Việc quản lý chặt chẽ về nội dung và hình thức các tác phẩm báo chí liên quan đến hình ảnh chiến sĩ QĐND trên kênh Truyền hình QPVN cho thấy Ban Biên tập đã chủ động xây dựng các bài viế
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN QUỐC HOÀNG
QUẢN LÝ HÌNH ẢNH LỰC LƢỢNG GÌN GIỮ HÒA BÌNH CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM TRÊN KÊNH TRUYỀN HÌNH QUỐC PHÒNG VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
HÀ NỘI - 2022
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN QUỐC HOÀNG
QUẢN LÝ HÌNH ẢNH LỰC LƢỢNG GÌN GIỮ HÒA BÌNH CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM TRÊN KÊNH
TRUYỀN HÌNH QUỐC PHÒNG VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên Ngành: Quản lý Phát thanh Truyền hình & Báo mạng Điện tử
Mã Ngành : 8320101
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Đinh Thị Thu Hằng
HÀ NỘI - 2022
Trang 3XÁC NHẬN LUẬN VĂN ĐÃ ĐƯỢC CHỈNH SỬA
Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS,TS Nguyễn Thị Trường Giang
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS,TS Đinh Thị Thu Hằng Các số liệu, tư liệu sử dụng trong luận văn này có nguồn gốc rõ ràng, trung thực và chưa từng được công
bố trong bất cứ công trình khoa học nào
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Tác giả luận văn
Nguyễn Quốc Hoàng
Trang 5CNXH: Chủ nghĩa xã hội QPVN: Quốc phòng Việt Nam
Trang 6
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HÌNH ẢNH LỰC LƯỢNG GÌN GIỮ HÒA BÌNH CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM TRÊN TRUYỀN HÌNH 10
1.1 Các khái niệm cơ bản 10
1.2 Chủ thể, đối tượng, nội dung, phương thức quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình 19
1.3 Mục đích, yêu cầu của quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình 31
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HÌNH ẢNH LỰC LƯỢNG GÌN GIỮ HÒA BÌNH CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM TRÊN KÊNH TRUYỀN HÌNH QUỐC PHÒNG VIỆT NAM 39
2.1 Khái quát về kênh Truyền hình QPVN và Bản tin Thời sự Quốc phòng 39
2.2 Khảo sát thực trạng quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trong bản tin Thời sự Quốc phòng trên kênh truyền hình QPVN 44
2.3 Đánh giá thực trạng quản lý và nguyên nhân của thực trạng 63
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ HÌNH ẢNH LỰC LƯỢNG GÌN GIỮ HÒA BÌNH CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM TRÊN KÊNH TRUYỀN HÌNH QUỐC PHÒNG VIỆT NAM THỜI GIAN TỚI 73
3.1 Quan điểm tăng cường quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên kênh truyền hình QPVN 73
3.2 Giải pháp tăng cường quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên kênh Truyền hình QPVN 79
KẾT LUẬN 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 103
TÓM TẮT LUẬN VĂN 133
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thực hiện chiến lược hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng theo đường lối của Đảng là nhiệm vụ quan trọng, là kế sách giữ nước từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình nhằm tạo sức mạnh tổng hợp, tăng cường vị thế quốc
tế và độc lập, tự chủ của đất nước Việt Nam tham gia vào hoạt động gìn giữ hòa bình (GGHB) của Liên hợp quốc( LHQ) là đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế Đây là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh, hợp tác là chính, kiên định chủ quyền lãnh thổ, độc lập tự chủ và lợi ích quốc gia, dân tộc Đặc biệt, ngày 13/11/2020, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 130/2020/QH14 về việc Việt Nam tham gia lực lượng GGHB của LHQ, nhằm tạo hành lang pháp
lý chắc chắn để chủ động nghiên cứu, tham mưu và chuẩn bị tốt lực lượng triển khai tham gia hiệu quả sứ mệnh quốc tế Việc này thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ, nghiêm túc và khẳng định sự tham gia lâu dài của Việt Nam đối với sứ mệnh GGHB của LHQ, thúc đẩy và kiến tạo hòa bình ở khu vực và trên thế giới, phù hợp với chủ trương, đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế của Việt Nam Một thế giới hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển là khát vọng của nhân loại, là mục tiêu cao cả mà mỗi quốc gia đều mong muốn hướng tới, trong đó có Việt Nam Việc Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam tham gia hoạt động GGHB của LHQ từ năm 2014 đến nay đã cho thấy Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm đối với nền hòa bình của thế giới
Hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam không chỉ thường xuyên được truyền tới độc giả trong nước mà còn được truyền ra thế giới thông qua đa dạng các loại hình truyền thông như truyền hình, báo in, báo điện tử, mạng xã hội… bằng nhiều thứ tiếng khác nhau Nhiều tin bài, phóng
sự có chất lượng đã được đầu tư, xây dựng, giúp công chúng có cái nhìn đa
Trang 8chiều về đội quân chiến đấu trong thời bình, nhờ đó nâng cao hiệu quả tuyên truyền về hoạt động của QĐND Việt Nam và tầm quan trọng của đối ngoại quốc phòng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nói chung, nhưng cũng đặt ra vấn đề rất cần thiết, đó là quản lý báo chí truyền thông Kênh truyền hình Quốc phòng Việt Nam (QPVN) là kênh chuyên biệt Việc quản lý chặt chẽ về nội dung và hình thức các tác phẩm báo chí liên quan đến hình ảnh chiến sĩ QĐND trên kênh Truyền hình QPVN cho thấy Ban Biên tập đã chủ động xây dựng các bài viết, chương trình gắn kết chặt chẽ lý luận với thực tiễn, phản ánh đúng thực tiễn đang đặt ra trong quân đội Tuy nhiên, truyền thông về hình ảnh của lực lượng GGHB chưa rõ nét trên kênh Truyền hình QPVN Nhiều hoạt động của lực lượng GGHB chưa được thể hiện rõ, quản lý hình ảnh của lực lượng GGHB chưa hiệu quả từ nội dung đến hình thức của hình ảnh, chưa đáp ứng nhu cầu công chúng
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài
luận văn “Quản lý hình ảnh lực lượng gìn giữ hòa bình của Quân đội nhân
dân Việt Nam trên kênh Truyền hình Quốc phòng Việt Nam hiện nay” Đây là
đề tài có tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn trong bối cảnh hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thông tin về QĐND và hình ảnh chiến sĩ QĐND không phải là một đề tài nghiên cứu mới, nhất là trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của truyền thông đại chúng hiện nay Nhưng thông tin về quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên kênh Truyền hình QPVN thì không nhiều,
do tính chuyên sâu của vấn đề nghiên cứu Trong phạm vi bao quát của luận văn, có thể kể đến một số công trình khoa học có liên quan đến đề tài:
2.1 Các nghiên cứu chung về quản lý báo chí truyền thông
- Nguyễn Thế Kỷ (2012), “Công tác chỉ đạo quản lý nhà nước báo chí
trong 25 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Công trình đã tổng kết công tác chỉ đạo quản lý nhà nước báo chí trong 25 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới; nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng và sự
Trang 9cần thiết của quản lý nhà nước đối với sự phát triển của báo chí cách mạng, xác định nhiệm vụ quản lý báo chí trong bối cảnh xã hội nhiều thay đổi bởi quá trình đổi mới của đất nước
- Đỗ Quý Doãn (2014), “Quản lý và phát triển thông tin báo chí ở
Việt Nam”, Nxb Thông tin truyền thông, Hà Nội Cuốn sách tập trung làm
rõ thực trạng, những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý, chỉ đạo và phát triển báo chí; đồng thời đưa ra những giải pháp cơ bản tạo điều kiện để thông tin báo chí Việt Nam phát triển nhưng vẫn đảm bảo quản lý tốt
- Nguyễn Đức Lợi, Lưu Văn An đồng chủ biên (2017), “Thông tin
báo chí với công tác lãnh đạo, quản lý”, Nxb Thông tấn, Hà Nội Cuốn
sách đưa ra một số vấn đề lý luận về thông tin báo chí và công tác lãnh đạo, quản lý Thông tin báo chí là nhu cầu không thể thiếu của mỗi cá nhân trong xã hội, nhất là đối với các cơ quan, cá nhân lãnh đạo quản lý
- Doãn Thị Thuận (2017), “Quản lý báo chí điện tử ở nước ta trong giai
đoạn hiện nay”, Luận án tiến sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Đây là
công tỷình khoa học nghiên cứu công phu về quản lý báo chí điện tử ở nước
ta trong giai đoạn hiện nay, trong đó tác giả xây dựng cơ sở lý luận về báo chí
và quản lý báo chí với những nội dung cụ thể, lập luận chặt chẽ; đề xuất các giải pháp hợp lý để tăng cường quản lý báo chí trong giai đoạn hiện nay
