1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác phát triển đảng viên là chức sắc, chức việc, nhà tu hành phật giáo ở việt nam hiện nay

100 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công tác phát triển đảng viên là chức sắc, chức việc, nhà tu hành phật giáo ở việt nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Tiến Cường
Người hướng dẫn PGS.TS. Trương Ngọc Nam
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, công tác phát triển đảng viên trong tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam vẫn còn nhiều khuyết điểm yếu kém như: nhiều cấp uỷ, tổ chức đảng còn chưa thực sự quan tâm đến việc tạ

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

HÀ NỘI - 2021

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Trương Ngọc Nam

HÀ NỘI - 2021

Trang 3

Luận văn đã được sửa chữa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm Luận văn thạc sĩ tại Quyết định số 4760-QĐ/HVBCTT-ĐT ngày 12 tháng 10 năm

2021 của Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền./

Hà Nội, ngày 14 tháng 12 năm 2021

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS, TS Phạm Minh Sơn

Trang 4

được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trương Ngọc Nam Các tài

liệu trong luận văn hoàn toàn đáng tin cậy và chưa từng được công bố trong công trình nào

Hà Nội, ngày … tháng 10 năm 2021

Tác giả luận văn

Nguyễn Tiến Cường

Trang 5

LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, em xin gửi đến PGS.TS Trương Ngọc Nam, người đã tận

tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài luận văn tốt nghiệp này

Em xin bày tỏ lòng biết on chân thành đến các quý thầy, cô trong Khoa Xây dựng Đảng, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Viện nghiên cứu Tôn giáo - Học viện Chính trị quốc gia HCM, Ban Tôn giáo Chính phủ, Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, các quý Tăng – Ni và gia đình, bè bạn đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình nghiên cứu

Mặc dù đã dành nhiều thời gian, công sức và cố gắng rất nhiều, nhưng do khả năng của bản thân còn hạn chế, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn tốt nghiệp của em không tránh khỏi các thiếu sót Kính mong các quý thầy, cô góp ý, chỉ bảo để em được tiến bộ và trưởng thành hơn về chuyên môn cũng như về công tác nghiên cứu khoa học

Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2021

Tác giả luận văn

Nguyễn Tiến Cường

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG VIÊN LÀ CHỨC SẮC, CHỨC VIỆC, NHÀ TU HÀNH PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 14

1.1 Quan niệm, vai trò, đặc điểm 14

1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 28

1.3 Nội dung, phương châm, quy trình 30

Chương 2: CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG VIÊN LÀ CHỨC SẮC, CHỨC VIỆC, NHÀ TU HÀNH PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM 40

2.1 Những yếu tố tác động đến công tác phát triển đảng viên là chức sắc, chức việc, nhà tu hành Phật giáo 41

2.2 Thực trạng công tác phát triển đảng viên là chức sắc, chức việc, nhà tu hành Phật giáo ở Việt Nam 45

2.3 Nguyên nhân và kinh nghiệm của công tác phát triển đảng viên là chức sắc, chức việc, nhà tu hành Phật giáo ở Việt Nam 58

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG VIÊN LÀ CHỨC SẮC, CHỨC VIỆC, NHÀ TU HÀNH PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM THỜI GIAN TỚI 70

3.1 Dự báo thuận lợi, khó khăn, thách thức và mục tiêu, phương hướng tăng cường công tác phát triển đảng viên là chức sắc, chức việc, nhà tu hành Phật giáo ở Việt Nam 70

3.2 Những giải pháp chủ yếu tăng cường công tác phát triển đảng viên trong tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam thời gian tới 77

KẾT LUẬN 82

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

PHỤ LỤC 88

TÓM TẮT LUẬN VĂN 92

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Kết quả khảo sát về việc quan tâm tới tổ chức đảng của các nhà tu

hành 51 Bảng 2.2: Kết quả khảo sát về việc các nhà tu hành Phật giáo nhận thức, chấp

hành chủ trương, chính sách pháp luật về việc kết nạp đảng trong Phật giáo 52 Bảng 2.3: Kết quả khảo sát nguyện vọng của các nhà tu hành Phật giáo về việc

kết nạp đảng trong Phật giáo 53 Bảng 2.4: Kết quả khảo sát về thủ tục kết nạp và nơi sinh hoạt đảng của các nhà

tu hành Phật giáo 54 Bảng 2.5: Kết quả khảo sát mức độ hiểu biết của các nhà tu hành về Đảng và

những người được kết nạp đảng trong Phật giáo 56

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Tỷ lệ đảng viên là người có đạo 46 Hình 2.2 – Số lượng đảng viên là CSCVNTH Phật giáo ở Việt Nam 47

Trang 9

Một trong những nội dung xây dựng lực lượng nòng cốt của Nhà nước trong các tố chức tôn giáo là việc phát triển đảng viên trong đồng bào các tôn giáo nói chung và công tác phát triển đảng viên với các chức sắc, chức việc, nhà tu hành00 nói riêng Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến

và Đảng ta đã có các chủ trương, các quy định, hướng dẫn cụ thế, tuy nhiên, cho đến nay, việc thực hiện còn bộc lộ những hạn chế, bất cập như: bên cạnh yếu tố chủ quan từ chính giáo hội và việc làm của một số chức sẳc, tín đồ các tôn giáo trong lịch sử cũng như hiện tại dẫn đến sự nhìn nhận của một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân vẫn còn thành kiến với các tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo, nơi thực hành tu tập giải thoát cách ly đời sống

Trang 10

xã hội Thực tế này là một nguyên nhân quan trọng làm công tác phát triến Đảng là người có đạo chưa tương xứng với vai trò, vị trí và những đóng góp của đồng bào có đạo cho sự phát triển chung của đất nước

Trong hơn hai ngàn năm hiện diện trên đất nước Việt Nam, đồng hành cùng dân tộc, Đạo Phật đã trở thành tôn giáo của dân tộc Suốt chiều dài lịch

sử dựng nước và giữ nước, trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa ngày nay, Phật giáo Việt Nam luôn luôn là thành viên tin cậy và vững mạnh trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời là sự kết tinh trí tuệ, là nguyện vọng chân chính của Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử các tổ chức Giáo hội, tổ chức Hội, và các Hệ phái Phật giáo trong cả nước, là chủ thể kế thừa lịch sử hàng ngàn năm của Phật giáo Việt Nam

Lý tưởng giác ngộ chân lý, hòa hợp chúng, hòa bình và công bằng xã hội của giáo lý Đức Phật, nhằm phục vụ Dân tộc, Tổ quốc và nhân loại chúng sinh, là tôn chỉ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Giáo hội Phật giáo Việt Nam hoạt động theo phương châm “Đạo pháp –

Dân tộc – Chủ nghĩa Xã hội”, trên cơ sở kính ngưỡng, phụng hành Giáo pháp,

Giới luật Phật chế và tuân thủ Pháp luật nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam [19]

Phật giáo ở Việt Nam có những đóng góp tích cực cùng Đảng và Nhân dân ta trong quá trình dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước Giáo hội Phật giáo Việt Nam là thành viên của Mật trận Tổ quốc Việt Nam - một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam

Trang 11

định cư ở nước ngoài

Qua hoạt động, nhiều tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành Phật giáo (CSCVNTH) tiến bộ luôn thể hiện thái độ chính trị tốt, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và có nhiều đóng góp tích cực cho địa phương, nhưng chưa được các chi bộ đảng, các tô chức chínhtrị - xã hội quan tâm bồi dưỡng, tạo điều kiện để phấn đấu trở thành đảng viên của Đảng Bên cạnh đó cũng còn một số CSCVNTH Phật giáo còn e dè, ngại tham gia các công việc liên quan tới chính trị, chỉ mong muốn chuyên tâm tu hành, cầu giải thoát; một bộ phận khác lại sợ các thế lực thù địch xuyên tạc, gây hiểu lầm trong quần chúng tín đồ phật tử nên không nhiệt tình, thậm chí là xin không tham gia vào tổ chức đảng (khi được tố chức đảng đặt vấn đề)

Phát triển đảng viên là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng, là biện pháp tích cực để nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng Công tác phát triển đảng viên là một nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, nhằm bảo đảm tính kế thừa, phát triển liên tục về số lượng, bảo đảm cơ cấu hợp lý và chất lượng đảng viên, tạo nên chất lượng tổng thể đội ngũ đảng viên Phát triển đảng viên cùng với việc đưa những người không đủ tiêu chuẩn đảng viên ra khỏi Đảng là quy luật phát triển của Đảng Để có đội ngũ đảng viên

đủ số lượng, cơ cấu hợp lý, từng đảng viên có chất lượng tốt đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong các tổ chức của hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở, trong các giai cấp, tầng lớp, các nhóm dân cư phải đặc biệt coi trọng phát triển đảng viên, nhất

là những nơi có ít và chưa có đảng viên Đây là phương hướng phát triển đảng viên được Đảng chỉ ra và nhất quán thực hiện xuyên suốt quá trình lãnh đạo và cầm quyền

