền hạn thực hiện quản lý nhà nước về chức năng thông tin trên các Ban, kênh trực thuộc VTV tuyên truyền theo chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước

Quản lý điều hành cấp Kênh: Ban Lãnh đạo Trung tâm gồm 1 Giám đốc

và 3 Phó giám đốc Giám đốc Trung tâm phụ trách quản lý toàn bộ hoạt động của VTV Digital, chịu trách nhiệm toàn diện trước Lãnh đạo ĐTHVN và chịu

Trang 38

trách nhiệm pháp luật về toàn bộ hoạt động của VTV Digital 1 Phó Giám đốc (PGĐ) chịu trách nhiệm quản lý nội dung, định hướng nội dung thông tin, chương trình cho Trung tâm; 01 PGĐ Kênh phụ trách các vấn đề về tài chính, nhân sự; 01 PGĐ phụ trách hoạt động tại khu vực phía Nam

Quản lý cấp cơ sở (lãnh đạo phòng ban, tổ chức sản xuất): có nhiệm vụ chỉ đạo thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ đã được Ban Giám đốc Trung tâm giao, đồng thời chịu trách nhiệm quản lý về chất lượng nội dung trên nền tảng số

Trong đề tài này, tác giả chỉ đề cập đến nội dung quản lý tương tác ở cấp vi mô,

cụ thể ở cấp kênh là Trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số

1.4.1.2 Đối tượng quản lý

Đối tượng quản lý là các PV, BTV, quay phim, KTV, MC, và toàn bộ hoạt động sản xuất, phân phối nội dung trên nền tảng số tại VTV Digital Quản lý đối tượng này là nhà quản lý (Ban lãnh đạo VTV Digital, Lãnh đạo phòng các ban chuyên môn và người tổ chức sản xuất) thông qua quản lý con người (đội ngũ PV, BTV, KTV, MC), huy động các nguồn lực về tài chính, kỹ thuật, công nghệ nhằm đảm bảo hoạt động sản xuất và phân phối nội dung trên nền tảng số đạt hiệu quả

1.4.2 Nội dung quản lý

Quản lý nội dung trên nền tảng số là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý là CQBC nhằm tạo điều kiện cho các bộ phận trực thuộc thực hiện nhiệm vụ ở mức cao nhất nhưng vẫn đảm bảo những quy định của pháp luật và những nguyên tắc của cơ quan báo chí trong việc cung cấp cho

công chúng những thông tin hữu ích, hấp dẫn, được công chúng quan tâm

Việc quản lý nội dung trên nền tảng số nhằm đảm bảo: (1)Thông tin phát

sóng đúng định hướng chính trị, tư tưởng: Nhiệm vụ quan trọng nhất của báo chí là cần tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, phát luật của Nhà nước, cổ vũ, tập hợp và đoàn kết, nâng cao và bồi dưỡng nhận thức, tình cảm cho quần chúng Nhân dân thực hiện thắng lợi mục tiêu độc lập dân

Trang 39

tộc và chủ nghĩa xã hội Do vậy, báo chí cần luôn luôn đảm bảo thông tin đi được nhanh, đầy đủ, trung thực và đáp ứng mục tiêu chính trị, tư tương (2)Tính

phổ cập, quảng bá: Do lượng người dùng lớn, và khả năng chia sẻ, tương tác

cao, vì vậy nội dung trên các nền tảng số có khả năng tác động vào dư luận

mạnh mẽ, có khả năng lan truyền lớn (3)Tính thuyết phục: Nội dung, hình thức

thể hiện phù hợp với từng nền tảng, cho công chúng nhìn nhận được thực tế của vấn đề, từ đó hình thành sự hiểu biết, chia sẻ, … tác động vào nhận thức của công chúng

Từ những phân tích trên, với đặc thù nền tảng số là nền tảng đa dạng với những đặc trưng riêng, do vậy việc quản lý nội dung trên nền tảng này cũng có một số những sự khác biệt như:

