1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất lượng tổ chức cơ sở đảng cấp xã ở đảng bộ thành phố biên hòa, tỉnh đồng nai hiện nay

116 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chất lượng tổ chức cơ sở đảng cấp xã ở đảng bộ thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai hiện nay
Tác giả Nguyễn Anh Hoàng
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Long
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, quan niệm về TCCSĐ được quy định trong điều lệ đảng được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng thông qua như sau: Điểm 2, điều 10, điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN ANH HOÀNG

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN LONG

HÀ NỘI – 2021

Trang 2

luận văn thạc sĩ

Hà Nội, ngày tháng năm

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS.TS Trương Ngọc Nam

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự

hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Long Các số liệu tư liệu sử dụng trong luận

văn này có nguồn gốc rõ ràng, trung thực và chưa từng được công bố trong

bất kỳ công trình khoa học nào

Hà Nội, ngày tháng năm

Tác giả luận văn

Nguyễn Anh Hoàng

Trang 4

CHƯƠNG 1: CHẤT LƯỢNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6

1.1 Quan niệm, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức cơ sở đảng 6 1.2 Quan niệm và những tiêu chí để đánh giá chất lượng các tổ chức cơ

sở đảng 12

CHƯƠNG 2: CHẤT LƯỢNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG CẤP XÃ Ở ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA 17

2.1 Khái quát đặc điểm vị trí địa lý, kinh tế - chính trị - xã hội ở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 17 2.2 Thực trạng, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra trong công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng cấp xã ở đảng bộ thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 19 2.3 Những kinh nghiệm chủ yếu rút ra 39 2.4 Những yếu tố tác động đến công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng cấp

xã ở đảng bộ thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 40

CHƯƠNG 3: CHẤT LƯỢNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG CẤP XÃ Ở ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI - CÁC GIẢI PHÁP TIẾP TỤC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HIỆN NAY 44

3.1 Dự báo những thuận lợi, khó khăn trong việc nâng cao hoạt động của tổ chức cơ sở đảng cấp xã ở đảng bộ thành phố Biên Hòa trong những năm tới 44 3.2 Các giải pháp tiếp tục nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng cấp xã ở đảng bộ thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai hiện nay 46

KẾT LUẬN 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) là nền tảng của đảng, là hạt nhân chính trị lãnh đạo mọi mặt ở cơ sở TCCSĐ có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc lãnh đạo, tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối của đảng ở cơ sở và góp phần hoàn thiện đường lối, chính sách của đảng Coi trọng xây dựng và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ là nội dung cơ bản, là vấn đề có tính quy luật trong xây dựng, đổi mới và chỉnh đốn đảng của đảng ta

Trong những năm qua, hoạt động xây dựng đảng trong toàn đảng bộ thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai không ngừng được đổi mới nâng cao, chất lượng của tổ chức cơ sở đảng nói chung đã được nâng lên về mọi mặt, TCCSĐ trong sạch vững mạnh được củng cố và phát triển về số lượng và chất lượng Tuy nhiên, ở nhiều nơi TCCSĐ vẫn còn yếu kém, phương thức lãnh đạo và sinh hoạt còn lúng túng, có tình trạng vừa thiếu dân chủ vừa thiếu kỷ luật, kỷ cương Một số cán bộ và cấp ủy chưa tôn trọng và thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, bệnh quan liêu, độc đoán chuyên quyền, cục bộ địa phương, kèn cựa địa vị, cá nhân chủ nghĩa còn nặng nề Không ít nơi nội bộ mất đoàn kết nghiêm trọng, nhiều nơi còn là "điểm nóng" chưa được giải quyết dứt điểm Sức chiến đấu, năng lực lãnh đạo của một bộ phận TCCSĐ chưa theo kịp đòi hỏi của tình hình phát triển kinh tế - xã hội ở cơ

sở Số TCCSĐ và số đảng viên yếu kém còn nhiều, công tác giáo dục rèn luyện, quản lý đảng viên chưa đáp ứng được yêu cầu, sự chuyển biến giữa các loại hình TCCSĐ chưa đồng đều

Từ việc nhìn nhận rõ thực trạng và tầm quan trọng trong việc xây dựng TCCSĐ trên địa bàn, xuất phát từ hạn chế trong hoạt động của tổ chức cơ sở đảng cấp xã và vấn đề đặt ra để nâng cao chất lượng TCCSĐ nói chung, TCCSĐ cấp xã mà cụ thể gồm TCCSĐ xã, phường ở đảng bộ thành phố Biên

Trang 6

Hòa, tỉnh Đồng Nai nói riêng cả về lý luận và thực tiễn đòi hỏi phải được nghiên cứu một cách có hệ thống và tìm ra những giải pháp thích hợp, cụ thể

để nâng cao chất lượng TCCSĐ đáp ứng được yêu cầu trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước Vì vậy tác giả chọn đề tài "Chất lượng tổ chức cơ sở đảng cấp xã ở đảng bộ thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai hiện nay" làm luận văn cao học chuyên ngành Xây dựng đảng của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Kế thừa và phát triển từ những công trình đã nghiên cứu của một số tác giả trong nước về đề tài nâng cao chất lượng TCCSĐ, tác giả nhận thấy có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:

- Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng nông thôn đồng bằng sông Hồng, Luận án tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành Xây dựng đảng của Đỗ Ngọc Ninh, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm 1995

- Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các TCCSĐ nông thôn tỉnh Long An hiện nay, Luận văn thạc sĩ lịch sử, chuyên ngành Xây dựng Đảng của Nguyễn Văn Dũng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm 2000

- Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng nông thôn vùng cao phía Bắc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Luận án tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành Xây dựng đảng của Nguyễn Đức

Ái, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm 2000

- Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng xã ở tỉnh Vĩnh Long hiện nay, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Xây dựng đảng của Nguyễn Văn Bé Tư, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002

- Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng ở các đơn vị sản xuất kinh doanh (không có vốn đầu tư nước ngoài) thuộc Tổng công ty dầu khí Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực trạng và giải pháp”, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Xây

Trang 7

dựng đảng của Hà Huy Dĩnh, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2003

- Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp nhà nước ở khu công nghiệp Biên Hòa I trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Xây dựng đảng của Nguyễn Thị Lệ Hồng, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2000

Những kết quả nghiên cứu từ những tài liệu nói trên đó đã góp phần từng bước làm sáng tỏ cả về lý luận và thực tiễn những vấn đề của tổ chức

cơ sở đảng và tạo tiền đề cho tác giả kế thừa về tư tưởng, nội dung và phương pháp để hoàn thiện luận văn này Tuy nhiên từ góc độ từ góc độ nghiên cứu về xây dựng tổ chức cơ sở đảng xã, phường trên địa bàn vùng Đông Nam Bộ, cụ thể là trên thực tiễn địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai chưa có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động của tổ chức cơ

sở đảng dưới góc độ khoa học chuyên ngành Tiếp thu những kết quả nghiên cứu trên, luận văn đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện vấn

đề về chất lượng tổ chức cơ sở đảng xã, phường ở thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai từ năm 2015 đến nay

3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích

Góp phần nâng cao chất lượng của tổ chức cơ sở đảng xã, phường ở đảng

bộ thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn hiện nay

3.2 Nhiệm vụ

+ Khái quát những vấn đề lý luận và thực tiễn về TCCSĐ và chất lượng TCCSĐ, để từ đó làm tiền đề lý luận cho những phân tích thực trạng và hoàn thiện giải pháp xây dựng TCCSĐ xã, phường trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

+ Phân tích thực trạng chất lượng của các TCCSĐ xã, phường ở đảng bộ thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Từ đó phân tích các nguyên nhân của

Trang 8

những ưu điểm và hạn chế tồn tại trong công tác lãnh đạo của các TCCSĐ xã, phường ở đảng bộ thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai trong thời gian từ năm

2015 đến nay

+ Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để giải quyết một số vấn đề cấp thiết đang đặt ra nhằm nâng cao chất lượng các TCCSĐ xã, phường ở đảng bộ thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

3.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Các TCCSĐ cấp xã mà cụ thể hơn là các TCCSĐ xã, phường ở đảng bộ thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Thời gian nghiên cứu, khảo sát thực tế chủ yếu từ năm 2015 đến năm nay

4 Cơ sở lý luận - thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận - thực tiễn

+ Lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng TCCSĐ

+ Các văn bản nghị quyết, tổng kết chuyên đề, đề tài khoa học, văn kiện đại hội đảng bộ thành phố Biên Hòa các thời kỳ

+ Thực tiễn xây dựng TCCSĐ xã, phường ở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai từ năm 2015 đến nay

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp lôgíc và phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh, thu thập số liệu thống kê, phân tích, tổng hợp, gắn lý luận với thực tiễn

5 Đóng góp của luận văn

- Góp phần hệ thống hóa các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về xây dựng TCCSĐ

- Làm rõ thực trạng của các TCCSĐ xã, phường ở đảng bộ thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Trang 9

- Cơ sở lý luận thực tiễn làm sáng tỏ yêu cầu mới về nâng cao chất lượng TCCSĐ xã, phường ở đảng bộ thành phố Biên Hòa trong tình hình mới

- Đề xuất những giải pháp chủ yếu có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng của các TCCSĐ xã, phường trên địa bàn, góp phần xây dựng Đảng bộ thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai vững mạnh

6 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

- Cung cấp cơ sở khoa học cho quá trình nâng cao chất lượng của TCCSĐ nói riêng và TCCSĐ xã, phường ở đảng bộ Tp Biên Hòa nói riêng đạt hiệu quả thiết thực

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương

Trang 10

CHƯƠNG 1 CHẤT LƯỢNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Quan niệm, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức

cơ sở đảng

1.1.1 Quan niệm về tổ chức cơ sở đảng

Thuật ngữ “Tổ chức cơ sở đảng” được sử dụng chính thức trong chương

VI của điều lệ đảng được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng thông qua Ngay tại điều 36, 37 điều lệ đảng do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng thông qua đã khái quát TCCSĐ như sau:

Trong mỗi đơn vị cơ sở như xí nghiệp (nhà máy, hầm mỏ, công trường, nông trường quốc doanh, đơn vị kinh doanh thương nghiệp, v.v.), xã, khu phố, thị trấn, cơ quan, bệnh viện, trường học, đơn vị đại đội trong Quân đội nhân dân Việt Nam và các đơn vị cơ sở khác, nếu có từ ba đảng viên chính thức trở lên thì thành lập một tổ chức cơ sở của Đảng Nếu không có đủ ba đảng viên chính thức thì thành lập một tiểu tổ đảng do cấp uỷ thành lập ra trực tiếp phụ trách hoặc tạm ghép vào một tổ chức cơ sở gần đó mà sinh hoạt Xuyên suốt các kỳ đại hội từ Đại hội III đến Đại hội XI trong các điều lệ đảng luôn dành một chương để quy định về TCCSĐ Hiện nay, quan niệm về TCCSĐ được quy định trong điều lệ đảng được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng thông qua như sau:

Điểm 2, điều 10, điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI) quy định:

“Tổ chức cơ sở đảng được lập tại đơn vị cơ sở hành chính, sự nghiệp, kinh tế hoặc công tác, đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh”

Tiếp theo tại điều 21, Điều lệ đảng quy định:

“Ở xã, phường, thị trấn có từ ba đảng viên chính thức trở lên, lập tổ chức

cơ sở đảng (trực thuộc cấp uỷ cấp huyện) Ở cơ quan, doanh nghiệp, hợp tác

Trang 11

xã, đơn vị sự nghiệp, đơn vị quân đội, công an và các đơn vị khác có từ ba đảng viên chính thức trở lên, lập tổ chức đảng (tổ chức cơ sở đảng hoặc chi bộ trực thuộc đảng uỷ cơ sở); cấp uỷ cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định việc

tổ chức đảng đó trực thuộc cấp uỷ cấp trên nào cho phù hợp; nếu chưa đủ ba đảng viên chính thức thì cấp uỷ cấp trên trực tiếp giới thiệu đảng viên sinh hoạt ở tổ chức cơ sở đảng thích hợp

Tổ chức cơ sở đảng dưới ba mươi đảng viên, lập chi bộ cơ sở, có các tổ đảng trực thuộc Tổ chức cơ sở đảng có từ ba mươi đảng viên trở lên, lập đảng bộ cơ sở, có các chi bộ trực thuộc đảng uỷ”

Như vậy, từ căn cứ nêu trên, có thể đưa ra quan niệm: Tổ chức cơ sở

đảng là tổ chức cơ sở của Đảng được thành lập ở đơn vị cơ sở, có từ ba đảng viên chính thức trở lên, được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy cấp trên cơ sở

Tổ chức cơ sở đảng có hai hình thức tổ chức: chi bộ cơ sở và đảng bộ cơ

sở và có 5 loại hình chủ yếu: cơ sở hành chính (xã, phường, thị trấn), đơn vị

sự nghiệp (học viện, trường học, bệnh viện…), đơn vị kinh tế (doanh nghiệp, công ty, hợp tác xã….), tổ chức (Đảng, nhà nước, đoàn thể…) và lực lượng

vũ trang

Trong phạm vi bài viết, tác giả chỉ tập trung vào phân tích TCCSĐ cấp

xã TCCSĐ cấp xã cũng mang định nghĩa của TCCSĐ nhưng được thành lập

và hoạt động ở cấp xã: “Tổ chức cơ sở đảng cấp xã là tổ chức cơ sở của đảng

được thành lập ở xã, phường, thị trấn, có từ ba đảng viên chính thức trở lên, được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy cấp trên cơ sở”

1.1.2 Vị trí, vai trò của các tổ chức cơ sở đảng

Ngay trong những ngày đầu lãnh đạo phong trào công nhân quốc tế C Mác và Ph Ăngghen đã coi trọng xây dựng các chi bộ đảng, coi đó là nền tảng của Đảng Từ những kinh nghiệm của cuộc cách mạng 1848-1849, C Mác - Ph Ăngghen đã kết luận:

Trang 12

“Để khỏi một lần nữa bị tụt xuống làm vai trò của kẻ vỗ tay hoan nghênh bọn dân chủ tư sản, công nhân và trước hết là liên đoàn phải cố gắng thành lập song song với phái dân chủ chính thức một tổ chức đảng riêng biệt, bí mật

và công khai của công nhân và biến mỗi chi bộ thành trung tâm và hạt nhân của các hội Liên hiệp công nhân” [11, tr 348]

Tuy nhiên trong thời gian này hai ông chưa sử dụng thuật ngữ “tổ chức

cơ sở đảng” mà chỉ khái quát xây dựng “một tổ chức đảng riêng biệt”, nhưng quan điểm, tư tưởng của hai ông đều thể hiện rõ tầm quan trọng của vị trí, vai trò của chi bộ cơ sở, “là trung tâm và hạt nhân của Liên hiệp công nhân” nơi tuyên truyền, giác ngộ và lãnh đạo quần chúng đấu tranh chống lại giai cấp tư sản để giành chính quyền

Là người tiếp tục kế thừa và phát triển tư tưởng của C Mác và Ph Ăngghen, Lênin đã coi xây dựng TCCSĐ là nhiệm vụ cấp bách và chính Lênin là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “tổ chức cơ sở đảng” trong bài viết

“Về việc cải tổ đảng”, người đã chỉ rõ các chi bộ cơ sở là các TCCSĐ

Khi chuẩn bị thành lập Đảng dân chủ - xã hội Nga, Lênin đã chỉ rõ: "Xây dựng các tiểu tổ, các nhóm cộng tác trong công nhân công xưởng, nhà máy ở thành thị là nhiệm vụ đầu tiên và cấp bách của những người dân chủ xã hội" [24, tr 557]

Lênin cho rằng “Hình thức tổ chức mới, hay nói đúng hơn hình thức mới của tổ chức cơ sở của đảng công nhân phải giải quyết tuyệt đối rộng rãi hơn so với những tiểu tổ cũ” [25, tr.107] Đồng thời, người cũng đã khẳng định trong nhiều tác phẩm của mình cho rằng TCCSĐ là “điểm tựa”, là hạt nhân cở sở, là nơi gần gũi quần chúng nhất, nơi liên hệ chặt chẽ với quần chúng, và cũng là nơi thực hiện triển khai đường lối và chính sách của đảng trên thực tế

Sau cách mạng tháng mười Nga, Đảng cộng sản trở thành chính đảng cầm quyền ở Nga, Lênin lại lần nữa nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng phải thành lập được các TCCSĐ ở tất cả các địa bàn, các lĩnh vực kinh tế xã hội,

Trang 13

các tổ chức, các hội, các hiệp hội những “chi bộ đảng” Để định hướng cho sự hoạt động của các chi bộ đảng, Lênin yêu cầu phải liên hệ, hỗ trợ lẫn nhau

“Những chi bộ ấy liên hệ chặt chẽ với nhau và với trung ương Đảng, phải trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau, phải làm công tác cổ động, tuyên truyền, công tác tổ chức, phải thích nghi với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, với mọi tầng lớp quần chúng lao động, những chi bộ ấy phải thông qua công tác muôn hình muôn vẻ đó mà rèn luyện bản thân mình, rèn luyện đảng, giai cấp, quần chúng một cách có hệ thống” [26, tr.232-233]

Kế thừa quan điểm về xây dựng đảng của C Mác, Ph Ăngghen và Lênin, chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta Theo chủ tịch Hồ Chí Minh “để lãnh đạo cách mạng đảng phải mạnh Đảng mạnh là do chi bộ tốt Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt” [23, tr.113] và “Chi bộ là nền móng của đảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt” [23, tr.278] Theo người để thực hiện được vai trò của mỗi TCCSĐ thì “mỗi chi bộ của Đảng phải là một hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở

cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với quần chúng, phát huy được trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng” [23, tr.28] Luận điểm đó của người

đã trở thành phương châm hành động của mỗi cán bộ đảng viên và tổ chức đảng trong lãnh đạo và xây dựng nội bộ

Quán triệt sâu sắc tư tưởng của Hồ Chí Minh về TCCSĐ, trong quá trình hoạt động và lãnh đạo của mình, Đảng ta không ngừng chú trọng xây dựng TCCSĐ vững mạnh về mọi mặt trên các lĩnh vực tư tưởng, chính trị và tổ chức Ngay trong đại hội lần thứ III của đảng đã khẳng định: "Tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của đảng" [5, tr 140] Tư tưởng về vai trò và tầm quan trọng của TCCSĐ luôn được kế thừa và phát huy trong suốt chiều dài lịch sử của đảng ta Khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện do đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, đảng đã chỉ rõ: "Những thành tựu đã đạt được, những tiềm năng được khai thác, những kinh nghiệm có giá trị đều bắt nguồn từ sự nỗ lực phấn

Trang 14

đấu của quần chúng ở cơ sở mà hạt nhân lãnh đạo là TCCSĐ" [6, tr 141] Như vậy rõ ràng rằng những thành tựu đã đạt được đều có nguyên nhân từ sự lãnh đạo của TCCSĐ ở cơ sở

Kế thừa quan điểm từ đại hội III, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX một lần nữa khẳng định tại điều 21, điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam: "Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở"

Như vây, đảng bộ, chi bộ cơ sở là hạt nhân chính trị, lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của đảng, pháp luật của Nhà nước; lãnh đạo phát triển KT-XH, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân, động viên Nhân dân làm tròn nghĩa vụ đối với nhà nước Từ lý luận đến thực tiễn đã chứng minh, dù ở bất

kỳ giai đoạn nào trên con đường phát triển của cách mạng Việt Nam do đảng lãnh đạo, với vị trí nền tảng, các đảng bộ, chi bộ cơ sở luôn là hạt nhân chính trị,

là nơi trực tiếp đưa đường lối, chủ trương của đảng, chính sách và pháp luật của nhà nước tới quần chúng, tuyên truyền, giáo dục và vận động quần chúng thực hiện đường lối, chính sách, kịp thời kiểm tra uốn nắn những lệch lạc trong nhận thức và hành động của quần chúng và cán bộ đảng viên

1.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức cơ sở đảng

Tuy có nhiều loại hình TCCSĐ khác nhau, nhưng các TCCSĐ nói chung đều thực hiện chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ

sở và tiến hành hoạt động xây dựng nội bộ đảng Các TCCSĐ đều có hai chức năng cơ bản sau:

Một là: hạt nhân chính trị ở cơ sở, TCCSĐ lãnh đạo các mặt hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở, đảm bảo các tổ chức và hoạt động ở

cơ sở theo đúng đường lối chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước Mỗi TCCSĐ là trung tâm lãnh đạo chính trị, tổ chức đoàn kết, phát huy sức mạnh của tập thể để hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao

Trang 15

Hai là, tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộ đảng như công tác tổ chức, tư tưởng, chính trị, công tác cán bộ, đảng viên, công tác kiểm tra, giám sát, khen thưởng và kỷ luật

Trên cơ sở chức năng cơ bản và căn cứ vào yêu cầu lãnh đạo của đảng trong tình hình mới, nhiệm vụ của các TCCSĐ được đảng xác định trong báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của đảng đó là: "Tất cả các đảng bộ, chi bộ đều phải phấn đấu thực hiện đúng chức năng là hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ sở" [3, tr 55] Để thực hiện tốt được các chức năng của mình, điều lệ đảng (khóa XI) đã quy định cụ thể 5 nhiệm vụ chung cho các TCCSĐ như sau:

“Thứ nhất: Chấp hành đường lối, chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước; đề ra chủ trương, nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, chi bộ và lãnh đạo thực hiện có hiệu quả

Thứ hai: Xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh về chính trị,

tư tưởng và tổ chức; thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật

và tăng cường đoàn kết thống nhất trong đảng; thường xuyên giáo dục, rèn luyện và quản lý cán bộ, đảng viên, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, tính chiến đấu, trình độ kiến thức, năng lực công tác; làm công tác phát triển đảng viên

Thứ ba: Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính, sự nghiệp, quốc phòng, an ninh và các đoàn thể chính trị - xã hội trong sạch, vững mạnh; chấp hành đúng pháp luật và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân

Thứ tư: Liên hệ mật thiết với Nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần

và bảo vệ lợi ích chính đáng của Nhân dân; lãnh đạo nhân dân tham gia xây dựng và thực hiện đường lối, chính sách của đảng và pháp luật của nhà nước

Trang 16

Thứ năm: Kiểm tra, giám sát việc thực hiện, bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị của đảng và pháp luật của nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh; kiểm tra, giám sát tổ chức đảng và đảng viên chấp hành điều lệ đảng”

Các nhiệm vụ nêu trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thực hiện đồng

bộ các nhiệm vụ trên là tiền đề để xây dựng và phát triển TCCSĐ vững mạnh

về mọi mặt Bên trên là năm nhiệm vụ chung cho các các TCCSĐ, căn cứ vào

vị trí, vai trò, đặc điểm của từng loại TCCSĐ mà có quy định chức năng, nhiệm vụ của từng loại TCCSĐ cụ thể

1.2 Quan niệm và những tiêu chí để đánh giá chất lƣợng các tổ chức

cơ sở đảng

1.2.1 Quan niệm về chất lượng của các tổ chức cơ sở đảng

Trong mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn cách mạng khác nhau, ở từng loại hình TCCSĐ có những đặc điểm khác nhau nên chức năng và nhiệm vụ của mỗi loại hình TCCSĐ cũng khác nhau như đã đề cập ở trên song khi nói đến chất lượng TCCSĐ cần phải đề cập đến hai chức năng của TCCSĐ là vai trò lãnh đạo các mặt hoạt động ở cơ sở và công tác xây dựng nội bộ đảng của TCCSĐ Trong sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH ngày nay là một quá trình khó khăn, phức tạp, lâu dài, trải qua nhiều thử thách do đó đòi hỏi sự lãnh đạo của Đảng phải ngang tầm với thời đại mới Để nâng cao hoạt động lãnh đạo của mình, Đảng cần phải nâng cao chất lượng hoạt động của các TCCSĐ bởi lẽ các TCCSĐ là hạt nhân chính trị ở cơ sở, là cấp cơ sở nhỏ nhất nhưng là quan trọng nhất, là lực lượng đông nhất và là nơi trực tiếp thực hiện các quyết sách, đường lối, chủ trương, nghị quyết của đảng Do vậy chất lượng của các TCCSĐ là yếu tố tạo nên chất lượng lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng và uy tín của đảng với Nhân dân

Chất lượng của TCCSĐ chính là năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng ở cơ sở Năng lực lãnh đạo của các TCCSĐ phải được thể hiện ở phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ lý luận, trình độ văn

Trang 17

hóa, chuyên môn nghiệp vụ, có vốn sống và kinh nghiệm thực tiễn, có điều kiện cần và đủ để đáp ứng được yêu cầu lãnh đạo khi cách mạng chuyển sang giai đoạn mới mà TCCSĐ có thể đáp ứng được nhiệm vụ lãnh đạo của mình Sức chiến đấu của TCCSĐ thể hiện TCCSĐ luôn xây dựng tổ chức mình vững vàng về chính trị, thông suốt về tư tưởng và vững mạnh về tổ chức; luôn thống nhất về ý chí và hành động, lạc quan, vượt mọi khó khăn, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị mọi lúc, mọi nơi; có bản lĩnh đấu tranh chống lại sự chống phá của các thế lực thù địch trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, thể hiện vai trò tiên phong của đảng viên, thực hiện mối quan hệ máu thịt giữa tổ chức đảng với quần chúng nhân dân ở cơ sở, là nhịp cầu nối liền giữa đảng và Nhân dân

Từ quan niệm chung của đảng ta về chất lượng TCCSĐ, có thể đưa ra quan niệm về chất lượng của các TCCSĐ như sau: chất lượng của TCCSĐ là năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trên cơ sở lãnh đạo hoàn thành các nhiệm vụ chính trị ở cơ sở (kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng) và thực hiện có hiệu quả, thiết thực công tác xây dựng đảng (được thể hiện qua tất cả các mặt về xây dựng tổ chức, chính trị, tư tưởng và đạo đức, công tác kiểm tra, lãnh đạo đoàn thể quần chúng nhằm tạo nên một sức mạnh tổng hợp, thể hiện tính chiến đấu cao để xử lý tốt các mâu thuẫn, vượt qua mọi khó khăn)

1.2.2 Những tiêu chí để đánh giá chất lượng các tổ chức cơ sở đảng

Từ cơ sở quan niệm về chất lượng các TCCSĐ nêu trên kết hợp với hướng dẫn 21-HD/BTCTW năm 2019 về kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với tổ chức đảng, đảng viên và tập thể, cá nhân dựa trên khung đánh giá chất lượng tổ chức đảng bao gồm 3 tiêu chí sau:

Một là, các tiêu chí về xây dựng đảng, xây dựng hệ thống chính trị

- Công tác chính trị tư tưởng: Tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quán triệt, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đấu tranh với những biểu hiện suy

Trang 18

thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh Thực hiện đầy đủ, có hiệu quả các nhiệm vụ thường xuyên, trọng tâm, đột xuất trong công tác chính trị tư tưởng theo sự chỉ đạo của cấp ủy cấp trên Nắm bắt kịp thời tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân; định hướng tư tưởng đối với đảng viên

- Công tác tổ chức, cán bộ và xây dựng đảng bộ, chi bộ: Kết quả thực hiện công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên, bảo vệ chính trị nội bộ Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, quy chế làm việc của cấp ủy gắn với xây dựng đoàn kết nội bộ; đổi mới phương thức lãnh đạo

và nâng cao chất lượng sinh hoạt của cấp ủy, chi bộ; xây dựng đội ngũ cấp ủy viên và bí thư chi bộ; quản lý, phân công nhiệm vụ cho đảng viên và kết nạp đảng viên mới; giới thiệu đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên

hệ với chi ủy, đảng ủy cơ sở nơi cư trú Kết quả xây dựng, nhân rộng các điển hình tiên tiến; củng cố tổ chức đảng và giúp đỡ, giáo dục đảng viên không hoàn thành nhiệm vụ

- Lãnh đạo chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội: Lãnh đạo xây dựng các tổ chức vững mạnh; phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền, xem xét, giải quyết những vấn đề nảy sinh ở địa phương, cơ quan, đơn vị; kết quả phối hợp công tác; phát huy sức mạnh tổng hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân; nâng cao chất lượng giám sát, phản biện xã hội

- Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng: Kết quả thực hiện kế hoạch kiểm tra, giám sát của cấp ủy và công tác tự kiểm tra, giám sát của đảng bộ, chi

bộ Công tác phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo; phát hiện, xử lý tổ chức đảng, đảng viên vi phạm

Hai là, các tiêu chí về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao trong năm (được lượng hóa cụ thể)

Trang 19

- Việc cụ thể hóa, xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch công tác năm để thực hiện nhiệm vụ được giao

- Kết quả lãnh đạo thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của địa phương, cơ quan, đơn vị

- Kết quả đánh giá, xếp loại chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội cùng cấp và các tổ chức đảng trực thuộc

Ba là, kết quả khắc phục những hạn chế, yếu kém đã được chỉ ra

Trang 20

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1 của luận văn, tác giả đã khái quát một số vấn đề sau: Xây dựng khung lý thuyết về khái niệm tổ chức cơ sở đảng xã, phường, khái quát về vị trí của là TCCSĐ đó là “điểm tựa”, là nền tảng của đảng, là hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, có vai trò thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của đảng và pháp luật của nhà nước, lãnh đạo phát triển KT-XH, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân; đồng thời khái quát 05 nhiệm vụ của TCCSĐ xã, phường và 3 tiêu chí đánh giá để làm căn cứ cho việc đánh giá thực trạng Bên cạnh đó, trong phần lý luận này, tác giả đưa ra những quan niệm về chất lượng của các tổ chức cơ sở đảng

Trang 21

CHƯƠNG 2 CHẤT LƯỢNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG CẤP XÃ Ở ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI - THỰC TRẠNG,

NGUYÊN NHÂN VÀ NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA

2.1 Khái quát đặc điểm vị trí địa lý, kinh tế - chính trị - xã hội ở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Biên Hòa là một thành phố công nghiệp và là tỉnh lỵ của tỉnh Đồng Nai, thuộc vùng Đông Nam Bộ, Việt Nam Thành phố Biên Hòa là đô thị loại I, là đầu mối giao thông quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm phía nam Biên Hòa là thành phố thuộc tỉnh có dân số đông nhất cả nước, tương đương với 2 thành phố trực thuộc trung ương là Đà Nẵng và Cần Thơ và cao hơn dân số của 37 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác

Thành phố Biên Hòa nằm ở phía tây tỉnh Đồng Nai, có vị trí địa lý: Phía đông giáp huyện Trảng Bom; phía tây giáp tỉnh Bình Dương; phía nam giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía bắc giáp huyện Vĩnh Cửu

Dân số thành phố tính đến 2019 là 1.055.414 người Dân số của thành phố tăng dần theo các năm, so với năm 2010 thì dân số là 784.398 thì đến năm 2019

là 1.055.414 Biên Hòa là thành phố có nhiều khu công nghiệp nhất cả nước do

đó số lượng người nhập cư không ngừng tăng lên kéo theo một loạt thay đổi về tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn, điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động lãnh đạo và tổ chức của các TCCSĐ đóng trên địa bàn

Tính đến hết năm 2019, Đồng Nai là địa phương có số người theo đạo công giáo đông nhất cả nước với 1.015.315 giáo dân, chiếm 1/3 dân số trong toàn tỉnh (32,8%) thì Biên Hòa cũng không phải là ngoại lệ về số lượng và thành phần tôn giáo, bao gồm phật giáo, công giáo, tin lành, phật giáo hòa hảo, đạo cao đài, tịnh độ cư sĩ phật hội Việt Nam, hồi giáo, Rất đông tín đồ công giáo tập trung sinh sống ở phía đông và đông bắc thành phố tạo thành một

Trang 22

cộng đồng giáo dân ven cửa ngõ Tp.HCM Chính số lượng thành phần tôn giáo

đa dạng và phong phú, đặc biệt là vùng giáo dân đã ảnh hưởng không nhỏ đến phương thức hoạt động của các TCCSĐ nơi có đông đồng bào công giáo

Về cơ cấu kinh tế: Năm 2017 công nghiệp - xây dựng chiếm 64,08%; dịch

vụ chiếm 35,84% và nông lâm nghiệp chiếm 0,08% Tính đến năm 2018, trung bình GDP/đầu người của thành phố cao gấp hai lần trung bình GDP/đầu người của Việt Nam (khoảng 4500 USD) Thành phố cũng là trung tâm công nghiệp quan trọng của cả nước Biên Hòa có thế mạnh về công nghiệp và cũng là nơi đi tiên phong trong lĩnh vực công nghiệp đầu tiên của cả nước với việc hình thành sớm KCN Biên Hòa I (năm 1967) và 6 khu công nghiệp hiện đại sau này cùng với một vài cụm công nghiệp truyền thống, thủ công mĩ nghệ

Về tổ chức hành chính và hệ thống chính trị: Hiện thành phố Biên Hòa

có 30 đơn vị hành chính xã, phường trực thuộc, bao gồm 29 đơn vị hành chính cấp phường và 01 đơn vị hành chính xã Tương ứng với 29 đảng bộ cấp phường, và 01 đảng bộ xã Trong năm 2020 thành phố Biên Hòa có tổng cộng

68 chi, đảng bộ cơ sở và số đảng viên đông nhất tỉnh (gần 21 ngàn đảng viên) [14] Xếp loại cuối năm 2020 thành phố có 74,08% tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, 93,25% đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên [28] Trong năm 2019, thành phố đã thực hiện chuyển đổi 06 xã lên thành phường bao gồm các xã Tân Hạnh, Hóa An, Hiệp Hòa, An Hòa, Phước Tân, Tam Phước, quá trình phát triển kinh tế - xã hội, tốc độ đô thị hóa và dân số

cơ học tăng nhanh trong những năm qua, đã có tác động rất lớn đến đời sống cũng như sinh hoạt của người dân trên địa bàn các xã nay đã được chuyển đổi thành phường Quan hệ sản xuất, giao dịch hành chính, thương mại, văn minh

đô thị… của người dân đã dần chuyển sang môi trường đô thị, hiện đại hơn

Từ đó làm phát sinh nhiều vấn đề khó khăn trong quá trình đổi mới cơ chế hoạt động của các TCCSĐ của 06 xã này trong việc thực hiện lãnh đạo cơ sở, quản lý kinh tế, quản lý quy hoạch xây dựng, kiến trúc, quản lý kết cấu hạ

Trang 23

tầng kỹ thuật, quản lý dân cư, phòng chống các tệ nạn xã hội, bảo đảm trật tự công cộng, cảnh quan và bảo vệ môi trường

Về quy hoạch: Trong tương lai thành phố Biên Hòa sẽ là một đô thị vệ tinh độc lập trực thuộc trung ương trong vùng đô thị thành phố Hồ Chí Minh Bên cạnh tập trung phát triển đô thị, thành phố tập trung phát triển bền vững, tập trung chuyển dịch cơ cấu tăng tỉ trọng dịch vụ, giảm tỉ trọng công nghiệp

và nông lâm ngư nghiệp Ngành nông ngư nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, sản xuất nuôi trồng hiện đại bền vững, phục vụ thị tường đô thị triệu dân

và lân cận, bảo vệ và phát triển rừng lâm nghiệp, tạo mảng xanh, khí hậu cảnh quan sinh thái Chính những thay đổi trong kinh tế xã hội trên địa bàn thành phố đòi hỏi hoạt động của các TCCSĐ xã, phường trên địa bàn cần phải đổi mới phương thức hoạt động để có phương thức lãnh đạo phù hợp với tình hình mới

2.2 Thực trạng, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra trong công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng cấp xã ở đảng bộ thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Tháng 9 - 1975, Trung ương Cục miền nam ra quyết định 16/QĐ.TƯC giải thể khu miền đông, sáp nhập tỉnh Thành phố Biên Hoà trở thành tỉnh lỵ Biên Hoà Thành phố Biên Hoà được tổ chức gồm 22 đơn vị cơ sở (17 phường và 5 xã), với diện tích tự nhiên 15.473 ha, dân số 313.000 người Ngày 6-1-1976, Ban bí thư trung ương đảng ra quyết định số 07/NQ/NS/TW chỉ định Ban chấp hành lâm thời đảng bộ Biên Hòa và thành lập các tổ chức trực thuộc gồm: Ban tổ chức, Ban tuyên huấn, Ban kiểm tra, Ban nội chính, Ban kinh tế, Ban nghiên cứu lịch sử đảng

Trải qua 44 năm hình thành và phát triển, đảng bộ thành phố Biên Hòa

đã gắn liền với truyền thống vẻ vang của lịch sử đảng bộ tỉnh Đồng Nai Trong bất cứ hoàn cảnh nào, các thế hệ lãnh đạo, cán bộ, đảng viên trên địa bàn thành phố đều nêu cao tinh thần trách nhiệm, truyền thống đoàn kết, tận

Trang 24

tụy hết mình vì công việc, không ngại gian khổ, đi sâu, đi sát cơ sở nắm tình hình; bám sát đường lối của đảng, chủ động nghiên cứu, tham mưu đề xuất ban thường vụ thành ủy và các cấp ủy đảng cụ thể hóa chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị của trung ương, của tỉnh ủy thành các chỉ thị, nghị quyết, quyết định, kế hoạch phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

Trong những năm qua, đảng bộ thành phố và các TCCSĐ xã, phường trên địa bàn đã đạt được những ưu điểm sau đây:

2.2.1 Những ưu điểm

+ Về hoạt động lãnh đạo kinh tế, văn hóa, xã hội:

Qua đánh giá trong năm 2020 thành ủy Biên Hòa đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện trên các lĩnh vực và đã đạt được một số kết quả quan trọng,

có 57/60 chỉ tiêu đạt và vượt theo nghị quyết đề ra: Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn đạt 94,88% so với kế hoạch; tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ đạt 93,68% tăng 6,84 % so với cùng kỳ, thu ngân sách đạt và vượt 130% [9]

Tính từ năm 2015 đến năm 2020, thu ngân sách của Biên Hòa đạt hơn 21.622 tỷ đồng (tăng bình quân 13,41%/năm), đứng tốp đầu của tỉnh về thu ngân sách, ngành công nghiệp tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong phát triển kinh tế của thành phố, với giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân gần 11%/năm [15]

Cũng theo thống kê từ năm 2015 đến 2020, toàn thành phố đã hoàn thành 37/48 dự án công trình hạ tầng kỹ thuật với tổng kinh phí trên 2.250 tỷ đồng Hoàn thành các tiêu chí của đô thị loại 1 Các lĩnh vực văn hoá, giáo dục, y tế , an sinh xã hội được đảm bảo, đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được nâng cao Công tác cải cách hành chính liên tục đổi mới, phục vụ người dân và doanh nghiệp Kết quả thực hiện chỉ tiêu nghị quyết đại hội lần thứ 11

có 37/38 tiêu chí đạt và vượt [30]

Trang 25

+ Về hoạt động lãnh đạo nông nghiệp, nông thôn: Nông nghiệp, nông thôn từng bước được cơ cấu lại, từng bước vươn lên phát triển nông nghiệp hữu cơ, ứng dụng công nghệ cao Thành phố Biên Hòa đã hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới trong năm 2018 Bên cạnh đó, các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, văn hóa, thể dục - thể thao có nhiều tiến bộ Chính sách an sinh xã hội đền ơn đáp nghĩa được bảo đảm, công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm được quan tâm thực hiện và đạt kết quả thiết thực, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn 0,19%

+ Về hoạt động lãnh đạo quốc phòng - an ninh: An ninh chính trị, trật tự,

an toàn được bảo đảm, hoạt động đối nội, đối ngoại được tăng cường, nhất là quan hệ hợp tác với các doanh nghiệp nước ngoài góp phần đẩy mạnh xúc tiến đầu tư…

+Về hoạt động tổ chức và xây dựng của tổ chức cơ sở đảng: Đảng bộ thành phố tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, gắn với tinh giản biên chế, từng bước nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động Đến nay, hầu hết các xã, phường đã thực hiện mô hình bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch UBND xã, phường; trưởng ban dân vận đồng thời là chủ tịch ủy ban MTTQ Tại các tổ, khu phố trực thuộc các TCCSĐ xã phường cũng hầu hết thực hiện nhất thể hóa các chức danh này Đồng thời, tăng cường thực hiện kiêm nhiệm công việc các vị trí trong đảng

