1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số của đảng bộ tỉnh gia lai hiện nay

126 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số của đảng bộ tỉnh Gia Lai hiện nay
Tác giả Phạm Thị Hòa
Người hướng dẫn TS. Đỗ Minh Tuấn
Trường học Học viện Báo chí và Tuyên truyền - https://hva.edu.vn
Chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Gia Lai
Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy có thể hiểu công tác dân vận là công việc của toàn bộ hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng tiến hành tập hợp vận động, đoàn kết nhân dân, đưa chủ trương, đường lối của Đả

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

PHẠM THỊ HÕA

CÔNG TÁC DÂN VẬN TRONG ĐỒNG BÀO

DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH GIA LAI

HIỆN NAY

Ngành: Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước

Mã số: 8310202

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Đỗ Minh Tuấn

GIA LAI - 2022

Trang 2

Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

Hà Nội, ngày 19 tháng 5 năm 2022

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS,TS Nguyễn Thị Trường Giang

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Đỗ Minh Tuấn Các số liệu, nội dung nêu trong Luận văn

là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Gia Lai, ngày 19 tháng 5 năm 2022

Tác giả

Phạm Thị Hòa

Trang 4

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện Luận văn, tác giả đã nhận được sự động viên, khuyến khích và tạo điều kiện của các thầy, cô giáo

và các anh, chị, em trong lớp Tác giả bày tỏ sự biết ơn đối với các thầy, cô giáo Học viện Báo chí và Tuyên truyền, nhất là các thầy cô giáo của Khoa Xây dựng Đảng

Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Đỗ Minh Tuấn - người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tác giả

tiến hành các hoạt động nghiên cứu để hoàn thành Luận văn này

Với thời gian nghiên cứu còn hạn chế, thực tiễn công tác lại vô cùng sinh động, Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót; tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành từ thầy, cô giáo, bạn bè Trân trọng cảm ơn!

Gia Lai, ngày tháng 3 năm 2022

Tác giả

Phạm Thị Hòa

Trang 5

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC DÂN VẬN

TRONG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH 10

1.1 Đảng bộ tỉnh và đồng bào dân tộc thiểu số 10

1.2 Công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số của đảng bộ tỉnh - khái niệm, nội dung, phương thức và vai trò 19

Chương 2 CÔNG TÁC DÂN VẬN TRONG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH GIA LAI - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN, KINH NGHIỆM 36

2.1 Khái quát về tỉnh Gia Lai; tình hình kinh tế - xã hội đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh 36

2.2 Thực trạng công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh Gia Lai 40

2.3 Nguyên nhân và một số kinh nghiệm về công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh Gia Lai 68

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC DÂN VẬN TRONG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH GIA LAI THỜI GIAN TỚI 76

3.1 Dự báo những yếu tố tác động đến công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Gia Lai 76

3.2 Mục tiêu, phương hướng công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh Gia Lai trong thời gian tới 82

3.3 Những giải pháp chủ yếu tăng cường công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh Gia Lai thời gian tới 85

KẾT LUẬN 97

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

PHỤ LỤC 104

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xuất phát từ quan điểm quần chúng nhân dân là người làm nên lịch sử, cách mạng phải là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, ngay từ khi xây dựng học thuyết cách mạng, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin đã đặt trọng tâm vào công tác nghiên cứu, xây dựng, phát triển lý luận về công tác vận động quần

chúng Phát triển tư tưởng của C.Mác và Ăng-ghen trong thời đại đế quốc chủ

nghĩa và cách mạng vô sản, Lênin đã khẳng định rằng: “Chủ nghĩa xã hội sinh động và sáng tạo là sự nghiệp của bản thân quần chúng Nhân dân” [36; tr.251] Quần chúng Nhân dân không chỉ là người sáng tạo ra mọi của cải vật chất và tinh thần của xã hội, mà còn là một lực lượng cách mạng to lớn

Kế thừa và phát triển sáng tạo những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng Theo Người, công tác dân vận có vai trò hết sức quan trọng trong việc khơi dậy động lực, niềm tin, khát vọng phát triển của dân tộc và sẽ trở thành hiện thực khi vận động được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia làm chủ sự nghiệp cách mạng Người khẳng định: “Không

có lực lượng nhân dân thì việc nhỏ mấy, dễ mấy, làm cũng không xong; có lực lượng nhân dân, thì việc khó mấy, to mấy cũng làm được” [48; tr.58]

“Trong mọi việc đều phải dựa vào quần chúng…, lấy sức quần chúng mà vượt qua khó khăn” [48; tr.65]

Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới đất nước hơn 30 năm qua đã khẳng định: Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Trong mọi nhiệm vụ cách mạng, Đảng ta luôn đề cao vai trò của công tác dân vận, xác định rõ công tác dân vận là công việc thường xuyên của cấp ủy, chính quyền các cấp, mặt trận Tổ quốc và các

tổ chức chính trị - xã hội để tổ chức thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước

Trang 7

Nhận thức rõ vị trí vai trò của công tác dân vận, trong thời gian qua, tỉnh Gia Lai đã tích cực, chủ động triển khai các nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy chế của Đảng, Nhà nước và của Đảng bộ tỉnh về công tác dân vận, trong đó, đặc biệt chú trọng đến công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số Nhờ đó, tình hình nhân dân, tình hình dân tộc, tôn giáo trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định; các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo

và đạt được những kết quả quan trọng Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác dân vận trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn những hạn chế, như: Công tác dự báo, nắm tình hình nhân dân và những vấn đề mới nảy

sinh có lúc chưa sát, chưa kịp thời; phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” ở một số nơi, một số lĩnh vực chưa được thực hiện đầy đủ; quản lý

Nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo có mặt còn hạn chế; một số vụ việc liên quan đến vấn đề tôn giáo, an ninh nông thôn trong đồng bào dân tộc thiểu số ở

cơ sở giải quyết chưa triệt để, còn lúng túng Còn tồn tại một số phong tục tập

quán lạc hậu của đồng bào các dân tộc thiểu số; trình độ dân trí thấp; đội ngũ

cán bộ dân tộc thiểu số ở các cấp, nhất cán bộ nòng cốt dân vận và cán bộ ở

cơ sở trình độ, năng lực còn hạn chế; việc giải quyết vấn đề đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho người dân còn khó khăn và nhiều vấn đề phải quan tâm hơn Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương, đòi hỏi công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh Gia Lai phải có những giải pháp cụ thể, thiết thực để phát huy những ưu điểm, khắc phục những tồn tại, hạn chế Đây là một trong những nội dung, nhiệm vụ cấp thiết của Đảng bộ tỉnh trong thời gian tới Xuất phát từ tình hình trên, tác giả chọn vấn đề:

“Công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh Gia

Lai hiện nay” làm đề tài Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ, chuyên ngành Xây dựng

Đảng và Chính quyền Nhà nước

Trang 8

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến Luận văn

2.1 Các cuốn sách đã xuất bản

- Ban Dân vận Trung ương (2015), Cẩm nang công tác dân vận Nxb

Chính trị Quốc gia Sự thật Cuốn sách gồm bốn phần, cập nhật những công văn, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội

về công tác dân vận; là tài liệu quan trọng, cần thiết để thực hiện công tác dân vận trong tình hình mới

- Nguyễn Văn Linh (2012), Về công tác vận động quần chúng Nxb

Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Cuốn sách đã tổng hợp những bài phát biểu, trả lời phỏng vấn của đồng chí Nguyễn Văn Linh (Nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam) về công tác dân vận, mặt trận, công đoàn, thanh niên, liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật, phụ nữ, tôn giáo và người Hoa, cuốn sách dù được xuất bản đã lâu song các nội dung cuốn sách thực sự hữu ích cho cán cán bộ làm công tác dân vận hiện nay

- Nguyễn Thế Trung (2016), Một số vấn đề về công tác dân vận trong giai đoạn hiện nay Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật Nội dung cuốn sách gồm

một số bài viết của đồng chí Nguyễn Thế Trung - nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nguyên Trưởng Ban Dân vận Trung ương được lựa chọn đăng trên các tạp chí, kỷ yếu khoa học thuộc các bộ, ban, ngành Trung ương; cuốn sách đề cập đến những nội dung công tác dân vận có giá trị lý luận và thực tiễn, là tài liệu tham khảo bổ ích cho bạn đọc và cán bộ làm công

Trang 9

2.2 Các bài viết đăng trên các báo, tạp chí

- Lê Văn Hội, Tác phẩm “dân vận” của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ý nghĩa đối với công tác dân vận của Đảng hiện nay Tạp chí Cộng sản, ngày

29 tháng 01 năm 2021 Bài viết đề cập đến một số nội dung cốt lõi về tác phẩm “dân vận” của Chủ tịch Hồ Chí Minh; đánh giá một số kết quả đạt được trong công tác dân vận của Đảng và nêu ra những luận cứ để đi đến khẳng định ý nghĩa của tác phẩm đối với công tác dân vận của Đảng hiện nay

- Trương Thị Mai, Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác dân vận chính quyền trong tình hình mới Tạp chí Cộng sản, ngày 09 tháng 03

năm 2020 Bài viết đã khái quát về những kết quả đạt được trong công tác dân vận chính quyền thời gian qua; đồng thời, đề xuất những giải pháp, phương hướng nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác dân vận chính quyền trong tình hình mới