2.2 Các nghiên cứu về quản lý thông tin, hình ảnh chiến sĩ trên báo chí, về lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc
- Nguyễn Quốc Hùng - Nguyễn Hồng Quân (2008), “Liên hợp quốc và
lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
Cuốn sách giới thiệu về tổ chức LHQ và hoạt động của lực lượng GGHB, cung cấp cho độc giả những kiến thức cần thiết để hiểu về hoạt động nhân văn này
- Nguyễn Hồng Thao (2008), “Việt Nam và Hội đồng Bảo an Liên hợp
quốc”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Cuốn sách cho thấy mối quan hệ giữa
Việt Nam và Hội đồng Bảo an LHQ, khi Việt Nam tích cực chuẩn bị tham gia
Trang 10lực lượng GGHB của LHQ, trở thành thành viên không thường trực nhưng rất có trách nhiệm trong hoạt động đặc biệt này
- Nguyễn Thị Huệ (2013), “Việt Nam tích cực chuẩn bị tham gia lực
lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc”, Tạp chí Quan hệ Quốc phòng, 24,
tr.31-38 Bài viết đề cập đến quá trình chuẩn bị một cách tích cực và chủ động của Việt Nam để tham gia lực lượng GGHB của LHQ vào năm 2014 Quá trình xây dựng, phát triển và trưởng thành của lực lượng GGHB của Việt Nam gắn liền với những kết quả nổi bật mà Cục GGHB Việt Nam đạt được trong suốt quá trình hình thành và phát triển
- Vũ Thị Hương Trà (2016), “Nâng cao chất lượng các chương trình
đối thoại tọa đàm trên Kênh truyền hình Quốc phòng Việt Nam”, Luật văn
Thạc sĩ Báo chí học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Luận văn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về chất lượng các chương trình đối thoại tọa đàm trên Kênh truyền hình Quốc phòng Việt Nam, đề xuất giải pháp, phương hướng nâng cao các chương trình đối thoại tọa đàm thời gian tới Hình ảnh người chiến sĩ được thể hiện rõ qua phân tích các chương trình đối thoại tọa đàm trên Kênh truyền hình Quốc phòng Việt Nam
- Nguyễn Thái Long (2018), Thông tin về hình ảnh người chiến sỹ Công
an nhân dân trong các chương trình chuyên biệt và phim tài liệu trên kênh ANTV, Luận văn thạc sĩ Báo chí học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Luận văn trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận về thông tin hình ảnh chiến sĩ CAND trên các chương trình chuyên biệt và phim tài liệu, luận văn tập trung khảo sát thực trạng thông tin hình ảnh người chiến sĩ CAND trong các chương trình chuyên biệt và phim tài liệu của kênh ANTV; đề xuất một số giải pháp, kiến nghị có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng thông tin hình ảnh người chiến sĩ CAND trên Kênh ANTV
- Vũ Văn Hoàn (2020), Quản lý hình ảnh chiến sĩ trên Kênh Truyền
hình Quốc Phòng Việt Nam hiện nay, luận văn thạc sĩ Báo chí học, Học viện
Trang 11Báo chí và Tuyên truyền Luận văn đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về các nội dung cơ bản có liên quan đến quản lý hình ảnh chiến sĩ trên truyền hình; khẳng định vai trò, nhiệm vụ, tầm quan trọng của việc quản
lý hình ảnh chiến sĩ trên kênh Truyền hình QPVN; đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hình ảnh chiến sĩ trên kênh truyền hình QPVN nói riêng và trên báo chí truyền hình nói chung, xây dựng hình ảnh anh Bộ đội Cụ
Hồ trong tâm thức công chúng
- Mỹ Hạnh (2021), Xây dựng lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ của Việt
Nam không ngừng lớn mạnh, Báo điện tử Quân đội nhân dân, ngày
26/05/2021 Tác giả bài viết ghi lại cuộc phỏng vấn Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng về vấn
về nhiệm vụ tham gia hoạt động GGHB của QĐND Việt Nam Từ năm 2014 đến nay, Việt Nam đã cử 55 lượt sĩ quan triển khai theo hình thức cá nhân và
189 cán bộ, bác sĩ, nhân viên y tế tham gia trong đội hình Bệnh viện dã chiến cấp 2, trong đó có 3 sĩ quan ứng thi và xuất sắc trúng tuyển vào làm việc tại trụ sở LHQ Điều đó khẳng định Việt Nam có trách nhiệm ngày càng cao với vai trò thành viên LHQ, đóng góp ngày càng thiết thực và hiệu quả cho hoạt động này Điều này cũng cho thấy, Việt Nam đã thực hiện đúng cam kết đóng góp nhân sự có chất lượng tham gia sứ mệnh GGHB của LHQ, đồng thời chứng tỏ trình độ chuyên môn của lực lượng GGHB Việt Nam ngày càng đáp ứng các yêu cầu, đòi hỏi cao của hoạt động GGHB của LHQ Việc quân đội tiếp tục đẩy mạnh tham gia hoạt động GGHB LHQ là hành động thiết thực góp phần quán triệt và thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII, trong
đó xác định thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt vì lợi ích quốc gia-dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ
Nhìn chung, nghiên cứu về báo chí truyền thông và quản lý báo chí,
quản lý thông tin báo chí, hình ảnh người chiến sĩ CAND hay QĐND… được thực hiện khá nhiều Tuy nhiên vấn đề quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của
Trang 12QĐND Việt Nam trên kênh Truyền hình QPVN hiện nay chưa được đề cập tới trong các nghiên cứu trước đây Vì thế đề tài của luận văn kế thừa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước nhưng vẫn có tính mới, không lặp lại các công trình đã có
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống một số vấn đề lý luận và phân tích thực trạng quản
lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên kênh Truyền hình QPVN, luận văn đề xuất quan điểm và giải pháp tăng cường quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên kênh Truyền hình QPVN thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn xác định 3 nhiệm vụ cơ bản sau:
- Làm rõ hơn cơ sở lý luận về quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên kênh truyền hình
- Phân tích thực trạng quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên kênh Truyền hình QPVN
- Đề xuất quan điểm và giải pháp tăng cường quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên kênh Truyền hình QPVN
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND
Việt Nam trên kênh Truyền hình QPVN
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên kênh Truyền hình QPVN, qua khảo sát bản tin Thời sự Quốc phòng Bản tin Thời sự Quốc phòng có vị trí đặc biệt trong kênh Truyền hình QPVN Phần tin tức quân sự - quốc phòng có các nội dung về bảo vệ an ninh
Trang 13quốc phòng, về hoạt động của QĐND trong đó có hoạt động của lực lượng GGHB thông qua các tin, phóng sự ngắn
- Phạm vi thời gian: 2 năm, từ tháng 1/2020 đến 12/2021 Đây là khoảng thời gian Việt Nam đảm nhiệm vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ lần thứ hai, nhiệm kỳ 2020-2021 Luận văn có mở rộng so sánh quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên kênh Truyền hình QPVN trong những năm gần đây, từ sau khi thành lập ảnh lực lượng GGHB (2014) để thấy thực trạng quản lý ngày càng hiệu quả hơn
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích tài liệu: Luận văn tập trung phân tích, tìm hiểu
cơ sở lý luận về báo chí, báo truyền hình, về các yếu tố trong quản lý báo chí; các văn bản hướng dẫn về công tác phát thanh, truyền hình; các chỉ thị, nghị quyết của Quân ủy Trung ương; chỉ thị, hướng dẫn của Bộ Quốc phòng (BQP), Tổng cục Chính trị về công tác đấu tranh, chống lại các thế lực thù địch, xây dựng QĐND thêm vững mạnh trên hệ thống báo chí Quân đội nói chung và trên Kênh Truyền hình QPVN nói riêng; các báo cáo sơ kết, tổng kết về tình hình hoạt động của Phòng Thời sự kênh Truyền hình QPVN
- Phương pháp phân tích nội dung: Phương pháp này được tác giả thể
hiện qua các bản tin thời sự Quốc phòng liên quan đến vấn đề thông tin về hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên kênh Truyền hình QPVN, chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu thông tin về hình ảnh lực lượng
Trang 14GGHB để đưa ra những giải pháp thiết thực, hiệu quả trong công tác quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên kênh truyền hình QPVN hiện nay
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Luận văn sử dụng phỏng vấn sâu Lãnh
đạo ban Thời sự - kênh Truyền hình QPVN và phóng viên trực tiếp tham gia sản xuất chương trình thời sự để đánh giá thực trạng quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên kênh Truyền hình QPVN; nhân tố ảnh hưởng và giải pháp tăng cường quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên kênh Truyền hình QPVN
Tác giả luận văn thực hiện 8 cuộc phỏng vấn sâu bao gồm: Lãnh đạo Cục GGHB Việt Nam: 1; Lãnh đạo kênh Truyền hình QPVN: 2 người; Lãnh đạo phòng thời sự: 2 người; cán bộ, phóng viên: 3 người