Quản lý việc xây dựng kế hoạch lựa chọn nội dung

Đây là chức năng quan trọng nhất trong quản lý, bởi nó xác định phương hướng hoạt động của VTV Digital trên nền tảng số, cách thức VTV Digital hoạt động trên từng nền tảng, và xác định các kết quả cần đạt được trong tương lai, gắn liền với sự lựa chọn chương trình hành động trong tương lai của cả Kênh Quản lý kế hoạch sản xuất nội trên nền tảng số là quá trình bao gồm xây dựng, xác định việc sản xuất nội dung tin tức như thế nào, sử dụng những nguồn lực

gì, giá trị thông tin và hiệu quả thông tin như thế nào Kế hoạch đó có thể được

thực hiện theo quý, theo tháng, theo tuần, và với tin nóng là theo ngày

Việc quản lý đòi hỏi trả lời được các câu hỏi như: Sản xuất nội dung nào? Thời gian sản xuất? Sản xuất ra sao để phù hợp với từng nền tảng? Phân phối nội dung như thế nào? Bên cạnh đó, sử dụng nhân lực ra sao để tối đa hoá sức sáng tạo của đội ngũ nhân viên, giảm thiểu chi phí sản xuất, mang đến những sản phẩm có giá trị thông tin và hiệu quả xã hội cao? Bên cạnh đó, quản lý còn thể hiện ở việc sử dụng hiệu quả trang thiết bị máy móc, cân tối tài chính trong sản xuất nội dung…

Trang 40

Quản lý quy trình thực hiện và cách thức sản xuất các nội dung trên nền tảng số

Hoạt động phân phối nội dung trên các nền tảng số diễn ra xuyên suốt Quá trình quản lý phải được thực hiện liên tục, nhằm đảm bảo điều tiết, phối kết hợp hoạt động của các bộ phận chuyên môn nhịp nhàng Quản lý quy trình sản xuất là sự tổng hợp các hoạt động xây dựng hệ thống sản xuất và quản lý quá trình sử dụng các nguồn nhân lực, thông tin, tạo thành các sản phẩm đầu

ra nhằm đáp ứng nhu cầu của công chúng và thực hiện các mục tiêu đã xác định, đồng thời giám sát tiến độ của quá trình sản xuất đó

Trong đó, các giai đoạn của quá trình sản xuất gồm 10 bước: Bước 1: Khảo sát thực tế, xác định đề tài và khả năng thực hiện; Bước 2: Viết đề cương kịch bản; Bước 3: Duyệt đề cương kịch bản; Bước 4: Sản xuất tiền kỳ và hậu kỳ; Bước 5: Dựng thô và viết lời bình; Bước 6: Duyệt lời bình; Bước 7: Hoàn thiện tác phẩm; Bước 8: Duyệt tác phẩm; Bước 9: Phát sóng; Bước 10: Theo dõi phản hồi Việc quản lý quy trình sản xuất, tức là quản lý tất cả các quy trình của 10 bước trên