- Trương Thị Mai, “Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” Báo

Điện tử Nhân dân, ngày 11 tháng 10 năm 2020 Bài viết đã làm rõ vai trò, tác dụng của “dân vận khéo” qua các thời kỳ cách mạng của nước ta và tiếp tục khẳng định vai trò của “dân vận khéo” trong thời kỳ cách mạng mới; bài viết cũng đưa ra một số giải pháp nhằm tiếp tục thực hiện tốt phong trào “dân vận

khéo” trong thời gian tới

- Phạm Thị Nhung, Học tập và làm theo phương pháp dân vận Hồ Chí Minh Tạp chí Xây dựng Đảng, ngày 18 tháng 7 năm 2018 Bài viết đã khái

quát những nội dung cơ bản về phương pháp dân vận Hồ Chí Minh; đồng thời, đưa ra một số giải pháp nhằm tiếp tục học tập và làm theo phương pháp dân vận của Bác trong tình hình mới

- Phan Hòa, Dân vận khéo trong đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Gia Lai Báo Điện tử Nhân dân, ngày 24 tháng 11 năm 2020 Bài viết đã đề cập và

phản ánh trung thực việc triển khai thực hiện công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh Gia Lai; trong đó, nhấn mạnh đến vai trò của cấp ủy

Trang 10

các cấp trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, sự tham gia của lực lượng vũ trang tỉnh trong công tác dân vận và sự hưởng ứng, đồng lòng của nhân dân các dân tộc trong tỉnh

2.3 Các luận án, luận văn, đề tài khoa học

- Vũ Xuân Thủy (2017), Các tỉnh ủy ở Tây Nguyên lãnh đạo công tác dân vận giai đoạn hiện nay Luận án Làm rõ vị trí, vai trò và nội dung,

phương thức lãnh đạo của các tỉnh ủy đối với công tác dân vận của các tỉnh Tây Nguyên; chỉ ra một số kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân vận từ 2010 đến nay; trên cơ sở đó, đưa ra một số giải pháp mới nhằm tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy với công tác dân vận ở các tỉnh Tây nguyên trong thời gian tới

- Đăng Văn Khương (2021), Năng lực công tác dân vận của chính trị viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh Luận án đã làm rõ thực chất và những nhân

tố cơ bản quy định năng lực công tác dân vận của chính trị viên theo tư tưởng

Hồ Chí Minh; đánh giá thực trạng và xác định yêu cầu cơ bản về nâng cao năng lực công tác dân vận của chính trị viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh; đề xuất giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực công tác dân vận của chính trị viên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh

* Luận văn thạc sỹ

- Đặng Thị Kiều Liên (2017), Công tác dân vận của chính quyền cấp huyện ở tỉnh Quảng Ninh giai đoạn hiện nay Luận văn đã làm rõ những vấn

Trang 11

đề lý luận về quan niệm, nội dung và phương thức công tác dân vận chính quyền cấp huyện ở tỉnh Quảng Ninh giai đoạn hiện nay, chỉ ra được những ưu điểm, hạn chế trong thực hiện công tác dân vận chính quyền cấp huyện đồng thời Luận văn đã đề xuất mục tiêu, phương hướng và đề xuất các giải pháp tăng cường công tác dân vận ở các huyện tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới

- Lò Thị Lên (2018), Công tác dân vận của Ủy ban nhân dân cấp xã

ở tỉnh Điện Biên giai đoạn hiện nay Luận văn làm rõ quan niệm, đặc điểm,

nội dung, phương thức, vai trò công tác dân vận của Ủy ban nhân dân cấp

xã ở tỉnh Điện Biên Trên cơ sở đó, luận văn đã phân tích, đánh giá thực trạng công tác dân vận của ủy ban nhân dân cấp xã, rút ra các kinh nghiệm

Từ đó, Luận văn đã đề xuất các phương hướng và các giải pháp chủ yếu tăng cường công tác dân vận của ủy ban nhân dân cấp xã ở tỉnh Điện Biên trong thời gian tới

- Nguyễn Xuân Tiến (2019), Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận và công tác dân vận ở tỉnh Gia Lai hiện nay Luận văn nêu rõ quan điểm của Hồ

Chí Minh về công tác dân vận; sự vận dụng và kết quả triển khai công tác dân vận ở tỉnh Gia Lai; trên cơ sở đó, đề ra phương hướng, giải pháp thực hiện

công tác dân vận ở tỉnh Gia Lai trong thời gian tới

- Lò Thị Dung (2020), Công tác dân vận của chính quyền cấp huyện ở tỉnh Sơn La giai đoạn hiện nay Luận văn đã làm rõ quan niệm, đặc điểm, nội

dung, phương thức, vai trò công tác dân vận của chính quyền cấp huyện ở tỉnh Sơn La; chỉ ra nguyên nhân, rút ra những kinh nghiệm có giá trị Luận văn đã

đề xuất mục tiêu, phương hướng và đề xuất các giải pháp tăng cường công tác dân vận của chính quyền cấp huyện ở tỉnh Sơn La thời gian tới

Trang 12

đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân tộc, tôn giáo ở Tây Nguyên

- Ban Dân vận Tỉnh ủy Gia Lai (2015), Nâng cao hiệu quả công tác thông tin, báo cáo trong hệ thống dân vận của tỉnh Gia Lai Đề tài nghiên cứu

thực trạng, giải pháp nâng cao chất lượng công tác thông tin, báo cáo trong hệ thống dân vận tỉnh Gia Lai, giai đoạn 2010 - 2014 Đề tài đã đánh giá khách quan thực trạng, phân tích nguyên nhân của hạn chế, yếu kém và đưa ra các giải pháp cụ thể để khắc phục các hạn chế, yếu kém

- Ban Dân vận Tỉnh ủy Gia Lai (2015), Lịch sử công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh Gia Lai (1945 - 2014) Đề tài nghiên cứu lịch sử công tác dân

vận của Đảng bộ tỉnh Gia Lai giai đoạn 1945 - 2014 Đề tài trình bày công phu, có hệ thống lịch sử công tác dân vận của 6 Đảng bộ tỉnh, từ đó rút ra một

số bài học kinh nghiệm có giá trị

Một số công trình nêu trên đề cập đến nhiều góc độ khác nhau về sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn hiện nay Kết quả của các công trình nghiên cứu trên là tài liệu tham khảo hữu ích đối với tác giả trong trình bày, phân tích những vấn đề lý luận của đề tài Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình, đề tài khoa học nào nghiên cứu một cách có hệ thống và cụ thể về công tác dân vận trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh Gia Lai hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn

3.1 Mục đích của Luận văn

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về công tác dân vận trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh, luận văn tiến hành khảo sát thực trạng công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số của đảng bộ tỉnh Gia Lai, từ đó đề xuất phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác dân vận trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh Gia Lai trong thời gian tới

Trang 13

3.2 Nhiệm vụ của Luận văn

- Làm rõ những vấn đề lý luận về công tác dân vận trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh

- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác dân vận trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh Gia Lai; từ đó, chỉ ra nguyên nhân và rút ra những kinh nghiệm

- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp chủ yếu có tính khả thi nhằm tăng cường công tác dân vận trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh Gia Lai trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu của Luận văn

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác dân vận trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh Gia Lai

4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Phạm vi nội dung: Công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số

- Phạm vi về không gian: Ở Đảng bộ tỉnh Gia Lai

- Phạm vi thời gian: Từ năm 2015 đến nay

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác

- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng về công tác dân vận và dân vận trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số

5.2 Cơ sở thực tiễn: Thực trạng về công tác dân vận trong vùng đồng

bào dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh Gia Lai hiện nay

5.3 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin; đồng thời, sử dụng các phương pháp: Lịch sử và lôgic, khảo sát, phân tích - tổng hợp, tổng kết thực tiễn

Trang 14

6 Đóng góp mới của luận văn

- Góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh Gia Lai hiện nay

- Đề xuất những phương hướng và giải pháp chủ yếu có tính khả thi nhằm tăng cường công tác dân vận trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh Gia Lai trong thời gian tới

7 Ý nghĩa về lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm cơ sở khoa học, thực tiễn

để tham khảo, vận dụng vào thực tiễn lãnh đạo công tác dân vận trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong thời gian tới ở tỉnh Gia Lai

- Luận văn làm tài liệu tham khảo cho các cấp ủy, chính quyền, các sở, ban ngành nhằm nâng cao chất lượng công tác dân vận trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay

- Luận văn còn làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy tại Trường Chính trị tỉnh Gia Lai

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 03 chương 8 tiết

Trang 15

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC DÂN VẬN

TRONG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH

1.1 Đảng bộ tỉnh và đồng bào dân tộc thiểu số

1.1.1 Đảng bộ tỉnh - quan niệm, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và vai trò

1.1.1.1 Quan niệm Đảng bộ tỉnh

Theo nghiên cứu của tác giả, chưa có một khái niệm cụ thể nói về đảng

bộ tỉnh Tuy nhiên, qua nghiên cứu và tổng hợp theo cách hiểu của tác giải thì đảng bộ tỉnh là một cụm từ được nêu lên để nói về một tổ chức Đảng ở địa phương cấp tỉnh, bao gồm các đảng bộ trực thuộc, tổ chức cơ sở đảng, chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở và toàn thể đảng viên toàn đảng bộ

Theo Khoản 2, Điều 9, Chương II, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam:

“Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên Giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo của Đảng là Ban Chấp hành Trung ương, ở mỗi cấp là ban chấp hành đảng bộ, chi bộ (gọi tắt là cấp uỷ)”

Như vậy, đảng bộ tỉnh triển khai, thực hiện các chức năng, nhiệm vụ thông qua sự lãnh đạo, chỉ đạo của ban chấp hành đảng bộ (tỉnh ủy)

1.1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ tỉnh

- Đảng bộ tỉnh lãnh đạo các tổ chức đảng trong tỉnh thực hiện nhiệm vụ chính trị Đảng bộ tỉnh thực hiện chức năng lãnh đạo toàn diện trên các mặt kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị; lãnh đạo công tác cán bộ, xây dựng tổ chức bộ máy tính gọn, hiệu lực, hiệu quả, lãnh đạo tổ chức chính trị xã hội trong sạch vững mạnh Đồng thời, Đảng bộ tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo việc nắm tình hình tư tưởng, định hướng tư tưởng, xây dựng

sự đoàn kết thống nhất, đấu tranh chống tưởng sai trái thù địch, giáo dục đạo

Trang 16

đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, Đảng viên trong toàn đảng bộ tỉnh

Cùng với đó, đảng bộ tỉnh có chức năng lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính, sự nghiệp, quốc phòng, an ninh và các đoàn thể chính trị - xã hội trong sạch, vững mạnh; chấp hành đúng pháp luật và phát huy quyền làm chủ của nhân dân Liên hệ mật thiết với nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân; lãnh đạo cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân tham gia xây dựng và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước

- Đảng bộ tỉnh lãnh đạo các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Thông qua tỉnh ủy để xây dựng nghị quyết chuyên đề, nghị quyết về chỉ tiêu, nhiệm vụ hằng năm nhằm cụ thể hóa nghị quyết đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh; thực hiện việc lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện và tổ chức sơ kết, tổng kết các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và của Tỉnh ủy

Thông qua Tỉnh ủy, xác định nhiệm vụ trọng tâm, đột phá, các chương trình, đề án, dự án trọng điểm; tổ chức triển khai thực hiện thí điểm các chủ trương, mô hình mới theo chỉ đạo của Trung ương; thực hiện tốt những vấn đề

về phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng, công tác tổ chức và cán bộ; công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật trong Đảng theo quy định của Điều lệ Đảng

1.1.1.3 Cơ cấu tổ chức Đảng bộ tỉnh

Đảng bộ tỉnh Gia Lai có 21 đảng bộ trực thuộc (17 đảng bộ cấp huyện

và 04 đảng bộ tương đương cấp huyện); 953 tổ chức cơ sở đảng; 3.490 chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở, trong đó, có 1.576 chi bộ thôn, làng, tổ dân phố, 1.427 chi bộ thôn, làng, tổ dân phố có chi ủy (chiếm 90,5%), 497 đồng chí bí

Trang 17

thư chi bộ đồng thời là trưởng thôn, làng, tổ dân phố (chiếm 31,5%), 1.200 trưởng thôn, làng, tổ dân phố là đảng viên (chiếm 76,1%) Tổng số đảng viên toàn Đảng bộ tỉnh tính đến cuối năm 2021 là 62.959 đồng chí

Công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh được thực hiện thông qua sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh có 53 đồng chí, bao gồm: Các đồng chí Thường trực Tỉnh ủy; bí thư 17 huyện, thị xã, thành phố, đại diện một số sở, ban, ngành tỉnh

1.1.2 Đồng bào dân tộc thiểu số - khái niệm, đặc điểm, vai trò

1.1.2.1 Khái niệm

* Dân tộc thiểu số

Theo Nghị định số 05/2011-NĐ/CP, ngày 14 tháng 01 năm 2011 của Chính phủ, “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

“Dân tộc thiểu số" là một khái niệm được sử dụng phổ biến tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, trong các văn bản của các định chế tài chính quốc tế như các tổ chức quốc tế của Liên hợp quốc như Chương trình phát triển liên hiệp quốc (UNDP), Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB)… thường sử dụng khái niệm "người bản địa", hay các "dân tộc bản địa" thay cho khái niệm "dân tộc thiểu số" Ở nước ta,

khái niệm người bản địa (còn gọi là người bản xứ) xuất hiện vào thời Pháp

thuộc dùng để phân biệt người dân Việt Nam với người Pháp mang màu sắc chính trị Hơn thế nữa, Việt Nam là quốc gia có 54 tộc người sinh sống lâu đời trên lãnh thổ Việt Nam nhưng không có tộc người nào là bản địa hay tộc người nào phi bản địa

Do đó, tộc người thiểu số (dân tộc thiểu số) được sử dụng là phù hợp thực tiễn lịch sử Việt Nam Khái niệm dân tộc thiểu số chỉ có một ý nghĩa là

Trang 18

để phân biệt với tộc người đa số mà tiêu chí phổ dụng là xem xét tỷ lệ dân số tộc người trong tổng dân số quốc gia

Một tộc người chỉ được xem là thiểu số khi đặt dân số tộc người đó với tổng dân số cả nước mà không xem xét ở phạm vi vùng hay địa phương Bởi vì, một tộc người được gọi là thiểu số nhưng đặt trong phạm vi một địa phương nhất định có khi lại chiếm đa số (như người Mường ở tỉnh Hòa Bình, người Thái ở tỉnh Sơn La)

Về thuật ngữ "thiểu số" hay "ít người" không có sự chênh nhau về

hàm nghĩa thiểu số là Hán - Việt, còn ít người là thuần Việt Tuy vậy, cần tránh sự nhầm lẫn là khi nói ít người dễ hiểu lầm với các tộc người thiểu số có

dân số ít (thường dưới 10.000 người), nên thuật ngữ ít người thường được sử

dụng hạn chế Ở Việt Nam, dân tộc thiểu số được hiểu là tộc người thiểu số,

tức 53 tộc người còn lại ngoài người Kinh Đồng thời, cũng cần lưu ý là ở Việt Nam nhiều tài liệu còn phân biệt tộc người này với tộc người khác ở các đặc trưng ngôn ngữ, sinh hoạt văn hóa

1.1.2.2 Đặc điểm

Thứ nhất, đặc điểm về tự nhiên: Ngoài các điều kiện về tự nhiên, khí

hậu (được đề cập đến tại phần khái quát chung về tỉnh Gia Lai ở Chương 2) thì một trong những yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong cách, văn hóa, đời sống người dân Tây Nguyên nói chung và Gia Lai nói riêng là rừng Văn hóa của người Tây Nguyên còn gọi là văn hóa rừng Theo số liệu thống kê năm

2021, rừng Gia Lai có diện tích 645.370,6 ha, tỷ lệ che phủ rừng đạt 46,7% Rừng ở Gia Lai có nhiều gỗ quí như trắc, cẩm lai, hương, huỳnh đàn nhiều lâm sản dưới tán rừng như hổ phục linh, cốt toái, sa nhân, mã tiền Có thể nói, Gia Lai là một kho nguyên liệu gỗ phong phú, tạo tiền đề cho việc phát triển một nền văn hóa truyền thồng đa dạng, độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc

Thứ hai, đặc điểm về xã hội: Theo tài liệu Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Gia Lai, Lịch sử Đảng bộ tỉnh Gia Lai (1945 - 2005), Nxb chính trị Quốc gia

Trang 19

Hà Nội, 2009 Từ những năm đầu thập niên 40 của thế kỉ XIX các giáo sĩ người Pháp bắt đầu truyền đạo ở khu vực cư trú của người Bahnar thuộc xã

Hà Tây, huyện Chư Păh và xã Hà Đông, huyện Đak Đoa Lúc này, người Pháp càng tiến sâu vào Tây Nguyên, tạo ra những xáo trộn mới bằng những chính sách chia để trị, dựa vào nhóm người này để chống nhóm người khác, chia rẽ Kinh - Thượng, chia rẽ các dân tộc trong tỉnh, trong vùng với nhau

Gia Lai có diện tích tự nhiên trên 15.510 km2, dân số 1,5 triệu người, với 44 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 46,22%, chủ yếu là người Jrai và Bahnar Cư dân tại chỗ là người Jrai 412.544 người, người Bahnar 168.388 người Người Việt 772.783 người, họ có mặt và định cư tại

An Khê khoảng thế kỷ 17 và nửa cuối thế kỉ 20 đến nay là sự có mặt của các dân tộc khác như: Tày, Nùng, Mường, Thái, Dao, Hoa, Thổ, Mông, Dao, Sán

Dìu… với dân số 43.685 người

Thứ ba, đặc điểm về cư dân, văn hóa, đời sống tinh thần: Cư dân ở Gia

Lai chia làm 2 bộ phận: Cư dân tại chỗ và cư dân mới đến Cư dân tại chỗ ở Gia Lai gồm 2 dân tộc Jrai và Bahnar đã sinh sống từ lâu đời Trước khi người Pháp đặt ách đô hộ lên Tây Nguyên, cư dân tại chỗ đang ở giai đoạn cuối của xã hội công xã nguyên thủy chuyển sang giai đoạn xã hội có giai cấp Cư dân mới đến có mặt ở Gia Lai muộn hơn Cư dân phân bố không đồng đều, thường tập trung ở trung tâm các huyện, thị xã, thành phố, từng vùng có thể chênh nhau hàng chục lần Sự phân bố dân cư này khiến việc phát triển kinh tế khó đồng đều giữa các vùng Vì giới hạn về độ dài của Luận văn, sau đây tác giả chỉ đề cập khái quát một số đặc điểm nổi bật, có ảnh hưởng đến công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số của hai dân tộc thiểu số

có số lượng dân số đông sinh sống ở Gia Lai như sau:

Dân tộc Bahnar: Theo tài liệu Tượng gỗ dân gian Bahnar, Jrai ở Gia

Lai, Gia Lai của tác giả Hoàng Thanh Hương:

Trang 20

Bahnar là dân tộc thiểu số thuộc ngữ hệ Nam Á, nhóm Môn - Khơ me Người Bahnar được chia nhiều nhóm, như: Nhóm Bahnar Gơlar (Roh - người trên núi); nhóm Bahnar Bơnâm (vùng rừng già); nhóm Bahnar Tơlô; nhóm Bahnar Konkơđek; nhóm Bahnar Chăm Đồng bào sống tập trung ở các huyện Đăk Đoa, Mang Yang, Đăk Pơ, An Khê, Kông Chro, KBang và rải rác ở huyện Ia Pa, Chư Păh [47; tr.20]

Tuy chia ra nhiều nhóm địa phương nhưng về cơ bản người Bahnar có chung một truyền thống văn hóa Truyền thống ấy thể hiện rõ nét trong phương thức sản xuất, phong tục tập quán, lễ hội, văn học nghệ thuật, tín ngưỡng tôn giáo Đời sống của người Bahnar gắn liền với núi rừng, ruộng rẫy với hình thức kinh tế trồng trọt chăn nuôi; loại hình canh tác của người

Bahnar phổ biến nhất là rẫy và ruộng và chăn nuôi nhiều loại gia súc khác

nhau; hình thức chăn nuôi nửa chăn dắt, nửa thả rông Trình độ khoa học kỹ thuật của người Bahnar còn thấp, dựa vào sức lao động là chủ yếu, ít có máy móc, sức kéo hỗ trợ Ngoài hoạt động nông nghiệp, người Bahnar còn một số nghề thủ công phổ biến là dệt, đan lát, mộc, rèn, làm gốm… Nhìn chung, nền kinh tế cổ truyền của người Bahnar chủ yếu dựa vào thiên nhiên và mang tính chất “tự cấp, tự túc” Phần lớn sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi đều dành cho việc tổ chức lễ hội hàng năm Cuộc sống của đồng bào còn khó khăn

Người Bahnar có “tục nối dây”, chồng chết, vợ phải lấy em chồng và

vợ chết, chồng phải lấy em vợ Trong đời sống, phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong mọi công việc của gia đình Hiện nay, gia đình Bahnar đã nghiêng theo dòng họ cha nhưng không hiếm trường hợp con rể có thể sang ở bên phía

vợ [47; tr.26] Cũng như các dân cư tại chỗ ở Tây Nguyên, tín ngưỡng của người Bahnar là tín ngưỡng nguyên thủy - tín ngưỡng đa thần hay còn gọi là tín ngưỡng “Vạn vật hữu linh” Người Bahnar quan niệm có 3 thế giới, một là của con người và những gì họ có thể nhìn thấy xung quanh trên mặt đất, trên bầu trời, hai là thế giới của các linh hồn (a tâu, kiak) - nơi người chết ở (mang

Trang 21

lung), ba là thế giới của các vị thần linh (yang) Con người và thần linh, hồn

ma gặp gỡ nhau bằng những giấc mơ Bên cạnh tín ngưỡng nguyên thủy, hiện nay, người Bahnar đã và đang tin theo các tôn giáo khác như Công giáo, Tin lành, Cao đài, Phật giáo… Và chính hoạt động của các tôn giáo, đặc biệt là đạo Tin lành khi du nhập vào Tây Nguyên, Gia Lai đã “từng bước tác động mạnh mẽ vào đời sống văn hóa, xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số, làm mất

đi những nét đẹp trong văn hóa cổ truyền và làm thay đổi toàn bộ niềm tin tín ngưỡng, phong tục, tập quán của đồng bào các dân tộc thiểu số” [47; tr.28] Trong đó, những hoạt động như: Hạn chế tín đồ tham gia các lễ hội văn hóa, phá bỏ nhiều tập tục truyền thống thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc như uống rượu cần, đánh cồng chiêng, làm tượng gỗ, soang, hát dân ca, kể hơ mon thay các nghi lễ truyền thống bằng nghi lễ tôn giáo, khuyên bảo tín đồ nghe lời mục sư làm giảm vai trò vị thế của già làng, thôn trưởng trong làng, thay thế luật tục bằng các giáo điều của tôn giáo, “một số phần tử phản động còn kêu gọi tín đồ đấu tranh đòi đất đai, đòi quyền tự trị”

Người Jrai: Đây là tộc người có quá trình phát triển lịch sử lâu dài Địa

bàn cư trú của người Jrai chủ yếu nằm ở phía tây, nam của tỉnh, trên các dạng địa hình quan trọng, đặc biệt là những vùng đất màu mỡ ở cao nguyên Pleiku, thuộc các huyện: Chư Păh, Ia Grai, Đức Cơ, Chư Prông, Chư Sê, Chư Pưh, thành phố Pleiku và lưu vực sông Ayun, Ia Pa Theo điều tra của các nhà dân tộc học thì người Jrai chia làm 5 nhóm địa phương và đều có mặt ở Gia Lai, như: Nhóm Jrai Chor; nhóm Jrai Hdrung; nhóm Jrai Aráp; nhóm Jrai Tbuăn (Puôn); nhóm Jrai Mthur (Hroai) [47; tr.30] Cuộc sống của người Jrai gắn với núi rừng, nương rẫy với hình thức kinh tế trồng trọt và chăn nuôi Cũng như người Bahnar, trình độ khoa học kỹ thuật của người Jrai còn thấp Nền sản xuất phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên Sản xuất mang tính chất tự cung

tự cấp Ngoài hoạt động nông nghiệp, người Jrai còn một số nghề thủ công phổ biến là dệt, đan lát, mộc, rèn… phục vụ cuộc sống hằng ngày Tín

Trang 22

ngưỡng của người Jrai là tín ngưỡng nguyên thủy - tín ngưỡng đa thần hay còn gọi là tín ngưỡng “vạn vật hữu linh”, trong tín ngưỡng của người Jrai, các

vị thần có mặt ở khắp mọi nơi [47; tr.32] Người Jrai quan niệm rằng con người sống có linh hồn (bơngat) Vậy nên, ma chay được tiến hành nhiều nghi

lễ phức tạp gắn với phong tục tập quán như lễ bỏ mả Đây là một trong nhiều môi trường để thể hiện và duy trì các loại hình văn hóa, văn nghệ dân gian Người Jrai có một nền văn hóa dân gian đặc sắc Tất cả những giá trị văn hóa

ấy được biểu hiện thông qua các loại hình sinh hoạt lễ hội, múa, văn học, âm nhạc, nghệ thuật tạo hình

1.1.2.3 Vai trò các dân tộc thiểu số ở Gia Lai

Thứ nhất, các dân tộc thiểu số là chủ nhân lâu đời, là người sáng tạo,

phát triển và bảo tồn giá trị văn hóa của Gia Lai

Năm 1948, nhà dân tộc học người Pháp Goerges Condominas phát hiện bộ đàn đá tiền sử niên đại khoảng 3000 năm thấy ở làng Nđut Liêng Krak, huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Lăk, cho thấy đã từng tồn tại nền văn hóa các tộc người Tây Nguyên có từ thời Đồ đá cũ

Thứ hai, người dân tộc thiểu số ở Gia Lai vẫn bảo lưu được một kho

tàng văn hóa phong phú, thể hiện sự khát khao hướng tới những giá trị chân, thiện, mỹ như Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là “Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại” Từ cái nhìn văn hoá học cho thấy, các dân tộc thiểu số ở Tây nguyên, Gia Lai hiện nay không chỉ bảo tồn mà còn phát huy giá trị văn hoá đó trong quá trình hội nhập

Thứ ba, các dân tộc thiểu số ở Gia Lai đã đóng góp to lớn vào lịch sử

dựng nước, giữ nước của Việt Nam và hiện nay họ vẫn là lực lượng to lớn bảo

vệ, giữ gìn vùng phên dậu của đất nước Trong cuộc chiến tranh chống Pháp

và Mỹ, các dân tộc thiểu số ở Gia Lai đã bền lòng theo Đảng, theo Bác Hồ chống bọn xâm lược Ngày nay, trên 32 xã dọc 590 km đường biên giới phía Tây, các dân tộc thiểu số, cùng với đồng bào cả nước chắc tay súng giữ gìn

Trang 23

màu xanh của sự bình yên Thực tế cho thấy, sự ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng biên được quyết định bởi chính trách nhiệm của đồng bào các dân tộc nơi đây

Thứ tư, các dân tộc thiểu số là lực lượng xã hội quan trọng tham gia

xây dựng, phát triển của Gia Lai Chiếm gần 50% dân số trong tỉnh, đồng bào dân tộc thiểu số đã góp phần to lớn vào sự phát triển mọi mặt của địa phương

