Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã luôn quan tâm đến công tác giáo dục nói chung và GDLLCT nói riêng trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh và đ
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
DƯƠNG THỊ MINH DIỆP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TẠI HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ HỒ CHÍ MINH HỌC
HÀ NỘI, 2022
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
DƯƠNG THỊ MINH DIỆP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TẠI HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Hồ Chí Minh học
Mã số: 8 31 02 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ HỒ CHÍ MINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Lê Thị Thúy Bình
HÀ NỘI, 2022
Trang 3Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm
luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày……tháng…….năm 202…
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
TS Lê Đình Năm
Trang 4Tôi xin cam đoan những nội dung trong luận văn này là kết quả quá trình nghiên cứu nghiêm túc của bản thân và chưa từng công bố trên bất kỳ công trình nào khác Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Dương Thị Minh Diệp
Trang 5- Kính thưa Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp cao học
- Kính thưa các thầy, cô giáo khoa Tư tưởng Hồ Chí Minh
Đề tài này được hoàn thành là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu và tích lũy tri thức của tôi tại khoa Tư tưởng Hồ Chí Minh – Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Tư tưởng Hồ Chí Minh đã luôn tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này Xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học trong Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp cao học đã quan tâm dành thời gian đọc, nhận xét bài Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới người hướng dẫn khoa học - Tiến sĩ Lê Thị Thúy Bình đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tuy nhiên, do năng lực có hạn, trong luận văn không tránh khỏi hạn chế, thiếu sót cần được nghiên cứu, bổ sung thêm Tôi rất mong nhận được
sự góp ý của các nhà khoa học để Luận văn của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Dương Thị Minh Diệp
Trang 7MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ 13
1.1 Một số khái niệm liên quan 13
1.2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục lý luận chính trị 22
Tiểu kết chương 1 49
Chương 2: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TẠI HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 50
2.1 Đặc điểm của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh 50
2.2 Thực trạng công tác giáo dục lý luận chính trị cho học viên tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh 57
2.3 Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác giáo dục lý luận chính trị tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh 94
Tiểu kết chương 2 113
KẾT LUẬN 114
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
PHỤ LỤC 122
TÓM TẮT LUẬN VĂN 132
Trang 8Bảng 2.1: Một số lớp bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, giảng viên hằng năm
của Học viện Trung tâm 60
Bảng 2.2: Các lớp bồi dưỡng ngắn hạn tại nước ngoài của Học viện Trung
tâm giai đoạn 2016 – 2018 62
Bảng 2.3: Số lượng lớp học và học viên theo chương trình đào tạo của Học
viện năm 2016 – 2017 63
Bảng 2.4: Số lượng lớp học và học viên thông qua các hệ đào tạo cao cấp lý
luận chính trị tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh 64
Bảng 2.5: Số lượng lớp học và học viên của chương trình đào tạo theo chức
danh cán bộ năm 2020 66
Bảng 2.6: Số lượng và hình thức đào tạo theo đề án bồi dưỡng cán bộ sự
nguồn cao cấp Trung ương 72
Bảng 2.7: Số lượng chuyên đề và học phần của chương trình đào tạo
đại học và sau đại học 73 Hình 2.1: Mô hình tổ chức bộ máy Học viện 50 Hình 2.2: Số lượng học viên hệ cao cấp lý luận chính trị hệ tập trung của toàn
hệ thống Học viện và Học viện Trung tâm năm 2019 – 2020 65
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò hết sức to lớn của giáo dục trong việc cải tạo con người cũ, xây dựng con người mới, thường xuyên quan tâm đến công tác GDLLCT cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân Người trực tiếp mở và giảng dạy các lớp LLCT để chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam Người vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam nhằm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phục vụ sự nghiệp cách mạng Đối với mỗi giai đoạn cách mạng, căn cứ vào trình độ cán bộ, từ cán bộ sơ cấp đến cán bộ cao cấp, Người đều tìm những nội dung, phương pháp GDLLCT phù hợp để người học dễ hiểu, dễ nhớ và dễ thực hành Tư tưởng Hồ Chí Minh về GDLLCT là kết quả của sự nghiên cứu sâu sắc lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đúc rút kinh nghiệm từ hoạt động thực tiễn và lý luận phong phú của Người
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã luôn quan tâm đến công tác giáo dục nói chung và GDLLCT nói riêng trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh và đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần vào việc hình thành, phát triển tư duy lý luận, trang
bị cho cán bộ, đảng viên LLCT sắc bén, chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, đảm bảo đầy đủ các phẩm chất, năng lực, sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã nhận định: “Công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị được đổi mới cả về nội dung và phương pháp; tăng cường quản
lý, kỷ luật trong giảng dạy, học tập; chất lượng đào tạo, bồi dưỡng được nâng lên; từng bước khắc phục tình trạng lười học, ngại học LLCT” [10, tr 170]
Việc học tập LLCT trong các trường cao đẳng, đại học, các trường chính trị có những chuyển biến tích cực; người học không còn tiếp thu bài học một cách thụ động mà tích cực tham gia tương tác với giảng viên, thể hiện tư
Trang 10duy của cá nhân, sáng tạo trong việc tiếp nhận và xử lý thông tin; vận dụng kiến thức vào thực tiễn, trong công tác quản lý, lãnh đạo, từ đó nâng cao trách nhiệm của mình, thực hiện tốt mọi quy định của Đảng và Nhà nước
Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác GDLLCT vẫn còn không
ít những hạn chế Việc học tập LLCT chưa đáp ứng được yêu cầu Dưới sự ảnh hưởng của kinh tế thị trường, một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” Tình trạng xem nhẹ lý luận, lý luận chính trị, ngại học, lười học lý luận, học đối phó, học cho xong chứ không
vì nhu cầu bổ sung kiến thức về thế giới quan khoa học, phương pháp luận vẫn còn diễn ra khá phổ biến
Trước bối cảnh mới của đất nước, Đại hội Đảng lần thứ XIII nêu rõ sự cần thiết phải không ngừng nâng cao trình độ LLCT cho cán bộ, đảng viên:
“Đổi mới căn bản nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo hướng khoa học, sáng tạo, hiện đại và gắn lý luận với thực tiễn; đưa việc bồi dưỡng LLCT, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo quản lý, chủ chốt các cấp đi vào nền nếp Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa học tập lý luận với rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn để nâng cao bản lĩnh chính trị; khắc phục tình trạng ngại học, lười học lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên” [10, tr 235– 236]
Trong hệ thống các cơ quan giáo dục, đào tạo LLCT, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh là cơ sở giáo dục đặc thù: Là trung tâm quốc gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo quản lý cho hệ thống chính trị; là trung tâm quốc gia nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm
cơ sở cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Trước những yêu cầu nhiệm vụ của công cuộc đổi mới đất nước, quy mô đào tạo của Học viện không ngừng được mở rộng với nhiều trình độ từ cử nhân chính trị chuyên ngành, cao cấp LLCT, các lớp bồi dưỡng cán bộ nguồn cao cấp Trung ương, bồi dưỡng tại các địa phương,…