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Về lý luận, nghiên cứu đóng góp những luận chứng về quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên kênh truyền hình, góp phần củng cố
hệ thống lý luận chung của truyền hình trong tình hình mới Luận văn góp phần
bổ sung, làm phong phú thêm lý luận về quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam, góp phần nâng cao chất lượng các chương trình truyền hình
về hình ảnh chiến sĩ QĐND trên các kênh, đài truyền hình nói chung
Trang 15cho công tác quản lý báo chí trong thời gian tới Qua đó, kênh Truyền hình QPVN củng cố thêm vị trí và niềm tin trong lòng công chúng
7 Đóng góp mới của đề tài
- Đề tài là một trong những nghiên cứu, làm rõ việc quản lý hình ảnh
về hoạt động lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên kênh Truyền hình QPVN Góp phần bổ sung, đóng góp tích cực và khẳng định vai trò quan trọng của công tác thông tin đối ngoại trong chiến lược phát triển của đất nước, củng cố sự nghiệp xây dựng QĐND Việt Nam chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại Đề tài góp phần nâng cao uy tín của kênh truyền hình QPVN trong tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng ta về an ninh quốc phòng, nâng cao nhận thức của nhân dân về hoạt động GGHB của QĐND Việt Nam trên thế giới
- Kết quả của đề tài góp phần giúp kênh Truyền hình QPVN có căn cứ xác thực để tăng cường quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam phù hợp với nhu cầu của công chúng, đạt hiệu quả thông tin tuyên truyền
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn bao gồm 3 chương, 8 tiết:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình
Chương 2: Thực trạng quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên kênh Truyền hình QPVN
Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên kênh Truyền hình QPVN thời gian tới
Trang 16
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HÌNH ẢNH LỰC LƯỢNG
GÌN GIỮ HÒA BÌNH CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
TRÊN TRUYỀN HÌNH 1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam và hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam
1.1.1.1 Lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam
GGHB là “những hoạt động đóng góp cho tương lai quá trình giải quyết và thiết lập nền hòa bình, bao gồm các hoạt động nhằm tạo điều kiện ủng hộ hòa bình lâu dài Hoạt động GGHB bao gồm việc theo dõi sự rút quân của những lực lượng tham chiến ở các vùng xung đột trước đây, việc giám sát bầu cử, hỗ trợ tái thiết”[14] Thực tế, LHQ không phải là tổ chức duy nhất thực hiện các nhiệm vụ GGHB Các lực lượng GGHB ngoài LHQ bao gồm phái đoàn NATO ở Kosovo, có sự ủy quyền của LHQ và Lực lượng đa quốc gia và Quan sát viên trên Bán đảo Sinai hoặc các tổ chức do Liên minh Châu
Âu như EUFOR RCA, với ủy quyền của LHQ và Liên minh châu Phi như Phái đoàn Liên minh châu Phi tại Nam Sudan Theo luật pháp quốc tế, những người GGHB là những người không tham chiến do lập trường trung lập của
họ trong cuộc xung đột và luôn được bảo vệ khỏi các cuộc tấn công [23]
Nghị quyết số 130/2020/QH14 về tham gia lực lượng GGHB của LHQ
đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua; có hiệu lực thi hành
từ ngày 01/7/2021 Nghị quyết gồm 06 chương 18 điều, quy định về nguyên tắc, hình thức, lĩnh vực, lực lượng, thẩm quyền, quy trình triển khai lực lượng, kinh phí bảo đảm, chế độ, chính sách và quản lý Nhà nước đối với việc tham gia lực lượng GGHB của LHQ Đối tượng áp dụng là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ và đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng; sỹ quan,
Trang 17hạ sỹ quan nghiệp vụ, chuyên môn kỹ thuật, chiến sỹ và đơn vị thuộc Bộ Công an được cử tham gia lực lượng GGHB của LHQ; cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến việc tham gia lực lượng GGHB của LHQ Nguyên tắc tham gia lực lượng GGHB của LHQ là đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam; quyết định của Hội đồng Quốc phòng và An ninh; sự thống lĩnh của Chủ tịch nước và quản lý Nhà nước của Chính phủ Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, pháp luật quốc tế, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Đồng thời, bảo đảm độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác
và phát triển; phù hợp với lợi ích quốc gia, dân tộc, điều kiện và khả năng của Việt Nam; tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia Chỉ tham gia hoạt động hỗ trợ khắc phục hậu quả chiến tranh, duy trì hòa bình sau xung đột, vì mục đích nhân đạo trên cơ sở đề nghị của LHQ Chỉ triển khai ở quốc gia, khu vực đã được Liên hợp quốc thành lập phái bộ và tại các cơ quan của LHQ Ngoài ra, hình thức tham gia lực lượng GGHB của LHQ gồm có hình thức cá nhân và hình thức đơn vị Các lĩnh vực tham gia lực lượng GGHB của LHQ bao gồm: tham mưu; hậu cần; kỹ thuật; thông tin, liên lạc; công binh; quân y; cảnh sát; kiểm soát quân sự; quan sát viên quân sự; quan sát viên và giám sát bầu cử; các lĩnh vực khác do Hội đồng Quốc phòng và
An ninh quyết định
Nghị quyết quy định rõ về xây dựng lực lượng Việt Nam tham gia hoạt động GGHB của LHQ: Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ Công an và các bộ, ngành có liên quan lập kế hoạch trung hạn và dài hạn về xây dựng lực lượng Việt Nam tham gia hoạt động GGHB của LHQ trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an quy định biên chế, tổ chức đơn vị và tiêu chuẩn lực lượng thuộc thẩm quyền quản lý để tham gia hoạt động GGHB của LHQ Bộ Quốc phòng, Bộ Công an tuyển chọn, đào tạo, huấn luyện cho cá nhân, đơn vị tham gia hoạt động
Trang 18GGHB về chuyên môn, nghiệp vụ, chính trị, pháp luật, ngoại ngữ phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, lĩnh vực, địa bàn và giới tính Phải bộ GGHB là tổ chức được thành lập theo nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, với sự đồng thuận của chính phủ và các bên liên quan, do Liên hợp quốc quản lý và điều hành, nhằm duy trì, GGHB, an ninh ở quốc gia nói triển khai phái bộ Lực lượng Việt Nam tham gia hoạt động GGHB của LHQ bao gồm cá nhân, đơn vị và vũ khí, trang bị, phương tiện thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an được giao thực hiện nhiệm vụ tham gia hoạt động GGHB
Như vậy, lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam là lực lượng được
Việt Nam cử tham gia hoạt động GGHB của LHQ nhằm duy trì, GGHB, an ninh ở quốc gia và khu vực xảy ra xung đột trên thế giới, được thực hiện theo nghị quyết của Hội đồng Bảo an LHQ, đặt dưới sự quản lý của LHQ
Quân đội Nhân dân (QĐND) Việt Nam là lực lượng chính của Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, được tổ chức theo hướng tinh gọn, được trang bị các loại vũ khí, khí tài hiện đại cần thiết, thực hiện huấn luyện thường xuyên, sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao Hiện nay, QĐND Việt Nam có lực lượng thường trực gồm bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương với tổng quân số khoảng 450.000 người và lực lượng quân dự bị khoảng 5 triệu người Bộ đội chủ lực là thành phần nòng cốt của QĐND Việt Nam gồm lực lượng cơ động của các quân đoàn, quân chủng, binh chủng, bộ đội chủ lực của quân khu và bộ đội chuyên môn kỹ thuật Bên cạnh các đơn vị huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu còn có hệ thống hoàn chỉnh các đơn vị bảo đảm hậu cần, kỹ thuật; các học viện, viện nghiên cứu, các trường đào tạo sĩ quan và trường nghiệp vụ các cấp Lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam luôn khẳng định các cam kết trong tham gia hoạt động GGHB của LHQ Hiện nay, có 61 lượt sĩ quan cá nhân tham gia các vị trí sĩ quan liên lạc, quan sát viên quân sự, sĩ quan tham mưu được cử tới Phái bộ Nam Sudan và Cộng hoà Trung Phi, trong đó có 8 nữ quân nhân Việt Nam đang có 3 sĩ quan đang làm
Trang 19việc tại trụ sở LHQ Việt Nam đã cử 3 lượt Bệnh viện dã chiến cấp 2 làm nhiệm vụ tại Phái bộ Nam Sudan và đang làm công tác chuẩn bị để triển khai Bệnh viện dã chiến cấp 2 lượt thứ 4 trong năm 2022 theo kế hoạch của LHQ
1.1.1.2 Hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa hình ảnh là “ hình người, vật, cảnh tượng thu được bằng khí cụ quang học để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong trí nhớ”[45, tr 569] Hình ảnh có thể là một bức hình, tấm ảnh, hay hình ảnh thứ ghi lại hay thể hiện/tái tạo được cảm nhận thị giác, tương tự với cảm nhận thị giác từ vật thể có thật, do đó mô tả được những vật thể đó Hình ảnh có thể có hai chiều, như thể hiện trên tranh vẽ trên mặt phẳng, hoặc