để giảm dần số lượng những người hoạt động không chuyên trách gắn với tăng thu nhập của cán bộ, công chức Bên cạnh đó, hầu hết các xã, phường đều đã thực hiện mô hình văn phòng đảng ủy phục vụ chung các cơ quan tham mưu, giúp việc của đảng ủy ở các bộ phận Qua thực hiện mô hình này

đã giảm được số lượng nhân sự ở các ban đảng; giảm được quy trình thủ tục trong công tác tài chính đảng; giảm được khâu trung gian; việc sử dụng kinh phí được chặt chẽ hơn; tiết kiệm kinh phí cho ngân sách

Trang 26

Gắn liền với việc quan tâm, lãnh đạo xây dựng tổ chức đảng, các TCCSĐ

xã, phường trên đia bàn luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động chi bộ ấp (khu phố); đến nay tỷ lệ ấp (khu phố) có chi bộ đạt 100% và tỷ lệ ấp (khu phố) có chi ủy đạt trên 96%; tỷ lệ đảng viên tham gia sinh hoạt đảng đạt từ 90% trở lên và hầu hết bảo đảm duy trì sinh hoạt đảng theo đúng định kỳ, chất lượng sinh hoạt chi bộ ngày càng được nâng lên; việc thực hiện tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng đã có chuyển biến

Hoạt động bảo vệ chính trị nội bộ được thực hiện chặt chẽ; giải quyết tốt những vấn đề lịch sử chính trị, chú trọng nắm tình hình và giải quyết kịp thời vấn

đề chính trị hiện nay Sự lãnh đạo của các TCCSĐ đối với mặt trận tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và Nhân dân trong việc tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và hệ thống chính trị ngày càng hiệu quả [13]

+Về hoạt động kiểm tra, giám sát trong đảng: Các cấp ủy, tổ chức đảng

và ủy ban kiểm tra các cấp còn quan tâm, chú trọng công tác kiểm tra, giám sát trong mọi hoạt động của TCCSĐ nhằm giữ vững nguyên tắc lãnh đạo và

sự nghiêm minh của đảng để thực hiện thắng lợi nghị quyết hàng năm của Tỉnh ủy và nghị quyết đại hội đảng các cấp Hằng năm ban thường vụ thành

ủy đã xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của đảng đối với các cấp ủy trực thuộc thành ủy 2 lần/năm Từ năm 2016 đến nay, ban thường vụ thành ủy Biên Hòa đã xây dựng kế hoạch, tiến hành kiểm tra 160 lượt tổ chức đảng và 12 bí thư cấp ủy trực thuộc trong thực hiện nghị quyết, chỉ thị của đảng và việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được phân công Đồng thời, giám sát 29 lượt tổ chức đảng và 16 lượt bí thư cấp ủy trực thuộc về thực hiện nghị quyết, chỉ thị của đảng và những điều đảng viên không được làm Cấp ủy cơ sở tiến hành kiểm tra 1.618 lượt tổ chức đảng và 59.459 lượt đảng viên Bên cạnh đó, ban thường vụ thành ủy đã chỉ đạo giải quyết các đơn thư kiến nghị, tố cáo, phản ánh đối với đảng viên và những vấn

Trang 27

đề nổi cộm, bức xúc liên quan đến công tác quản lý đất đai, xây dựng không phép, trái phép, đền bù, giải tỏa; liên quan đến nhân sự đại hội các chi, đảng

bộ trực thuộc thành phố nhiệm kỳ 2020-2025… [1]

+Về hoạt động xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên: Trong những năm qua, thành ủy cũng đặc biệt quan tâm hoạt động xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên đạt nhiều kết quả quan trọng, đảm bảo nguyên tắc đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán

bộ Công tác quy hoạch cán bộ từng bước đi vào nề nếp, có sự kế thừa, phát triển, tạo được nguồn cán bộ, cơ bản khắc phục tình trạng bị động trong công tác cán bộ Chất lượng cán bộ đưa vào quy hoạch được nâng lên, cơ cấu cán bộ trẻ, cán bộ nữ đều tăng Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đi vào chiều sâu, chú trọng đào tạo cán bộ trẻ, cán bộ ở cơ sở và bồi dưỡng nghiệp vụ theo vị trí việc làm, chức danh đảm nhiệm Chất lượng cán bộ đưa vào quy hoạch nhiệm kỳ 2020-2025 so với nhiệm kỳ 2015-2020 nâng lên rõ rệt

Công tác cán bộ được quan tâm; nhiều chủ trương, quy định về công tác cán bộ được cụ thể hóa, điều chỉnh, bổ sung kịp thời; coi trọng công tác đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, điều động cán bộ; ngày càng quan tâm hơn đối với cán bộ trẻ, cán bộ nữ

Trong tình hình chung của cả nước, những ưu điểm của các TCCSĐ xã, phường trên địa bàn thành phố Biên Hòa cũng có những điểm giống như nhận định của hội nghị TW4 khóa XIII trên cơ sở tổng kết hội nghị TW4 khóa XII

đã thực hiện trong những năm qua đó là:

Công tác xây dựng chỉnh đốn đảng, đẩy lùi tự diễn biến, tự chuyển hóa trong cán bộ, đảng viên, nhìn chung việc đấu tranh ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái đạo đức lối sống, diễn biến tư tưởng… có kết quả rõ nét, hiệu quả hơn

so với khóa trước

Nhận thức của cấp ủy, cán bộ, đảng viên được nâng lên, đoàn kết thống nhất được tăng cường hơn Xiết chặt kỷ luật, kỷ cương, đổi mới công tác cán

bộ, đẩy mạnh kiểm tra giám sát

Trang 28

Công tác xây dựng đảng về chính trị tư tưởng đạo đức được chú trọng; việc học tập theo Bác ngày càng đi vào thực chất Việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng được tăng cường [42]

+Về hoạt động đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên: Nhìn chung được thực hiện nghiêm túc; tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh hằng năm đạt trên 70% và tỷ lệ đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên đạt trên 70% [13] Trong những năm qua được sự hướng dẫn của thành

ủy, các TCCSĐ xã, phường trên địa bàn đã thực hiện tốt quy chế đánh giá cán

bộ, công chức (ban hành theo Quyết định số 286-QĐ/TW ngày 8/2/2010 của Bộ chính trị khóa X và quy định số 89-QĐ/TW của Bộ chính trị khóa XII về khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản

lý các cấp), trong đó tập trung đánh giá tính hiệu quả, hiệu lực trong thực thi nhiệm vụ của cán bộ, ngoài việc đánh giá theo tiêu chí định tính (phân loại theo các mức xuất sắc, tốt, hoàn thành và không hoàn thành, có vi phạm hay không vi phạm) còn có các tiêu chí định lượng (tỷ lệ phần trăm mức độ hoàn thành nhiệm

vụ của cá nhân và của tổ chức hoặc ngành, lĩnh vực được giao phụ trách) Việc đánh giá tập trung vào 2 nhóm tiêu chí chính: Về chính trị tư tưởng; đạo đức, lối sống; ý thức tổ chức kỷ luật; tác phong, lề lối làm việc và kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao Trong đó, có những tiêu chí chung và những tiêu chí đặc thù cho từng chức danh cán bộ, đảng viên trong các cơ quan đảng Đây lần đầu tiên việc đánh giá được xác lập trên các tiêu chí cả về nội dung (phẩm chất, năng lực), về những tiêu chí cấp độ (phân theo 4 loại) và về tiêu chí đặc thù (gắn với từng chức danh cán bộ)

Trang 29

logistics chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế Công tác quản lý đất đai, quy hoạch, trật tự xây dựng, bảo vệ môi trường, quản lý hoạt động kinh doanh còn có những bất cập

+Về hoạt động công tác tư tưởng chính trị: Vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí phấn đấu, suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, tệ quan liêu tham nhũng ở một

bộ phận cán bộ đảng viên chưa được ngăn chặn có hiệu quả Việc phổ biến, quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của đảng và chính sách, pháp luật của nhà nước ở một số cấp uỷ, đơn vị chưa nghiêm, chưa xây dựng chương trình kế hoạch cụ thể, do đó hiệu quả còn thấp Chưa chú trọng phát hiện, phổ biến nhân rộng các điển hình tiên tiến và hướng mạnh về cơ sở Công tác đào tạo bồi dưỡng lý luận cho cán bộ, đảng viên có nơi, có lúc còn hạn chế, chưa đồng đều, chưa đa đạng và hấp dẫn, một số TCCSĐ, đảng viên còn xem nhẹ Công tác tư tưởng chưa được quan tâm thường xuyên Một số cấp ủy thiếu những biện pháp kiên quyết và thường xuyên để giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên nên vẫn còn một số người suy thoái về đạo đức lối sống, giảm sút ý chí phấn đấu, sách nhiễu, phiền hà với Nhân dân, cục bộ, kèn cựa địa vị, chưa thẳng thắn trong đấu tranh tự phê bình và phê bình, việc tiếp thu sửa chữa khuyết điểm chưa nghiêm túc Còn có biểu hiện mất đoàn kết, có nơi mất đoàn kết kéo dài hoặc xuất hiện tình trạng “cục bộ, bản vị, cánh hẩu”,

xa rời quần chúng Một bộ phận cán bộ đảng viên có tư tưởng xa rời lý tưởng cho rằng XHCN là viễn vong, xa vời, có hành vi phê phán, phản bác, phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã lậc hậu, lỗi thời; trong đó một số cán bộ lãnh đạo có

“Tư duy nhiệm kỳ, đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh” thông qua một số biểu hiện như nghị quyết TW4 và chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra đó là: người lãnh đạo, quản lý khi được bổ nhiệm có tư tưởng sử dụng “nhiệm kỳ” của mình làm bàn đạp để thực hiện kế hoạch hoặc lồng ghép trong những chương trình, kế hoạch chung

Trang 30

của cơ quan, tổ chức, đơn vị nhằm mưu cầu lợi ích cá nhân; tư tưởng đoàn kết xuôi chiều, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” tại “mục B - phận sự của đảng viên và cán bộ”, người gọi các đối tượng đó là “bọn thứ ba”, chỉ biết

“theo gió bẻ buồm, không có khí khái”, “thái độ thứ ba, ai mặc kệ ai” Nhận định của hội nghị TW4 khóa XIII về tình hình thực hiện nghị quyết TW4 khóa XII trong những năm qua như sau: “còn những tồn tại như một số cấp