Đồng bào không chỉ là lực lượng bảo tồn những giống vật nuôi, cây trồng truyền thống, có giá trị cao ở các địa phương, mà còn là lực lượng đưa tiến bộ của khoa học - kỹ thuật, phương pháp mới vào sản xuất, đưa giống mới tạo nên những thương hiệu nổi tiếng, là đặc sản, sản vật của vùng miền Sau năm 1975, nhiều người dân thuộc các dân tộc thiểu số ở các nơi khác, nhất là ở phía Bắc đến Gia Lai định cư cũng mang đến nhiều sắc thái giá trị mới cho vùng đất trù phú này, như truyền thống cần cù lao động, chịu thương chịu khó; lối sống tiết kiệm, chắt chiu thành quả; nghị lực phấn đấu và quyết tâm làm giàu Mặt khác, họ là những người có học vấn cao hơn đồng bào dân tộc thiểu số bản địa Họ không chỉ góp phần phát triển Gia Lai mà bản thân họ

là lực lượng nguồn to lớn cho việc xây dựng và phát triển cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ tại chỗ

Thứ năm, trong hệ thống chính trị cơ sở, cán bộ, công chức và cán bộ

không chuyên trách người người dân tộc thiểu số là 4.018 người, chiếm 12,97%; họ là những người gần gũi với đồng bào dân tộc thiểu số, hiểu tiếng nói, phong tục tập quán, tâm lý, lề lối, thói quen của đồng bào dân tộc thiểu

số, nên phát huy có hiệu quả trong tuyên truyền, vận động đồng bào thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

Vì vậy, sự ổn định an ninh chính trị, điều kiện cho sự phát triển bền vững ở Gia Lai được quyết định bởi một phần của cộng đồng các dân tộc thiểu số Do đó, phát huy vai trò của cộng đồng các dân tộc thiểu số trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh là nhân tố quan

Trang 24

trọng đảm bảo cho sự phát triển của vùng đất nhiều nắng gió này, mà lực đẩy không ai khác hơn là đồng bào dân tộc thiểu số

1.2 Công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh - khái niệm, nội dung, phương thức và vai trò

1.2.1 Khái niệm

Theo Đại từ điển tiếng Việt, "công tác" là công việc của Đảng, Nhà nước

và đoàn thể Có thể hiểu "công tác" chính là quá trình thực hiện toàn bộ các công việc của Đảng, Nhà nước, mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội Quá trình công tác bao gồm: Mục tiêu, chương trình, kế hoạch, tổ chức thực hiện

Trong bài báo "Dân vận" đăng trên báo Sự thật, số 120, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra khái niệm đầy đủ, khoa học về "Dân vận": "Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm,

những công việc Chính phủ và Ðoàn thể đã giao cho” [48, tr.232] Bên cạnh

đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ lực lượng làm công tác dân vận là tất cả cán bộ, đảng viên, chính quyền, Đảng, đoàn thể, hội viên của các đoàn thể Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm công tác dân vận không chỉ là công tác tuyên truyền, giải thích cho nhân dân hiểu đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, mà còn là hiểu quyền lợi, trách nhiệm của họ trong việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, tổ chức, tập hợp nhân dân và chăm lo lợi ích, bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân Nội dung về “Dân vận” của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho đến nay vẫn nguyên giá trị để cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức học tập và làm theo trong thực hiện công tác dân vận giai đoạn hiện nay

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: Công tác dân vận hiện nay là toàn

bộ những hoạt động của các tổ chức đảng và các đoàn thể trong hệ thống chính trị nhằm tổ chức, tuyên truyền, vận động, thuyết phục mọi người dân

Trang 25

thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, phát huy vai trò, tiềm năng sáng tạo to lớn của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Từ những luận giải nêu trên, có thể hiểu: Công tác dân vận của Đảng là toàn bộ hoạt động của Đảng nhằm tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tập hợp, hướng dẫn mọi tầng lớp nhân dân, tổ chức các phong trào để nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của cấp ủy, chính quyền địa phương và để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chăm lo, bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân

Nội hàm khái niệm công tác dân vận của Đảng được hiểu: Công tác dân vận là hoạt động tuyên truyền, thuyết phục, vận động, nâng cao nhận thức cho nhân dân hiểu mục tiêu, đường lối, nghị quyết do Đảng đề ra; là quá trình tập hợp, tổ chức, hướng dẫn nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời, đó còn là quá trình chăm lo, bảo vệ lợi ích của nhân dân

Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị tỉnh xác định:

Dân vận và công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của đất nước, là điều kiện quan trọng bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân Công tác dân vận

là trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hệ thống chính trị tỉnh Đảng lãnh đạo trực tiếp công tác dân vận; các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hệ thống chính trị phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, thực hiện hiệu quả công tác dân vận; nêu cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu đối với công tác dân vận; thường xuyên học tập, quán triệt tư tưởng, đạo đức và thực hiện phong cách

Trang 26

dân vận trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh [25; tr.2].

Như vậy, chủ thể chính tiến hành công tác là cả hệ thống chính trị, gồm các tổ chức đảng, các cơ quan nhà nước, mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên các đoàn thể nhân dân, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang

Đối tượng của công tác dân vận là các tầng lớp nhân dân, các hoạt động

và phong trào xã hội mà Đảng, Nhà nước, các đoàn thể tác động tới Dân còn

là chủ thể công tác dân vận, hoạt động dân vận bởi dân cũng phải làm dân vận Mục đích của công tác dân vận là phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chăm lo, bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân; củng cố vững chắc lòng tin của nhân dân đối với Đảng; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân

Như vậy có thể hiểu công tác dân vận là công việc của toàn bộ hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng tiến hành tập hợp vận động, đoàn kết nhân dân, đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh vào cuộc sống, góp phần xây dựng sự đồng thuận xã hội, thực hiện thắng lợi đường lối cách mạng của Đảng; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chăm lo lợi ích cho nhân dân, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân

Thực hiện chủ trương chung của Đảng, Nhà nước và căn cứ tình hình thực tế, Đảng bộ tỉnh Gia Lai xác định công tác dân vận là một trong những nội dung quan trọng trong lãnh đạo chỉ đạo xây dựng và phát triển tỉnh nhà nhanh, bền vững; từ đó, triển khai các nội dung, phương thức hoạt động về công tác dân vận theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng và phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương Từ các quan niệm, khái niệm chung về công tác dân vận có thể quan niệm: Công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh Gia

Trang 27

Lai là toàn bộ hoạt động của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị tỉnh nhằm tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của Tỉnh

ủy, chương trình kế hoạch của Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh, các văn bản chỉ đạo của cấp ủy về công tác dân vận; là quá trình thực hiện có

sự phối hợp của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân hưởng ứng và tích cực tham gia thực hiện thắng lợi các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số nằm trong công tác dân vận chung của tỉnh, với những nội dung, phương thức phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Gia Lai

1.2.2 Nội dung công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số

1.2.2.1 Phổ biến, quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước trong đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số là quán triệt và tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, văn bản chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh liên quan đến công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số; đề ra các nghị quyết, chương trình, kế hoạch lãnh đạo hệ thống chính trị vận động nhân dân nói chung, đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, chấp hành nghiêm chính sách, pháp luật của Nhà nước và các chủ trương, quy định của địa phương Tỉnh ủy lãnh đạo các cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cụ thể hóa nghị quyết, chương trình, kế hoạch của Tỉnh ủy về công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số thành chương trình, kế hoạch, giải pháp thực hiện trên từng lĩnh vực, đối với từng đối tượng nhân dân để vận động nhằm đem lại hiệu quả cao nhất Kịp thời giải quyết những bức xúc, kiến nghị và quyền lợi

Trang 28

chính đáng của nhân dân hiện nay, nhất là vấn đề đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt và phát triển sinh kế cho người dân Trong mỗi nhiệm kỳ, tỉnh Gia Lai đều quán triệt và đề ra nghị quyết, chương trình, kế hoạch công tác dân vận trong đó có dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số; lấy nhiệm vụ trọng tâm phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an sinh xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh; xây dựng Đảng, chính quyền; bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống văn hóa của cộng đồng các dân tộc thiểu số ; chỉ đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị tỉnh cùng các cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị quân đội, công an đóng trên địa bàn phối hợp thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ công tác dân vận Tiêu biểu của công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số ở Gia Lai đó là chủ trương xây dựng làng nông thôn mới trong đồng bào dân tộc thiểu số; Cuộc vận động làm thay đổi nếp nghĩ, cách làm trong đồng bào dân tộc thiểu số để từng bước vươn lên thoát nghèo bền vững