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân đang thực hiện chủ trương đẩy mạnh

Trang 12

toàn diện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa, phấn đấu sớm đưa đất nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nhiệm vụ lớn lao đó, đòi hỏi Đảng, các cấp ủy, tổ chức đảng phải nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng đặc biệt là công tác phát triển đảng viên nhằm bổ sung cho Đảng nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những nhiệm vụ rất quan trọng và cần thiết

Việt Nam là đất nước có truyền thống văn hoá lâu đời và là một quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo Theo ước tính hiện nay, 95% dân

số Việt Nam có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo Riêng tôn giáo, theo thống kê của Ban Chỉ đạo tổng kết Nghị quyết số 25-NỌ/TW ngày 12/02/2003 của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác tôn giáo, tính đến tháng 6/2017, Nhà nước đã công nhận 41 tổ chức thuộc 15 tôn giáo với khoảng 25,3 triệu tín

đồ (chiếm khoảng 27% dân số trong cả nước), với gần 61 ngàn chức sắc, gần

134 ngàn chức việc, gần 28 ngàn cơ sở thờ tự, trong đó Phật giáo là tôn giáo lớn nhất với trên 14 triệu tín đồ, trên 30 ngàn chức sắc, trên 80 ngàn chức việc

đó trong hoạt động hoằng pháp của mình đã/sẽ tạo ảnh hưởng tốt đến nhiều người, nhiều vùng, góp phần quan trọng thực hiện phương châm sống tốt đời đẹp đạo, tăng cường đoàn kết trong cộng đồng dân cư, đấu tranh với những

Trang 13

luận điệu xuyên tạc, lợi dụng Phật giáo của các thế lực thù địch và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương trong xây dựng xã hội hòa bình, tiến bộ Tuy nhiên, công tác phát triển đảng viên trong tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam vẫn còn nhiều khuyết điểm yếu kém như: nhiều cấp uỷ, tổ chức đảng còn chưa thực sự quan tâm đến việc tạo nguồn để phát triển đảng viên là CSCVNTH Phật giáo; một số cán bộ, đảng viên còn có biểu hiện định kiến với đồng bào Phật giáo nói chung và nhà tu hành Phật giáo nói riêng, dẫn tới một số nơi còn quá khắt khe về tiêu chuẩn và các thủ tục kết nạp đảng viên; những người theo đạo Phật được kết nạp vào Đảng chưa nhiều, đặc biệt đảng viên là CSCVNTH Phật giáo có số lượng hạn chế

Xuất phát từ những yêu cầu đó, việc nghiên cứu đề tài: “Công tác phát

triển đảng viên là chức sắc, chức việc, nhà tu hành Phật giáo ở Việt Nam hiện nay” có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn nhằm giúp cho công

tác tôn giáo của Đảng đạt kết quả tốt, đồng thời phục vụ công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ngày càng tốt hơn, từ đó củng cố và xây dựng một đội ngũ cốt cán là đảng viên trong CSCVNTH Phật giáo nhằm phát huy được vai trò vận động tổ chức tôn giáo và quần chúng tín đồ Phật tử thực hiện sinh hoạt tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật, góp phần ổn định xã hội, đóp góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Công tác phát triển đảng viên là vấn đề đã được đề cập trong nhiều văn kiện của Đảng và được các nhà lý luận, cán bộ hoạt động thực tiễn quan tâm nghiên cứu đạt kết quả to lớn, được thể hiện trong các công trình khoa học, một số luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ Những kết quả đó đều liên quan đến

đề tài luận văn, tiêu biểu là các công trình sau đây:

2.1 Các cuốn sách

- Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ

Trang 14

mới, PGS, TS Lương Khắc Hiếu, PGS, TS Trương Ngọc Nam:, H.: Chính trị

Quốc gia (2017): các tác giả đã trình bày cơ sở lý luận về nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; thực trạng, quan điểm, giải pháp và vấn

đề đặt ra về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới

- Tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I Lênin về công tác tổ chức và vấn đề vận dụng của Đảng ta hiện nay, TS Phạm Tất Thắng H.: Chính trị

Quốc gia (2013): Cuốn sách gồm 3 chương, là tài liệu hữu ích phục vụ công tác nghiên cứu, tham khảo và vận dụng trong quá trình hoạch định chính sách, xây dựng tổ chức cơ sở đảng, tuyển dụng, đề bạt và sử dụng cán bộ trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay, góp phần tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị - xã hội, khắc phục những yếu kém trong công tác tổ chức

- Vấn đề đảng viên và phát triển đảng viên trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Mạch Quang Thắng chủ biên, Nxb Lao Động,

Hà Nội (2006)

- Công tác phát triển đảng viên trong thanh niên giai đoạn 2005-2010,

Trần Đình Hoan, Nguyễn Đông Sương, Dương Tự Đam, Nxb Thanh Niên, Hà Nội (2006)

- Những vấn đề lí luận về công tác tư tưởng của Đảng hiện nay, TS

Ngô Huy Tiếp, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội (2011): Khái quát lại toàn bộ quá trình hình thành và phát triển công tác tư tưởng của Đảng trên

cả bình diện lý luận và thực tiễn, khẳng định những thành tựu, nêu rõ những bài học kinh nghiệm và đề ra những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng và

hiệu quả công tác tư tưởng trên các lĩnh vực

- Nâng cao chất lượng đảng bộ xã trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, Dương Trung Ý (chủ biên), Nxb

CTQG, H, 2012

Trang 15

2.2 Đề tài khoa học

- Đề tài khoa học cấp Ban Đảng, mã số KHBĐ (2007) về “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên” do TS Đỗ Ngọc Thịnh làm chủ nhiệm, đã nghiệm thu Tài liệu này có

nhiều nội dung liên quan đến đề tài tác giả nghiên cứu Tuy nhiên, nội dung nghiên cứu của tài liệu trên là của toàn Đảng, biểu hiện ở cả tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) và chất lượng đảng viên, không đi sâu nhiều về chất lượng đảng viên

2.3 Bài đăng báo, tạp chí

- Mạch Quang Thắng: “Một số vấn đề đặt ra đối với công tác phát triển đảng viên”, Xây dựng Đảng(2004), số 5 Bài viết phân tích và nêu ra

những vấn đề thuận lợi cũng như khó khăn đặt ra đối với công tác phát triển đảng viên

- Nguyễn Văn Sáu “Một số giải pháp nâng cao công tác phát triển Đảng”, Xây dựng Đảng (2004), số 6 Bài viết đi sâu vào nghiên cứu một số

giải pháp nâng cao công tác phát triển đảng

- Nguyễn Thị Mai Anh “Nâng cao chất lượng đảng viên - Vấn đề cốt lõi để xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh trong tình hình hiện nay” , Web:

tapchicongsan.org.vn (19/8/2016)

2.4 Luận án Tiến sĩ - Luận văn thạc sĩ

- Nguyễn Văn Giang “ Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên vùng có đồng bào công giáo ở các tỉnh ven biển đồng bằng Bắc bộ trong giai đoạn hiện

Trang 16

nay ”, luận án Tiến sĩ Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Học viện

Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội (2003) Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn

đề lý luận và thực tiễn về đảng viên, chất lượng đội ngũ đảng viên và công tác phát triển đảng viên, tác giả đã phân tích, đánh giá đúng thực trạng chất lượng đội ngũ đảng viên tại vùng đồng bào công giáo ở các tỉnh ven biển đồng bằng Bắc bộ và từ đó đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh công tác nâng cao chất lượng đảng viên trong các Đảng bộ cấp xã trong giai đoạn đến năm 2020

- Phạm Đức Quân “Công tác phát triển đảng viên ở Đảng bộ cấp xã của Thành phổ Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên hiện nay”, luận văn Thạc sĩ Xây

dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội (2015) Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về đảng viên và công tác phát triển đảng viên, tác giả đã phân tích, đánh giá đúng thực trạng đảng viên và công tác phát triển đảng viên tại địa phương mình và

từ đó đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên trong các Đảng bộ cấp xã trong giai đoạn đến năm 2020

- Nguyễn Thị Hoa, “Công tác phát triển đảng viên của các Đảng bộ xã

ở Huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên hiện nay” luận văn Thạc sĩ Xây dựng

Đảng và Chính quyền Nhà nước, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội (2017) Tác giả đã đánh giá trung thực thực trạng đảng viên và công tác phát triển đảng viên tại địa phương mình và từ đó đưa ra các giải pháp khả thi nhằm tăng cường công tác phát triển đảng viên phù hợp với tình hình thực tiễn của huyện ủy