ủy, người đứng đầu chỉ đạo chưa quyết liệt, chưa nghiêm Một bộ phận quản

lý chưa nhận thức đầy đủ, chưa gương mẫu thực hiện nghị quyết Còn có cán

bộ, đảng viên lúng túng trong thực hiện, còn né tránh, mơ hồ, có lời nói việc làm biểu hiện "tự chuyển biến", "tự chuyển hóa"…Trách nhiệm nêu gương của một bộ phận cán bộ đảng viên chưa tốt Tình trạng nể nang, né tránh, ngại

va chạm còn diễn ra ở một số nơi” [42] Đây cũng là những hạn chế chung không chỉ của các TCCSĐ trên phạm vi cả nước nói chung mà còn là của các TCCSĐ xã, phường trên địa bàn Biên Hòa nói riêng cần khắc phục trong thời gian tới

- Về nội dung nêu gương của đảng viên, đặc biệt là đội ngũ lãnh đạo

và cấp ủy, việc thực hiện còn nhiều hạn chế Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả người đứng đầu, kể cả một số cán bộ cao cấp, chưa thể hiện tính tiền phong gương mẫu, chưa tích cực học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, trái lại, họ là tấm gương xấu cho những kẻ xu nịnh, vụ lợi, làm mất uy tín đảng Một bộ phận không nhỏ nữa là những cán bộ, đảng viên đang sống “trung bình chủ nghĩa”, rất dễ phân tâm,

vô cảm, ngoài cuộc Họ thường phê phán, kêu ca, nhưng không dám đấu tranh, nói không đi đôi với làm, không nêu được gương sáng gì trong quần chúng Vì vậy, trong phát biểu khai mạc Hội nghị trung ương 8 khóa XII, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thẳng thắn chỉ ra rằng: “Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp chưa xác định rõ

Trang 31

trách nhiệm và chưa thật sự gương mẫu trong rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống, tác phong với những biểu hiện như nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, có cán bộ còn trục lợi, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực…

; đặc biệt có cán bộ lãnh đạo cấp cao, cả đương chức và nghỉ hưu, đã vi phạm nghiêm trọng kỷ luật của đảng, pháp luật của nhà nước, kể cả kỷ luật hình sự, gây dư luận xấu trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân”

- Về công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới Thực tế đây là điểm rất quan trọng hoạt động chính trị- tư tưởng của các TCCSĐ xã, phường trên địa bàn Việc thực hiện nghị quyết 35-

TW chỉ mới nằm ở hình thức phổ biến nghị quyết trong các buổi họp chi bộ hàng tháng Việc thực hiện nghị quyết vẫn chủ yếu nằm ở tính tự giác và trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên khi đối mặt với các luận điển sai trái, xuyên tạc Qua phỏng vấn nhanh một số đảng viên trong quá trình khảo sát kết quả trả lời chia thành 02 nhóm: Nhóm cán bộ đảng viên là lãnh đạo cho rằng hầu hết đã được phổ biến và nắm rõ nội dung của nghị quyết tuy nhiên quá trình thực hiện nghị quyết còn nhiều hạn chế, chưa triệt để và rộng khắp với lý do phổ biến đó là thiếu “chuyên gia” lý luận để thực hiện đấu tranh phản bác, một số ý kiến khác khác cho rằng các TCCSĐ trên địa bàn không phải là cơ quan, tổ chức chuyên trách nên việc thực hiện nghiên cứu, phân tích như các trường chính trị còn hạn chế (Tổng hợp kết quả phỏng vấn nhanh) Nhóm cán bộ đảng viên không giữ chức danh lãnh đạo, quản lý, đặc biệt ở các chi

bộ, tổ ấp, khu phố thì kết quả trả lời là không biết hoặc có nghe qua về nghị quyết bày nhưng không nắm rõ nội dung

+Về hoạt động tổ chức của các tổ chức đảng cơ sở: Tỉ lệ TCCSĐ xã, phường trên địa bàn đạt trong sạch vững mạnh không đồng đều vẫn còn không ít TCCSĐ yếu kém hoặc có vấn đề nổi cộm, phát sinh thậm chí có nơi

đã trở thành điểm nóng Ở nông thôn là tình trạng thực hiện chưa nghiêm hoặc vi phạm chủ trương, chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước, nhất

Trang 32

là vi phạm luật đất đai, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ Ở một số cơ sở đảng xã, phường hoạt động chưa thực sự quan tâm đến các phong trào đoàn thể Một số TCCSĐ xuất hiện tư tưởng “trung bình chủ nghĩa” hoặc thoả mãn với danh hiệu trong sạch vững mạnh nên thiếu những biện cụ thể để phấn đấu; buông lỏng quản lý, kiểm tra đảng viên, cán bộ Nhiều cấp ủy chưa thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của TCCSĐ ở cơ sở Năng lực hoạt động và lãnh đạo ở nhiều TCCSĐ còn yếu, chưa đủ sức giải quyết những vấn đề phức tạp xảy ra ở địa phương Tổ chức bộ máy của đảng và toàn hệ thống chính trị còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc; chức năng, nhiệm vụ ở một số tổ chức còn chồng chéo; dẫn đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của nhiều tổ chức trong hệ thống chính trị chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ; thẩm quyền, trách nhiệm của cán bộ, công chức, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu chưa rõ

+Về việc ban hành chỉ thị, nghị quyết của TCCSĐ xã, phường Qua

nghiên cứu, khảo sát và phân tích những người được hỏi về “chất lượng nghị quyết của đảng ủy xã/phường” với 3 cấp độ từ “tốt” đến “yếu” (Phụ lục 6) cho thấy 57% ý kiến đánh giá là “Tốt”, 37% ý kiến đánh giá là “Trung bình”

và chỉ có 6% cho là “Yếu” Song hành với câu hỏi về chất lượng nghị quyết là câu hỏi về “Chủ trương, nghị quyết của đảng ủy xã/ phường phù hợp với tình hình đặc thù của địa phương” cũng nhận được tỉ lệ đánh giá tương tự Qua đó cho thấy chất lượng ban hành nghị quyết, chỉ thị của các TCCSĐ xã, phường trên địa bàn đã có những dấu hiệu tích cực, các nghị quyết đã bước đầu có chất lượng và phù hợp với thực tiễn của địa phương Tuy nhiên về số liệu 57% ý kiến tốt chưa phải là con số cao, mới chỉ hơi quá nửa, trong khi đó vẫn còn 6% ý kiến cho rằng là chưa tốt, chưa phù hợp Mặt khác kết quả khảo sát thu nhận được cho thấy tỉ lệ trong ý kiến “Tốt” đa phần là ý kiến của cán bộ là lãnh đạo, quản lý và người giữ chức vụ trong Đảng và Nhà nước (chiếm 97%

số cán bộ lãnh đạo, quản lý giữ chức vụ được khảo sát), trong khi đó ý kiến đánh giá “Tốt” trong nhóm cán bộ là đảng viên không giữ chức vụ hoặc

Trang 33

không là đảng viên chỉ chiếm tỉ lệ lần lượt là 54% và 32% Lý do khác biệt, này theo tác giả đó là do sự khác biệt về trình độ nhận thức chính trị, thậm chí

là sự “quan ngại, né tránh” của nhóm cán bộ lãnh đạo được khảo sát Bên cạnh đó, qua đánh giá ngẫu nhiên 24 mẫu nghị quyết của 8 phường tác giả khảo sát, cho thấy các văn bản, của cấp dưới nhất là nghị quyết thường sao chép của cấp trên mà ít nghiên cứu, bổ sung thêm tình hình của địa phương mình để xây dựng nghị quyết Nghị quyết của các chi bộ tổ, khu phố lấy từ nghị quyết của xã, phường; nghị quyết xã phường trích từ thành phố, nghị

quyết thành phố giống với nghị quyết của tỉnh

+ Về việc lãnh đạo và thực hiện chỉ thị, nghị quyết, chủ trương chính sách, pháp luật Kết quả khảo sát trong phụ lục 6, cho thấy tỉ lệ đánh giá “Tốt”

là 41%, “Trung bình” là 55% và “Yếu” là 4% cho câu hỏi “Hiệu quả và hoạt động tổ chức thực hiện nghị quyết của đảng ủy trên địa bàn” Tuy ý kiến đánh giá “Yếu” chỉ chiếm 4% nhưng ý kiến đánh giá “Tốt” cũng chỉ có 41% cho thấy việc thực hiện nghị quyết của các đại diện TCCSĐ xã, phường được khảo sát trên địa bàn thành phố Biên Hòa chưa mang lại dấu ấn và thành tích nổi bật Tuy nhiên tiếp cận từ góc độ khác, thành quả của việc hoạt động lãnh đạo và thực hiện tốt các chủ trương của đảng không thể thấy ngay tức thì mà cần thời gian, nhất là trong lĩnh vực phát triển kinh tế Do đó việc đánh giá chất lượng của việc thực hiện nghị quyết và lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn của các TCCSĐ xã phường vẫn có sự tương đối nào đó Nhìn nhận về tỉ lệ đánh giá, tác giả cho rằng lý do việc thực nghị quyết và lãnh đạo của các TCCSĐ xã, phường nói chung và các chi bộ tổ, ấp, khu phố nói riêng trên địa bàn chưa mạnh là do nghị quyết cơ sở sao chép khá nhiều từ nghị quyết của cấp trên như đã đề cập nên khi đưa vào áp dụng tại từng địa phương

sẽ gặp nhiều khó khăn Hội nghị TW4, khóa XIII trên cơ sở tổng kết kết quả công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng của nghị quyết TW4, khóa XII đã đưa ra nhận định: “Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số cấp uỷ, tổ chức

Trang 34

đảng còn hạn chế; chưa cụ thể hoá nghị quyết sát với thực tiễn của địa phương, cơ quan, đơn vị; hiệu quả tổ chức thực hiện chưa cao Việc học tập

và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh của cán bộ, đảng viên gắn với thực hiện nghị quyết chưa đồng bộ” [43]; “ vẫn còn một số cấp uỷ tổ chức đảng, người đứng đầu chưa chỉ đạo quyết liệt, nhận thức chưa gắn với hành động, thực hiện chưa nghiêm nghị quyết của đảng Một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu nhận thức chưa sâu sắc, đầy đủ, chưa thực sự đề cao trách nhiệm, chưa tự giác, gương mẫu thực hiện nghị quyết ”[43]