ba chiều, như thể hiện trên tác phẩm điêu khắc Hình ảnh có thể được ghi lại bằng thiết bị quang học như máy ảnh, gương, thấu kính, kính viễn vọng, kính hiển vi do con người tạo ra, hoặc bởi các cơ chế tự nhiên, như mắt người hay mặt nước Hình ảnh có thể được dùng theo nghĩa rộng, thể hiện bản đồ, đồ thị, nghệ thuật trừu tượng Với nghĩa này, hình ảnh có thể được tạo ra mới hoàn toàn, thay vì ghi chép lại, bằng cách vẽ, tạc tượng, in ấn hay xây dựng bằng
đồ họa máy tính Hình ảnh tưởng tượng xuất hiện trong suy nghĩ của con người, tương tự như trí nhớ Hình ảnh chuyển động có thể là phim, video, hoạt hình…
Trong triết học, hình ảnh là kết quả của sự phản ánh khách thể, đối tượng vào ý thức của con người Từ giác độ cảm tính, hình ảnh là những cảm giác, tri giác và biểu tượng; ở trình độ tư duy, đó là những khái niệm, phán đoán và suy luận Về mặt nguồn gốc, hình ảnh là khách quan; nhưng về cách nhận thức (hình thức) tồn tại, hình ảnh là chủ quan Hình thức thể hiện vật chất của hình ảnh là các hành động thực tiễn, ngôn ngữ, các mô hình ký hiệu khác nhau Hình thức đặc thù của hình ảnh là hình tượng nghệ thuật Hình ảnh không tồn tại độc lập đối với cơ chất vật chất của nó là bộ não và đối với đối tượng của sự phản ánh Nó khách quan về mặt nội dung khi phản ánh chân
Trang 20thực đối tượng Tuy nhiên, không bao giờ hình ảnh hàm chứa hết các thuộc tính và quan hệ của đối tượng, nguyên mẫu luôn luôn phong phú hơn bản sao Mặc dù vậy, một khi đã xuất hiện, hình ảnh vẫn có tính độc lập tương đối của
nó và đóng vai trò tích cực trong hành vi của con người và của động vật, giúp con người điều chỉnh hành vi cho phù hợp với hoàn cảnh Trong nhiếp ảnh, hình ảnh là sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu nhận thức sự vật bằng mắt Hình ảnh gồm hai yếu tố cơ bản: hình dáng của vật thể và sắc độ của hình ảnh Vận dụng khéo léo hai yếu tố này, hình ảnh gây được sự chú ý của con mắt nhìn, dẫn người xem tìm hiểu nội dung bức ảnh Ấn tượng thị giác là điều kiện để người xem tiếp nhận, thưởng thức hình ảnh Hình ảnh là đối tượng chính của nhà nhiếp ảnh - người đi săn hình ảnh Trong mĩ thuật, hình ảnh là
sự diễn tả hay tái hiện một vật, một người trong nghệ thuật tạo hình (hội hoạ,
đồ hoạ, điêu khắc ) Hình ảnh trong nghệ thuật không phải là sự sao chụp thụ động vẻ bên ngoài của mẫu thật, mà còn nhằm lột tả tinh thần của mẫu Người
ta có thể thấy trong hình ảnh cá tính nghệ thuật của nghệ sĩ và dấu ấn thời đại Vật liệu để thực hiện hình ảnh cũng có tác dụng đến cảm thụ thẩm mĩ của người xem: tượng tạc bằng đá hoa cho hiệu quả nghệ thuật khác với tượng gỗ hay tượng đồng
Như vậy, hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam là những
hình dung về diện mạo lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam với ấn tượng nhất định, được tái hiện trong trí nhớ Đó là hình ảnh đẹp về lực lượng
GGHB của QĐND Việt Nam khắc sâu trong tâm khảm chúng ta Dù thời bình hay thời chiến, chiến sĩ QĐND cũng đều có một mệnh lệnh từ trái tim, luôn sẵn sàng ra đi, gác lại mọi việc của gia đình, sẵn sàng hy sinh vì nhân dân, Tổ quốc Bất kể ở thời điểm nào, chúng ta đều nhận thấy sự tận tụy, trách nhiệm, tinh thần xả thân hy sinh vì nhân dân của cán bộ, chiến sĩ QĐND, có bản lĩnh chính trị vững vàng, động cơ trong sáng, trách nhiệm cao; có đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh; có tri thức khoa học, trình độ quân sự,
Trang 21năng lực, phương thức, tác phong công tác và sức khoẻ tốt Họ luôn thực hành dân chủ, tự giác, nghiêm minh; luôn chăm lo, xây dựng đoàn kết nội bộ, gắn
bó máu thịt với nhân dân và có tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng
1.1.2 Quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam
Quản lý là khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau và được thể hiện
bằng thuật ngữ khác nhau, nhưng đều có điểm chung là thừa nhận đây là chức năng vốn có của mọi tổ chức Cá nhân, các bộ phận trong tổ chức đều phải có
sự điều khiển từ trung tâm, nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ chức, đó là hoạt động quản lý Xã hội ngày càng phát triển, quản lý càng có vai trò quan trọng, hoạt động quản lý dựa trên những cơ sở khoa học và kinh nghiệm thực tiễn để con người đúc rút thành khoa học quản lý Quản lý trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, mỗi ngành khoa học nghiên cứu về quản lý từ góc độ riêng của mình, đưa ra định nghĩa về quản lý theo góc tiếp cận chuyên ngành Theo điều khiển học thì quản lý là điều khiển, chỉ đạo một
hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục đích đã định trước Theo xã hội học thì quản lý là yếu tố khách quan của mọi quá trình lao động xã hội trong mọi hình thái xã hội, quản lý cần thiết đối với mọi lĩnh vực hoạt động trong xã hội,
là một yếu tố quan trọng và quyết định nhất đến sự phát triển của mỗi tổ chức, mỗi quốc gia Nếu xét quản lý dưới tư cách là một hoạt động, có thể hiểu quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: quản lý là “trông nom, coi giữ”, là “trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [45, tr.303]
Nhìn chung theo các nhà nghiên cứu, quản lý là sự tác động có tổ chức,
có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã
Trang 22đề ra, là “một hoạt động thực tiễn đặc biệt của con người, trong đó các chủ thể tác động lên các đối tượng bằng các công cụ và phương thức khác nhau, thông qua quy trình quản lý nhất định, nhằm thực hiện một cách hiệu quả nhất các mục tiêu của tổ chức trong điều kiện biến động của môi trường” [27, tr.92] Cách tiếp cận có thể khác nhau, song điểm chung của các nhà khoa học
là đều nhìn nhận quản lý như một hoạt động xã hội, bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định, thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận là chủ thể quản lý và khách thể quản lý
Có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối
tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành
vi của cá nhân để đạt mục đích chung, phù hợp với môi trường quản lý
Khi nói đến quản lý là nói đến hoạt động bao gồm nhiều yếu tố có mối quan hệ tương tác, bổ sung cho nhau Đó là chủ thể quản lý, đối tượng quản
lý, nội dung và phương thức quản lý, mục đích và kết quả quản lý, môi trường quản lý…Quản lý được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lý, đây là mối quan hệ mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan, bởi vì quản lý là khoa học cũng là nghệ thuật
Theo chúng tôi hiểu, quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt
Nam là tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng nhằm xây dựng hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam, truyền tải hình ảnh chiến sĩ tới công chúng một cách hiệu quả, để công chúng hiểu biết, tin yêu và trân trọng lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam
Về bản chất, quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam
chính là quản lý nội dung và hình thức thông tin về lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên các phương tiện truyền thông, tạo ấn tượng tích cực trong nhận thức của công chúng về lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam, quảng bá sâu rộng về hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam vốn được dân yêu quý nhằm tạo sự hiểu biết sâu sắc, sự tôn trọng đối với lực lượng GGHB của QĐND
Trang 23Việt Nam Việt Nam đã ủng hộ các sáng kiến của LHQ, nêu bật các nguyên tắc
cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương LHQ trong việc giải quyết các xung đột quốc tế thông qua biện pháp hòa bình Một trong những yếu tố then chốt thể hiện sự cởi mở và gắn kết với thế giới là việc Việt Nam sẵn sàng có được tiếng nói và vị trí nổi bật hơn trong LHQ Điều này được thể hiện rõ nhất qua nỗ lực tham gia hoạt động GGHB của LHQ đầu năm 2014, quốc kỳ Việt Nam đã tự hào tung bay tại các Phái bộ GGHB của LHQ ở Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi Việt Nam cam kết đóng góp chủ động và có trách nhiệm nhằm đảm bảo Hiến chương GGHB của LHQ, tôn trọng luật pháp quốc tế và đạt được các mục tiêu phát triển bền vững
1.1.3 Quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình
Truyền hình thường được hiểu là hệ thống điện tử viễn thông có khả