1.2.2.2 Vận động đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của Đảng bộ tỉnh

Để triển khai thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước thì một trong những yếu tố quan trọng nhất là phải vận động nhân dân, trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương Tuyên truyền, giải thích cho các tầng lớp nhân dân hiểu rõ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, luật pháp của Nhà nước về mục tiêu, nhiệm vụ chính trị,

về quyền lợi và trách nhiệm của công dân Nâng cao trình độ dân trí, tạo điều kiện để mỗi người đủ khả năng nhận thức và thực hiện đúng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các quyền lợi và nghĩa vụ công dân Phát động các phong trào thi đua yêu nước trong các tầng lớp nhân dân để thực hiện thành công các mục tiêu kế hoạch kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc

phòng, an ninh… mà Đảng và Nhà nước đặt ra Xây dựng sự đồng thuận

Trang 29

trong xã hội, củng cố và tăng cường khối đoàn kết toàn dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, dưới

sự lãnh đạo của Đảng Vận động nhân dân tham gia các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội; tổ chức xã hội nghề nghiệp, hội từ thiện - nhân đạo, hội hữu

nghị và các hình thức tổ chức và hoạt động khác vì quyền lợi của mỗi người

Xác định được tầm quan trọng của công tác vận động nhân dân, trong

đó có đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương; thời gian qua, Đảng bộ tỉnh Gia Lai đã chỉ đạo các cấp ủy, địa phương, cơ quan đơn vị tăng cường, đổi mới và nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, vận động, nhất là trong vùng đồng bào dân tộc

thiểu số nhằm góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương

1.2.2.3 Chăm lo lợi ích chính đáng và hợp pháp cho đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh

Lợi ích là vấn đề cốt lõi của nội dung công tác dân vận Nói đi đôi với làm, trăm nghe không bằng một thấy Vận động nhân dân thì không chỉ bằng tuyên truyền, giác ngộ mà phải đem đến lợi ích cụ thể cho người dân Dân chỉ

tin Đảng, theo Đảng, gắn bó với Đảng khi lợi ích của họ được đảm bảo

Lợi ích bao gồm: Lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần Lợi ích vật chất:

Khuyến khích, tạo điều kiện để mọi người dân làm giàu theo pháp luật, thực hiện các chính sách xóa đói, giảm nghèo, khắc phục tư tưởng tự ty, ỷ lại,

trông chờ, từng bước xây dựng gia đình, cộng đồng, xã hội phồn vinh Lợi ích tinh thần: Đảm bảo quyền tự do dân chủ hợp pháp cho mọi người dân; duy trì,

phát triển các giá trị tinh thần về văn hóa, đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu

số Mỗi chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đều thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, của quốc gia, dân tộc Xác định các hình thức tổ chức thích hợp với tình hình cơ cấu xã hội - giai cấp đang có sự thay đổi sâu sắc, thu hút và tạo điều kiện cho mọi người, mọi tầng lớp nhân dân tham gia

Trang 30

các công việc chung của Đảng, của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Đề cao trách nhiệm của các tổ chức Đảng, Nhà nước đối với công dân và ngược lại

Trong mọi thời điểm, các thế lực thù địch tìm mọi cách lợi dụng vấn đề dân tộc nhằm chống phá Đảng và chế độ ta Mục đích của chúng là lợi dụng

sự chênh lệch về mức sống và thu nhập giữa các vùng dân tộc, trình độ dân trí của một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn thấp để tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, kích động đồng bào tham gia các cuộc biểu tình, bạo loạn chống đối chính quyền, gây thiệt hại về kinh tế, mất ổn định về chính trị - xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc Vì thế, việc phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số sẽ góp phần nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc và

có vai trò rất quan trọng đối với sự ổn định chính trị - xã hội của địa phương trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Thời gian qua, cùng với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, tỉnh Gia Lai đã cụ thể hóa chủ trương của Trung ương thành các chương trình, kế hoạch phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương nhằm phát triển kinh tế - xã hội, chăm lo lợi ích chính đáng và

hợp pháp cho đồng bào dân tộc thiểu số trong tỉnh

1.2.2.4 Phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ thực sự của đồng bào dân tộc thiểu số

Hiến pháp của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi rõ: “Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam Các dân tộc thực hiện quyền làm chủ của mình bằng hai hình thức trực tiếp và đại diện” Việc thực hiện dân chủ được quy định cụ thể, rõ nét ở Quy chế dân chủ ở cơ sở Thực hiện quy chế dân chủ

ở cơ sở là nhằm phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân ở xã, phường, thị trấn, động viên sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn của đồng bào các dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội, tăng cường đoàn kết các dân tộc, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, xây dựng

Trang 31

đảng bộ, chính quyền và các đoàn thể ở xã trong sạch vững mạnh; ngăn chặn

và khắc phục tình trạng quan liêu, tham nhũng, góp phần vào sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Nước ta có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 15% dân số

cả nước Phần lớn, đồng bào sinh sống ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng

xa, biên giới, hải đảo Đây là những địa bàn có vị trí chiến lược về kinh tế, quốc phòng, an ninh và môi trường sinh thái Do điều kiện lịch sử để lại và kết cấu địa hình tự nhiên dẫn đến sự phát triển không đồng đều giữa các dân tộc và các vùng Cũng như một số địa phương khác, xác định tầm quan trọng

đó, tỉnh Gia Lai luôn chú trọng thực hiện tốt các nội dung liên quan đến phát

huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ thực sự của đồng bào dân tộc thiểu số

1.2.2.5 Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết trong các đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh

Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc ta, được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử Từ khi ra đời, Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn coi trọng việc xây dựng, củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc Dưới sự lãnh đạo của Ðảng, các tầng lớp nhân dân không phân biệt thành phần, giai cấp, dân tộc, tôn giáo, tập hợp đoàn kết trong Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc giành thắng lợi lịch sử trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945

và các cuộc kháng chiến cứu nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Ngày nay,

sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc đang tiếp tục phát huy cao độ, trở thành động lực của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước Ðại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là bài học lớn của cách mạng Việt Nam Thực hiện lời dạy của Bác Hồ: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công” đang là động lực, kết nối sức mạnh vô địch của toàn dân tộc Việt Nam

Trang 32

Là tỉnh có đông đồng bào dân tộc thiểu số cùng sinh sống, Gia Lai luôn chú trọng phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc với những chủ trương phù hợp, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của nhân dân các dân tộc trong tỉnh trong quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc, phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của địa phương; trong đó, chú trọng thực hiện tốt công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số

1.2.3 Phương thức triển khai công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số

1.2.3.1 Công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh được thực hiện thông qua nghị quyết, chủ trương, đường lối, chính sách, chương trình, kế hoạch

Nhằm tạo sự nhất quán trong việc triển khai thực hiện công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số, trước tiên, Đảng phải xây dựng và hoàn thiện các chính sách, chủ trương, ban hành các chỉ thị, nghị quyết về công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số gắn với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh Cấp ủy, các cơ quan, đơn vị, địa phương chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể hóa các văn bản của cấp trên về công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số Phân công cấp ủy xây dựng chương trình công tác quần chúng và tổ chức kiểm tra, giám sát Phải kết hợp phân công cấp ủy phụ trách với xây dựng nề nếp lãnh đạo tập thể công tác dân vận Lãnh đạo chính quyền nhanh chóng cụ thể hóa những chủ trương, chính sách của Đảng thành luật hoặc thành văn bản pháp quy, tạo điều kiện thuận lợi về pháp lý, vật chất, văn hóa để nhân dân làm ăn, sinh sống, học hành, chăm sóc sức khỏe, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của toàn xã hội

Căn cứ tình hình thực tế, từ năm 2015 đến nay, Gia Lai đã chú trọng cụ thể hóa các chương trình kế hoạch công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu

số phù hợp với phong tục tập quán và tình hình thực tiễn của địa phương

Trang 33

1.2.3.2 Công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh được thực hiện thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục

Công tác tuyên truyền là hoạt động xung kích để tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch công tác dân vận của chính quyền cấp huyện Các hoạt động tuyên truyền cần phong phú, đa dạng Căn cứ vào nội dung, đối tượng tuyên truyền để xây dựng phương pháp, hình thức tuyên truyền đảm bảo phù hợp Linh hoạt, sáng tạo kết hợp các phương pháp, hình thức tuyên

truyền, như: Tuyên truyền trực tiếp (tuyên truyền miệng, gặp gỡ cá nhân trao đổi, tọa đàm, thảo luận nhóm); truyên truyền gián tiếp qua các phương tiện

truyền thông đại chúng (truyền thanh, truyền hình) Quan tâm chỉ đạo xây dựng các khẩu hiệu pano, áp phích phù hợp với nội dung tuyên truyền

Nội dung, phương thức tuyên truyền phải luôn được quan tâm đổi mới đảm bảo hiệu quả, phù hợp với từng thời kỳ, từng đối tượng và sự việc cụ thể Cấp ủy, các cơ quan, đơn vị, địa phương trong tỉnh Gia Lai đã luôn chú trọng đối mới, tăng cường công tác tuyên truyền Nhờ đó, đã tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức của cả hệ thống chính trị về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số trong tình hình mới; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền; phát huy vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội trong phối hợp thực hiện công tác dân vận và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân

1.2.3.3 Công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh được thực hiện bằng việc Đảng bộ tỉnh lãnh đạo chính quyền, mặt trận

Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tiến hành công tác dân vận

Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị tỉnh xác định:

Dân vận và công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của đất nước, là điều kiện quan trọng bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân Công tác dân vận là

Trang 34

trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hệ thống chính trị Đảng lãnh đạo trực tiếp công tác dân vận; các cơ quan,

tổ chức, cá nhân trong hệ thống chính trị phối hợp chặt chẽ, đồng

bộ, thực hiện hiệu quả công tác dân vận; nêu cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu đối với công tác dân vận; thường xuyên học tập, quán triệt tư tưởng, đạo đức và thực hiện phong cách dân vận trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh [25; tr.2]

Xác định Dân vận, trong đó có dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số

là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị; Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành

Quyết định số 400-QĐ/TU, ngày 22 tháng 11 năm 2021 về ban hành Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị tỉnh; theo đó, phân công nhiệm vụ cụ

thể cho từng cơ quan đơn vị, địa phương triển khai thực hiện công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số Trong đó, ủy ban nhân dân cấp huyện, tỉnh

cụ thể hóa những chủ trương, chính sách của Đảng thành luật hoặc thành văn bản pháp quy, tạo điều kiện thuận lợi về pháp lý, vật chất, văn hóa để nhân dân làm ăn, sinh sống, học hành, chăm sóc sức khỏe, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của toàn xã hội nói chung và đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tham gia với cấp ủy, chính quyền trong xây dựng chính sách liên quan đến quyền, lợi ích, nghĩa vụ của đoàn viên, hội viên và nhân dân; thực hiện phản biện xã hội theo quy định; phát huy quyền làm chủ của nhân dân tham gia quản lý nhà nước, xây dựng chính quyền các cấp; giám sát hoạt động của cơ quan hành chính và việc thực thi công vụ của cán bộ, công chức, viên chức Các sở, ban, ngành tỉnh căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao để tham gia thực hiện và phối hợp cùng với hệ thống chính trị tỉnh thực hiện công tác dân vận

1.2.3.4 Công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng bộ

Trang 35

tỉnh được thực hiện thông qua công tác tổ chức, cán bộ, sự gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên và phát huy vai trò của già làng, người có uy tín

Bác Hồ từng nói “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” [49, tr.263] Sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên là một trong những yếu tố quan trọng góp phần thực hiện tốt công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số Do đó, người đứng đầu, đảng viên, công chức, viên chức phải gương mẫu thực hiện Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 01

tháng 11 năm 2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định về những điều đảng viên không được làm; Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 07 tháng 6 năm

2012 của Ban Bí thư về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chủ chốt các cấp; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19 tháng

12 năm 2016 của Bộ Chính trị về một số việc cần làm ngay để tăng cường trách nhiệm nêu gương Cùng với đó, thực hiện tốt những nhiệm vụ được giao

gắn với việc xây dựng và thực hành phong cách làm việc "trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân", "Chống thói quan liêu", "Giữ nghiêm kỷ cương"

Bên cạnh đó, đội ngũ già làng, người có uy tín đóng vai trò quan trọng trong tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số; đưa tinh thần chỉ đạo

từ các văn bản của cấp ủy chính quyền đến với đồng bào dân tộc thiểu số một cách thuyết phục, dễ hiểu; đồng thời, vận động bà con nhân dân tham gia các phong trào, cuộc vận động của địa phương Gia Lai là một trong những tỉnh thực hiện tốt việc phát huy già làng, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số trong tuyên truyền, vận động nhân dân góp phần thực hiện tốt công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số

1.2.3.5 Công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh được thực hiện thông qua công tác kiểm tra, giám sát

Tỉnh ủy xây dựng và thực hiện kế hoạch kiểm tra, gám sát việc thực hiện các nghị quyết, kế hoạch công tác dân vận của Tỉnh ủy Qua kiểm tra,

Trang 36

giám sát, tìm ra những việc làm tốt để tiếp tục chỉ đạo để tổ chức thực hiện, biểu dương những địa phương, đơn vị làm tốt công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số, những mô hình, sáng kiến hay; đồng thời, đôn đốc, nhắc nhở, phê bình những cấp ủy, chính quyền, đoàn thể địa phương, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang chưa thực hiện tốt công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số Định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết, để đề ra những kinh nghiệm lãnh đạo, triển khai, tổ chức các phong trào dân vận nhằm bổ sung, hoàn thiện chủ trương, kế hoạch; từ đó, chỉ

ra những cách làm hay, phù hợp, hiệu quả để nhân rộng các điển hình tiên tiến làm tốt công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số

1.2.4 Vai trò của công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số

1.2.4.1 Góp phần đưa đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, các chủ trương, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh của địa phương vào cuộc sống

Công tác dân vận đóng vai trò rất quan trọng trong việc đưa đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, các chủ trương, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh của địa phương vào cuộc sống Nếu Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng, ban hành các chủ trương, chương trình kế hoạch mà không quan tâm triển khai công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số, thì những chủ trương, chính sách không mang lại hiệu quả và không đi vào đời sống của nhân dân

Việc triển khai công tác dân vận trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh Gia Lai trong thời gian qua đã góp phần không nhỏ trong việc đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống bằng những nội dung, phương thức phù hợp với điều kiện thực

tế của tỉnh, tiêu biểu như: Tuyên truyền bằng hai ba thứ tiếng (Kinh, Jrai, Bahnar); xây dựng đội ngũ già làng, trưởng thôn, người có uy tín và cán bộ đồng bào dân tộc thiểu số; triển khai công tác xây dựng làng nông thôn mới

Trang 37

trong đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo…

1.2.4.2 Góp phần củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, đấu tranh chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, so sánh lực lượng chênh lệch, nước ta có xuất phát điểm là một nước phong kiến lạc hậu phải đánh thắng được các nước đế quốc mạnh hơn nhiều lần Để giải quyết nhiệm vụ đó, Đảng và Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối kháng chiến

toàn dân Nhưng lúc này “dân ta chưa đồng tâm hiệp lực” [48; tr.197] Do đó,

phải đi vào quần chúng để vận động, giác ngộ quần chúng, phát triển lực lượng chính trị rộng rãi, lập các đoàn thể cứu quốc Trên cơ sở đó lựa chọn người ưu tú tổ chức ra tự vệ, du kích, lực lượng vũ trang quần chúng, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, huy động sức mạnh toàn dân tộc đứng lên khởi nghĩa

Dân vận trong chiến tranh là để cho mỗi một người dân, trước hết hiểu được cách mạng giải phóng dân tộc là việc của chính bản thân mình, hiểu được cụ thể mình phải làm gì để đạt được mục tiêu chung của cả dân tộc Dân vận là để làm cho toàn dân tộc kiên định niềm tin vào chiến thắng cuối cùng, vào sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh Có như vậy, mới có được lực lượng toàn dân để tiến hành chiến tranh trên khắp cả nước, bằng các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao, không giới hạn các phương thức tiến hành chiến tranh, tạo ra sức mạnh vượt trội để đánh thắng kẻ thù hùng mạnh [43; tr.43]

Trong các thời kỳ đấu tranh cách mạng, công tác dân vận nói chung, dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng, dân vận luôn đóng vai trò quan trọng góp phần củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, đấu tranh chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch

Trang 38

Cũng như một số tỉnh miền núi có đông đồng bào dân tộc thiểu số khác, tỉnh Gia Lai luôn chứa đựng yếu tố phức tạp về dân tộc, tôn giáo; là địa bàn mà các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề về dân tộc, tôn giáo để gây chia

rẽ Yêu cầu đặt ra là cần phải chủ động phòng ngừa, sớm triệt tiêu các nhân tố bất lợi có thể gây mất ổn định chính trị - xã hội Do vậy, nếu làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là về công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu

số thì sẽ phòng, chống hiệu quả những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước ta, từ đó góp phần củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, giữ vững an ninh

chính trị, trật tự xã hội trên địa bàn

1.2.4.3 Góp phần xây dựng vùng đồng bào dân tộc thiểu số vững mạnh toàn diện, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân

Công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số bao hàm tổng thể các nội dung cốt lõi, như: Tăng cường, củng cố mối quan hệ giữa chính quyền các cấp với nhân dân; xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh; cải cách hành chính; giải quyết các vấn đề bức xúc trong nhân dân; thực hiện tốt công tác xóa đói giảm nghèo, phát huy quyền làm chủ của nhân dân [37; tr.37]

Mục đích của công tác dân vận nói chung, dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng là thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân trong tỉnh, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đem lại công việc, thu nhập ổn định, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc Với những nội dung, phương thức dân vận phù hợp và không ngừng được đổi mới, công tác dân vận trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh Gia Lai trong những năm qua đã góp phần tích cực vào việc xây dựng địa phương vững mạnh toàn diện trên tất cả các lĩnh vực

1.2.4.4 Góp phần phát huy vai trò làm chủ của người dân

Trang 39

Dân vận chính là quá trình làm cho nhân dân biết và có trách nhiệm về quyền làm chủ của mình Công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước là trách nhiệm của dân Nhà nước muốn điều hành, quản lý xã hội có hiệu lực, hiệu quả, nhất định phải dựa vào dân Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết: “Đem tài dân, sức dân, của dân, làm lợi cho dân Không phải Chính phủ xuất tiền ra làm Chính phủ chỉ giúp kế hoạch, cổ động” [49, tr.66]

Công tác dân vận thể hiện quyền làm chủ của nhân dân ở việc người dân được biết, được bàn, được kiểm tra các công việc của Đảng và Chính phủ, trong đó có “công tác dân vận” Đồng thời, dân vận còn là quá trình Đảng và Nhà nước nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân, để từ đó kịp thời điều chỉnh từ hành động, thái độ của cán bộ, đảng viên, của chính quyền các cấp, các tổ chức đảng, cho đến các chính sách của Đảng và Nhà nước sao cho hợp lòng dân, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại

Từ khẳng định của Đại hội XII của Đảng: Quyền làm chủ của nhân dân được phát huy tốt hơn trong các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, nhất là trong lĩnh vực chính trị và kinh tế Điều

đó cho thấy, quyền làm chủ của nhân dân đã được phát huy cao hơn trong việc tham gia quyết định những vấn đề lớn, hệ trọng của đất nước Quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân được tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ Tuy nhiên, dân chủ hóa trong một số lĩnh vực còn chưa thực sự đầy đủ, đồng bộ và chưa theo kịp yêu cầu đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế sâu rộng Nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền về dân chủ chưa đúng mức; việc tổ chức thực hiện còn hạn chế, có lúc, có nơi còn hình thức Điều này đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân chủ, cũng như cần đẩy mạnh đổi mới việc tổ chức thực hành dân chủ trong thời gian tới

Trang 40

Tiểu kết chương 1

Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống những quan điểm, lý luận về công tác dân vận nói chung, tại Chương 1, tác giả đã nêu quan niệm về Đảng bộ tỉnh, chức năng, nhiệm vụ của Đảng bộ tỉnh, đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh và công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số của đảng bộ đặc điểm tập trung phân tích về khái niệm, năm nội dung, năm phương thức và những vai trò của công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh Với những nội dung nêu trên, càng thể hiện sự đúng đắn trong quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác dân vận: Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc

Chính phủ và Ðoàn thể đã giao cho

Những nội dung được phân tích ở Chương 1 sẽ làm cơ sở để tác giả tiến hành khảo sát thực trạng công tác dân vận đồng bào dân tộc thiểu số ở Đảng bộ tỉnh Gia Lai trong Chương 2

Ngày đăng: 20/04/2023, 06:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng (2015), Chỉ thị số 49-CT/TW, ngày 20 tháng 10 năm 2015 về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 49-CT/TW, ngày 20 tháng 10 năm 2015 về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2015
2. Bộ Chính trị (2016), Kết luận số 120-KL/TW, ngày 07 tháng 01 năm 2016 về tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận số 120-KL/TW, ngày 07 tháng 01 năm 2016 về tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2016
4. Ban Dân vận Tỉnh ủy Gia Lai (2014), Nâng cao hiệu quả công tác thông tin, báo cáo trong hệ thống dân vận của tỉnh Gia Lai, Gia Lai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả công tác thông tin, báo cáo trong hệ thống dân vận của tỉnh Gia Lai
Tác giả: Ban Dân vận Tỉnh ủy Gia Lai
Nhà XB: Gia Lai
Năm: 2014
5. Ban Dân vận Tỉnh ủy Gia Lai (2014), Lịch sử công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh Gia Lai (1945 - 2014), Gia Lai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh Gia Lai (1945 - 2014)
Tác giả: Ban Dân vận Tỉnh ủy Gia Lai
Nhà XB: Gia Lai
Năm: 2014
6. Ban Dân vận Tỉnh ủy Gia Lai (2020), Báo cáo tổng kết công tác dân vận nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, Gia Lai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác dân vận nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng
Tác giả: Ban Dân vận Tỉnh ủy Gia Lai
Năm: 2020
7. Ban Dân vận Tỉnh ủy Gia Lai (2020), Báo cáo kết quả công tác dân vận các đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2017 - 2020, Gia Lai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Dân vận Tỉnh ủy Gia Lai
Tác giả: Gia Lai
Năm: 2020
8. Ban Dân vận Tỉnh ủy Gia Lai (2020), Báo cáo tổng kết phong trào thi đua “Dân vận khéo” giai đoạn 2017 - 2020, Gia Lai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết phong trào thi đua “Dân vận khéo” giai đoạn 2017 - 2020
Tác giả: Ban Dân vận Tỉnh ủy Gia Lai
Năm: 2020
9. Ban Dân vận Tỉnh ủy Gia Lai (2021), Báo cáo tổng kết công tác dân vận và năm “Dân vận khéo” 2021, nhiệm vụ năm 2022, Gia Lai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác dân vận và năm “Dân vận khéo” 2021, nhiệm vụ năm 2022
Tác giả: Ban Dân vận Tỉnh ủy Gia Lai
Năm: 2021
10. Ban Dân vận Tỉnh ủy Gia Lai (2020), Kế hoạch phân công các đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn tỉnh đảm nhận địa bàn làm công tác dân vận giai đoạn 2021 - 2025, Gia Lai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Dân vận Tỉnh ủy Gia Lai (2020), Kế hoạch phân công các đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn tỉnh đảm nhận địa bàn làm công tác dân vận giai đoạn 2021 - 2025
Tác giả: Ban Dân vận Tỉnh ủy Gia Lai
Năm: 2020
12. Ban Dân vận Tỉnh ủy Gia Lai (2022), Báo cáo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh năm 2021, phương hướng, nhiệm vụ năm 2022, Gia Lai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Dân vận Tỉnh ủy Gia Lai (2022), Báo cáo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh năm 2021, phương hướng, nhiệm vụ năm 2022
Tác giả: Ban Dân vận Tỉnh ủy Gia Lai
Năm: 2022
13. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai (2015), Thông tri số 01-TT/TU, ngày 14 tháng 12 năm 2015 về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số , Gia Lai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tri số 01-TT/TU, ngày 14 tháng 12 năm 2015 về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Tác giả: Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai
Năm: 2015
14. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai (2017), Quyết định số 553-QĐ/TU, ngày 14 tháng 3 năm 2017 về việc ban hành Quy chế tiếp xúc, đối thoại trực tiếp của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp với nhân dân trên địa bàn tỉnh, Gia Lai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 553-QĐ/TU, ngày 14 tháng 3 năm 2017 về việc ban hành Quy chế tiếp xúc, đối thoại trực tiếp của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp với nhân dân trên địa bàn tỉnh, Gia Lai
Tác giả: Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai
Năm: 2017
15. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai (2017), Quyết định số 554-QĐ/TU, ngày 14 tháng 3 năm 2017 về việc ban hành Quy định trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền trong việc tiếp thu ý kiến đóng góp xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, Gia Lai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 554-QĐ/TU, ngày 14 tháng 3 năm 2017 về việc ban hành Quy định trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền trong việc tiếp thu ý kiến đóng góp xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền
Tác giả: Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai
Năm: 2017
16. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai (2018), Chỉ thị số 12-CT/TU, ngày 13 tháng 02 năm 2018 về tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy các cấp về xây dựng làng nông thôn mới trong đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh, Gia Lai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 12-CT/TU, ngày 13 tháng 02 năm 2018 về tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy các cấp về xây dựng làng nông thôn mới trong đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh, Gia Lai
Tác giả: Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai
Năm: 2018
19. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai (2019), Báo cáo số 551-BC/TU ngày 08 tháng 5 năm 2019 về tổng kết 10 năm thực hiện Quyết định số 290- QĐ/TW, ngày 25 tháng 02 năm 2010 của Bộ Chính trị về ban hành Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính, Gia Lai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 551-BC/TU ngày 08 tháng 5 năm 2019 về tổng kết 10 năm thực hiện Quyết định số 290-QĐ/TW, ngày 25 tháng 02 năm 2010 của Bộ Chính trị về ban hành Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính
Tác giả: Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai
Năm: 2019
22. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai (2020), Báo cáo số 552-BC/TU ngày 08 tháng 5 năm 2020 về sơ kết 03 năm triển khai thực hiện Quyết định số 553-QĐ/TU và Quyết định số 554-QĐ/TU, ngày 14 tháng 3 năm 2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Gia Lai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 552-BC/TU ngày 08 tháng 5 năm 2020 về sơ kết 03 năm triển khai thực hiện Quyết định số 553-QĐ/TU và Quyết định số 554-QĐ/TU, ngày 14 tháng 3 năm 2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy
Tác giả: Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai
Năm: 2020
23. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai (2020), Báo cáo số 20-BC/TU ngày 13 tháng 01 năm 2020 về sơ kết 05 năm thực hiện Chỉ thị số 49-CT/TW, ngày 20 tháng 10 năm 2015 của Ban Bí thư về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Gia Lai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 20-BC/TU ngày 13 tháng 01 năm 2020 về sơ kết 05 năm thực hiện Chỉ thị số 49-CT/TW, ngày 20 tháng 10 năm 2015 của Ban Bí thư về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Gia Lai
Tác giả: Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai
Năm: 2020
24. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai (2020), Báo cáo số 61-BC/TU ngày 29 tháng 4 năm 2020 về sơ kết 05 năm thực hiện Kết luận số 120-KL/TW, ngày 07 tháng 01 năm 2016 của Bộ Chính trị khóa XI về tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Gia Lai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 61-BC/TU ngày 29 tháng 4 năm 2020 về sơ kết 05 năm thực hiện Kết luận số 120-KL/TW, ngày 07 tháng 01 năm 2016 của Bộ Chính trị khóa XI về tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
Tác giả: Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai
Năm: 2020
26. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai (2021), Báo cáo số 164-BC/TU, ngày 10 tháng 12 năm 2021 về ước thực hiện nhiệm vụ năm 2021 và nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2022, Gia Lai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 164-BC/TU, ngày 10 tháng 12 năm 2021 về ước thực hiện nhiệm vụ năm 2021 và nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2022
Tác giả: Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai
Năm: 2021
27. Vũ Xuân Thủy (2017), Các tỉnh ủy ở Tây Nguyên lãnh đạo công tác dân vận giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tỉnh ủy ở Tây Nguyên lãnh đạo công tác dân vận giai đoạn hiện nay
Tác giả: Vũ Xuân Thủy
Nhà XB: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2017

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w