+ Về công tác đánh giá chất lượng đảng viên hàng năm: Phân tích khảo sát 182 phiếu trả lời (câu hỏi 5, phụ lục 6) cho kết quả như sau: 42% ý kiến cho là “Tốt”, 32% ý kiến “Trung bình” và 24% là “Yếu” Kết quả phân tích cho thấy công tác đánh giá đảng viên hàng năm của TCCSĐ nằm ở mức TB Khá khi có từ 74% tỉ lệ ý kiến đánh giá từ mức “Trung bình” trở lên, tuy nhiên tỉ lệ 24% đánh giá “Yếu” cũng là thách thức để các TCCSĐ tự xem xét

và cải thiện Việc tỉ lệ 24% đánh giá “Yếu” từ thực tiễn sinh hoạt tại chi bộ tổ, khu phố trên địa bàn, cùng với việc tổng hợp từ các ý kiến phỏng vấn sâu, tác giả đưa ra một số nguyên nhân do: Các tiêu chí đánh giá còn chung chung, áp dụng cho nhiều nhóm cán bộ, chưa cụ thể hóa cho từng loại hoạt động, chưa phân định được ranh giới mức độ hoàn thành nhiệm vụ, thông thường “khi đảng viên không vi phạm hoặc không phát hiện ra vi phạm trong năm đánh giá thì kết quả thường là hoàn thành nhiệm vụ, mặc dù đảng viên không giữ chức vụ gì” (tổng hợp ý kiến từ kết quả phỏng vấn sâu) Bên cạnh đó, còn do

sự nể nang đi kèm với tiêu chí thành tích nên các kết quả đánh giá thường là hoàn thành nhiệm vụ trở lên (trên 70% đánh viên hoàn thành nhiệm vụ trở lên qua các năm – Phụ lục 14)

+Về chất lượng sinh hoạt đảng ở các TCCSĐ xã, phường hiện nay

Trang 35

Khi được hỏi về nội dung “Chất lượng họp chi bộ hàng tháng” (Câu 2, phụ lục 6) cho kết quả 41% ý kiến đánh giá “Tốt”, 50% ý kiến đánh giá “Trung bình” và 9% là “Yếu” Nhìn tổng thể chất lượng sinh hoạt chi bộ tại các TCCSĐ mà cụ thể là các chi bộ tổ, khu phố trực thuộc xã, phường được đánh giá đạt 91% từ “Trung bình” trở lên theo tác giả là ở mức khá, tuy nhiên tỉ lệ đánh giá “Tốt” mới chỉ đạt 41%, chưa quá nửa và tỉ lệ “Yếu” vẫn chiếm khoảng 10% Thực tế sinh hoạt tại các chi bộ tổ, ấp, khu phố trong các TCCSĐ xã, phường trực thuộc cho thấy hoạt động sinh hoạt đảng tại các chi

bộ này hầu hết là các cán bộ lớn tuổi, về hưu tham dự mà thiếu vắng hầu hết các đảng viên trẻ, hình thức sinh hoạt ở một số nơi còn mang tính áp đặt, thiếu dân chủ và tẻ nhạt

Từ kết quả phỏng vấn sâu các chuyên gia cho rằng tỉ lệ sinh hoạt mới đạt mức độ “Khá” là do hai nguyên nhân chiếm tỉ lệ trả lời lớn: Một là: Do cách thức tổ chức sinh hoạt chi bộ tại tổ, khu phố còn mang tính hình thức, đơn điệu chưa phát huy được sự “hào hứng” tham gia của đảng viên, chưa mang lại lợi ích thiết thực cho họ và hình thức sinh hoạt còn đơn điệu chưa kết hợp được với hình thức sinh hoạt chuyên đề Thứ hai, là do năng lực điều hành của người lãnh đạo

+ Về hoạt động phát triển đảng viên trong các tổ chức cơ sở đảng: Công tác tạo nguồn phát triển đảng ở một số chi bộ, đảng bộ chưa được quan tâm đúng mức, có nơi xem nhẹ tiêu chuẩn đảng viên hoặc quá khắt khe trong việc thực hiện tiêu chuẩn kết nạp đảng viên, khi xét nguồn hay xét kết nạp đảng viên còn nặng tư tưởng dòng họ Một số chi bộ, đảng bộ còn chưa làm đúng quy định, thủ tục, quy trình kết nạp đảng viên Một số cán bộ lãnh đạo, đảng viên lớn tuổi còn mang tính áp đặt, gia trưởng, thiếu khách quan, thiếu tin tưởng vào lớp trẻ, không nhìn nhận đầy đủ quá trình phấn đấu của thanh niên

Sự phối hợp giữa các đoàn thể quần chúng với TCCSĐ còn nhiều hạn chế Nhiều cấp ủy chưa quan tâm đến hoạt động lãnh đạo Đoàn thanh niên và các

Trang 36

đoàn thể khác Tình trạng không nhỏ công nhân và quần chúng lao động tiên tiến có tư tưởng “nhạt đảng khô đoàn” không muốn vào Đảng hoặc không có nhiệt huyết tham gia sinh hoạt đảng Thực tế đã có nhiều TCCSĐ hàng năm không tìm được quần chúng ưu tú để tạo nguồn cho đảng Đặc biệt, Đồng Nai,

cụ thể là thành phố Biên Hòa là một thành phố có đông đồng bào theo đạo công giáo nhất cả nước do đó có nhiều vùng giáo dân công tác xây dựng đảng

ở vùng đồng bào theo đạo thiên chúa có rất nhiều khó khăn Người giáo dân theo đạo thiên chúa bản chất là tốt, có tinh thần đấu tranh cách mạng Tuy nhiên, vì bị giáo lý mê hoặc và bị bọn phản động đội lốt tôn giáo xuyên tạc, chia rẽ nhằm ngăn cách họ với đảng và chính quyền Tại những nơi này một

số TCCSĐ, cấp ủy, chính quyền cơ sở, đơn vị về tôn giáo và công tác tôn giáo chưa được nhận thức đầy đủ, chưa chủ động tạo nguồn phát triển đảng viên là người có đạo nói chung và người công giáo nói riêng, bởi vậy công tác phát triển đảng viên thường bị động, chưa đạt kết quả như mong muốn Công tác hoạt động của các TCCSĐ xã, phường ở trên các địa bàn này gặp nhiều khó khăn như việc khó phát triển đảng viên, hoạt động của các TCCSĐ và các đoàn thể xã hội trên địa bàn và trong mối quan hệ giữa các TCCSĐ với Nhân dân gặp nhiều khó khăn trong hoạt động vận động, tuyên truyền trong Nhân dân Đánh giá số liệu thống kê về tình hình phát triển đảng viên trong 05 năm qua của cho thấy tỉ lệ kết nạp đảng viên mới có xu hướng giảm qua các năm

từ chỗ kết nạp được 504 năm 2015, giảm xuống còn 406 trong năm 2020 Mặc dù so với chỉ tiêu phát triển đảng hàng năm đều vượt kế hoạch Số lượng đảng viên được kết nạp chủ yếu làm việc trong các cơ quan nhà nước năm

2019 là 234 đảng viên, năm 2020 là 211 đảng viên, trong khi đó số lượng đảng viên là thành phần công nhân, lao động chỉ khoảng 86 đảng viên trong năm 2019 và 72 đảng viên trong năm 2020; đối tượng đảng viên là người công giáo chiếm tỉ lệ nhỏ khoảng 4-5% cũng chủ yếu làm việc trong các cơ quan nhà nước hoặc đại diện lãnh đạo các giáo xứ Qua số liệu thống kê cho

Trang 37

thấy thực trạng xu hướng công tác tạo nguồn cho công tác phát triển đảng trên địa bàn đang gặp nhiều khó khăn cả về số lượng và thành phần của nguồn lực +Về hoạt động kiểm tra, giám sát trong đảng: Chất lượng, hiệu quả của hoạt động công tác kiểm tra, giám sát và xử lý tổ chức đảng và đảng viên vi phạm chưa cao, chưa đủ sức góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong nội bộ đảng Nhiều khuyết điểm, sai phạm của tổ chức đảng, đảng viên chậm được phát hiện, kiểm tra, xử lý hoặc xử lý kéo dài nên

kỷ cương, kỷ luật ở một số nơi chưa nghiêm; chưa phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị và của Nhân dân trong công tác kiểm tra, giám sát [8] Trong nhiệm kỳ vừa qua công tác thanh kiểm tra và phòng chống tham nhũng đã đạt được nhiều thành công, nhiều vụ án tham nhũng lớn được đưa ra xét xử Nhưng nhìn chung phát hiện tham nhũng mới chủ yếu ở cấp vĩ mô do ủy ban kiểm tra TW phát hiện, tình trạng tham nhũng vặt, tham nhũng nhỏ ở cấp cơ sở xảy ra nhiều mà ủy ban kiểm tra cấp

cơ sở chưa phát hiện được Tại hội nghị TW4 khóa XIII, trung ương đã đưa ra nhận định: “Công tác kiểm tra, giám sát chưa đồng bộ ở các cấp; một số cấp

uỷ tiến hành chưa thường xuyên, nhất là cấp cơ sở; phạm vi, đối tượng giám sát hẹp, hiệu quả cảnh báo, phòng ngừa vi phạm còn hạn chế Một số cấp uỷ chưa chú trọng kiểm tra, giám sát chuyên đề thực hiện Nghị quyết Việc kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, xử lý một số trường hợp suy thoái, "tự diễn biến",

"tự chuyển hoá" chưa nghiêm Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực ở một số địa phương, bộ, ngành chưa chuyển biến rõ nét; chưa quản lý chặt chẽ việc kê khai, công khai, giải trình nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý” [43] Đây cũng là những hạn chế mà các TCCSĐ xã, phường trên địa bàn thành phố Biên Hòa tồn tại