năng thu nhận tín hiệu sóng và tín hiệu vô tuyến hoặc hữu tuyến để chuyển thành hình ảnh và âm thanh, là một loại máy phát hình truyền tải nội dung chủ yếu bằng hình ảnh sống động và âm thanh kèm theo Truyền hình xuất hiện vào cuối năm 1920, sau đó được phổ biến với việc cải thiện rất nhiều về hình thức Trong những năm 1950, truyền hình đã trở thành phương tiện chính để định hướng dư luận Vào giữa những năm 1960, việc phát truyền hình màu và kinh doanh máy thu hình màu tăng ở Mỹ và bắt đầu ở hầu hết các nước phát triển khác Kể từ những năm 2010, truyền hình Internet đã gia tăng các chương trình truyền hình có sẵn thông qua Internet thông qua các dịch vụ như iPlayer, Hulu, và Netflix
Truyền hình với tư cách là một loại hình báo chí ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình trong đời sống, và được giải thích bằng từ ngữ khác nhau như báo hình, truyền hình, báo truyền hình Điều 3 của Luật Báo
chí năm 2016 giải thích: Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề
trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng
Trang 24tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông
qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử Báo hình là loại hình
báo chí sử dụng hình ảnh là chủ yếu, kết hợp tiếng nói, âm thanh, chữ viết, được truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau [34] Tác giả Tạ Ngọc Tấn cho rằng: “Truyền hình là một loại hình phương tiện truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh động
và âm thanh Nguyên nghĩa của thuật ngữ vô tuyến truyền hình (television) bắt đầu từ hai từ tele có nghĩa là “ở xa” và vision là “thấy được”, tức là “thấy được ở xa” [38,tr.127] Theo đó, “thông tin truyền hình tái hiện cuộc sống hiện thực trong trạng thái sinh động Nghĩa là truyền hình có thể là một phạm
vi, một bộ phận nguyên dạng của những gì đang diễn ra ngoài đời nhưng nó được cho là rõ hơn, đẹp hơn Người xem truyền hình có cảm giác như họ có mặt, trực tiếp chứng kiến hay đang tham gia vào những sự kiện thực tế đó” [38, tr.132] Theo tác giả Dương Xuân Sơn: “Truyền hình là một loại hình truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh về một vật thể hoặc một cảnh đi xa bằng sóng vô tuyến điện” [35,tr.13]
Như vậy, có thể hiểu truyền hình là một loại hình truyền thông đại
chúng chuyển tải thông tin trực tiếp đến công chúng thông qua hình ảnh và
âm thanh, phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau Thế mạnh của truyền hình là khả năng tích hợp trong nó hầu hết các
loại thông tin từ báo in, phát thanh, điện ảnh Sự kết hợp hài hoà giữa hình ảnh và âm thanh, tạo ra cho nó khả năng truyền tải thông tin phong phú, có sức hấp dẫn đặc biệt nhờ việc tạo sự giao tiếp với con người bằng cả thị giác
và thính giác Tuy nhiên, do tín hiệu hình ảnh động và âm thanh được truyền theo tuyến tính, người tiếp nhận thông tin hầu như tập trung toàn bộ các giác quan vào những gì diễn ra trên màn hình, hạn chế khả năng tiếp nhận thông tin của con người Truyền hình cũng đòi hỏi công chúng phải có sự đầu tư tương đối lớn với mặt thiết bị để có thể tiếp cận được với thông tin
Trang 25Theo chúng tôi hiểu, quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt
Nam trên truyền hình là tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng nhằm xây dựng hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình, truyền tải hiệu quả hình ảnh đó tới công chúng để công chúng hiểu biết, tin yêu và trân trọng ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam
Quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền
hình là khái niệm mới vì chính đặc thù lực lượng GGHB của QĐND Việt
Nam Việt Nam tham gia hoạt động GGHB của LHQ chưa lâu và cũng chưa được truyền thông nhiều, vì thế các nghiên cứu về nội dung này còn chưa
tương xứng với vai trò của nó Về bản chất, quản lý hình ảnh lực lượng GGHB
của QĐND Việt Nam chính là quản lý nội dung và hình thức đăng tải thông tin
về lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên các chương trình truyền hình
Điều 3, Luật báo chí năm 2016 quy định: Chương trình phát thanh, chương trình
truyền hình là tập hợp các tin, bài trên báo nói, báo hình theo một chủ đề trong
thời lượng nhất định, có dấu hiệu nhận biết mở đầu và kết thúc Kênh phát
thanh, kênh truyền hình là sản phẩm báo chí, gồm các chương trình phát thanh,
truyền hình được sắp xếp ổn định, liên tục, được phát sóng trong khung giờ nhất định và có dấu hiệu nhận biết [34] Trong luận văn này, khi nói đến quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên kênh Truyền hình QPVN là sử dụng khái niệm này
1.2 Chủ thể, đối tượng, nội dung, phương thức quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình
1.2.1 Chủ thể và đối tượng quản lý
1.2.1.1 Chủ thể quản lý
Nói đến quản lý là nói đến chủ thể, tức là trả lời câu hỏi: ai quản lý Chủ thể quản lý báo chí là các cơ quan quản lý nhà nước được quy định tại Luật Báo chí 2016 Đó là Chính phủ, Bộ Thông tin và Truyền thông, Các Bộ,
cơ quan ngang bộ, BQP mà trực tiếp là Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam
Trang 26(Cơ quan chỉ đạo trực tiếp của Trung tâm Phát thanh - Truyền hình Quân đội) trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, BQP thực hiện quản lý nhà nước về báo chí Đây
là các chủ thể quản lý vĩ mô Với tư cách là một loại hình báo chí, các kênh truyền hình có chủ thể trực tiếp quản lý của mình Luận văn nghiên cứu về quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên kênh Truyền
hình, vì thế các chủ thể quản lý trực tiếp ở cấp độ vi mô, đó là Tổng cục
Chính trị, Cục Báo chí, là lãnh đạo các cơ quan báo chí truyền hình; lãnh đạo Kênh truyền hình và các cơ quan tham mưu Gắn với đề tài luận văn là quản
lý hình ảnh hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên kênh Truyền hình QPVN hiện nay, chúng tôi đi sâu làm rõ chủ thể quản lý trực tiếp, tập trung vào khâu quản lý tại kênh Truyền hình QPVN Chủ thể trực tiếp quản lý hình ảnh hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên kênh Truyền hình QPVN chính là Ban lãnh đạo kênh Truyền hình QPVN
1.2.1.2 Đối tượng quản lý
Nói đến đối tượng quản lý là trả lời câu hỏi: quản lý ai? Trong luận văn, đối tượng quản lý là hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên kênh truyền hình gắn liền với hoạt động GGHB của QĐND Việt Nam Hình ảnh này được tạo nên bởi đội ngũ phóng viên, biên tập viên, đội ngũ ekip trực tiếp tham gia tổ chức sản xuất các bản tin, chương trình truyền hình
Hoạt động GGHB là một cơ chế đặc biệt được LHQ triển khai bao gồm
cả hoạt động quân sự và dân sự để thiết lập sự hiện diện của LHQ tại những quốc gia đang bị chia rẽ, xung đột với sự chấp thuận của các bên liên quan, nhằm thực hiện các nhiệm vụ đảm bảo an ninh, hỗ trợ chính trị cần thiết; khôi phục, kiến tạo một nền hòa bình ổn định lâu dài Mặc dù hoạt động GGHB là một cơ chế của Hội đồng Bảo an LHQ, nhưng việc triển khai các lực lượng GGHB phải do Tổng Thư ký LHQ tiến hành đàm phán, ký kết thỏa thuận với nước chủ nhà là nơi cần triển khai quân và các nước cử lực lượng trên cơ sở
Trang 27hoàn toàn tự nguyện Thông thường, các lực lượng này được triển khai sau khi lệnh ngừng bắn đã được thiết lập và các bên tham chiến đã đồng ý cho họ thực hiện sứ mệnh GGHB Có hai loại hình chủ yếu trong hoạt động GGHB của LHQ, bao gồm: các phái đoàn quan sát không được vũ trang và các đơn
vị bộ binh được trang bị vũ khí Trong hoạt động GGHB của LHQ, lực lượng tham gia của nước nào do nước đó trực tiếp chỉ huy, quản lý; thẩm quyền xét
xử các vi phạm kỷ luật đối với các binh sĩ trong mọi trường hợp thuộc về nước cử lực lượng Căn cứ vào tình hình cụ thể, nhất là theo yêu cầu của các nước trực tiếp liên quan, Hội đồng Bảo an LHQ có Nghị quyết kết thúc hoặc gia hạn thêm hoạt động của các lực lượng GGHB; song các nước có quyền cân nhắc việc thực hiện các lệnh điều động và có thể rút lực lượng tham gia bất cứ lúc nào Với nhiều hình thức, quy mô khác nhau, các hoạt động này không chỉ duy trì nền hòa bình, an ninh thế giới mà còn tạo thuận lợi cho các tiến trình chính trị, bảo vệ dân thường, hỗ trợ giải giáp vũ khí, giải trừ quân bị