Ngày đăng: 20/04/2023, 06:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Hà, Đ.N (2020), Mô Hình Tổ Chức Và Hoạt Động Của Tòa Soạn Báo Chí Trong Bối Cảnh Truyền Thông Hội Tụ - Nghiên Cứu Trường Hợp Trung Tâm Truyền Thông Tỉnh Quảng Ninh, (Luận văn Thạc sĩ, Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn - Đại Học Quốc Gia Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô Hình Tổ Chức Và Hoạt Động Của Tòa Soạn Báo Chí Trong Bối Cảnh Truyền Thông Hội Tụ - Nghiên Cứu Trường Hợp Trung Tâm Truyền Thông Tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Hà, Đ.N
Năm: 2020
16. Hường, N.T.T, Thời đại của các phương tiện truyền thông mới, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông, (302), tr. 22-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: hời đại của các phương tiện truyền thông mới
17. Kiền,P.V & Hải, P.Q (2016), Một số xu hướng của báo chí truyền thông hiện đại, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số xu hướng của báo chí truyền thông hiện đại
Tác giả: Kiền,P.V & Hải, P.Q
Nhà XB: Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông
Năm: 2016
19. Lợi, N.T (2014), Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại
Tác giả: Lợi, N.T
Nhà XB: Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông
Năm: 2014
20. Lợi, N.T (2017), Sự vận động và phát triển của báo chí hiện đại trong môi trường hội tụ truyền thông, Tạp chí Người làm báo (450), tr. 25-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự vận động và phát triển của báo chí hiện đại trong môi trường hội tụ truyền thông
Tác giả: Lợi, N.T
Năm: 2017
21. Lợi, N.T (2020), Xây dựng tòa soạn hội tụ trong kỷ nguyên 4.0”, Báo quân đội nhân dân, truy cập 8/12/2020, từ https://www.qdnd.vn/van-hoa/doi-song/xay-dung-toa-soan-hoi-tu-trong-ky-nguyen-4-0-623896 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng tòa soạn hội tụ trong kỷ nguyên 4.0”, Báo quân đội nhân dân
Tác giả: Lợi, N.T
Năm: 2020
23. Phượng, H.H (2020), Cần chuẩn hóa mô hình tòa soạn để báo chí hoạt động chuyên nghiệp, hiệu quả, truy cập 20/9/2021, từ https://lsvn.vn/can- chuan-hoa-mo-hinh-toa-soan-de-bao-chi-hoat-dong-chuyen-nghiep-hieu-qua.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần chuẩn hóa mô hình tòa soạn để báo chí hoạt động chuyên nghiệp, hiệu quả
Tác giả: Phượng, H.H
Năm: 2020
24. Kỷ, N.T (2020), Báo chí, truyền thông Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Thông tin và truyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí, truyền thông Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễ
Tác giả: Kỷ, N.T
Nhà XB: Nhà xuất bản Thông tin và truyền thông
Năm: 2020
26. Quang, P (2007), Về diện mạo báo chí Việt Nam, Nhà xuất bản Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về diện mạo báo chí Việt Nam
Tác giả: Quang, P
Nhà XB: Nhà xuất bản Thông tin
Năm: 2007
27. Quang, V.H (2021), Áp lực chuyển đổi số với các cơ quan báo chí”, báo điện tử VOV, truy cập 20/9/2021, từ https://vov.vn/xa-hoi/dau-an-vov/ap-luc-chuyen-doi-so-voi-cac-co-quan-bao-chi-866925.vov Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp lực chuyển đổi số với các cơ quan báo chí”, báo điện tử VOV
Tác giả: Quang, V.H
Năm: 2021
28. Quốc hội nước CHXHCNVN (2016), Luật báo chí, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật báo chí
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCNVN
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2016
29. Quốc hội nước CHXHCNVN (2016), Luật báo chí, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật báo chí
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCNVN
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2016
30. Quyết định số 362/QĐ-TTg (2019) Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025, Cổng thông tin điện tử Bộ thông tin và truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025
33. Tú, P.V (2021), Khi mạng xã hội là nền tảng cho báo chí, tạp trí lý luận chính trị và truyền thông, truy cập: 21/07/2021, từ https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/khi-mang-xa-hoi-la-nen-tang-cho-bao-chi-p24424.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khi mạng xã hội là nền tảng cho báo chí, tạp trí lý luận chính trị và truyền thông
Tác giả: Tú, P.V
Năm: 2021
34. Tạp chí truyền hình (2020), VTV tăng tốc trên hành trình chuyển đổi số, truy cập: 10/11/2020, từ https://vtv.vn/truyen-hinh/vtv-tang-toc-tren-hanh-trinh-chuyen-doi-so-20200115113602798.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: VTV tăng tốc trên hành trình chuyển đổi số