Trang 11Công tác GDLLCT ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh có vai trò vô cùng quan trọng nhằm hình thành thế giới quan khoa học, phương pháp luận biện chứng và khả năng vận dụng vào thực tiễn, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ vừa hồng vừa chuyên đáp ứng yêu cầu thời kỳ hội nhập và phát
triển đất nước Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả công tác giáo dục lý luận chính trị tại Học viện Chính trị Quốc gia
H ồ Chí Minh theo tư tưởng Hồ Chí Minh” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ Hồ
Chí Minh học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, tư tưởng Hồ Chí Minh được các cấp, các ngành, các đồng chí lãnh đạo, các nhà khoa học giành nhiều thời gian nghiên cứu Công tác GDLLCT cũng được đề cập đến trong các hội thảo và trong các công trình nghiên cứu khoa học với những góc độ, khía cạnh khác nhau tập trung ở một số hướng nghiên cứu cơ bản sau:
2.1 Những công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
Nguyễn Văn Sáu (2005), “Nghiên cứu giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới”, Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà Nội Cuốn sách đã phân tích
Trang 12về công tác nghiên cứu, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh một cách có hệ thống và toàn diện Tác giả làm rõ những quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về nghiên cứu, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh và tiến hành khảo sát thực trạng công tác nghiên cứu, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới Từ những nội dung khảo sát và nghiên cứu, công trình đưa ra phương hướng, giải pháp giáo dục tư tưởng trong điều kiện mới Tuy nhiên, những nội dung trên chủ yếu tập trung đến đối tượng trong học viên, sinh viên ở các trường học, chưa đề cập nhiều đến các đối tượng khác, do đó, nội dung nghiên cứu, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ tiếp cận dưới góc độ hẹp, chuyên sâu
Hoàng Quốc Bảo (2005), “Học tập phương pháp tuyên truyền cách mạng Hồ Chí Minh”, Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà Nội Cuốn sách tiếp cận
công tác tư tưởng theo tư tưởng Hồ Chí Minh qua việc tìm hiểu nguồn gốc và nêu lên những đặc trưng cơ bản của phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh - một bộ phận cấu thành trong công tác tư tưởng Trong "Học tập phương pháp tuyên truyền cách mạng Hồ Chí Minh", tác giả khẳng định: trong công tác tư tưởng, cán bộ làm công tác tuyên truyền là nhân tố quyết định, và phương pháp tuyên truyền cách mạng Hồ Chí Minh là một phương pháp hiệu quả có giá trị trong cả quá khứ và thời đại mới Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao, đổi mới phương pháp tuyên truyền của đội ngũ cán bộ tư tưởng theo phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh với công tác giáo dục lý luận chính trị (2007), Nxb.Chính
trị Quốc gia, Hà Nội Cuốn sách giới thiệu các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ nghĩa Mác – Lênin soi sáng con đường cách mạng Việt Nam; đặc biệt, các tác phẩm của Người nhấn mạnh đến nhiệm vụ xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đến việc rèn luyện phẩm chất đạo đức của người đảng viên Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rõ về mặt nội dung
và nhiệm vụ học tập LLCT; vấn đề để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục LLCT
Trang 13Trần Thị Anh Đào (chủ biên) (2010), “Công tác giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên hiện nay”, Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà Nội Tác giả đã làm
rõ tình hình GDLLCT cho sinh viên hiện nay trên các mặt như: dạy học các môn LLCT; NCKH về lĩnh vực LLCT; thi tìm hiểu về lịch sử truyền thống văn hóa; thi Olympic các môn LLCT; thăm quan, học tập dã ngoại tại các khu
di tích lịch sử cách mạng; học tập và quán triệt nghị quyết của Đảng; học tập chính trị pháp luật; thông tin thời sự… Trên cơ sở đó chỉ ra vai trò của từng hình thức GDLLCT cho sinh viên cùng mối quan hệ giữa chúng trong tổng thể các hoạt động để trang bị những kiến thức và kỹ năng cần thiết cho sinh viên Tác giả đã làm rõ được những khái niệm LLCT, phân tích được vai trò của GDLLCT đối với sinh viên; tác giả đã đã nắm vững tâm sinh lý của sinh viên, kết hợp lý luận và thực tiễn khảo sát đưa ra phân tích có cơ sở, cần thiết
và thuyết phục; nhìn thẳng vào bức tranh thực tế: mặt tốt - xấu của sinh viên
để có những đánh giá và đưa ra những giải pháp, định hướng nâng cao GDLLCT cho sinh viên đúng đắn và mang tính khả thi cao
Trần Minh Tuấn (2011), “Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý theo chức danh tại Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh”, Đề tài khoa học cấp bộ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,
Hà Nội Đề tài đã tập trung giải quyết các vấn đề: luận giải yêu cầu cấp thiết hiện nay về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý theo chức danh; công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý theo chức danh tại Học viện, theo đó, chương trình đào tạo, bồi dưỡng phải phân định rõ các chương trình đào tạo và các chương trình bồi dưỡng; mỗi chương trình đào tạo, bồi dưỡng phải hướng tới một loại đối tượng xác định, phải hướng tới từng chức danh đào tạo nhất định
2.2 Những công trình nghiên cứu sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm nâng cao hiệu quả công tác GDLLCT
- Về sách
TS Lương Gia Ban (2002), “Góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy
và đổi mới, nôi dung, chương trình các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng
Trang 14Hồ Chí Minh”, Nxb.Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Cuốn sách nêu ra những biện
pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy, học tập các môn khoa học
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường đại học và cao đẳng, mối quan hệ giữa nội dung và, phương pháp luận và phương pháp học Mác - Lênin
Trên cơ sở những bất cập, hạn chế đang đặt ra trong giáo dục các môn LLCT
để đề xuất một số biện pháp thiết thực nhằm cải thiện tình hình dạy học các môn LLCT trong các cơ sở giáo dục đại học
Phạm Huy Kỳ (2010), “Lý luận và phương pháp nghiên cứu, giáo dục
lý luận chính trị”, Nxb.Chính trị – Hành chính Quốc gia, Hà Nội Cuốn sách
trình bày một số vấn đề lý luận và phương pháp của công tác nghiên cứu, GDLLCT và công tác nghiên cứu, biên soạn, giáo dục lịch sử đảng bộ địa phương Riêng về phần lý luận và phương pháp GDLLCT Tác giả chủ yếu tập trung trình bày lý luận và phương pháp dạy học LLCT – nội dung hoạt động chủ yếu trong hệ thống GDLLCT của Đảng ta hiện nay
TS Nguyễn Văn Lượng (2015), “Phát triển đội ngũ giảng viên Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập quốc tế”, Nxb
Lý luận chính trị, Hà Nội Tác giả thông qua khảo sát thực trạng đưa ra sự phát triển của đội ngũ giảng viên của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh trong nhiệm vụ mới của đất nước Đồng thời, tác giả cũng nêu ra giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên GDLLCT Điểm mới của tác giả thể hiện ở cách tiếp cận quản lý nguồn nhân lực và dựa trên cách tiếp cận năng lực để xây dựng khung năng lực giảng viên GDLLCT nhằm đáp ứng yêu cầu cả về
số lượng; đồng bộ về cơ cấu, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
TS Vũ Tuấn (2019), “Đổi mới giáo dục lý luận chính trị cho Học viên
Sĩ Quan Kỹ Thuật Quân sự hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Nxb
Chính trị Quốc gia Sự thật Tác giả đưa ra những nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh về GDLLCT, tiến hành khảo sát thực trạng GDLLCT của Học viên
Sĩ Quan Kỹ thuật Quân sự Từ đó, nêu lên những yêu cầu và giải pháp đổi mới GDLLCT nhằm phù hợp với thực tiễn công tác giáo dục hiện nay