và tái hòa nhập cho các cựu binh; đồng thời, tăng cường hỗ trợ nhân đạo, tổ chức các cuộc bầu cử tự do, bảo vệ, khuyến khích các quyền con người và thiết lập lại chế độ thượng tôn pháp luật Sau hơn 60 năm tham gia nhiều nhiệm vụ khác nhau trên toàn thế giới, các lực lượng GGHB của LHQ đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần chấm dứt nhiều cuộc xung đột tại hàng chục quốc gia trên thế giới Tại những điểm nóng đó, sự hiện diện của các lực lượng “Mũ nồi xanh” đa quốc gia dưới sự bảo trợ của LHQ thực sự là nhân tố đảm bảo môi trường an ninh thuận lợi cho các quá trình chuyển giao chính trị và hỗ trợ cho các thể chế nhà nước còn non trẻ Ghi nhận sự nỗ lực
và những thành tích to lớn đó, năm 1988, Ủy ban Nobel Na Uy đã trao giải Nobel Hòa bình cho lực lượng GGHB của LHQ
Với mong muốn là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, Việt Nam đã chính thức tham gia lực lượng GGHB của LHQ từ năm 2014, thông qua một số lĩnh vực có nhiều năng lực là Quan sát viên quân sự, Công
Trang 28binh, Quân y và cùng quân đội các nước khác thực thi nhiệm vụ GGHB của LHQ ở Nam Sudan và Mali… Triển khai Đề án tổng thể về Việt Nam tham gia hoạt động GGHB Liên hợp quốc và Đề án QĐND Việt Nam tham gia hoạt động GGHB của LHQ giai đoạn 2014-2020 và những năm tiếp theo, BQP đã thành lập Đội Công binh và thực hiện các công tác chuẩn bị để triển khai ở một phái bộ phù hợp khi có đề nghị của LHQ Sau khi nhận được thư mời triển khai lực lượng tại Phái bộ UNISFA, Cục GGHB Việt Nam cùng các cơ quan, đơn vị liên quan của BQP đã thúc đẩy hoàn thiện công tác chuẩn bị mọi mặt, huấn luyện tiền triển khai và mua sắm các trang thiết bị cho Đội Công binh Hiện nay, Đội Công binh đã sẵn sàng để đón đoàn kiểm tra đánh giá năng lực tiền triển khai của LHQ tới Việt Nam
1.2.2 Nội dung quản lý
Trong quản lý là hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên kênh truyền hình, các chủ thể sẽ có nhiều nội dung quản lý Luận văn đưa ra một số nội dung chính như sau:
1.2.2.1 Lập kế hoạch và quản lý quy trình sản xuất thông tin hình ảnh lực lượng GGHB
Lập kế hoạch luôn là một trong những yếu tố mang đến thành công cho bất kỳ công việc nào Trong quản lý là hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên kênh truyền hình, lập kế hoạch cũng là điều cần , để có các bước thực hiện ra sao cho kế hoạch sản xuất được thực hiện hiệu quả Trước hết đó là lập danh sách các công việc cần làm trong ngày, tuần, tháng, năm Việc lên danh sách các công việc cần làm giúp chủ thể quản lý có cái nhìn tổng quan hơn về các công việc Cần lên danh sách và sắp xếp công việc một cách kỹ lưỡng trong ngày, tuần, tháng, năm Công việc được sắp xếp rõ ràng bao nhiêu thì mức độ hoàn thành càng cao bấy nhiêu Sau khi lên danh sách các công viêc, cần thiết lập các mục tiêu tương ứng với từng hạng mục công việc Nên nhớ mục tiêu phải vừa phải, phù hợp với khả năng thực tế, không
Trang 29quá thấp hay quá cao Khi đó kế hoạch tổ chức sản xuất hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình mới có tính khả thi, mới được
Công tác tổ chức để đưa vào vận hành quy trình sản xuất một format chương trình hay một chương trình riêng lẻ bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau Mỗi giai đoạn, nhiệm vụ tổ chức cũng có quy mô, đặc điểm khác nhau,
từ đó sinh ra nhiều vị trí tổ chức sản xuất Người chịu trách nhiệm sản xuất là
cá nhân được giao nhiệm vụ bao quát toàn bộ hoạt động sản xuất chương trình, đứng ra nhận trách nhiệm với lãnh đạo cơ quan chủ quản của đơn vị sản xuất chương trình truyền hình về chất lượng chương trình, bao gồm cả nội dung và hình thức thể hiện Ngoài ra, người chịu trách nhiệm sản xuất phải
Trang 30trực tiếp quản lý, điều phối quy trình sản xuất và nhân sự của chương trình, trực tiếp duyệt nội dung chương trình trước khi hội đồng nghiệm thu duyệt
chương trình Tổ chức sản xuất chuyên mục là người chịu trách nhiệm về toàn
bộ quá trình sản xuất của một chuyên mục cụ thể được phát trên sóng truyền hình, có nhiệm vụ xây dựng ý tưởng cho từng số cụ thể, xây dựng kế hoạch dài hạn để duy trì chương trình, phối hợp với vị trí tổ chức sản xuất chung để truyền đạt kế hoạch, thống nhất đường hướng triển khai và lộ trình thông tin
trong chuyên mục Tổ chức sản xuất chung là người chịu trách nhiệm tổ chức
công tác sản xuất cho các chương trình cụ thể theo đường hướng đã được người tổ chức sản xuất chuyên mục vạch ra, nhận nhiệm vụ từ tổ chức sản xuất chuyên mục về kế hoạch thông tin, xây dựng êkíp sản xuất, triển khai xuống phóng viên, biên tập viên về kế hoạch thông tin, bàn bạc và thống nhất
về ý tưởng đề tài, kịch bản, các phương án đảm bảo về con người, vật chất kèm theo [37] Đây là nhiệm vụ có tính chất tổng hợp, đặt ra những yêu cầu cao đối với người thực hiện, không chỉ là sự am hiểu về lĩnh vực truyền hình,
mà cả khả năng quán xuyến, sự linh hoạt trong các tình huống cụ thể liên quan đến hiệu quả tổ chức sản xuất hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình
1.2.2.2 Quản lý nội dung hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam Một là, quản lý nội dung vị trí, vai trò của lực lượng GGHB Họ là một
trong những nhân tố bảo đảm cho QĐND Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc, tính quốc tế sâu sắc, xây dựng lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu Trước sự tác động của tình hình thế giới, khu vực và trong nước đòi hỏi lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam phải kiên định, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh, không dao động, luôn trung thành, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần quan
Trang 31trọng vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng ở nước ta trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình phải chú ý tới quản lý nội dung về vị trí, vai trò của lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam
Hai là, quản lý nội dung về phẩm chất, nếp sống chính quy của lực
lượng GGHB của QĐND Việt Nam Đây là đặc trưng hàng đầu và là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu, sức mạnh tổng hợp của QĐND Việt Nam, tạo nên vẻ đẹp trong lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam Nếp sống chính quy trước hết thể hiện ở đầu tóc luôn gọn gàng; mặc quân phục thống nhất, đúng lúc, đúng chỗ; lễ tiết chuẩn mực, tác phong chỉnh tề; đi lại, ra vào doanh trại theo chế độ quy định Trong giao tiếp luôn thể hiện là người có văn hóa, tinh tế, nhã nhặn, gặp đồng chí, đồng đội chào hỏi đúng điều lệnh, điều lệ; biết ứng xử theo đạo lý “trên kính dưới nhường”, giữ gìn đoàn kết nội
bộ Trong sinh hoạt hằng ngày, thường xuyên duy trì nội vụ gọn gàng, vệ sinh sạch sẽ, làm việc có khoa học, thực hiện giờ nào việc ấy Trong công tác, hiểu
rõ vị trí, vai trò, trách nhiệm của mình, thấu suốt nhiệm vụ được phân công, quán triệt và thể hiện đúng phương châm “Làm việc theo chức trách, hành động theo điều lệnh” Dù ở đâu, làm gì, trên cương vị nào, mỗi cán bộ, chiến sĩ lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam đều thể hiện ý thức kỷ luật “Quân lệnh như sơn”, “Tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên, khi nhận bất cứ nhiệm vụ
gì đều tận tâm, tận lực thi hành nhanh chóng và chính xác” như lời thề danh dự thứ hai của quân nhân đã quy định Bởi vì lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam chính là hình ảnh biểu trưng của dân tộc Việt Nam, văn hóa Việt Nam trong mắt bạn bè, nhân dân thế giới
Ba là, quản lý nội dung về những hành động đẹp của lực lượng GGHB
của QĐND Việt Nam và Chính phủ Việt Nam làm nổi bật vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, khẳng định Việt Nam luôn là một đối tác tích cực, chủ động và có trách nhiệm với những đóng góp thiết thực trong những vấn đề hòa
Trang 32bình, an ninh và phát triển trên thế giới Việt Nam là thành viên của LHQ từ năm 1977, luôn ủng hộ các mục tiêu và nguyên tắc của Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế, đặc biệt là các nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia, không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực, giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng các biện pháp hòa bình, đóng góp tích cực trong giải quyết xung đột, khủng hoảng trên thế giới Biểu hiện rõ nét là Việt Nam luôn chủ động và tích cực thông qua đàm phán hòa bình để giải quyết các vấn đề chủ quyền biên giới trên bộ và trên biển với các quốc gia láng giềng, tích cực tham gia xây dựng và thực thi các điều ước quốc tế của LHQ Chính vì thế, những hành động đẹp của lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam không chỉ mang ý nghĩa quan trọng đối với chương trình truyền hình mà còn mang tầm chiến lược đối với sự phát triển của QĐND trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