Trang 38

2.2.3 Nguyên nhân của những ưu điểm

- Để có được những thành tựu trong những năm vừa qua không thể không kể đến sự lãnh đạo của đảng và nhà nước thể hiện qua đường lối đổi mới, chủ trương đúng đắn của đảng, chính sách và pháp luật của nhà nước ngày càng hoàn thiện, sát thực tế, hợp lòng dân Đồng thời với việc đề ra đường lối, Đảng đã coi trọng cả công tác xây dựng nội bộ đảng và hoạt động của đảng trong mối quan hệ với các tổ chức chính trị và Nhân dân, kịp thời đề

ra những nghị quyết về đổi mới chỉnh đốn đảng, trong đó việc củng cố tăng cường nâng cao chất lượng hoạt động của TCCSĐ là một trong những nhiệm

vụ trọng tâm, được sự chỉ đạo chặt chẽ của Bộ chính trị, của các cấp ủy cấp trên bằng những nguyên tắc hoạt động, điều lệ đảng được bổ sung như nguyên tắc: “Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”;

“Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân”…

Bên cạnh đó, những năm qua, không chỉ trên địa bàn thành phố Biên Hoà mà toàn tỉnh Đồng Nai luôn quan tâm công tác tổ chức hoạt động và xây dựng đảng Theo đó, không chỉ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chỉ thị 05-CT/TW của Bộ chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tỉnh ủy Đồng Nai đã có quy định 08-QĐ/TU ngày 11-10-2017 về thực hiện văn hóa trong đảng tại đảng bộ tỉnh Đồng Nai Thực hiện quy định này, đội ngũ đảng viên trong toàn thành phố đã nêu cao ý thức trách nhiệm phụng sự tổ quốc, phục vụ Nhân dân Thực hiện nghiêm các nguyên tắc của đảng Luôn nêu cao ý thức tổ chức kỷ luật và gương mẫu trong thực hiện nội quy, quy chế của tổ chức, đơn vị Gắn bó mật thiết với Nhân dân

- Phần lớn các TCCSĐ đã nhận thức đúng vị trí, vai trò hoạt động của mình, coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, hoạt động của đảng về xây dựng nội bộ và trong việc lãnh đạo các tổ chức chính trị - kinh tế - xã hội và Nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối là nhiệm vụ then chốt Quan tâm

Trang 39

xây dựng và lãnh đạo hệ thống chính trị vững mạnh ở cơ sở, nâng dần chất lượng hoạt động, thống nhất trong lãnh đạo và phối hợp trong hoạt động, chú trọng hoạt động xây dựng mối quan hệ và vận động nhân dân, chú ý đến việc vận động đồng bào có đạo, đồng bào các dân tộc đang sinh sống tại cơ sở thực hiện tốt chủ trương của đảng trên mọi lĩnh vực, đời sống xã hội, chính sách pháp luật của nhà nước làm cho dân hiểu, dân thông, dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân hưởng thụ

- Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng được chú trọng đã tạo ra được đội ngũ cán bộ, đảng viên có năng lực, kinh nghiệm và phẩm chất, xuất thân từ phong trào cách mạng ở cơ sở, có tinh thần trách nhiệm trước sự nghiệp đổi mới, nhiều cán bộ đảng viên trung kiên một lòng vì đảng, vì dân tạo nguồn lực mới cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở

- Hoạt động thanh tra, kiểm tra từng bước được thực hiện nghiêm chỉnh và quyết liệt, phần nào đã đem lại lòng tin cho Nhân dân và làm trong sạch đội ngũ cán bộ đảng viên trong các TCCSĐ

2.2.4 Nguyên nhân của những hạn chế

a) Nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, sự khủng khoảng của chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) thế giới Sau khi các nước XHCN ở Liên Xô tan rã, thành trì của XHCN sụp đổ làm mất đi thành quả phát triển rực rỡ của thời kỳ XHCN Sự đối trọng của hai thế cực của thế giới giữa CNXH và TBCN đã không còn mà nay chỉ độc tôn của CNTB đứng đầu là Mỹ Những thành tựu khoa học, kinh tế phát triển của CNTB làm lệch đi nhận thức đối với CNXH, làm khủng khoảng niềm tin vào CNXH, coi TBCN là sự văn minh, hiện đại ít nhiều đã làm phai nhạt niềm tin vào lý tưởng cộng sản, con đường đi lên CNXH và niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam Mà niềm tin vào lý tưởng chính trị mờ nhạt thì sức cố kết về mặt tổ chức cũng ít nhiều bị suy giảm và điều quan trọng nhất là chính điều đó đã tạo ra một khoảng trống trong tư tưởng tâm lý

Trang 40

của con người để cho các biểu hiện tư tưởng và lối sống không lành mạnh trỗi dậy và có đất để phát triển Phẩm chất đạo đức, lối sống của con người khi thiếu niềm tin chính trị làm cơ sở thì hậu quả tất yếu là sẽ bị suy thoái là một thực tế khách quan Chính sự suy thoái về lý tưởng và phẩm chất của một số

bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và Nhân dân là hạn chế lớn nhất cho sự hoạt động của các TCCSĐ trong cả xây dựng nội bộ và hoạt động lãnh đạo các tổ chức trị trên địa bàn và mối quan hệ giữa đảng với Nhân dân

Thứ hai, sự chống phá của các thế lực thù địch

Xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế là điều kiện để các thế lực thù địch không ngừng chống phá, xuyên tạc bằng các thủ đoạn mưu mô, xảo quyệt bằng chiến dịch “diễn biến hòa bình, phi chính trị hóa quân đội, xã hội dân sự…” Thông qua việc tuyên truyền các thuật ngữ “đẹp đẽ” về chế độ TBCN như nhân quyền, dân chủ, hiện đại, giàu có vì thế đã làm nhiều người có tâm

lý sùng bái tư bản, cho rằng CNXH là cái gì đó không thực tế và xa vời Các thế lực thù địch núp dưới bóng tôn giáo xúi giục, kích động, tuyên truyền các quan điểm chống phá đảng và nhà nước, gây chia rẽ dân tộc, tư tưởng chống phá và xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng cộng sản…

Thứ ba, tác động tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường (KTTT)

Nền kinh tế thị trường đưa ra lợi nhuận kinh tế, đi kèm theo là tính ích

kỷ, cá nhân vốn có trong bản thân mỗi con người, nên việc tác động của nó là việc chạy theo lợi nhuận, đặt lợi ích cá nhân lên trên hết, tình trạng phân hóa giàu nghèo, bất công xã hội, gian lận, tham nhũng, đấu đá vì lợi ích kinh tế, chạy chức chạy quyền… Đó là lý do vì sao ngày càng ít người quan tâm đến chính trị mà chỉ chạy theo lợi nhuận kinh tế, trong khi đó mục tiêu và hoạt động của đảng là hướng đến lợi ích chung của giai cấp, của Nhân dân Nó trái ngược với bản chất tư lợi của nền KTTT đem lại, chính các tiêu cực của mặt trái thị trường đem lại làm cho không ít người tỏ ra thiếu niềm tin, tiêu cực,

Ngày đăng: 20/04/2023, 06:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
[4] Đại hội đại biểu Tp. Biên Hòa khóa XII (2020), Báo cáo chính trị của BCH Đảng bộ thành phố (khóa XI), Nhà xuất bản Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của BCH Đảng bộ thành phố (khóa XI)
Tác giả: Đại hội đại biểu Tp. Biên Hòa khóa XII
Nhà XB: Nhà xuất bản Đồng Nai
Năm: 2020
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (1960), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, tập 2, BCHTW Đảng Lao động Việt Nam, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, tập 2
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: BCHTW Đảng Lao động Việt Nam
Năm: 1960
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam (1977), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1977
[7] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2021
[8] Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần XII (2015), Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa XI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng khóa XI
Tác giả: Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần XII
Năm: 2015
[11] C.Mác - Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
[16] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 15, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 113 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2011
[19] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 15, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội [20] Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2018), Xây dựng Đảng CộngSản Việt Nam, Giáo trình Cao cấp lý luận chính trị, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 15", NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội [20] Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2018), "Xây dựng Đảng Cộng "Sản Việt Nam, Giáo trình Cao cấp lý luận chính trị
Tác giả: Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 15, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội [20] Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2018
[21] Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2014), Giáo trình Xây Dựng Đảng về tổ chức, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Xây Dựng Đảng về tổ chức
Tác giả: Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
Năm: 2014
[22] Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2018), Giáo trình Xây Dựng Đảng về tư tưởng và đạo đức, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Xây Dựng Đảng về tư tưởng và đạo đức
Tác giả: Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
Năm: 2018
[23] Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2013), Giáo trình Xây Dựng Đảng về chính trị, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Xây Dựng Đảng về chính trị
Tác giả: Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
Năm: 2013
[24] V.I. Lênin (1979), Toàn tập, tập 12, Nxb Tiến bộ, Matxơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 12
Tác giả: V.I. Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1979
[25] V.I.Lênin (1979), Toàn tập, tập 12, NXB Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 12
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: NXB Tiến bộ
Năm: 1979
[1] Dương An (2020), TP. Biên Hòa: Quan tâm công tác kiểm tra, giám sát, Báo Đồng Nai, http://baodongnai.com.vn/chinhtri/202010/tpbien-hoa-quan-tam-cong-tac-kiem-tra-giam-sat-3026230/, [truy cập ngày 21/06/2021] Link
[9] Đông Giang (2020), Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Biên Hòa mở rộng, Báo Đồng Naihttp://bienhoa.dongnai.gov.vn/Pages/newsdetail.aspx?NewsId=5715&CatId= Link
[12] Phương Hằng (2020), Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, Báo điện tử Đồng Nai, http://www.baodongnai.com.vn/chinhtri/202001/chu-trong-xay-dung-doi-ngu-can-bo-2981268/, [truy cập ngày21/06/2021] Link
[14] Phương Hằng (2020), Đảng bộ TP. Biên Hòa: Vì một thành phố năng động, phát triển, Báo điện tử Đồng Nai,http://www.baodongnai.com.vn/chinhtri/202012/dang-bo-tpbien-hoa-vi-mot-thanh-pho-nang-dong-phat-trien-3035282/, [truy cập ngày21/06/2021] Link
[15] Phương Hằng (2020), Xây dựng TP. Biên Hòa phát triển xứng tầm đô thị loại I, Báo Đồng Nai,http://www.baodongnai.com.vn/tieu-diem/202008/xay-dung-tpbien-hoa-phat-trien-xung-tam-do-thi-loai-i-3018293/, [truy cập ngày 21/06/2021] Link
[32] Wikipedia, https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%93ng_Nai, [truy cập ngày 21/06/2021] Link

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w