- Vũ Thị Lý “Công tác phát triển đảng viên là người dân tộc Raglai ở tỉnh Ninh Thuận hiện nay”, luận văn Thạc sĩ Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội (2015) Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác phát triển đảng viên các đảng

bộ xã vùng đồng bào dân tộc Raglai tỉnh Ninh Thuận hiện nay, luận văn đề ra phương hướng và các giải pháp cơ bản nhằm góp phần nâng cao chất lượng

Trang 17

công tác phát triển đảng viên là người dân tộc Raglai ở tỉnh Ninh Thuận trong thời gian tới

- Nguyễn Thị Hải Yến, “Đảng bộ huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên lãnh đạo công tác phát triển đảng viên từ năm 2000 đến năm 2014”, luận văn

Thạc sĩ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Báo chí và Tuyên truyền,

Hà Nội (2015) Luận văn đi sâu nghiên cứu quá trình lãnh đạo công tác phát triển đảng viên của Đảng bộ Huyện Văn Lâm từ năm 2000 đến năm 2014 Qua đó, phân tích rõ thành tựu, hạn chế và rút ra những kinh nghiệm trong công tác phát triển đảng viên của Đảng bộ huyện Văn Lâm, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước trong giai đoạn hiện nay

- Lê Thị Thắm “Công tác phát triển đảng viên ở Đảng bộ huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An hiện nay”, luận văn Thạc sĩ Xây dựng Đảng và Chính

quyền Nhà nước, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội (2018) Trên cơ

sở nghiên cứu làm rõ lý luận và thực tiễn công tác phát triển đảng viên của Đảng bộ huyện Hưng Nguyên, luận văn đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần tăng cường công tác phát triển đảng viên của Đảng bộ huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An thời gian tới

- Ngô Trọng Đông “Công tác phát triển đảng viên của Đảng bộ Công

an quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội hiện nay”, luận văn Thạc sĩ Xây dựng

Đảng và Chính quyền Nhà nước, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội (2019) Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn công tác phát triển Đảng viên của Đảng bộ Công an quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội hiện nay, luận văn đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường công tác phát triển đảng của Đảng bộ Công an quận Ba Đình trong thời gian tới

- Nguyễn Kim Tiến “Công tác phát triển đảng viên là người Công giáo của các đảng bộ xã, phường, thị trấn ở tỉnh Ninh Bình hiện nay”, luận văn

Thạc sĩ Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội (2020) Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực

Trang 18

tiễn về công tác phát triển đảng viên là người Công giáo ở các đảng bộ xã, thị trấn của tỉnh Ninh Bình, luận văn đề xuất các giải pháp tăng cường công tác trong thời gian tới

Những luận văn trên đã đề cập đến các vấn đề lý luận có liên quan đến đảng viên và công tác phát triển đảng viên Từ thực trạng của địa phương, các tác giả đã đưa ra những giải pháp phù hợp với đơn vị mà mình nghiên cứu

Những luận văn thạc sỹ và tiến sỹ và các đề tài nêu trên đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác phát triển đảng viên và phát triển đảng viên ở các địa bàn khác nhau Tuy nhiên, từ năm 2015 đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về công tác phát triển đảng viên là CSCVNTH Phật giáo ở Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác phát triển đảng viên là CSCVNTH Phật giáo ở Việt Nam, luận văn đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm xây dựng đội ngũ đảng viên trong cốt cán Phật giáo để làm nòng cốt trong tổ chức tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng, cùng với các cơ quan nhà nước vận động chức sắc, chức việc, tín đồ Phật tử và nhân dân, góp phần giữ gìn ổn định tình hình trong sinh hoạt tôn giáo, động viên các tố chức, cá nhân tôn giáo gắn bó, đồng hành cùng dân tộc trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác phát triển đảng viên là CSCVNTH Phật giáo ở Việt Nam

- Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác phát triển đảng viên viên là CSCVNTH Phật giáo ở Việt Nam trong tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam

từ năm 2015 đến nay, chỉ ra ưu, khuyết điểm, nguyên nhân, kinh nghiệm

- Đề xuất phương hướng và các giải pháp tăng cường công tác phát

Trang 19

triển đảng viên là CSCVNTH Phật giáo ở Việt Nam trong tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu công tác phát triển đảng viên là CSCVNTH Phật giáo ở Việt Nam trong tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Tuy nhiên, do yêu cầu chính trị, yêu cầu bảo mật và giới hạn của một luận văn Thạc sỹ chuyên ngành xây dựng đảng, qua thực tế khảo sát, nghiên cứu đối với lực lượng cốt cán đặc thù trong tổ chức Phật giáo nên luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu, khảo sát công tác phát triển đảng viên trong một số CSCVNTH và tín đồ phật tử Việt Nam

- Về thời gian:

+ Nghiên cứu khảo sát thực tế từ năm 2015 đến nay

+ Từ khi có Quy định 123-QĐ/TW ngày 28-9-2004 của Bộ Chính trị khoá IX về kết nạp đảng viên đối với người có đạo và đảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn giáo đến tháng 6/2020,

Các phương hướng và giải pháp được đề xuất trong luận văn có giá trị đến năm 2025

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

- Cơ sở lý luận của luận văn là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí

Trang 20

Minh và quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng Đảng, đảng viên và công tác đảng viên

- Quy định 123-QĐ/TW ngày 28-9-2004 của Bộ Chính trị khoá IX về kết nạp đảng viên đối với người có đạo

- Đại hội Đại biểu Phật giáo Việt Nam lần thứ nhất (tháng 11/1981) Giáo hội Phật giáo Việt Nam lựa chọn phương châm “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội” để định hướng cho mọi hoạt động

- Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VIII (21-22/11/2017), nhiệm kỳ 2017- 2022 với chủ đề “Trí tuệ - Kỷ cương - Hội nhập - Phát triển”

5.2 Phương pháp

Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; phương pháp lôgíc kết hợp với lịch sử, khảo sát xã hội học, phân tích kết hợp với tổng hợp, tổng kết thực tiễn

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

- Luận văn đưa ra quan niệm về công tác phát triển đảng viên là CSCVNTH Phật giáo trong tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam

- Những kinh nghiệm về công tác phát triển đảng viên là CSCVNTH Phật giáo trong tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam

- Những giải pháp tăng cường công tác phát triển đảng viên trong tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam thời gian tới

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

7.1 Ý nghĩa lý luận của luận văn

- Góp phần làm rõ những vấn đề lý luận về công tác phát triển đảng viên viên là CSCVNTH Phật giáo của các TCCSĐ và chi bộ cơ sở

- Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ khẳng định tính đúng đắn và cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương phát triển đảng viên của Đảng trong thời

kỳ mới, giúp cho đảng bộ các xã, phường, thị trấn, chi bộ cơ sở có đông quần chúng là CSCVNTH Phật giáo để tăng cường công tác phát triển đảng viên cả

Trang 21

về số lượng và chất lượng

7.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong quá trình chỉ đạo công tác phát triển đảng viên là CSCVNTH Phật giáo của các TCCSĐ và việc chỉ đạo công tác này của các cấp uỷ huyện, thành phố thuộc tỉnh Đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận văn còn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy, học tập, nghiên cứu về công tác xây dựng Đảng ở trường Chính trị có liên quan

- Luận văn có thể làm tài liệu cho tất cả mọi người quan tâm đến vấn đề tôn giáo nói chung, và công tác phát triển đảng viên với tín đồ Phật giáo nói riêng

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Công tác phát triển đảng viên trong tổ chức giáo hội phật giáo việt nam – một số vấn đề lý luận;

Chương 2 Công tác phát triển đảng viên là CSCVNTH phật giáo ở việt nam hiện nay - thực trạng, nguyên nhân và kinh nghiệm;

Chương 3 Phương hướng và giải pháp chủ yếu tăng cường công tác phát triển đảng viên là CSCVNTH Phật giáo ở việt nam thời gian tới

Trang 22

Chương 1 CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG VIÊN LÀ CHỨC SẮC, CHỨC VIỆC, NHÀ TU HÀNH PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM –

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

1.1 Quan niệm, vai trò, đặc điểm của công tác phát triển đảng viên

là chức sắc, chức viêc, nhà tu hành Phật giáo

1.1.1 Một số thuật ngữ/khái niệm liên quan

1.1.1.1 Công tác phát triển đảng viên

Công tác phát triển đảng viên được hiểu bao gồm công tác phát hiện, bồi dưỡng, giới thiệu và kết nạp đảng viên

1.1.1.2 Cốt cán trong tôn giáo

Theo Kết luận số 08-KL/TW năm 2011 của Ban Bí thư Trung ương, khái niệm về Cốt cán trong tôn giáo được hiểu như sau:

Cốt cán trong tôn giáo: là đảng viên, công chức, viên chức có tôn giáo trong hệ thống chính trị; là chức sắc, nhà tu hành, chức việc, tín đồ, trí thức tôn giáo, được các tổ chức trong hệ thống chính trị, các lực lượng vũ trang lựa chọn, bồi dưỡng, xây dựng thành những người nòng cốt trong công tác vận động chức sắc, tín đồ, tổ chức tôn giáo nhằm thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước

Cốt cán tôn giáo có 2 loại:

- Cốt cán phong trào: Được lựa chọn, xây dựng trong đội ngũ đảng viên

có đạo, những người có đạo tham gia trong các tổ chức đảng, bộ máy chính quyền nhà nước, trong ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQ) và Ban chấp hành các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp; chức sắc, nhà tu hành, chức

Trang 23

việc, tín đồ, trí thức tôn giáo, những người có uy tín, gương mẫu, cũng có thể

là người ngoài đạo nhưng có uy tín thuyết phục đối với đồng bào có đạo, đi đầu trong các phong trào thi đua yêu nước

- Cốt cán đặc thù trong tôn giáo (hay cốt cán cơ sở chính trị - “C”): Là những người được lựa chọn, xây dựng trong đội ngũ chức sẳc, nhà tu hành, chức việc, tín đồ, trí thức tôn giáo, những người có uy tín trong tôn giáo, hoạt động theo quy định của tổ chức đảng

1.1.1.3 Chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ và tổ chức tôn giáo

Theo Luật tín ngưỡng, tôn giáo [25] chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ và tổ chức tôn giáo được quy định như sau:

- Chức sắc là tín đồ được tổ chức tôn giáo phong phẩm hoặc suy cử để giữ phẩm vị trong tổ chức

- Chức việc là người được tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc,

tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo bổ nhiệm, bầu cử hoặc suy cử để giữ chức vụ trong tổ chức

- Nhà tu hành là tín đồ xuất gia, thường xuyên thực hiện nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật và quy định của tổ chức tôn giáo

- Tín đồ là người tin, theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo đó thừa nhận

- Tổ chức tôn giáo là tập hợp tín đồ, CSCVNTH của một tôn giáo được

tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo [25, 27]

Trang 24

Thượng Tọa, Hòa Thượng (Tăng), Ni cô, Sư cô, Ni sư (Sư Bà-Ni) [19]

- Chức việc là người được tổ chức GHPGVN bổ nhiệm, bầu cử hoặc suy cử để giữ chức vụ trong tổ chức [25], như: Hội đồng Chứng minh gồm: Pháp chủ, Phó Pháp chủ, Giám Luật, Thư ký, Phó Thư ký, Ủy viên Thường trực Hội đồng Trị sự gồm: Chủ tịch, Phó chủ tịch, Tổng Thư ký, Phó Tổng Thư ký, Ban Tăng sự, Ban Ni sự, Ban Hoằng pháp, Ban Nghi lễ, Ban Từ thiện

xã hội, Ban Thông tin Truyền thông, Viện Nghiên cứu Phật học, Thủ quỹ [19]…

- Nhà tu hành là tín đồ Phật giáo xuất gia, thường xuyên thực hiện nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật và quy định của tổ chức GHPGVN [19]

1.1.2 Quan niệm công tác phát triển đảng viên

Đảng viên, theo cách hiểu thông dụng nhất, là một cá nhân tham gia vào một đảng phái chính trị (còn gọi là chính đảng) nào đó Để trở thành đảng viên của một chính đảng, cá nhân đó phải thừa nhận tôn chỉ, mục đích cũng như các quy định về trách nhiệm, quyền hạn của chính đảng đó

Theo cách hiểu thông dụng này, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là người gia nhập và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam đồng thời sinh hoạt tại tổ chức này

Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hay đảng viên (do ở Việt Nam hiện nay chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất được Hiến pháp thừa nhận) là thành viên của Đảng Cộng sản Việt Nam; trong nhiều trường hợp dùng thuật ngữ đảng viên để phân biệt với quần chúng (người ngoài Đảng) Đảng viên là người tự nguyện xin gia nhập và được kết nạp vào Đảng sinh hoạt và hoạt động trong một TCCSĐ Do những điều kiện đặc thù về tổ chức và hoạt động trong từng thời kỳ lãnh đạo cách mạng mà tiêu chuẩn, nhiệm vụ, tên gọi và việc công nhận là đảng viên của Đảng có sự linh hoạt nhất định Hiện nay, đảng viên là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của

Trang 25

giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước; có lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có đạo đức và lối sống lành mạnh; gắn bó mật thiết với nhân dân; phục tùng tổ chức,

kỷ luật của Đảng, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng

Đảng viên được phân chia thành theo hai cách: Thứ nhất, theo tư cách

thành viên trong Đảng, gồm có: đảng viên chính thức và đảng viên dự bị Đảng viên chính thức có nhiệm vụ và quyền được quy định tại Điều 2 và Điều

3 của Điệu lệ Đảng (năm 2011); đảng viên dự bị có các nhiệm vụ và quyền như đảng viên chính thức, trừ nhiệm vụ giới thiệu người vào đảng; các quyền biểu quyết, ứng cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo của Đảng và giới thiệu người vào đảng Để trở thành đảng viên chính thức, đảng viên dự bị phải trải qua thời gian dự bị là 12 tháng, tính từ ngày chi bộ tổ chức lễ kết nạp Điều kiện

để trở thành đảng viên: phải là công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên; thừa nhận và tự nguyện thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ đảng viên, hoạt động trong một TCCSĐ; qua thực tiễn chứng tỏ là người ưu tú, được nhân dân tín nhiệm, sau đó được giới thiệu kết nạp, thử thách, xét kết nạp vào Đảng, sinh hoạt đảng và xét công nhận đảng viên chính thức

Ở nước ta, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam xuất hiện gắn liền với

sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ những người đảng viên đầu tiên cho đến nay số lượng hơn 5 triệu đảng viên Ở Việt Nam, thì từ đảng viên được đa số hiểu là thành viên của Đảng Cộng sản Việt Nam do chỉ

có Đảng cộng sản tồn tại hợp pháp và lãnh đạo Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa Khi được kết nạp vào Đảng, thì người đảng viên phải là người

Trang 26

thừa nhận và thực hiện Cương lĩnh, Điều lệ của Đảng, suốt đời phấn đấu vì mục đích lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, phải gắn bó chặt chẽ với Đảng bằng việc tự mình tham gia vào một tổ chức của Đảng, hoạt động và chịu sự quản

lý của tổ chức đó Người đảng viên phải gương mẫu trong hành động cách mạng, là người đi đầu, có năng lực tuyên truyền, giáo dục và lôi cuốn quần chúng, phải không ngừng học tập về mọi mặt, rèn luyện trong hoạt động thực tiễn của bản thân nhằm đáp ứng được yêu cầu được phân công “Đảng viên”

là tên gọi để chỉ một lớp người là những chiến sĩ cách mạng, lớp người mới tiên phong nhất, ưu tú nhất, sẵn sàng hy sinh, gắn bó với nhân dân, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa

Tại Chương I, Điều lệ của Đảng công nhân dân chủ - xã hội Nga, V.Lênin khẳng định: “Tất cả những người nào thừa nhận cương lĩnh của Đảng

và ủng hộ Đảng bằng những phương tiện vật chất cũng như bằng cách tự mình tham gia vào một trong những tổ chức của Đảng, thì được coi là đảng viên của Đảng”

Theo “Từ điển tiếng Việt” có đưa ra khái niệm “đảng viên” như sau: Đảng viên chính là người đứng trong một tổ chức của một chính đảng Khi Đảng chính trị ra đời thì có đảng viên Mỗi một Đảng chính trị ra đời là có đảng viên, nếu như không có đảng viên - thành phần quan trọng cốt lõi nhất thì không được gọi là Đảng chính trị

Tại Điều 1, Chương I của Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam được thông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (1/2011) khẳng định: Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của

Trang 27

Nhà nước; có lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, có đạo đức và lối sống lành mạnh; gắn bó mật thiết với nhân dân; phục tùng tổ chức, kỷ luật của Đảng, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng [13, 18]

Như vậy, đảng viên là danh từ chỉ những người tiêu biểu nhất, tiên phong nhất của giai cấp công nhân, là người sẵn sàng chiến đấu, hy sinh cho mục tiêu lý tưởng của Đảng, vì lợi ích của nhân dân, của dân tộc và giai cấp công nhân

Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848), C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã nhận định về vai trò, sứ mệnh lịch sử của những đảng viên Cộng sản Một trong những vấn đề quan trọng là phải thu hút vào tổ chức của mình những chiến sỹ tiên phong, bởi vì: về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất của các Đảng công nhân ở tất cả các nước, là

bộ phận cổ vũ tất cả những bộ phận khác Về mặt lý luận, họ hơn những bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình

và kết quả chung của giai cấp vô sản Do đó, phải tuân theo những thủ tục chặt chẽ trong công tác phát triển hội viên

Kế thừa những quan điểm của Mác và Ăngghen về xây dựng Đảng, Lênin đã kiên quyết chống lại các luận điệu xét lại, cơ hội và phát triển học thuyết xây dựng Đảng của giai cấp công nhân, đặc biệt là trong điều kiện đảng cầm quyền Để nắm vững được lý luận cách mạng, để có đội ngũ đảng viên đảm bảo đúng số lượng và chất lượng, cần tập trung:

Thứ nhất, phải xác định đúng tiêu chuẩn đảng viên

Thứ hai, phải chú trọng thành phần, cơ cấu đảng viên

Thứ ba, phát triển đảng viên phải đi đôi với củng cố Đảng, thanh trừ

những phần tử không đủ tiêu chuẩn đảng viên ra khỏi Đảng và đề phòng những phần tử xấu chui vào Đảng

Thứ tư, phát triển đảng viên phải tích cực, chủ động đi vào phong trào

cách mạng của quần chúng để xây dựng những nhân cách cộng sản

Trang 28

Thứ năm, phát triển đảng viên phải xác định đúng và thực hiện nghiêm

túc thủ tục kết nạp và thời kỳ dự bị của đảng viên

Trong lịch sử Việt Nam thì đội ngũ đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam có vai trò cực kỳ to lớn Lớp đảng viên cộng sản đầu tiên là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí của Người là thế hệ tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc và lãnh đạo đưa đất nước ta từ chế độ chính trị thực dân nửa phong kiến trở thành quốc gia độc lập với chế độ chính trị dân chủ cộng hòa Các thế hệ đảng viên kế tiếp đã giữ vững ý chí, lập trường chính trị đưa cách mạng Việt Nam vượt qua mọi trở ngại để có thành quả vĩ đại như ngày hôm nay Trong lịch sử cách mạng của dân tộc gần thế kỷ qua, đã có hàng vạn đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hy sinh máu xương vì lợi ích của nhân dân, của dân tộc Đảng Cộng sản Việt Nam đã chiến đấu, hy sinh và trở thành một đảng cầm quyền - vị trí xứng đáng với niềm tin của đại đa số nhân dân Đảng cầm quyền lãnh đạo thông qua vai trò của mỗi đảng viên Bởi vậy, nếu không có các thế hệ đảng viên tận tụy trung thành với Đảng, sẵn sàng hy sinh để thực hiện nhiệm vụ và không có những thế hệ đảng viên giữ gìn được phẩm chất, đạo đức, lối sống tốt đẹp, luôn gương mẫu thì Đảng Cộng sản Việt Nam không thể lớn mạnh, không thể có đủ uy tín để lãnh đạo đất nước

Nhân tố quyết định sự ra đời và phát triển của một Đảng chính trị trước hết nằm ở đội ngũ đảng viên, với những điều kiện, tiêu chuẩn do Đảng qui định Đội ngũ đảng viên có vị trí, vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng Đảng viên là những tế bào của Đảng, là chiến sĩ cách mạng trong đội quân tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, là lực lượng tiêu biểu của nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam

Quán triệt và vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng Đảng Cộng sản, Chủ tịch Hồ chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 29

đã giải quyết thành công một loạt các vấn đề về phát triển đảng viên được thể

hiện thông qua một số nội dung như sau:

Thứ nhất, phát triển đảng viên là một trong những quy luật tồn tại

của Đảng

Thứ hai, công tác phát triển đảng viên phải tích cực, thận trọng, trọng

chất lượng hơn số lượng, bảo đảm chất lượng là chính, phát triển đảng viên đi đôi với củng cố Đảng

Thứ ba, trên cơ sở bảo đảm tiêu chuẩn đảng viên, phát triển đảng viên

phải coi trọng kết nạp đảng viên từ giai cấp công nhân, đồng thời có phương hướng lựa chọn đảng viên đúng đắn phù hợp với tình hình, cơ cấu xã hội – giai cấp nước ta, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo của Đảng trong mỗi thời kỳ cách mạng

Thứ tư, trong mỗi giai đoạn cách mạng phải xác định đúng tiêu chuẩn đảng

viên, nâng cao điều kiện kết nạp đảng viên, cụ thể hóa cho từng loại đối tượng

Thứ năm, quy định chặt chẽ và tuân thủ một cách nghiêm ngặt thủ tục

kết nạp đảng viên, thời kỳ dự bị và xét công nhân đảng viên chính thức

Thứ sáu, thực hiện tốt quy trình phát triển đảng viên, bao gồm các

bước lựa chọn, tuyên truyền giáo dục, tổ chức kết nạp, tiếp tục giáo dục rèn luyện để trở thành đảng viên chính thức

Về thực chất, công tác phát triển đảng viên là quá trình giáo dục, rèn luyện, đào tạo, bồi dưỡng những quần chúng ưu tú về lý tưởng cộng sản, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của người cộng sản để họ trở thành những thành viên tốt của Đảng, cùng Đảng gánh vác và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng Đó là quá trình đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực của Đảng

Công tác phát triển đảng viên là hoạt động cấp ủy, tổ chức Đảng có thẩm quyền trong việc phát hiện, bồi dưỡng, kết nạp vào Đảng những quần chúng ưu tú nhằm không ngừng bổ sung lực lượng, bảo đảm sự phát triển bền

Trang 30

vững của Đảng Công tác phát triển đảng viên là quá trình giáo dục và rèn luyện quần chúng về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương của Đảng để hình thành và phát triển thế giới quan cộng sản chủ nghĩa cho quần chúng ưu tú, gắn chặt với công tác xây dựng, củng cố tổ chức đảng và nâng cao chất lượng đảng viên Do đó, công tác phát triển đảng

viên là một nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, có tính quy luật, vừa cơ bản

và lâu dài đối với trong công tác xây dựng Đảng; là hệ thống các hoạt động của Đảng, từ đề ra chủ trương, kế hoạch đến tạo nguồn, lựa chọn, bồi dưỡng, kết nạp những quần chúng ưu tú vào Đảng, nhằm tăng thêm lực lượng mới cho Đảng, bảo đảm sự kế thừa và phát triển của Đảng, góp phần xây dựng Đảng ngang tầm với yêu cầu của cách mạng

Phương châm phát triển đảng viên là luôn coi trọng chất lượng, tiêu chuẩn, đặc biệt là tiêu chuẩn giác ngộ lý tưởng của Đảng, đạo đức, lối sống, năng lực hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời phải luôn gắn chặt với việc củng cố

tổ chức đảng, làm trong sạch đội ngũ đảng viên, đề phòng người cơ hội tìm cách chui vào Đảng Trong giai đoạn hiện nay, trọng tâm phát triển đảng viên hướng vào thế hệ trẻ, công nhân, nông dân, trí thức, người có đạo, quân nhân, cán bộ, con em các gia đình có công với cách mạng; những nơi còn ít hoặc chưa có đảng viên

Điều kiện kết nạp đảng viên: Điểm 2, Điều 1 - Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam hiện hành quy định: Công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên; thừa nhận và tự nguyện: thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ đảng viên, hoạt động trong một TCCSĐ; qua thực tiễn chứng tỏ là người ưu tu, được nhân dân tín nhiệm

1.1.3 Vai trò của công tác phát triển đảng viên

Công tác phát triển đảng viên có vai trò quan trọng để tạo nên đội ngũ đảng viên tốt Bởi vì thực hiện tốt các khâu của công tác đảng viên từ bồi

Trang 31

dưỡng đảng viên, phân công công việc đến quản lý và kiểm tra đảng viên sẽ là môi trường để sàng lọc đảng viên, chọn lựa ra những đảng viên có phẩm chất, năng lực tốt

Công tác phát triển đảng viên góp phần quan trọng trong định hướng phong trào cách mạng của nhân dân Công tác đảng viên có được tiến hành thường xuyên và có chất lượng tốt càng góp phần cho quần chúng nhân dân noi gương, đồng thời thúc đẩy phong trào cách mạng của quần chúng Trong lịch sử, nhân dân ta có câu “đảng viên đi trước, làng nước theo sau” Vì thế có đội ngũ đảng viên tốt sẽ góp phần lôi kéo, cổ động quần chúng tham gia vào phong trào cách mạng Đây là một yêu cầu và đòi hỏi rất lớn cho các tổ chức đảng, đặc biệt là các tổ chức đảng ở cơ sở

Một là, công tác phát triển đảng viên là CSCVNTH Phật giáo góp phần

nâng cao chất lượng, trẻ hoá đội ngũ đảng viên, giúp nâng cao năng lực lãnh

đạo và sức chiến đấu của các đảng bộ trên đia bàn nơi có đồng bào Phật giáo

Điều này chỉ có được khi thực hiện tốt công tác xây dựng đảng bộ về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, đội ngũ đảng viên phải có đủ số lượng và chất lượng tốt, với cơ cấu hợp lý, đảm bảo sự lãnh đạo của đảng bộ đối với các tổ chức, các đoàn thể, các tầng lớp dân cư, các cộng đồng dân cư theo các tôn giáo và các lĩnh vực đời sống xã hội trên địa bàn Công tác phát triển đảng viên nói chung và phát triển đảng viên trong tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt

Nam có vai trò đặc biệt quan trọng để thực hiện điều này

Hai là, Đối với sự lãnh đạo của cấp uỷ với tín đồ Phật tử và công tác

tôn giáo của Đảng, công tác phát triển đảng viên là CSCVNTH Phật giáo là nhân tố quan trọng, góp phần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhân dân, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tôn giáo của Đảng

Trở thành Đảng cầm quyền, Đảng ta lãnh đạo tất cả các tổ chức trong

hệ thống chính trị, các tổ chức kinh tế, xã hội, các lĩnh vực đời sống xã hội,

Trang 32

các tầng lớp nhân dân, các nhóm dân cư theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau Đối với các TCCSĐ có đồng bào Phật giáo, các đảng bộ cũng phải thực hiện những nhiệm vụ đó, song phạm vi lãnh đạo của các Đảng bộ hẹp hơn, các hoạt động ấy, diễn ra trên địa bàn xã, thị trấn Trong đó lãnh đạo đồng bào Phật giáo thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của cấp trên và nhiệm vụ chính trị của địa phương là một nhiệm vụ rất quan trọng, nhất là ở những xã, thị trấn có đông đồng bào Phật giáo

Để lãnh đạo đồng bào Phật giáo thực hiện tốt chủ trương, đường lối, chính sách, các chỉ thị, nghị quyết và nhiệm vụ chính trị của địa phương phải

có nhiều đảng viên là CSCVNTH Phật giáo Có những đảng viên là CSCVNTH Phật giáo thì sự lãnh đạo của các TCCSĐ sẽ thuận lợi hơn và chất lượng, hiệu quả sẽ cao hơn Bởi vì, để lãnh đạo nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối, chính sách, các chỉ thị, nghị quyết và nhiệm vụ chính trị của địa phương vấn đề rất quan trọng là phải nắm được tâm tư, tình cảm, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, trên cơ sở đó có các biện pháp thích hợp tác động vào tâm tư, tình cảm của họ, làm chuyển biến nhận thức để có hành động đúng Tiến hành việc này đối với đồng bào Phật giáo đạt kết quả tốt khi có những đảng viên người Phật giáo Bởi lẽ, những người cùng tín ngưỡng, tôn giáo, nhất là những người Phật giáo nói với nhau thuận lợi và hiệu quả hơn

Ba là, Đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công tác phát triển đảng

viên là CSCVNTH Phật giáo ở các TCCSĐ góp phần xây dựng đội ngũ cán

bộ của các đảng bộ, tăng cường số lượng và chất lượng cán bộ cơ sở là

CSCVNTH Phật giáo

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”,

“Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [24] Để đạt

Trang 33

được điều này phải có nguồn cán bộ dự bị, kế cận đủ số lượng, có chất lượng tốt Nguồn cán bộ dự bị, kế cận ấy, chính là đội ngũ đảng viên và suy cho cùng chất lượng nguồn cán bộ dự bị, kế cận một phần rất lớn phụ thuộc và được quyết định bởi chất lượng công tác phát triển đảng viên

Để đội ngũ cán bộ của các TCCSĐ có đồng bào Phật giáo phát triển tốt

và ngày càng có chất lượng tốt, trong đó có những cán bộ là CSCVNTH Phật giáo, thì phải thường xuyên được bổ sung những cán bộ trẻ, khỏe, có đức, có tài thay thế những cán bộ cao tuổi “Tre già măng mọc” là quy luật phát triển của đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ cán bộ của các đảng bộ xã, thị trấn nói riêng Bên cạnh những cán bộ cao tuổi, tuổi trung bình, từng trải, có nhiều kinh nghiệm công tác phải có những cán bộ trẻ, có trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức tốt, tạo nên sức mạnh tổng hợp của đội ngũ cán bộ cơ sở Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng rất quý, rất trọng các đồng chí già nhưng Đảng cũng rất cần nhiều cán bộ trẻ để làm những việc mà đảng viên già không làm được” [24, tr.466] Phần rất lớn cán bộ của Đảng cầm quyền và đội ngũ cán bộ của các xã, thị trấn nói riêng là đảng viên, phần rất lớn cán bộ chưa là đảng viên cũng là những quần chúng đang tích cực học tập, công tác, và sẽ được bồi dưỡng kết nạp vào Đảng Vì vậy, việc phát triển đảng viên có vai trò rất quan trọng đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ của các đảng bộ xã, thị trấn

Tăng cường công tác phát triển đảng viên là CSCVNTH Phật giáo tạo điều kiện thuận lợi để có nhiều cán bộ cơ sở là người có đạo, đủ số lượng và

có nhiều cán bộ có chất lượng tốt phụ trách những công việc liên quan đến tôn giáo, phụ trách những tổ chức đoàn thể trong Giáo hội, đạo tràng

Bốn là, Đối với sự phát triển của Đảng, công tác phát triển đảng viên

trong tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam góp phần thực hiện quy luật phát triển của Đảng

Công tác phát triển đảng viên cùng với đưa đảng viên không đủ tư cách

Trang 34

ra khỏi Đảng được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định,

đó là một quy luật phát triển của Đảng

Sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng luôn luôn vận động, phát triển, đòi hỏi ngày càng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, của các tổ chức đảng và từng đảng viên Tuy nhiên, thực tế cho thấy, bên cạnh phần lớn đảng viên ra sức phấn đấu vươn lên đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của cách mạng, vẫn còn một số đảng viên mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng do hạn chế nhiều mặt nên không vươn lên được, không thể đáp ứng được đòi hỏi của cách mạng Cạnh đó là một số đảng viên thoái hóa, biến chất, dao động, mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và thắng lợi của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, và một số đảng viên phạm sai lầm, khuyết điểm phải đưa ra khỏi Đảng Ngoài ra, do quy luật phát triển sinh học, mỗi đảng viên tuổi đời ngày càng cao, đến một thời điểm nhất định từng người sẽ dần dần già đi, sức khỏe, trí tuệ sẽ giảm sút, ảnh hưởng không nhỏ đến năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng Nếu Đảng không được bổ sung lực lượng mới, không bù đắp được những thiếu hụt trong đội ngũ đảng viên thì Đảng khó tránh khỏi giảm sút năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, thậm chí tan rã, không làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình Vì thế, để tồn tại, phát triển Đảng phải thường xuyên được bổ sung những đảng viên mới

Thực hiện tốt công tác phát triển đảng viên là CSCVNTH Phật giáo là thiết thực góp phần thực hiện quy luật này, làm cho Đảng và các tổ chức đảng cấp dưới ngày càng phát triển, vững mạng từ Trung ương đến cơ sở, lãnh đạo

công cuộc đổi mới trên đất nước giành thắng lợi to lớn hơn

1.1.4 Đặc điểm của quần chúng là CSCVNTH Phật giáo

Đội ngũ CSCVNTH Phật giáo ở Việt Nam có những đặc điểm cần được các cấp uỷ quan tâm để giúp đỡ họ trong hoạt động tôn giáo, nhất là trong công tác phát triển đảng viên:

Trang 35

Một là, đa số CSCVNTH Phật giáo ở Việt Nam có ý thức chấp hành

tốt kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước, ít sai phạm về đạo đức lối sống So với đảng viên không theo đạo những CSCVNTH Phật giáo ở Việt Nam chịu

sự tác động, sự ràng buộc nặng nề của Hiến chương Giáo Hội, Giáo lý, Giới điều và quy định trong sinh hoạt tôn giáo của địa phương nên ảnh hưởng của Phật giáo đối với thế giới quan, nhân sinh quan, tâm lý, tình cảm của họ rất sâu đậm Bởi vậy, ở những cá nhân này đã xuất hiện một số hiện tượng: một

số CSCVNTH Phật giáo khi đang công tác họ rất vững vàng nhưng nghỉ công tác hoặc mắc bệnh hiểm nghèo họ rất tôn sùng Đạo Phật

Hai là, CSCVNTH Phật giáo ở Việt Nam phải giải quyết nhiều Phật sự

liên quan đến các vấn đề xã hội đa dạng của Phật tử, chịu sức ép từ sự kỳ vọng của tín đồ Phật tử và sự ràng buộc của Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Là một công dân, họ phải nói và làm theo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, trong đó có những quan điểm duy vật trái với những quan niệm duy tâm tôn giáo và chủ trương của Giáo hội, giáo lý, quy định mà họ phải tuân theo, cho nên dễ phát sinh mâu thuẫn ngay trong mỗi hoạt động Phật sự của chính mình Đặc biệt, sau khi trở thành đảng viên, một mặt, họ phải chấp hành những quy định của Đảng khi tham gia sinh hoạt tôn giáo; mặt khác khi được Đảng giáo dục, rèn luyện họ sẽ khó còn giữ niền tin vững chắc

và thấy hạn chế hơn trên con đường tu tập cầu giác ngộ, giải thoát trong khi các quy định của Hiến chương Giáo hội với các giới luật tu tập cần thực hiện nghiêm mật nhiều khi không phù hợp với các quy định trong thực tế cuộc sống làm họ khó xử

Ba là, CSCVNTH Phật giáo ở Việt Nam luôn đấu tranh giải quyết mâu

thuẫn ngay trong chính bản thân họ: mâu thuẫn giữa việc đời, việc Đảng với việc Đạo Trong quá trình tu tập Phật giáo, tiến hành Phật sự, tiếp xúc với tín

đồ phật tử và nhân dân thì họ va chạm giữa trách nhiệm đảng viên với trách

nhiệm là một CSCVNTH Phật giáo

Trang 36

1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc phát triển Đảng trong tôn giáo ở Việt Nam

1.2.1 Tư tưởng Mác – Lê nin về công tác phát triển Đảng

Công tác phát triển đảng trong đồng bào các tôn giáo, vấn đề có ý ghĩa

lý luận và thực tiễn quan trọng đối với các Đảng Cộng sản, bao gồm cả quần chúng tín đồ ưu tú và chức sắc tiến bộ là vấn đề quan trọng, điều kiện đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng đối với mọi giai tầng trong xã hội và cũng là để tăng cường sức mạnh, tính chiến đấu của Đảng Sự cần thiết của công tác này được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin xác định trong học thuyết của mình

Trong tác phẩm Điều lệ của Liên đoàn những người Cộng sản năm

1853, Mác đã đề cập đến sự cần thiết phải kết nạp mọi đối tượng trong xã hội vào Liên đoàn Kế thừa, phát triển lý luận chủ nghĩa Mác, V.I.Lênin đã cụ thể hóa việc phát triển Đảng với từng đối tượng, trong đó có tín đồ các tôn giáo Trong bài Về thái độ của đảng công nhân đối với tôn giáo, Lênin cho rằng:

“Chúng ta không những phải sẵn sàng kết nạp, mà còn cố gắng để thu hút vào Đảng dân chủ - xã hội tất cả những công nhân chấp nhận cương lĩnh của Đảng

và đi theo Đảng dù họ còn tin ở tôn giáo Chúng ta nhất định phản đối bất cứ một sự xúc phạm nhỏ nào đến những tín ngưỡng tôn giáo của họ”[43]

1.2.2 Cụ thể hóa quan điểm Mác - Lê Nin về phát triển đảng trong tôn giáo ở Việt Nam

Kế thừa, phát triển lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn xác định sự cần thiết phải kết nạp tín đồ, chức sắc các tôn giáo vào Đảng Trong bài nói chuyện tại lớp Chỉnh huấn cán bộ trí thức, Hồ Chí Minh nói: “Có anh em hỏi một người đã có đạo có thể vào Đảng Lao động được không? Có Người tôn giáo nào cũng được, miễn là trung thành, hăng hái làm nhiệm vụ, giữ đúng kỷ luật của Đảng Nước ta kinh tế lạc

Trang 37

hậu, kỹ thuật kém, tôn giáo là duy tâm, cộng sản là duy vật, nhưng trong điều kiện hiện tại, người theo đạo vẫn vào Đảng được”

Quán triệt quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo vào quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam với các chủ trương cùng nhiều chỉ đạo cụ thể Ngày 20/6/1994, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Thông báo số 76 TB/TW về việc Sinh hoạt tôn giáo của đảng viên có đạo và kết nạp đảng viên là người có đạo; chủ trương này sau đó được cụ thể hóa tại Hướng dẫn số 03 - HD/TCTW ngày 14/4/1995, của Ban Tổ chức Trung ương về việc Đảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn giáo và phát triển đảng viên là người gốc đạo Từ thực tiễn thành tựu, hạn chế của quá trình thực hiện hai văn kiện trên và để công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo đạt kết quả tốt, đáp ứng yêu cầu của cách mạng giai đoạn mới, ngày 28/9/2004, Bộ Chính trị đã ra Quyết định số 123 - QĐ/TW về Một số điểm về kết nạp đảng viên đối với người

có đạo và đảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn giáo, sau đó, Ban Tổ chức Trung ương đã cụ thể hóa Quyết định trên bằng Hướng dẫn số 40 - HD/BTCTW ngày 08/4/2005 về Thực hiện Quy định số 123 - QĐ/TW ngày 28/9/2004 của Bộ Chính trị Một số điểm về kết nạp đảng viên đối với người

có đạo và đảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn giáo Ngày 06 tháng 10 năm 2014, Bộ Chính trị có Kết luận số 104/KL/TW về tiếp tục thực hiện Quy định số 123 - QĐ/TW ngày 28/9/2004 của Bộ Chính trị Một số điểm

về kết nạp đảng viên đối với người có đạo và đảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn giáo và mới đây nhất, ngày 28/8/2018, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Quy định số 06 - QĐ/TW quy định một số điểm về kết nạp đảng viên đối với người theo tôn giáo và đảng viên là người theo tôn giáo tham gia sinh hoạt tôn giáo (Quy định số 06-QĐ/TW thay thế Quy định

số 123 - QĐ/TW ngày 28/9/2004)

Trang 38

1.3 Nội dung, phương châm, quy trình công tác phát triển đảng viên

1.3.1 Nội dung

Kết nạp đảng viên là một công tác quan trọng, phải tuân theo những quy định chặt chẽ của Đảng Từ quy định chung về kết nạp đảng viên và kinh nghiệm của những tổ TCCSĐ đã thực hiện tốt công tác phát triển đảng viên Công tác phát triển đảng viên là CSCVNTH Phật giáo bao gồm nhiều mặt, khâu công tác có quan hệ mật thiết với nhau, từ chỉ đạo, tạo nguồn, lựa chọn, bồi dưỡng đối tượng đến thẩm tra, xét duyệt, kết nạp và bồi dưỡng đảng viên

dự bị Để các TCCSĐ thực hiện đạt kết quả công tác phát triển đảng viên là CSCVNTH Phật giáo, các cấp uỷ và tổ chức đảng cần tập trung thực hiện tốt những nội dung chủ yếu sau đây (07 nội dung):

Một là, tạo nguồn phát triển đảng viên

Các cấp ủy đảng triển khai chủ trương phát triển đảng viên của Đảng cho các tổ chức có liên quan và chỉ đạo thực hiện Tập trung chỉ đạo các tổ chức đoàn thể quần chúng như Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức các phong trào hoạt động sôi nổi thu hút đông đảo hội viên, đoàn viên, như: phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao; thi đua rèn đức, luyện tài, xây dựng xóm, thôn, phố văn hoá, giảm nghèo, dồn điền đổi thửa để phát triển sản xuất chuyên canh với quy mô lớn hơn…để mời các quần chúng là CSCVNTH Phật giáo tham gia Thông qua các phong trào đó, các tổ chức đoàn thể phát hiện, lựa chọn những CSCVNTH Phật giáo ưu tú, xuất sắc giới thiệu cho chi bộ đảng bồi dưỡng kết nạp họ vào Đảng

Hai là, đưa những quần chúng thuộc nguồn phát triển đảng viên vào kế

hoạch phát triển đảng viên

Khi có nguồn phát triển đảng viên (với CSCVNTH thường là từ MTTQ

Trang 39

VN) giới thiệu, chi uỷ, chi bộ họp xem xét đưa những người này vào kế hoạch phát triển đảng viên Nên mời đại diện các đoàn thể trên địa bàn dự cuộc họp này với tư cách là cuộc họp chi uỷ mở rộng Sau đó đưa ý kiến của chi uỷ về vấn đề này để chi bộ thảo luận và quyết định trong cuộc họp chi bộ gần nhất Chi uỷ đề nghị đảng uỷ xã, phường, thị trấn xem xét, phê duyệt kế hoạch phát triển đảng viên của chi bộ

Việc xét duyệt đưa những quần chúng là nguồn phát triển đảng viên vào kế hoạch phát triển đảng viên cần đảm bảo dân chủ, khách quan, chú ý đến những quần chúng là CSCVNTH Phật giáo Trong những trường hợp cần thiết được thực hiện riêng lẻ (bí mật) đảm bảo không ảnh hưởng đến các tôn giáo bạn và các thế lực thù địch, chống phá, xuyên tạc…

Ba là, bồi dưỡng đối tượng kết nạp Đảng

Cử các đối tượng trong kế hoạch phát triển đảng viên tham dự lớp học

“Bồi dưỡng nhận thức về Đảng”, các lớp học này cần được tổ chức nghiêm túc, nội dung phong phú, bố trí thời gian phù hợp với đối tượng Phải cấp giấy chứng nhận kết quả học tập để làm căn cứ cho việc xét duyệt kết nạp họ vào Đảng Sau khi kết thúc lớp học, cấp ủy cơ sở cần định kỳ gặp gỡ các đối tượng để nắm chắc tình hình phấn đấu và xử lý kịp thời những vướng mắc của đối tượng kết nạp Đảng

Chi bộ phân công đảng viên theo dõi giúp đỡ đối tượng kết nạp Đảng Chú ý phân công ít nhất một đảng viên ưu tiên là CSCVNTH Phật giáo hoặc tin theo đạo Phật kết hợp với một đảng viên khác để giúp đỡ quần chúng là CSCVNTH Phật giáo rèn luyện để trở thành đảng viên Nên phân công đảng viên là người cùng thôn, xóm, có phẩm chất đạo đức tốt, năng lực công tác để giúp đỡ quần chúng này sớm phấn đấu trở thành đảng viên Quá trình giúp đỡ đối tượng phấn đấu vào Đảng cần kết hợp với sự bồi dưỡng, rèn luyện, hỗ trợ của tổ chức Giáo hộ Phật giáo Trong các cuộc họp chi bộ thường kỳ, đảng

Trang 40

viên được phân công giúp đỡ đối tượng phấn đấu vào Đảng cần báo cáo tình hình rèn luyện phấn đấu của đối tượng trước chi bộ, nếu cần

Bốn là, thẩm tra lý lịch và hoàn thiện hồ sơ kết nạp Đảng

Khi đối tượng kết nạp Đảng có đủ tiêu chuẩn, điều kiện để xét kết nạp vào Đảng, chi uỷ hướng dẫn đối tượng làm các thủ tục hoàn thiện hồ sơ kết nạp Đảng, gồm: đơn xin vào Đảng, lý lịch và các văn bản khác theo quy định Cấp ủy cần cung cấp mẫu lý lịch, mẫu phiếu điều tra lý lịch, mẫu biên bản họp tổ chức quần chúng xét đề nghị kết nạp đảng viên Những văn bản này phải theo hướng dẫn của cấp trên, gọn, mạch lạc, đầy đủ và khoa học, tránh tình trạng làm đi, làm lại nhiều lần gây tâm lý căng thẳng đối với đối tượng được xét duyệt kết nạp Đảng

Việc thẩm tra lý lịch của người xin vào Đảng cần được tiến hành nhanh gọn, đảm bảo chính xác và đúng thủ tục Đối với các đảng bộ xã, thị trấn và chi bộ cơ sở, Giáo hội PGVN tiến hành công việc này có nhiều thuận lợi Cấp

uỷ cần nghiên cứu nắm chắc nội dung của Quy định số 06-QĐ/TW ngày 28 tháng 8 năm 2018 của Ban Chấp hành Trung ương về một số điểm kết nạp đảng viên đối với người theo tôn giáo và đảng viên là người theo tôn giáo tham gia sinh hoạt tôn giáo và Quy định số 29-QĐ/TW ngày 25 tháng 7 năm

2016 về thi hành Điều lệ Đảng

Năm là, xét kết nạp đảng viên

Cấp uỷ cơ sở cần duy trì chế độ xét kết nạp đảng viên Các huyện ủy,

thị, thành ủy nên định kỳ tổ chức xét kết nạp đảng viên 3 đến 4 lần trong một năm vào những dịp kỷ niệm các sự kiện chính trị lớn, như: kỷ niệm ngày thành lập Đảng (3-2), ngày Quốc tế lao động (1-5), ngày Quốc khánh (2-9)…

Sáu là, tổ chức lễ kết nạp đảng viên

Lễ kết nạp đảng viên có ý nghĩa rất lớn đối với mỗi đảng viên, là mốc đánh giá sự trưởng thành của họ và là thành tích của tổ chức đảng Buổi lễ kết

Ngày đăng: 20/04/2023, 06:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Ban Tuyên giáo Trung ương (2017), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XII
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2017
5. Ban Tôn giáo chính phủ (2018), Công tác phát triển đảng viên trong cốt cát một số tôn giáo lớn ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác phát triển đảng viên trong cốt cát một số tôn giáo lớn ở Việt Nam
Tác giả: Ban Tôn giáo chính phủ
Năm: 2018
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hôi đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hôi đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Hội nghị Trung ương III khóa X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Trung ương III khóa X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Hội nghị Trung ương V khóa X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Trung ương V khóa X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị Trung ương VI khóa X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Trung ương VI khóa X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Văn kiện Hội nghị Trung ương IV khóa XI, Nxb Chính tri quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Trung ương IV khóa XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính tri quốc gia
Năm: 2012
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2016
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Hội nghi Trung ương IV khóa XII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghi Trung ương IV khóa XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2016
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2017), Văn kiện Hội nghị Trung ương V Khóa XII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Trung ương V Khóa XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2017
18. Điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
20. Đỗ Quang Hưng (2008), Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam, lý luận và thực tiễn, Nxb Lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam, lý luận và thực tiễn
Tác giả: Đỗ Quang Hưng
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2008
21. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2018), Giáo trình dành cho hệ đào tạo Cao cấp lý luận chính trị, Nxb Lý luận Chính trị, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình dành cho hệ đào tạo Cao cấp lý luận chính trị
Tác giả: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Lý luận Chính trị
Năm: 2018
22. Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm khoa học về tín ngưỡng và tôn giáo (1998), Trích tác phẩm của C.Mác- Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo, HN, tr. 5 - 137 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trích tác phẩm của C.Mác-Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo
Tác giả: Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm khoa học về tín ngưỡng và tôn giáo
Năm: 1998
24. Hồ Chí Minh (2000), toàn tập, tập 5, Nxb Cính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: toàn tập, tập 5
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Cính trị quốc gia
Năm: 2000
26. Lê Thị Thắm “Công tác phát triển đảng viên ở Đảng bộ huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An hiện nay”, luận văn Thạc sĩ Xây dựng Đảng và Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Công tác phát triển đảng viên ở Đảng bộ huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An hiện nay”
27. Nghị định số 162/2017/NĐ-CP, Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo, Công báo, 01/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 - Tỷ lệ đảng viên là người có đạo - Công tác phát triển đảng viên là chức sắc, chức việc, nhà tu hành phật giáo ở việt nam hiện nay
Hình 2.1 Tỷ lệ đảng viên là người có đạo (Trang 53)
Hình 2.2 – Số lƣợng đảng viên là CSCVNTH Phật giáo ở Việt Nam - Công tác phát triển đảng viên là chức sắc, chức việc, nhà tu hành phật giáo ở việt nam hiện nay
Hình 2.2 – Số lƣợng đảng viên là CSCVNTH Phật giáo ở Việt Nam (Trang 55)
Bảng 2.1 Kết quả khảo sát về việc quan tâm tới tổ chức đảng của - Công tác phát triển đảng viên là chức sắc, chức việc, nhà tu hành phật giáo ở việt nam hiện nay
Bảng 2.1 Kết quả khảo sát về việc quan tâm tới tổ chức đảng của (Trang 59)
Bảng 2.2: Kết quả khảo sát về việc các nhà tu hành Phật giáo nhận  thức, chấp hành chủ trương, chính sách pháp luật về việc kết nạp đảng - Công tác phát triển đảng viên là chức sắc, chức việc, nhà tu hành phật giáo ở việt nam hiện nay
Bảng 2.2 Kết quả khảo sát về việc các nhà tu hành Phật giáo nhận thức, chấp hành chủ trương, chính sách pháp luật về việc kết nạp đảng (Trang 60)
Bảng 2.3: Kết quả khảo sát nguyện vọng của các nhà tu hành Phật - Công tác phát triển đảng viên là chức sắc, chức việc, nhà tu hành phật giáo ở việt nam hiện nay
Bảng 2.3 Kết quả khảo sát nguyện vọng của các nhà tu hành Phật (Trang 61)
Bảng 2.4: Kết quả khảo sát về thủ tục kết nạp và nơi sinh hoạt - Công tác phát triển đảng viên là chức sắc, chức việc, nhà tu hành phật giáo ở việt nam hiện nay
Bảng 2.4 Kết quả khảo sát về thủ tục kết nạp và nơi sinh hoạt (Trang 62)
Bảng 2.5: Kết quả khảo sát mức độ hiểu biết của các nhà tu hành - Công tác phát triển đảng viên là chức sắc, chức việc, nhà tu hành phật giáo ở việt nam hiện nay
Bảng 2.5 Kết quả khảo sát mức độ hiểu biết của các nhà tu hành (Trang 64)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w