1.2.2.3 Quản lý hình thức thể hiện hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam
Quản lý hình thức thể hiện hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình không chỉ chú trọng nội dung, mà còn quan tâm đến hình thức các tác phẩm để hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình phải đảm bảo đúng hình thức, thể loại truyền hình Nghĩa là nếu truyền hình phản ánh hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam qua các phóng sự, điều tra, bản tin, bài viết, phỏng vấn, video…thì chủ thể quản lý phải giám sát để hình thức thể hiện các tin, bài đạt hiệu quả về hình ảnh, tích hợp được cả âm thanh sống động, khả năng truyền tải tới công chúng cao Hình thức thể hiện hình ảnh chiến sĩ phải đáp ứng các tiêu chí về tin, bài trên truyền hình
Hình thức thể hiện hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam còn thể hiện ở tần suất, số lượng tin, bài Truyền hình nếu muốn đạt mục đích là xây dựng hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam như một biểu tượng của quân đội Việt Nam anh hùng trong chiến đấu, giản dị trong lối sống, luôn
Trang 33sẵn sàng hy sinh cho hạnh phúc của nhân dân thì phải đưa tin thường xuyên, liên tục, thậm chí có chuyên mục riêng về hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam Hình thức các tác phẩm về lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình phải đảm bảo kết cấu phù hợp, phong phú, sáng tạo, hấp dẫn Cách thức thể hiện chương trình phải sinh động, lôi cuốn, hiện đại Ngôn ngữ thể hiện phải phù hợp với loại hình báo truyền hình, phù hợp thuần phong mỹ tục của dân tộc và đặc biệt là phù hợp với đối tượng đích mà chương trình hướng tới là hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam Biên tập viên thể hiện phải linh hoạt, sáng tạo Âm nhạc, tiếng động có tính hiện trường cao, dễ nghe, phù hợp với nội dung hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam, khỏe khoắn và sinh động
1.2.2.4 Quản lý các nguồn lực trong sản xuất thông tin về hình ảnh lực lượng GGHB
Trong quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình, không thể không nhắc tới vấn đề quản lý trang thiết bị trong sản xuất thông tin về lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam Nhờ quản lý trang thiết bị mà truyền hình ngày càng có những bước tiến mới về thực hiện chương trình và hệ thống thu phát sóng Các chủ thể quản lý phải bao quát việc quản lý hệ thống máy móc trang thiết bị, kỹ thuật phục vụ cho việc sản xuất chương trình truyền hình, phải có kế hoạch cụ thể về kỹ thuật, công nghệ, tổ chức thực hiện, nguồn kinh tế, tính khả thi trong việc sử dụng các máy móc trang thiết bị Việc quản lý hệ thống máy móc trang thiết bị hiệu quả
sẽ tối ưu hóa lợi ích kinh tế, tiết kiệm thời gian, tạo ra môi trường làm việc thuận lợi, thoải mái, hiệu suất cao Trong quy trình sản xuất chương trình truyền hình, bộ phận kỹ thuật chiếm tỷ lệ đông đảo, bao gồm cả kỹ thuật dựng, kỹ thuật âm thanh, kỹ thuật phát sóng…Hệ thống truyền hình gồm rất nhiều trang thiết bị máy móc có chức năng khác nhau như: tạo tín hiệu hình,
Trang 34gia công xử lý tín hiệu, tạo các dạng kỹ xảo truyền hình, phát sóng, ghi, thu tín hiệu hình, các thiết bị âm thanh, ánh sáng, trường quay
Hiện nay, các khả năng của thiết bị thu phát tín hiệu như vệ tinh, internet giúp việc truyền tải thông tin được nhanh chóng, dễ dàng hơn Hay đơn giản từ bàn dựng analog đến bàn dựng phi tuyến cũng giúp người làm chương trình lựa chọn được những kỹ xảo đẹp, quy trình dựng cũng đơn giản hơn nhiều Hệ thống máy móc trang thiết bị kỹ thuật mang lại nhiều tiện ích cho quá trình sản xuất chương trình truyền hình Tuy nhiên, không phải khoa học kỹ thuật phát minh ra máy móc, công nghệ mới về truyền hình là bất cứ một kênh nào cũng có thể tiếp cận được Mỗi khi có công nghệ mới, các kênh truyền hình phải tập trung đào tạo kỹ thuật cho nhân sự Vì thế vấn đề quản lý trang thiết bị trong sản xuất thông tin về hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam cần được quan tâm
1.2.3 Phương thức quản lý
Để quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình hiệu quả, chủ thể quản lý cần có phương thức quản lý, nghĩa là “chủ thể quản lý phải trả lời câu hỏi: quản lý bằng cách nào, công cụ quản lý là gì”[17, tr.5] Nhà quản lý có thể sử dụng từng phương thức cụ thể; cũng có thể sử dụng linh hoạt nhiều phương thức khác nhau, phù hợp với nội dung và đối tượng quản lý Đó là phương thức hành chính; phương thức tổ chức, cán bộ; phương thức kinh tế hoặc phương thức tâm lý giáo dục Có thể quản lý gián tiếp hoặc trực tiếp, quản lý thông qua giám sát kiểm tra việc xây dựng khung chương trình; tổ chức thực hiện và đo lường hiệu quả Có thể quản lý bằng văn bản hành chính, bằng chế độ thông tin, báo cáo; quản lý bằng xử lý phản hồi từ công chúng
1.2.3.1 Quản lý hành chính bằng hệ thống tổ chức cán bộ; thông qua
văn bản, chế độ thông tin, báo cáo là phương thức quản lý những người trực tiếp thực hiện việc tổ chức sản xuất chương trình truyền hình Nhiều khi cán
Trang 35bộ thực hiện các chương trình truyền hình không nắm rõ bản chất hoặc có quy trình tổ chức sản xuất không được duyệt chặt chẽ thì nội dung chương trình không được hiểu đúng, có thể còn trở nên méo mó, xấu đi trong con mắt mọi người Do vậy muốn chương trình truyền hình được phản ánh đảm bảo đúng tôn chỉ và mục đích, không thể không tăng cường quản lý bằng hệ thống tổ chức cán bộ Phải tổ chức hệ thống cán bộ một cách khoa học, chặt chẽ, phân công đúng người, đúng việc; đảm bảo cán bộ, nhân viên trong hệ thống tổ chức sản xuất của các kênh truyền hình luôn phải nắm vững chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Phương thức quản lý hành chính thường gắn liền với quản lý thông qua văn bản, chế độ thông tin, báo cáo là phương thức quản lý phổ biến và hiệu quả Chủ thể quản lý phải quản lý được những yếu tố trong quá trình sản xuất, phát sóng và sau phát sóng chương trình truyền hình
1.2.3.2 Quản lý bằng kinh tế: là khi chủ thể quản lý sử dụng kinh tế để
tác động trực tiếp lên lợi ích của các tổ chức, cá nhân tham gia vào quy trình
tổ chức sản xuất chương trình truyền hình Trong quản lý sản xuất chương trình trên truyền hình, đó là việc khen thưởng, kỷ luật theo các nhiệm vụ, yêu cầu cụ thể trong quy trình sản xuất Phương pháp kinh tế được thể hiện trong việc sử dụng đòn bẩy kinh tế như: quyền tự chủ trong sản xuất, chế độ hạch toán kinh tế, chế độ thưởng… nhằm tạo điều kiện vật chất thuận lợi cho hoạt động có hiệu quả của đối tượng quản lý phát huy năng lực sáng tạo, chọn cách tốt nhất để hoàn thành nhiệm vụ Sử dụng chế độ đãi ngộ về mặt tài chính và tinh thần là công cụ quản lý thường được các chủ thể quản lý áp dụng nhằm khích lệ, động viên đội ngũ phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên hoàn thành nhiệm vụ hiệu quả quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình
Trang 361.2.3.3 Phương pháp kiểm tra, giám sát
Quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình cũng chú trọng phương pháp kiểm tra giám sát, kiểm tra từ kế hoạch sản xuất đến quy trình tổ chức sản xuất bản tin, kiểm tra để nắm phản hồi từ công chúng về những thông tin họ tiếp nhận, đo lường hiệu quả thông tin, kiểm tra mức độ làm hài lòng công chúng về những thông tin về hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình trong bản tin Hình thức kiểm tra có thể trực tiếp hoặc gián tiếp Kiểm tra, giám sát các mặt công tác thường xuyên là hình thức kiểm tra, giám sát được báo trước trên cơ sở các kế hoạch của cấp trên, thường là quý, tháng, năm theo hình thức kiểm tra định kỳ Nội dung kiểm tra toàn diện các mặt công tác Kiểm tra, giám sát triển khai thực hiện các chuyên đề là hình thức khi cần nắm một nội dung công tác có tính chiều sâu, chi tiết Ví dụ: chuyên đề về hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình, chuyên đề về xử lý các nguồn vốn trong tổ chức sản xuất bản tin Thời sự… Kiểm tra đột xuất là kiểm tra không báo trước thời gian và nội dung kiểm tra Trong quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình, phải có sự cải tiến, đổi mới phương thức
quản lý tương ứng, đòi hỏi tăng cường kiểm tra, giám sát trong quản lý
1.2.2.4 Phương thức tâm lý giáo dục là khi chủ thể quản lý tuyên
truyền, chuyển tải những chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam thông qua nhiều hình thức tới đối tượng quản lý, thuyết phục họ hiểu rõ những nội dung cần thiết, để từ đó
tự giác thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao hoặc tránh những điều không được làm trong quá trình tham gia tổ chức sản xuất các sản phẩm về lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình Bản chất của phương thức này là làm cho khách thể quản lý hiểu rõ sự cần thiết và tự giác thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao trong một phạm vi nhất định Phương thức này được thể hiện bằng những hoạt động như: tuyên truyền, vận động, giải
Trang 37thích, động viên, khích lệ, chia sẻ tác động vào tâm tư tình cảm của đối tượng quản lý
1.3 Mục đích, yêu cầu của quản lý hình ảnh lực lƣợng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình
1.3.1 Mục đích quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình
Quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình nhằm góp phần đảm bảo định hướng chính trị, tôn chỉ, mục đích của kênh truyền hình, đảm bảo tính chân thực và khách quan về hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam; tuyên truyền hình ảnh đẹp của lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam cho nhân dân và bạn bè quốc tế, khẳng định tinh thần chủ động, trách nhiệm của Việt Nam trong gìn giữ hòa bình thế giới Bởi
vì chính sách đối ngoại của Việt Nam luôn đề cao chủ nghĩa đa phương với LHQ là trung tâm và luật pháp quốc tế làm nền tảng nhằm góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định và phát triển trên thế giới “Quan điểm của Việt Nam là duy trì môi trường hòa bình, ổn định ở mỗi quốc gia, khu vực và thế giới là điều kiện tiên quyết để có thể phục hồi và tăng trưởng kinh tế Việt Nam kêu gọi các quốc gia cần tăng cường hợp tác để có thể biến các thách thức thành những cơ hội thông qua đẩy nhanh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ, thúc đẩy phát triển bền vững” [22, tr.18]
Quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình không chỉ để xây dựng hình ảnh đẹp về người lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam, mà còn nhằm bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc vì lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam là biểu tượng anh hùng của dân tộc Việt Nam Hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình phải thể hiện ý chí và quyết tâm đấu tranh, chống các quan điểm, sai trái của các thế lực thù địch đối với cách mạng và dân tộc Việt Nam Trong những năm gần đây, thực tiễn đã
Trang 38có nhiều biến đổi, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang ra sức xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng với những âm mưu ngày càng thâm độc, những thủ đoạn ngày càng tinh vi “Quan điểm sai trái, thù địch là những quan điểm thể hiện sự lệch lạc về nhận thức lý luận cũng như nhận thức thực tiễn hoặc là những quan điểm, lập trường có chủ đích đi ngược lại và đối lập hoàn toàn với quan điểm, lập trường chính thống của Đảng Cộng sản Việt Nam, là những quan điểm phủ nhận và đối lập với lập trường giai cấp công nhân, với lợi ích của quốc gia, dân tộc Việt Nam, nhằm chống lại lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” [19, tr 40] Trước tình hình
đó, việc quản lý hiệu quả hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình là yêu cầu có tính quyết định để từ đó giúp Đảng, Nhà nước ta có phương thức đấu tranh phòng, chống, ngăn chặn, đẩy lùi quan điểm sai trái, thù địch trong thực tiễn, tăng cường sự ủng hộ của nhân dân thế giới, củng cố niềm tin ở quần chúng nhân dân về lực lượng QĐND Việt Nam
1.3.2 Yêu cầu của quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình
truyền hình phải đảm bảo tính định hướng chính trị, thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích của kênh truyền hình
Quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình cần phải đảm bảo các yêu cầu mang tính nguyên tắc cơ bản Đó là đảm bảo tính định hướng chính trị của báo chí nói chung, thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích của kênh truyền hình nói riêng, quy định tại Điều 4 Luật Báo chí năm 2016 Báo chí phải thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của Nhân dân; tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của đất nước và thế giới theo tôn chỉ, mục
Trang 39đích của cơ quan báo chí Báo chí phải góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của Nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ XHCN, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội, làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của Nhân dân Truyền hình cũng là một loại hình báo chí, quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình cũng cần thực hiện tốt các quy định của Luật Báo chí và các văn bản pháp luật liên quan Việc quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình phải tuyệt đối nghiêm chỉnh chấp hành đúng pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, các nghị định, thông tư về quản lý Nhà nước, các quy chế, quy định, quy tắc của
cơ quan báo chí Nội dung quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình phải phù hợp với đường lối chính trị của Đảng trong
từng giai đoạn cụ thể
Trong luận văn này, đối tượng và phạm vi nghiên cứu là quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên kênh Truyền hình QPVN nên việc chấp hành pháp luật sẽ góp phần thực hiện tốt tôn chỉ mục đích xuất phát
từ vị trí, vai trò của kênh Truyền hình QPVN Đây là tiếng nói của lực lượng
vũ trang nhân dân, tập trung thông tin, tuyên truyền về các vấn đề liên quan đến QĐND Việt Nam, an ninh quốc phòng, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Kênh Truyền hình QPVN được xây dựng, hoạt động phù hợp với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là Luật Báo chí và đảm bảo sự lãnh đạo của BQP mà trực tiếp là Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam Việc quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình đúng tôn chỉ, định hướng cũng là nhiệm vụ của kênh Truyền hình QPVN
Trang 401.3.2.2 Quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình phải đảm bảo phân cấp, phân quyền khoa học, hiệu quả
Quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình phải có sự phân cấp, phân quyền khoa học, hiệu quả vì truyền hình không chỉ chịu sự quản lý của Cục Báo chí- Bộ Truyền thông và Thông tin,
mà còn là cơ quan chủ quản Ví dụ: kênh Truyền hình QPVN chịu sự quản lý của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng Trung tâm PT-TH Quân đội - cơ quan chịu trách nhiệm trước Quân ủy Trung ương và TCCT về sản xuất, phát sóng kênh Truyền hình QPVN, giám đốc Trung tâm là người trực tiếp quản lý hoạt động sản xuất và phát sóng chương trình Các lãnh đạo phòng, trưởng nhóm sản xuất chương trình là người tiếp nhận các chỉ đạo điều hành công tác sản xuất từ Giám đốc Trung tâm, tổ chức xây dựng thành các kế hoạch cụ thể phù hợp với đặc thù của từng phòng ban, nội dung đề tài, triển khai tới từng phóng viên, biên tập viên, theo sát quá trình tác nghiệp của phóng viên, kịp thời có những điều chỉnh phù hợp Như vậy, quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên kênh Truyền hình QPVN phải được thực hiện theo nguyên tắc phân cấp, phân quyền một cách khoa học, hiệu quả thì mới không bị chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm
Quản lý hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên kênh Truyền hình QPVN phải góp phần xây dựng thương hiệu chương trình và của kênh truyền hình, thông tin phải đúng, trúng và hay Thông tin về hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên truyền hình được sản xuất là kết quả của tất cả các khâu tổ chức sản xuất, từ biên tập, biên tập đồ họa, trợ lý, đạo diễn đến âm thanh, ánh sáng Mỗi bộ phận chỉ tập trung làm tốt nhất công việc của họ, vì thế đòi hỏi một người quản lý tổ chức sản xuất như một nhạc trưởng tập hợp, định hướng phân công đảm bảo êkíp làm việc thuận lợi Có thể nói chất lượng hình ảnh lực lượng GGHB của QĐND Việt Nam trên kênh truyền hình được quyết định bởi hoạt động quản lý tổ chức sản