Trang 15Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2019), “Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh – 70 năm truyền thống vẻ vang”, Nxb.Lý luận chính
trị, Hà Nội Cuốn sách nêu lên quá trình hình thành và phát triển của Học viện trong suốt 70 năm qua từ năm 1925 đến năm 2019 Cuốn sách trình bày nội dung hoạt động chủ yếu của Học viện về GDLLCT Nêu lên những thành tựu
và hạn chế trong quá trình tham gia bồi dưỡng, đào tạo cán bộ lãnh đạo trong
hệ thống chính trị Từ đó, Học viện đã đưa ra một số giải pháp tiến hành đổi mới toàn diện, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới
- Về các luận văn, luận án
Lê Hanh Thông (2003), “Đổi mới giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp xã các tỉnh khu vực Nam Bộ”, Luận án
Tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Luận án
đã trình bày khái quát các vấn đề lý luận về GDLLCT, tiến hành khảo sát thực trạng GDLLCT cho cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp xã khu vực Nam Bộ, từ đó đưa ra hệ thống các giải pháp thiết thực, cụ thể nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng công tác GDLLCT cho đội ngũ này
Nguyễn Thị Hồng Lê (2004), "Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn hiện nay", Luận văn thạc sĩ Triết học Tác giả đã đưa ra một số giải pháp chủ
yếu nhằm nâng cao trình độ LLCT cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp
cơ sở; trên cơ sở làm rõ bản chất, đặc trưng, tầm quan trọng của việc nâng cao trình độ LLCT cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở và từ thực trạng trình độ LLCT cũng như công tác đào tạo nâng cao trình độ LLCT cho đội ngũ cán bộ này
Văn Đức Thanh (2010), “Vấn đề giáo dục lý luận chính trị cho học viên đào tạo sĩ quan kỹ thuật Học viện Kỹ thuật Quân sự hiện nay”, Luận văn
Thạc sĩ Triết học, Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên LLCT, Đại học Quốc gia Hà Nội Phân tích tầm quan trọng và những khía cạnh bản chất trong
Trang 16GDLLCT cho học viên đào tạo sĩ quan kỹ thuật Học viện Kỹ thuật quân sự Đánh giá thực trạng chất lượng, hiệu quả GDLLCT của học viên đào tạo sĩ quan
kỹ thuật Phân tích những nhân tố tác động và yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả GDLLCT cho học viên đào tạo sĩ quan kỹ thuật Học viện Kỹ thuật quân sự hiện nay Đề xuất một số giải pháp về nâng cao chất lượng, hiệu quả GDLLCT cho học viên đào tạo sĩ quan kỹ thuật Học viện Kỹ thuật quân sự
Lê Quỳnh Mai (2012), “Nâng cao chất lượng giáo dục lí luận chính trị ở trường Chính trị tỉnh Bắc Giang dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh”, Luận
văn Thạc sĩ Khoa học Chính trị, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Nghiên cứu nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về GDLLCT Phân tích, đánh giá thực trạng GDLLCT ở trường Chính trị tỉnh Bắc Giang trong những năm 2006 –
2010 Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng GDLLCT ở trường Chính trị tỉnh Bắc Giang trong thời kỳ hiện nay
Lê Thị Thanh Nhàn (2018), “Nâng cao hiệu quả giáo dục lý luận chính trị của trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ Chính trị học, Học viện Khoa học xã hội Luận văn
nêu lên một số vấn đề lý luận về GDLLCT Từ đó, đưa ra thực trạng GDLLCT của Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam
và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác GDLLCT trong thời gian tới
Nguyễn Thị Thương (2018), “Nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị cho học viên trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sĩ Hồ Chí Minh học, Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn Tác giả đưa ra vị trí, vai trò, nội dung và phương pháp GDLLCT trong công an nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Từ những đặc điểm và yêu cầu GDLLCT cho học viên trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I đã làm rõ thực trạng GDLLCT tiếp cận từ tư tưởng Hồ Chí Minh Đồng thời, nhận thấy những vấn đề đặt ra đối với công tác GDLLCT
Trang 17tại Trường Đề xuất phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng GDLLCT cho học viên trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I
Trương Văn Bắc (2020), “Giáo dục lý luận chính trị trong các trường
sĩ quan binh chủng hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Luận án tiến sĩ Hồ
Chí Minh học, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận án nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về GDLLCT và thực trạng GDLLCT trong các trường sĩ quan binh chủng trong Quân đội nhân dân Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh Từ đó, xác định yêu cầu và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng GDLLCT trong các trường sĩ quan binh chủng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
- Về các bài đăng tạp chí
Mạch Quang Thắng (2009), “Phương pháp đào tạo bồi dưỡng cán bộ lý
luận chính trị theo quan điểm Hồ Chí Minh”, Tạp chí Tuyên giáo, số 11 Bài
viết được tác giả đánh giá sự đóng góp to lớn của công tác lý luận trên những
vấn đề: Khẳng định sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin; nêu cao tư tưởng Hồ
Chí Minh; xây dựng đội ngũ cán bộ lý luận Trên cơ sở những kết quả và một
số vấn đề đặt ra Bài viết đưa ra một số giải pháp: Kiên trì với chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhưng không giáo điều, mà cần vận dụng sáng
tạo và phát triển trong điều kiện mới; đầu tư các nguồn lực nhiều hơn nữa cho việc nghiên cứu, khảo sát thực tế, tổng kết thực tiễn để đúc rút những vấn đề
lý luận và chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận
PGS.TS Nguyễn Duy Bắc (2019), “Xây dựng đội ngũ cán bộ Học viện
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 9 Bài viết
đã nêu lên thành tựu của Học viện trải qua 70 năm xây dựng và trưởng thành của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và những một số hạn chế, bất cập trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thời kỳ mới Từ đó, Học viện đã đưa ra một số giải pháp toàn diện và đồng bộ để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao
PGS.TS Hoàng Anh – PGS.TS Phạm Thị Túy (2019), “Công tác quản
Trang 18lý đào tạo ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh giai đoạn 2014 –
2019”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 9 Bài viết cho thấy những đổi mới và kết
quả chủ yếu của giai đoạn 2014 – 2019 Trong công tác quản lý đào tạo, không chỉ đổi mới nội dung, chương trình đào tạo mà còn tiếp tục tăng cường đổi mới phương pháp dạy – học theo hướng tăng cường tương tác, phát huy tính chủ động cho người học; trong quá trình lên lớp, tổ chức thi và đánh giá Với những nỗ lực giai đoạn vừa qua, Học viện đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Bên cạnh đó cũng có những hạn chế, bất cập cần được khắc phục Từ đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản
lý đào tạo tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh trong thời gian tới
Những công trình nghiên cứu trên đã khái quát một cách căn bản những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về GDLLCT và sự vận dụng
tư tưởng Hồ Chí Minh về GDLLCT trong công tác GDLLCT hiện nay Đây là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cho quá trình thực hiện luận văn thạc sỹ của tác giả
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống
về công tác GDLLCT theo tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và công tác giáo dục, đào tạo LLCT nói riêng ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về GDLLCT và vận dụng vào nâng cao hiệu quả công tác GDLLCT cho học viên tại Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết một số nhiệm
vụ sau:
- Làm rõ một số khái niệm và phân tích nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về GDLLCT
Trang 19- Đánh giá thành tựu và hạn chế trong công tác GDLLCT tại Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác GDLLCT tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
4 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục LLCT
- Công tác GDLLCT tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh theo tư tưởng Hồ Chí Minh
- Về thời gian: Từ năm 2016 đến năm 2021
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về GDLLCT
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, phương pháp luận của Hồ Chí Minh Đồng thời, đề tài sử dụng các phương pháp khác nhau như: phương pháp logic – lịch
sử, phương pháp phân tích – tổng hợp, thống kê số liệu báo cáo…
6 Đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hóa tư liệu tư tưởng Hồ Chí Minh về GDLLCT
- Làm rõ hơn nữa những thành tựu của Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh trong công tác GDLLCT
Trang 20- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác GDLLCT tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7.1 Ý nghĩa lý luận
- Luận văn góp phần khẳng định tính sâu sắc và toàn diện về nội dung
và giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh về GDLLCT
- Cung cấp những cơ sở lý luận khoa học để vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về GDLLCT nhằm nâng cao hiệu quả công tác GDLLCT tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu và giảng dạy các môn lý luận chính trị tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, các trường cao đẳng, đại học, các trường chính trị các tỉnh
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có
2 chương, 5 tiết
Trang 21Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1 Khái niệm “Giáo dục”
Trong Từ điển tiếng Việt, “giáo dục” là động từ dùng để chỉ: “Hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra (giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục lao động…)” Còn “giáo dục” là danh từ dùng để chỉ: “Hệ thống các biện pháp và cơ quan giáo dục – giáo dục của một nước (nền giáo dục, ngành giáo dục…)” [16, tr.394]
Từ góc độ giáo dục học, PGS.TS Phạm Việt Vượng đã xác định: về bản chất, giáo dục là quá trình truyền đạt và tiếp thu những kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người; về hoạt động giáo dục là một quá trình tác động đến đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất, nhân cách
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, giáo dục là “bồi dưỡng thế hệ công dân, cán bộ sau này… phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, đào tạo lớp người, lớp cán bộ mới” [33, tr.344]; hoặc “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng… Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân ta” [38, tr.508],…Tuy không đưa ra khái niệm cụ thể của
“giáo dục”, song Hồ Chí Minh thiên về nghĩa rộng của thuật ngữ này, thể hiện tính mục đích và tính định hướng chính trị rất rõ đối với hoạt động giáo dục –
Có nghĩa là thiên về GDLLCT
Như vậy: Giáo dục là một hình thức học tập sử dụng những tri thức, kỹ năng của hệ thống giáo dục tác động lên người học nhằm hình thành nhân cách theo yêu cầu nhất định của xã hội
Trang 221.1.2 Khái niệm “Lý luận”
Lý luận là hình ảnh chủ quan của những nguyên lý, quy luật khách quan trong thực tiễn đời sống “Lý luận” đã được đề cập đến trong nhiều loại
từ điển khác nhau như: Từ điển tiếng Việt: “Lý luận là tổng kết có hệ thống những kinh nghiệm của cả loài người phát sinh từ thực tiễn để chi phối và cải tạo thực tiễn” [52]; Từ điển triết học: “Lý luận là tổng hợp các tri thức tự nhiên và xã hội tích lũy được trong quá trình lịch sử, là hệ thống tư tưởng chủ đạo trong một lĩnh vực tri thức” [56; 62] Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế Đó là lý luận chân chính” [29, tr.273]
Một cách định nghĩa khác được Hồ Chí Minh nêu trong Diễn văn khai mạc lớp học lý luận khóa I Trường Nguyễn Ái Quốc (7 – 9 – 1957): “Lý luận
là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức
về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” [35, tr.96] Lý luận Mác – Lênin, theo Người là “Khoa học về các quy luật phát triển của tự nhiên
và xã hội; khoa học về cách mạng của quần chúng bị áp bức và bị bóc lột; khoa học về thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở tất cả các nước; khoa học về xây dựng chủ nghĩa cộng sản” (Xtalin)” [35, tr.96]
Từ các khái niệm nêu trên, tác giả cho rằng: Lý luận là hệ thống các quan điểm phản ánh nhận thức về thế giới xung quanh Nó được khái quát thông qua các khái niệm, mối liên hệ cơ bản, quy luật được khái quát từ thực tiễn của con người trong quá trình lịch sử cũng như quy luật vận động của sự vật, hiện tượng
1.1.3 Khái niệm “Chính trị”
Trong Từ điển Triết học giản yếu của Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học
và Trung học chuyên nghiệp, năm 1987 viết: Chính trị là lĩnh vực hoạt động
Trang 23gắn liền với mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc và tập đoàn xã hội khác nhau, mà hạt nhân là vấn đề giành, giữ và sử dụng chính quyền nhà
nước…[8]
Từ điển Tiếng việt của Trung tâm Từ điển học Việt Nam, Nhà xuất bản
Khoa học xã hội, năm 1994, nêu rõ: Chính trị là những vấn đề thuộc về tổ chức điều khiển bộ máy nhà nước trong nội bộ một nước và mối quan hệ quốc
tế về mặt nhà nước giữa các nước với nhau…[15]
Những quan niệm trên đã nêu lên bản chất chính trị là tính giai cấp, mối quan hệ và mục tiêu của các giai cấp, các lực lượng chính trị trong việc giành quyền điều khiển nhà nước Để đánh giá sự tiến bộ của xã hội thông qua việc thực hiện dân chủ mà dân chủ cao nhất, đầy đủ nhất, triệt để nhất là quyền làm chủ của nhân dân đối vói nhà nước V.I.Lênin cho rằng, chính trị là sự tham gia của nhân dân vào công việc nhà nước; “… chính trị phải là việc của nhân dân, việc của giai cấp vô sản” [14, tr.482] Khi xem xét nguồn gốc, bản chất chính trị về mặt lợi ích, V.I.Lênin viết: Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế…
Khi tiếp cận chính trị với tư cách hình thức hoạt động nhằm duy trì quyền lực chính trị có thể thấy: chính trị là những hoạt động tổ chức, điều hành, quan hệ của bộ máy của đảng, của nhà nước Vì vậy chính trị có thể hiểu là những hoạt động của một số cá nhân, một giai cấp, một chính đảng, một tập đoàn xã hội nhằm giành hoặc duy trì quyền điều hành bộ máy nhà nước, giành quyền lực chính trị
Quyền lực chính trị được thể hiện bằng việc tổ chức ra nhà nước để thống trị xã hội theo quan điểm của một giai cấp nhất định, nhằm bảo vệ quyền lợi cho giai cấp, mà quyền lợi đó biểu hiện tập trung đầy đủ nhất là lợi ích kinh tế Tùy theo tính chất, đặc điểm và sự tiến bộ của giai cấp thực hiện cuộc đấu tranh cách mạng mà nền dân chủ được thực hiện sâu sắc và triệt để đến mức độ như thế nào đối với toàn xã hội Mức độ và sự tiến bộ đó thể hiện
Trang 24bằng sự tham gia của quần chúng nhân dân vào việc thực thi quyền lực của nhà nước, giành quyền lực chính trị
Mặt khác khi tiếp cận chính trị với tư cách là những hoạt động giành và giữ chính quyền, hoạt động chính trị có những dạng sau: hoạt động của một tổ chức, một đảng của giai cấp nhằm hình thành quan điểm, đường lối để giành
và giữ chính quyền; những hoạt động tổ chức thực hiện – hiện thực hóa quan điểm đường lối; những hoạt động nhằm nâng cao tính tự giác của quần chúng
để nhận thức đường lối, quan điểm của Đảng
Như vậy, có thể thấy, chính trị là vấn đề đa dạng, phức tạp, nhiều mối quan hệ, nhiều lĩnh vực nghiên cứu, xem xét và sử dụng theo mục đích, yêu cầu riêng của từng môn khoa học Song, điều quan trọng của tất cả những vấn đề liên quan đến chính trị, thực hiện được mục đích của chính trị, tức là giành được quyền lực chính trị của giai cấp này hoặc giai cấp khác đối với toàn bộ xã hội
Từ đó, có thể hiểu chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các cộng đồng xã hội trong vấn đề chính quyền nhà nước; là sự tham gia của nhân dân vào các công việc của nhà nước; là tổng hợp những phương thức, phương pháp, những hoạt động thực tiễn của các giai cấp, các đảng phái để giành, giữ
và điều khiển hoạt động của nhà nước nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp mình
Để đạt được mục đích đó đòi hỏi các giai cấp phải tiến hành công tác giáo dục nhằm nâng cao giác ngộ chính trị cho quần chúng nhận thức đầy đủ về mục đích, đường lối, nhiệm vụ của cách mạng, từ đó, tổ chức quần chúng thực hiện đường lối và những nhiệm vụ nhất định theo yêu cầu nhiệm vụ của mỗi giai đoạn cách mạng Điều đó có nghĩa là làm cho hệ tư tưởng chính trị của giai cấp thống trị giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội, nhằm duy trì và bảo vệ chế độ kinh tế hiện đang tồn tại Hoặc ngược lại, nó hướng dẫn cuộc đấu tranh để xóa bỏ cái trật tự thống trị xã hội đang có nhưng đã lỗi
Trang 25thời, kìm hãm sự phát triển của lịch sử và cùng với nó là xóa bỏ tình trạng kinh tế tương ứng nhằm giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp
Qua thực tiễn của Việt Nam, ở đây tác giả tiếp cận đến chính trị với tư cách
là những hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam – đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động – nhằm giác ngộ, nâng cao nhận thức cho quần chúng nhân dân, trong đó sinh viên là lực lượng quan trọng của cách mạng, của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
1.1.4 Khái niệm “Giáo dục lý luận chính trị”
Ban Tuyên giáo Trung ương cho rằng: “GDLLCT là quá trình phổ biến, truyền bá một cách cơ bản, có hệ thống nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và nhân dân… nâng cao nhận thức lý luận” [2, tr.8] Từ đây, có thể hiểu GDLLCT là hoạt động có chủ đích của Đảng nhằm xác lập thế giới quan khoa học trên lập trường của giai cấp công nhân, là một phần quan trọng trong công tác tư tưởng lý luận của Đảng Quan điểm của một số tác giả khác cũng thống nhất cho rằng GDLLCT là quá trình đưa lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước vào quần chúng nhân dân bằng các phương tiện thích hợp Từ
đó, trang bị thế giới quan khoa học, phương pháp luận biện chứng; tạo nên niềm tin vào sức mạnh của sự nghiệp cách mạng và nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân
Theo PGS.TS Đào Duy Quát thì GDLLCT là việc truyền bá những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân Đó là quá trình tác động vào đối tượng giáo dục bằng cách trình bày, giải thích một cách khoa học những khái niệm, những quan điểm nhằm làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức đúng đắn những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ
Trang 26nghĩa xã hội, nhất trí cao với đường lối, quan điểm của Đảng, nâng cao phẩm chất cách mạng và năng lực hoạt động thực tiễn của họ, hướng dẫn họ vận dụng những hiểu biết ấy vào cuộc sống [55, tr.38]
Xem GDLLCT là một quá trình đồng thời diễn ra hoạt động truyền bá
và tiếp thu LLCT, giáo trình Nguyên lý công tác tư tưởng của Khoa Tuyên truyền, Học viện Báo chí và Tuyên truyền đưa ra khái niệm như sau:
“GDLLCT là quá trình truyền bá và tiếp thu những nguyên lý lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân” [69, tr.99]
Theo Hồ Chí Minh, GDLLCT là quá trình tác động vào đối tượng bằng cách trình bày, giải thích một cách khoa học những khái niệm, những quy luật, những quan điểm,… nhằm làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng
nắm được những kiến thức về chủ nghĩa Mác – Lênin, về đường lối, chính
sách của Đảng, nâng cao phẩm chất cách mạng và năng lực hoạt động thực tiễn của họ, hướng dẫn họ vận động những hiểu biết ấy vào cuộc sống [29, tr.169] Như vậy, với Hồ Chí Minh, công tác GDLLCT là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng của Đảng; là hoạt động có chủ đích của Đảng Cộng sản nhằm xác lập thế giới quan khoa học trên cơ sở hệ tư tưởng, lập trường của giai cấp công nhân, đó là chủ nghĩa Mác – Lênin
Tuy nhiên, các quan niệm trên thường thiên về mặt “chính trị” nhiều hơn mà ít đề cập đến tính “lý luận”, nên còn thể hiện tính xuôi chiều, áp đặt quan điểm của người dạy cho người học khá cứng nhắc Những quan niệm trên vẫn còn thể hiện tính phiến diện, một chiều, thiếu sự tác động qua lại giữa chủ thể - đối tượng, cho nên chưa phản ánh được vị trí của giảng viên là
“chủ đạo” và vị trí của học viên là “trung tâm”, dẫn tới chưa phát huy được hết khả năng của cả người dạy và người học trong hoạt động GDLLCT ở giai đoạn hiện nay
Trang 27Như vậy, có thể hiểu: GDLLCT là một hoạt động được thực hiện có tổ chức với nội dung, hình thức, phương pháp phù hợp của chủ thể lên đối tượng trong một môi trường nhất định, làm cho đối tượng nhận thức được những nội dung cơ bản về nền tảng tư tưởng lý luận theo mục đích đã xác định
1.1.5 Khái niệm “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục lý luận chính trị”
Từ thực tiễn nhiều thập niên cùng Đảng ta làm công tác GDLLCT cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng ta tổ chức trường học lý luận cho cán bộ là để nâng cao trình độ lý luận của Đảng ta, đặng giải quyết sự đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng và tình hình thực tế của Đảng ta, để Đảng ta có thể làm tốt hơn công tác của mình, hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ cách mạng vĩ đại của mình” [11, tr.90] GDLLCT, theo Hồ Chí Minh: Là quá trình tác động vào đối tượng bằng cách trình bày, giải thích một cách khoa học những khái niệm, những quy luật, những quan điểm v.v nhằm làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nắm được những kiến thức về chủ nghĩa Mác – Lênin, về đường lối, chính sách của Đảng, nâng cao phẩm chất cách mạng và năng lực hoạt động thực tiễn của họ, hướng dẫn họ vận động những hiểu biết ấy vào cuộc sống [26, tr.169]
Như vậy, với Hồ Chí Minh, công tác GDLLCT là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng của Đảng; là hoạt động có chủ đích của Đảng Cộng sản nhằm xác lập thế giới quan khoa học trên cơ sở hệ tư tưởng, lập trường của giai cấp công nhân, đó là chủ nghĩa Mác – Lênin Ngày nay, công tác GDLLCT có thể hiểu theo nghĩa là công tác truyền bá những tri thức LLCT, những thông tin cần thiết về công tác xây dựng chính đảng của giai cấp; cụ thể hiện nay là: chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; định hướng các lĩnh vực khoa học và công nghệ, kinh tế, các thành tựu khoa học xã hội và nhân văn, các thông tin chính trị, xã hội và văn hoá Bên cạnh đó, công tác GDLLCT góp phần quan
Trang 28trọng vào việc nâng cao trình độ giác ngộ của quần chúng nhân dân, khơi dậy tinh thần kiên cường bất khuất, dũng cảm hy sinh chống áp bức, bóc lột giành độc lập tự do; là động lực thúc đẩy cán bộ, đảng viên và quần chúng hăng hái thi đua hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị cụ thể được Đảng và Nhà nước giao cho tiến tới giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người
Ngoài ra, công tác GDLLCT tác động trực tiếp đến tư tưởng, tình cảm, đạo đức và khả năng thực hành công việc của mỗi người trong thực tiễn cuộc sống, giúp họ khắc phục những tư tưởng lạc hậu, nâng cao trình độ chính trị, tinh thần tự giác và tính tích cực trong quá trình xây dựng xã hội mới Không những thế GDLLCT còn nhằm góp phần xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế Bồi dưỡng các giá trị văn hoá như: lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ đạo đức và bản lĩnh văn hoá con người Việt Nam
Hơn nữa, công tác GDLLCT không phải là một việc làm trừu tượng, một sự thuyết pháp, rao giảng chung chung mà là một công việc xuất phát từ thực tiễn cuộc đấu tranh giai cấp mang tính chiến đấu, tính tư tưởng, tính khoa học, tính giáo dục; nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn cách mạng cụ thể, nhất định
Do vậy, công tác GDLLCT phải được trình bày một cách khoa học, tâm
lý, nghệ thuật, rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thuyết phục, dễ phổ biến Từ nhận thức cán bộ là cái gốc của mọi công việc, là tiền vốn của Đoàn thể, Hồ Chí Minh quan niệm “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng” [29, tr.269] Người luôn quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ đông về số lượng, bảo đảm về chất lượng, đủ sức đảm bảo sứ mệnh lịch sử trong mọi giai đoạn cách mạng;
vì vậy, cần xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng và huấn luyện cán bộ
Theo Hồ Chí Minh, “Phải huấn và luyện Huấn là dạy dỗ, luyện là rèn giũa cho sạch những vết xấu xa trong đầu óc” [30, tr.49]; bao gồm: huấn
Trang 29luyện nghề nghiệp, huấn luyện chính trị, huấn luyện văn hoá và huấn luyện lý luận Trong đó, huấn luyện lý luận được Người đặt trên nền tảng của trình độ học vấn, trình độ chính trị và trình độ nghề nghiệp nhất định; đây là một điều kiện cần và đủ, vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc trong công tác GDLLCT Chính vì thế, Người kết luận:
- Ban Tuyên giáo Trung ương cần căn cứ vào trình độ khác nhau của đảng viên mà soạn ra các chương trình học tập, bảo đảm cho đảng viên ở cơ
sở có thể thường xuyên học tập
- Các cấp uỷ phải quan tâm hơn nữa đến việc giáo dục đảng viên Từ nay trở đi công tác giáo dục đảng viên phải là một điều quan trọng trong chương trình công tác của cấp uỷ Phải bồi dưỡng giảng viên lý luận cho các chi bộ
- Tất cả các đảng viên phải cố gắng học tập, coi việc học tập lý luận và chính trị là một nhiệm vụ quan trọng của mình [39, tr.95]
Với Hồ Chí Minh, cách mạng trước hết phải GDLLCT và đạo đức cách mạng thật tốt cho cán bộ, đảng viên “Có như thế mục đích mới đồng; mục đích có đồng, chí mới đồng; chí có đồng, tâm mới đồng; tâm đã đồng, lại phải biết cách làm thì làm mới chóng” [26, tr.261]
Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Tư tưởng Hồ Chí Minh về GDLLCT là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của GDLLCT Việt Nam từ vai trò, mục tiêu, nội dung đến nguyên tắc, phương pháp nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong cán bộ, đảng viên và nhân dân giúp hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học, bản lĩnh chính trị, niềm tin và năng lực hoạt động thực tiễn cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân đáp ứng yêu cầu của từng thời kỳ phát triển của đất nước
Trang 301.2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục lý luận chính trị
1.2.1 Vai trò giáo dục lý luận chính trị
Thực tiễn Thế giới và Việt Nam đã khẳng định chân lý mà V.I.Lênin đã
đề ra, đó là: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng” và “chỉ có một đảng có lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có thể làm tròn được vai trò chiến sĩ tiền phong” [35, tr.93] Theo Hồ Chí Minh, lý luận tiền phong đó chính là chủ nghĩa Mác – Lênin, một hệ tư tưởng khoa học, cách mạng và tiến bộ nhất của thời đại Nhờ lý luận đó mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra đời vào năm 1930, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cụ thể hóa thành bốn vai trò của GDLLCT như sau:
Một là, GDLLCT có vai trò nâng cao vốn lý luận của mỗi cán bộ, từ đó
mà nâng cao trình độ lý luận của Đảng để bản thân mỗi cán bộ hoàn thành tốt hơn công việc của mình và như thế toàn Đảng sẽ hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ của Đảng Nên để có được lực lượng hùng hậu nhằm giải quyết thắng lợi nhiệm vụ cao cả đó thì buộc họ phải thường xuyên học tập, tu dưỡng, rèn luyện về mọi mặt, sao cho xứng đáng là những người tiêu biểu, tiền phong, cách mạng nhất luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành trọng trách mà Hồ Chí Minh đã tin tưởng gửi gắm đó là vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân Hồ Chí Minh đã dạy: “Làm nghề gì cũng phải học, vậy làm cách mạng cũng phải học Nếu không giáo dục cho đảng viên làm cách mạng mà cứ yêu cầu họ làm cách mạng thì họ không làm tròn được nhiệm vụ” [11, tr.91] Hơn nữa, làm cách mạng cũng là một “nghề” đặc biệt ,
đó là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, hướng dẫn nhân dân làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới tốt đẹp, tiến bộ, văn minh hơn… nên lực lượng nòng cốt của sự nghiệp cách mạng càng phải học tập, tu dưỡng, rèn luyện một cách bài bản, hệ thống để vừa “hồng”, vừa “chuyên”, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công việc thực tiễn
Trang 31Hai là, GDLLCT là đòi hỏi, nhu cầu thiết yếu của thực tiễn để khắc
phục nhược điểm trình độ lý luận thấp kém của cán bộ, đảng viên Theo Hồ Chí Minh, Đảng ta có nhiều ưu điểm nhưng còn có nhiều nhược điểm mà
“một trong những nhược điểm lớn là trình độ lý luận còn thấp kém” và “vì trình độ lý luận thấp kém cho nên đứng trước nhiệm vụ cách mạng ngày càng mới và phức tạp, trong việc lãnh đạo, Đảng ta không khỏi lúng túng, không tránh khỏi sai lầm, khuyết điểm” [36, tr.492] Ngay tại trang đầu của tác phẩm Đường Kách mệnh, Người đã trích câu nói nổi tiếng của V.I.Lênin: “Không
có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động Chỉ có theo lý luận cách mệnh tiền phong, đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong” [26, tr.279], và tiếp đó Người đã khẳng định: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải làm theo chủ nghĩa ấy… Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” [26, tr.289]; Khẳng định rõ lập trường là “phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin” [26, tr.304] Trên cơ sở xác định rõ vị trí, tầm quan trọng của GDLLCT, Người khuyến cáo phải thường xuyên chống thói coi thường lý luận và xem nhẹ việc học tập lý luận, “Vì vậy, học tập chủ nghĩa, dùi mài tư tưởng, nâng cao lý luận, là những việc cần kíp của Đảng” [31, tr.33]
Ba là, GDLLCT giúp nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
Đảng cũng như mỗi cán bộ, đảng viên, hạn chế những mò mẫm, sai lầm trong thực tiễn Xuất phát từ thực tế nước ta chưa hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trong khi đó thế giới và trong nước đã biến đổi đòi hỏi chúng ta phải có những đường lối, phương châm, phương pháp đấu tranh cho thích hợp Điều đó đòi hỏi Đảng ta phải tự nâng cao mình lên nữa, mà muốn tự nâng cao mình thì phải tổ chức học tập lý luận trong toàn Đảng, trước hết là trong cán bộ cốt cán của Đảng Muốn đỡ bớt mò mẫm, muốn đỡ phạm sai lầm thì chúng ta phải tự nâng cao sự tu dưỡng về chủ nghĩa Mác-
Trang 32Lênin Như thế là phải học tập lý luận, phải nâng cao trình độ lý luận chung của Đảng, trước hết là của cán bộ cốt cán của Đảng
Bốn là, Hồ Chí Minh khẳng định GDLLCT có vai trò cực kỳ quan
trọng trong việc đấu tranh chống thói hư tật xấu, khắc phục chủ nghĩa cá nhân, cụ thể: 1) Để cung cấp hệ thống tri thức, lý luận khoa học và quan điểm, chủ trương, đường lối cách mạng của Đảng để xây dựng thế giới quan, phương pháp luận khoa học và mục tiêu, lý tưởng cho các lực lượng cách mạng 2) Giúp cho người học công cụ tư duy khoa học để nhận thức, nắm bắt được bản chất, tính tất yếu, tính quy luật vận động khách quan của lịch sử cách mạng Việt Nam; quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội, để định hướng nhận thức và hành động thực tiễn cho bản thân đúng đắn, hiệu quả, hạn chế và tránh vấp váp, sai lầm, mù quáng và thất bại 3) Góp phần xây dựng niềm tin; lý tưởng cách mạng; tính nhân văn, nhân đạo; tính đảng, tính cách mạng và khoa học cho các lực lượng liên quan
1.2.2 Mục đích giáo dục lý luận chính trị
Theo Hồ Chí Minh, mục đích của GDLLCT là làm cho người học hoàn thiện mình, để đào tạo những chiến sĩ cách mạng trung thành và sẵn sàng hy sinh cho Đảng, cho Tổ quốc và nhân dân Người khẳng định: “Việc học tập lý luận của các đồng chí không phải nhằm biến các đồng chí thành những người
lý luận suông, mà nhằm làm thế nào cho công tác của các đồng chí tốt hơn” [35, tr.95] Người đã cụ thể hóa mục đích của GDLLCT trên bốn nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, để sửa chữa tư tưởng Hồ Chí Minh cho rằng: “Hăng hái theo
cách mạng điều đó rất hay Nhưng tư tưởng chưa thật đúng là tư tưởng cách mạng, vì thế cần phải học tập để sửa chữa cho đúng Tư tưởng đúng thì hành động mới khỏi sai lạc và mới làm trọn nhiệm vụ cách mạng được” [30, tr.360] Từ đó, Người yêu cầu khi học cần xác định rõ “Phải tự nguyện, tự
Trang 33giác, xem công tác học tập cũng là một nhiệm vụ mà người cán bộ cách mạng phải hoàn thành cho được” [35, tr.98], để từ đó có thái độ “tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập, nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng, không lùi bước trước bất kỳ khó khăn nào trong việc học tập” [35, tr.98] Mỗi người khi học, phải giữ thái độ “khiêm tốn, thật thà Đào sâu suy nghĩ khi nghiên cứu các tác phẩm của Mác – Lênin, các bài giảng của các đồng chí giáo sư bạn, khiêm tốn học tập các đồng chí giáo sư bạn” [35, tr.98] Người nhấn mạnh
“cái gì biết thì nói biết, không biết thì nói không biết Kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập” [35, tr.98]
Thứ hai, để tu dưỡng đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh rất quan tâm
đến mối quan hệ giữa GDLLCT và giáo dục đạo đức, bởi có GDLLCT tốt mới củng cố được quan điểm lập trường, để tinh thần cách mạng càng triệt để Nói cách khác, đạo đức cách mạng là để phục vụ sự nghiệp cách mạng và ngược lại, sự nghiệp chính trị đó sẽ mang lại những giá trị đạo đức cao đẹp Ở Người giữa chính trị và đạo đức luôn có sự nhất quán, biểu hiện giữa nói và làm Hồ Chí Minh dạy rằng: “Có đạo đức cách mạng thì mới hy sinh tận tụy với cách mạng, mới lãnh đạo được quần chúng đưa cách mạng tới thắng lợi hoàn toàn” [30, tr.360]
Thứ ba, để tin tưởng Theo Hồ Chí Minh, niềm tin về các giá trị chân
chính sẽ kích thích con người hăng hái trong công việc Do vậy, cần tăng cường giáo dục ý thức tự hào và niềm tin nhằm đào tạo ra những thế hệ biết
“Học để làm việc, làm người, làm cán bộ Học để phụng sự Đoàn thể, phụng
sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại” [30, tr.208] Bởi vậy, mục đích của GDLLCT chính là để “tin tưởng vào Đoàn thể Tin tưởng vào nhân dân Tin tưởng vào tương lai của dân tộc Tin tưởng vào tương lai cách mạng Có tin tưởng thì lúc ra thực hành mới vững chắc, hăng hái, lúc
gặp khó khăn mới kiên quyết, hy sinh” [30, tr.360 - 361] Điều đó đã cho
thấy, Hồ Chí Minh đã xác định GDLLCT chính là để trang bị cho các lực
Trang 34lượng cách mạng niềm tin để họ trung thành khoa học với sự nghiệp đó
Thứ tư, để thực hành Việc trang bị LLCT sẽ giúp cho các lực lượng
cách mạng củng cố niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng của Đảng; giúp họ có được thế giới quan, phương pháp luận đúng đắn để giải quyết những vấn đề vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn cách mạng (đó là những tư tưởng phản động, lạc hậu, bảo thủ vốn là tàn tích của hệ tư tưởng cũ) Chính vì vậy, “mỗi cán bộ, mỗi đảng viên phải học lý luận, phải đem lý luận áp dụng vào công việc thực tế Phải chữa cái bệnh kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông”
[29, tr.274 - 275] Đồng thời, phải đảm bảo được mục đích cơ bản và cũng là
cuối cùng của GDLLCT là để thực hành, để giải quyết những vấn đề mà thực tiễn cách mạng và cuộc sống đặt ra Như vậy, có thể thấy mục đích GDLLCT là căn cứ quan trọng để Hồ Chí Minh xác định chính xác vị trí, vai trò của GDLLCT
Từ mục đích, vai trò của GDLLCT, Hồ Chí Minh đã xác định chính xác, cụ thể về thành phần tham gia GDLLCT
1.2.3 Các lực lượng tham gia giáo dục lý luận chính trị
1.2.3.1 Người giảng dạy, tuyên truyền
Sinh thời Hồ Chí Minh rất quan tâm đến những người giảng dạy, tuyên truyền, quản lý về LLCT, vì đây được coi là lực lượng “nòng cốt”, “hạt nhân”
có vai trò vô cùng quan trọng trong công tác GDLLCT Người cho rằng: phải lựa chọn rất kỹ lưỡng lực lượng tham gia giảng dạy LLCT, bởi “Không phải
ai cũng huấn luyện được Muốn huấn luyện thợ rèn, thợ nguội thì người huấn luyện phải thạo nghề rèn, nghề nguội” [29, tr.356] và vì thế mà “Người huấn luyện phải học thêm mãi thì mới làm được công việc huấn luyện của mình…” [29, tr.356] Theo quan điểm trên, có thể nhận thấy Hồ Chí Minh xác định những người tham gia giảng dạy, tuyên truyền về LLCT không phải chỉ những người trực tiếp làm nghề giáo, mà còn phải mở rộng ra rất nhiều thành phần khác như: những chuyên gia đầu ngành; những người làm công tác quản
Trang 35lý, lãnh đạo có uy tín trong các ngành, các lĩnh vực của xã hội, của cuộc sống… Như vậy, để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên nghiên cứu, giảng dạy LLCT, Hồ Chí Minh nêu ra những yêu cầu sau:
- Thứ nhất, không ngừng nâng cao kiến thức, trình độ
Điều kiện có ý nghĩa quyết định hiệu quả công tác GDLLCT là đội ngũ
và chất lượng giảng viên làm công tác đào tạo, bồi dưỡng Người đã nhắc nhở: “Phải lựa chọn rất cẩn thận những nhân viên phụ trách việc huấn luyện đó” Về vấn đề này, Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 26/5/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ lãnh đạo, quản lý chỉ rõ một nhiệm vụ, giải pháp quan trọng trong tình hình hiện nay là “Xây dựng đội ngũ giảng viên có chất lượng, có kiến thức chuyên sâu và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, có phương pháp giảng dạy phù hợp và tâm huyết với nghề”
Thực vậy, muốn nâng cao chất lượng GDLLCT, trước tiên người giảng viên phải nắm vững kiến thức, xác định đúng nội dung trọng tâm, trọng điểm; có như vậy mới khắc phục được tình trạng phiến diện, nhìn nhận vấn đề một cách hời hợt Đồng thời, giảng viên cần hiểu rõ và nắm chắc khả năng nhận thức của người học, nhu cầu kiến thức với chức trách,
vị trí công tác mà họ đang đảm nhiệm
Do nhiệm vụ của mình là giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho đội ngũ cán bộ, công chức đang làm việc trong các cơ quan nhà nước nên một yêu cầu quan trọng là người giảng viên phải không ngừng học tập, có thái độ cầu thị, ham học hỏi để làm giàu trí tuệ của mình Nếu không bổ sung cho mình kiến thức mới thì những lý luận đưa ra sẽ trở nên lạc hậu, xơ cứng, không phản ánh thực tiễn sinh động, làm cho việc dạy và học không có hiệu quả Việc trau dồi thêm kiến thức có thể qua sách vở, tài liệu, qua trao đổi với đồng nghiệp, đặc biệt là những kinh nghiệm quý báu, phong phú của quần chúng, của cán bộ, đảng viên ở từng địa phương
Trang 36- Thứ hai, giảng dạy phải gắn lý luận với thực tế
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết: “Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn) Thực hành cũng như cái đích để bắn Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên” Bởi vậy trong quá trình giảng dạy phải gắn lý luận với thực tế, làm phong phú lý luận bằng những kết luận mới rút ra từ thực tiễn cuộc sống
Người giảng phải biết kết hợp chặt chẽ giữa chủ trương chính sách của Đảng với tình hình thực tế Có như thế, giảng dạy lý luận mới sinh động, tránh khỏi khô khan, lý luận suông Trong quá trình giảng dạy phải chỉ cho người học cả kỹ năng tiếp cận và phương pháp thực hành để vận dụng lý luận đó vào cuộc sống và thực tế công tác của họ Trong những giờ giảng, nên tăng cường đưa ra những tình huống thực tế có thể phát sinh trong quá trình công tác của học viên để cùng trao đổi, thảo luận giải quyết sao cho
“thấu tình, đạt lý” Một mặt, việc cùng trao đổi sẽ kích thích tư duy của học viên Mặt khác, lý thuyết gắn liền với thực tế sẽ giúp học viên nhớ lâu, có thể ứng dụng vào thực tiễn công tác của mình
- Thứ ba, khơi dậy tính tích cực của người học, tổng kết những kinh nghiệm thực tế từ người học
Giảng viên là người truyền đạt kiến thức, định hướng thông tin cho người học do đó người giảng viên phải có sự đầu tư và chuẩn bị thật chu đáo
từ khâu soạn giáo án, thực hiện bài giảng, xêmina, phải không ngừng cập nhật, bổ sung kiến thức về lý luận cũng như thực tiễn để bài giảng sinh động
và có sức thuyết phục Đồng thời trong khi giảng dạy phải khơi dậy tính tích cực của người học, cùng trao đổi những kinh nghiệm công tác, từ đó gom lại thành bài học quý Học viên công tác ở các lĩnh vực khác nhau đều có những bài học kinh nghiệm bổ ích, nếu cùng đưa ra trao đổi sẽ tìm ra cách giải quyết hợp lý, là “cẩm nang quý báu” cho các đồng chí khác Tạo sự thu hút cho học viên trong giờ học là vô cùng quan trọng, bởi lẽ nó sẽ giải quyết
Trang 37được tình trạng học viên thụ động, đến lớp chỉ “ghi, chép” mà không tư duy, động não Người giảng có vai trò định hướng kiến thức, học viên cùng tham gia
để làm sáng tỏ, hiểu sâu, hiểu kỹ vấn đề; như vậy người thầy cũng có thể lĩnh hội thêm nhiều kiến thức mới, người học hào hứng với những vấn đề đặt ra
1.2.3.2 Người học
Hồ Chí Minh cũng yêu cầu muốn học LLCT tốt thì người học phải có một trình độ văn hoá nhất định Điều đó rất hợp lý, bởi chủ nghĩa Mác – Lênin (nội dung chủ yếu của GDLLCT) là một môn khoa học, muốn nắm vững cần phải có trình độ và khả năng nhất định; hơn nữa, vì học lý luận là để vận dụng vào thực tiễn Cho nên có “nắm vững vấn đề, thảo luận kỹ lưỡng, nhận thức thấu suốt” mới có thể “truyền đạt chu đáo cho toàn thể cán bộ và đảng viên” được [33, tr.488] nên Người coi cán bộ như tiền vốn của Đảng,
“Có vốn mới làm ra lãi Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn”[30, tr.356] và vì vậy, việc huấn luyện cán bộ phải được coi là nhiệm vụ cơ bản của Đảng Vì vậy, người học cần phải xác định cho mình những nguyên tắc trong việc học tập để đạt được kết quả nhất định:
- Thứ nhất, xác định đúng động cơ, mục đích học tập Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã giúp mỗi người chúng ta xác định rõ mục đích của việc học tập: “Học
để làm việc, làm người, làm cán bộ Học để phụng sự Đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại” [29, tr.208] Người nhắc nhở: “Tất cả những động cơ học tập không đúng đắn đều phải tẩy trừ cho sạch” [39, tr.116]
- Thứ hai, chủ động, tích cực trong học tập, có phương pháp học tập đúng Hồ Chí Minh đề cao vấn đề tự học trong công tác GDLLCT Người học phải biết tự động học tập, người học phải chú ý học “tinh thần của chủ nghĩa Mác – Lênin, học lập trường, quan điểm và phương pháp”, tránh “học để thuộc lòng từng câu từng chữ”, rơi vào chủ nghĩa giáo điều, kinh viện
Để việc học tập đạt hiệu quả, học viên phải tìm hiểu kỹ nội dung thông
Trang 38qua giáo trình, tài liệu tham khảo có liên quan Khi đọc tài liệu phải đào sâu hiểu kỹ, chủ động tham khảo ý kiến giảng viên khi gặp vấn đề chưa hiểu rõ Trong quá trình trao đổi trên lớp, học viên tích cực đóng góp ý kiến xây dựng, chia sẻ kinh nghiệm để làm sáng tỏ vấn đề, thông qua đó cũng làm giàu thêm tri thức cho các đồng chí trong lớp
1.2.4 Nội dung chương trình giáo dục lý luận chính trị
1.2.4.1 Giáo dục lý luận Mác - Lênin
Để thực hiện mục đích GDLLCT, nội dung GDLLCT cho cán bộ là mối quan tâm thường xuyên của Hồ Chí Minh Trong nhiều bài nói, bài viết Người đề cập khá nhiều vấn đề xác định nội dung GDLLCT cho cán bộ, như giáo dục những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, công tác xây dựng Đảng, đường lối, quan điểm của Đảng, chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước, đạo đức cách mạng, những kinh nghiệm của các nước và tình hình thế giới… tư tưởng cơ bản xuyên suốt của Người về nội dung GDLLCT cho cán bộ ở 3 nội dung lớn, và nội dung đầu tiên giáo dục những nguyên lý chủ nghĩa Mác – Lênin cho cán bộ, đảng viên Người đã sớm xác định được vai trò quan trọng của chủ nghĩa Mác – Lênin đối với cách mạng Việt Nam Ngay
từ những năm đầu thế kỷ XX, đánh giá về vị trí của chủ nghĩa Mác – Lênin trong số các lý luận, các chủ nghĩa đang lan truyền ở đầu thế kỷ, Hồ Chí Minh viết: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” [26, tr 268] Là chủ nghĩa chân chính nhất, vì chủ nghĩa Mác – Lênin là thế giới quan và phương pháp luận khoa học của giai cấp công nhân và các lực lượng cách mạng trong thời đại Là chủ nghĩa chắc chắn nhất, vì chủ nghĩa Mác – Lênin là cẩm nang thần kỳ của tất cả các dân tộc bị áp bức và bóc lột đi tới thoát khỏi ách áp bức giai cấp, áp bức dân tộc Là chủ nghĩa cách mạng nhất, vì chủ nghĩa Mác – Lênin đấu tranh nhằm mục tiêu giải phóng triệt để giai cấp vô sản, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới khỏi bóc lột, áp bức, có
Trang 39cuộc sống ấm no, hạnh phúc Do đó chủ nghĩa Mác – Lênin có vai trò to lớn
và quan trọng, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Không có lý luận cách mệnh, thì không
có cách mệnh vận động…chỉ có theo lý luận cách mệnh tiền phong, Đảng
cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong” [26, tr 258]
Thấm nhuần chủ nghĩa Mác – Lênin trong việc xác định rõ mục tiêu của cách mạng vô sản là độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh
đã cùng Đảng Cộng sản Việt Nam áp dụng những nguyên lý phổ biến đó vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam ngay từ buổi đầu thành lập Sự đúng đắn của con đường này là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong mấy thập kỷ qua Đối với Hồ Chí Minh, một quan điểm xuyên suốt nhất quán là cách mạng trước hết phải làm cho dân giác ngộ, phải giảng giải cho mọi người hiểu được chủ nghĩa Mác – Lênin, hiểu được đường lối chính sách của Đảng Cho nên nói về công tác học tập và huấn luyện lý luận cho cán bộ, Người đã đặt câu hỏi: Huấn luyện gì? Và câu trả lời là huấn luyện lý luận Mác – Lênin: “Phải dạy lý luận Mác – Lênin cho mọi người” [30, tr.46], tài liệu để huấn luyện “trước hết phải lấy những tài liệu về chủ nghĩa Mác – Lênin làm gốc” [30, tr.49]
Theo Người, mọi cán bộ, đảng viên “phải ra sức học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, củng cố lập trường của giai cấp vô sản, cố gắng nắm vững những quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam; phải luôn luôn nâng cao đạo đức cách mạng, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, bồi dưỡng chủ nghĩa tập thể của giai cấp vô sản” [34, tr.21] Hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin còn để phụng sự cho cách mạng, cho tổ quốc và nhân dân, nếu không hết lòng, hết sức phụng sự nhân dân, tự kiêu, tự đại, tự tư, tự lợi, như thế là trái với chủ nghĩa Mác – Lênin Người đã nêu cách hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin như sau: “Theo Người, hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin tức là cách mạng phân công cho việc gì, là chủ tịch nước hay nấu ăn, đều phải làm tròn nhiệm vụ Không nên đào tạo ra những con người thuộc sách làu làu, cụ Mác nói thế
Trang 40này, cụ Lênin nói thế kia, nhưng nhiệm vụ của mình được giao quét nhà lại để cho nhà đầy rác” [20, tr.192] Hồ Chí Minh cũng đã nhiều lần nghiêm khắc phê phán thái độ lười, ngại học tập lý luận hoặc học không đến nơi đến chốn của một số cán bộ rồi rút cuộc là không hiểu gì về lý luận, không hiểu gì về chủ nghĩa Mác – Lênin Nhiều lần Người lấy ví dụ để chứng minh: “Có một lần đi dự hội nghị về, Người gặp một đoàn thanh niên và phụ nữ thôn quê ngồi nghỉ ở một đầu dốc Người hỏi họ đi đâu, thì họ bảo là đi dự lớp huấn luyện về…Người hỏi:
“Học có vui không?
Vui lắm Thế học những gì?
Các Mác Học thế rồi có biết gì không?
Hồ Chí Minh chỉ rõ “có học tập lý luận Mác – Lênin mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao sự hiểu biết và trình độ chính trị, mới làm được tốt công tác Đảng giao phó cho mình” [33, tr 292]
Chủ nghĩa Mác – Lênin còn là lý trí, là tình cảm nữa: “Hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin được” [36, tr.554]
Vì nhiệm vụ cách mạng mà mỗi cán bộ phải không ngừng học tập nâng cao trình độ kiến thức về mọi mặt, thường xuyên học tập nâng cao trình độ lý