Tác giả: Tạp chí truyền hình
Năm: 2020
35. Tuấn, T.M (2016), Công nghệ 4G LTE và chiến lược, lộ trình phát triển ở Việt Nam, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ 4G LTE và chiến lược, lộ trình phát triển ở Việt Nam
Tác giả: Tuấn, T.M
Nhà XB: Nxb Thông tin và Truyền thông
Năm: 2016
36. D. Torrington (1994), Tiếp xúc mặt đối mặt trong quản lý, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp xúc mặt đối mặt trong quản lý
Tác giả: D. Torrington
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
Năm: 1994
37. Trung, B.C – Đinh Thị Xuân Hòa, (2016), Truyền hình hiện đại – Những lát cắt, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền hình hiện đại – Những lát cắt
Tác giả: Trung, B.C – Đinh Thị Xuân Hòa
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2016
38. VietNamplus (2016), Chiến lược nào cho báo chí khi truyền thông xã hội phát triển mạnh mẽ, truy cập: 25/10/2019, từhttp://special.vietnamplus.vn/baochi_mangxahoi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược nào cho báo chí khi truyền thông xã hội phát triển mạnh mẽ
Tác giả: VietNamplus
Năm: 2016
12. Hà, H (2021), Với VTV, sản xuất phân phối trên đa nền tảng là nhiệm vụ trọng yếu, truy cập 22/10/2021, từ https://congluan.vn/voi-vtv-san-xuat-phan-phoi-tren-da-nen-tang-la-nhiem-vu-trong-yeu-post139084.html Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Cơ cấu tổ chức Trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số VTV - Quản lý nội dung trên nền tảng số tại trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số   đthvn
Hình 2.1. Cơ cấu tổ chức Trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số VTV (Trang 49)
Hình 2.3. Giao diện VTV go trên ứng dụng di động - Quản lý nội dung trên nền tảng số tại trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số   đthvn
Hình 2.3. Giao diện VTV go trên ứng dụng di động (Trang 50)
Hình 2.2. Giao diện VTV go trên nền tảng Web - Quản lý nội dung trên nền tảng số tại trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số   đthvn
Hình 2.2. Giao diện VTV go trên nền tảng Web (Trang 50)
Bảng 2.2. Thống kê lượng người dùng, theo dõi và truy cập trên các nền - Quản lý nội dung trên nền tảng số tại trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số   đthvn
Bảng 2.2. Thống kê lượng người dùng, theo dõi và truy cập trên các nền (Trang 51)
Bảng 2.1. Thống kê lượng người dùng, theo dõi và truy cập trên các nền tảng - Quản lý nội dung trên nền tảng số tại trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số   đthvn
Bảng 2.1. Thống kê lượng người dùng, theo dõi và truy cập trên các nền tảng (Trang 51)
Bảng 2.3. Thống kê lượng người dùng, theo dõi và truy cập trên các nền tảng - Quản lý nội dung trên nền tảng số tại trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số   đthvn
Bảng 2.3. Thống kê lượng người dùng, theo dõi và truy cập trên các nền tảng (Trang 52)
Bảng 2.4. Thống kê số lượng, định dạng nội dung tin bài đăng tải trên các - Quản lý nội dung trên nền tảng số tại trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số   đthvn
Bảng 2.4. Thống kê số lượng, định dạng nội dung tin bài đăng tải trên các (Trang 55)
Hình 2.4. Sơ đồ quy trình sản xuất sản phẩm báo chí tại Trung tâm sản xuất - Quản lý nội dung trên nền tảng số tại trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số   đthvn
Hình 2.4. Sơ đồ quy trình sản xuất sản phẩm báo chí tại Trung tâm sản xuất (Trang 67)
Bảng 2.5. Thống kê lượng người dùng, theo dõi và truy cập trên các nền tảng - Quản lý nội dung trên nền tảng số tại trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số   đthvn
Bảng 2.5. Thống kê lượng người dùng, theo dõi và truy cập trên các nền tảng (Trang 73)
Hình 2.5. Một số nội dung đăng tải trên Fanpage Trung tâm tin tức VTV24 - Quản lý nội dung trên nền tảng số tại trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số   đthvn
Hình 2.5. Một số nội dung đăng tải trên Fanpage Trung tâm tin tức VTV24 (Trang 74)
Bảng 2.7. Nhận xét của công chúng về các nội dung trên nền tảng số của - Quản lý nội dung trên nền tảng số tại trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số   đthvn
Bảng 2.7. Nhận xét của công chúng về các nội dung trên nền tảng số của (Trang 79)
Hình thức - Quản lý nội dung trên nền tảng số tại trung tâm sản xuất và phát triển nội dung số   đthvn
Hình th ức (Trang 121)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm