thực hiện các chức năng: đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, các chức danh công chức hành chính các cấp, cán bộ, công chức cơ sở, công chức dự bị và đội ng
Trang 1BỘ NỘI VỤ ; HOC VIEN HANH CHINH QUOC GIA
DE TAI KHOA HOC CAP BO
co SO LY LUAN VA KHA NANG THỰC TIẾN
CUA VIEC XAY DUNG, KHAI THAC Cd SO DU LIEU
CAC CONG TRINH KHOA HOC HANH CHINH
Mã số: 2001-54-055
Chủ nhiệm đề tai : TS Dinh Ngoc Hiện Phó chủ nhiệm đểtài : ThS Nguyễn Văn Thành Thư ký đề tài : CN Nguyễn Hồng
Hà Nội - 2004
Trang 2TẬP THỂ NHỮNG NGƯỜI THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1 | TS Dinh Ngọc Hiện Chủ nhiệm để tài HVHCQG
2 } ThS Vũ Văn Thành Phó Chủ nhiệm đề ti | HVHCQG
3 |CN Nguyễn Hồng Thư ký đề tài HVHCQG
4 | ThS Nguyễn Quang Vỹ Thành viên HVHCQG
5 | KS Nguyễn Trọng Kỳ Thành viên VPQH
6 | CN H6 THi Minh Thanh vién HVHCQG
7 | CN Va Van Hién Thanh vién HVHCQG
8 | CN Dang Thanh Mai Thành viên HVHCQG
Trang 3
PHAN MO DAU
1 DAT VAN DE
Những năm gần đây, khoa học hành chính đã hình thành, phát triển và
trở thành một ngành khoa học độc lập ở Việt Nam Mặc đù mới ra đời và là ngành khoa học còn non trẻ, song khoa học hành chính ở nước ta không những đã xác định được vị trí của mình, mà còn có nhiều công trình có giá trị về lý luận và thực tiễn đóng góp tích cực sự nghiệp chung, như:
- Hoạch định đường lối, chính sách của Đảng;
- Đổi mới và hoàn thiện bộ máy nhà nước;
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực hành chính và quản lý
nhà nước;
- Đưa ra nhiều giải pháp, khuyến nghị khoa học góp phần giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn và thúc đẩy công cuộc cải cách hành chính trong
giai đoạn hiện nay;
- Phục vụ cho công tác biên soạn chương trình, giáo trình tài liệu đào
tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức những kiến thức về hành chính và quản lý nhà nước của Học viện cũng như của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ về kiến thức về hành chính và quản lý nhà nước trong cả nước Với những đóng góp to lớn như vậy, chúng ta đã làm gì để khuyếch trương vị trí, vai trò của khoa học hành chính, cũng như góp phần thúc đẩy khoa học hành chính phát triển?
Đây chính là vấn để bức xúc phải giải quyết về tổng thể, mà đề tài này mới chỉ góp một phần nhỏ
2 GIỚI THIỆU VÀ BOI CẢNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Ly do lua chon dé tai
Trang 4Các công trình khoa học hành chính tự thân chúng vừa là thành tựu chung của nên khoa học hành chính nói riêng, của khoa học xã hội và nhân văn nói chung, đồng thời nó cũng là hệ thống lý luận về hành chính và quản
lý nhà nước Với vị trí và vai trò quan trọng như vậy, thái độ, trách nhiệm của chúng ta đối với các công trình khoa học hành chính như thế nào?
Là Trung tâm Quốc gia, thực hiện các chức năng: đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, các chức danh công
chức hành chính các cấp, cán bộ, công chức cơ sở, công chức dự bị và đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên các chuyên ngành hành chính và quản lý
nhà nước; nghiên cứu khoa học hành chính và tư vấn cho Chính phủ trong
lĩnh vực hành chính và quản lý nhà nước (Điều 1 Quyết định SỐ: 234/2003/QĐ-TTg), Học viện Hành chính Quốc gia phải là nơi nhận lấy nhiệm vụ cũng như trách nhiệm về vấn đề này, cụ thể là:
- Hệ thống hoá, quản lý một cách khoa học đối với các công trình khoa
học hành chính và các tác giả của chúng;
- Tạo ra khả năng và điều kiện tốt nhất cho các nhà nghiên cứu, các giảng viên, các nhà lãnh đạo, quản lý và cho tất cả những ai có quan tâm khai thác, sử đụng phục vụ cho sự nghiệp đổi mới và cải cách hành chính;
- Tạo ra khả năng và điều kiện tốt nhất cho việc đánh giá các công trình khoa học hành chính và bảo vệ bản quyền cho các tác giả của chúng
2.2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trên thực tế đã có ấn phẩm thống kê một số công trình khoa học hành chính (tên công trình, ấn phẩm) ấn hành thành tập kỷ yếu theo một chuyên
đề nhất định hay tập tóm tắt các công trình khoa học hành chính, cụ thể là:
- Tóm tắt các công trình nghiên cứu khoa học của Học viện Hành chính
Quốc gia (Từ năm 1990 đến năm 1999);
- Danh mục các công trình khoa học của cán bộ, giảng viên Học viện
Hành chính Quốc gia (Từ năm 1990 đến năm 1999);
Trang 5Tuy nhiên, với cách làm truyền thống đó một mặt không thể tập hợp
được tất cả các công trình khoa học hành chính đã và sẽ có, mặt khác cũng
không thuận lợi cho việc tra cứu, khai thác các công trình đó kể cả về phương điện không gian, về thời gian cũng như về phương diện quan tâm của người nghiên cứu đối với một (hoặc một nhóm) tác giả hay đối với vấn đề
mà nhiều công trình có đề cập đến
Việc nghiên cứu mang tính khoa học để hệ thống hoá, quản lý, khai thác, sử dụng các công trình khoa học hành chính, nhất là dùng công cụ tin học thì chưa được thực hiện bởi bất kỳ công trình khoa học nào
Như vậy, việc lựa chọn để tài nghiên cứu không bị trùng lặp
2.3 Khó khăn, thuận lợi khi lựa chọn, nghiên cứu đề tài
a, Những khó khăn
Đâu năm 2001 khi nhận đề tài nghiên cứu có những khó khăn sau:
- Khoa học hành chính chưa phải là ngành khoa học mạnh;
- Số lượng các công trình khoa học hành chính tầm cấp bộ chưa nhiều;
- Hệ thống máy tính của Học viên mới được kết nối thành một vài mạng
cục bộ ở một vài đơn vị, nhưng chưa đưa vào sử dụng;
- Viện NCHC (Nay là Viện NCKHHC) mới chỉ có 4 máy tính chưa có
mạng;
- Tư duy về sử dụng máy tính để hệ thống hoá, quản lý, khai thác, sử
đụng các công trình khoa học hành chính chưa được ủng hộ
b, Những thuận lợi
Tuy có những khó khăn như đã nêu trên, khi nhận đề tài nghiên cứu có
những thuận lợi sau:
- Nước ta đã có một số cơ sở đỡ liệu, như: Cơ sở đữ liệu quốc gia về kinh tế - xã hội; cơ sở đữ liệu quốc gia về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; cơ sở đữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức; cơ sở đữ liệu quốc gia về
Trang 6dan cu; co sé dữ liệu quốc gia về tài nguyên đất; cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính; cơ sở đữ liệu về thông tin xuất nhập khẩu
- Công nghệ tin học đã bảo đảm được khả năng xây dựng một phần mềm thích hợp;
- Hệ thống máy tính mới được kết nối thành một vài mạng cục bộ có thể đưa vào sử dụng được;
- Sự quan tâm và ủng hộ của Đảng ủy Học viện, ban lãnh đạo Học viện, nhất là của Giám đốc Học viện;
- Sự quyết tâm của Viện NCKHHC
2.4 Hướng tiếp cận để nghiên cứu đề tài
Đề tài liên quan đến một ngành khoa học có tác động lớn đến quá trình quản lý Nhà nước, đồng thời có liên quan đến một giai đoạn lịch sử có nhiều biến đổi hơn 50 năm qua, việc tiếp cận nghiên cứu đề tài này phải dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin với phép biện chứng lịch sử và biện chứng duy vật gắn với thực tiến Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như đường lối của Đảng về Nhà nước và quản lý Nhà nước
Một số phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành cũng được
sử dụng hợp lý trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành công trình, như:
- Phương pháp lịch sử được sử dụng để xem xét quá trình hình thành
và phát triển các công trình khoa học hành chính ở nước ta từ trước đến nay;
- Phương pháp lôgic được sử dụng để tìm mối quan hệ giữa các kết quả của công trình khoa học hành chính với thực tiễn quản lý nhà nước;
- Phương pháp biện chứng được sử dụng để suy luận tìm ra bản chất giai cấp của các ý tưởng khoa học hành chính ở các chế độ xã hội khác nhau,
suy luận để nêu được khái niệm khoa học trong lĩnh vực nghiên cứu;
- Phương pháp so sánh được sử dụng để làm sáng tổ quá trình hình thành và phát triển của các công trình khoa học hành chính ở nước ta;
Trang 7- Phương pháp tổng hợp được sử dụng để khái quát hoá những nhóm vấn đề nghiên cứu và về tổng thể khoa học hành chính, từ đó có những kiến giải khoa học và định hướng cho việc hệ thống và quản lý các công trình
thuộc ngành khoa học này;
Ngoài ra, từ việc xác định phạm vi các công trình khoa học nghiên cứu trực tiếp nên hành chính nhà nước và quản lý nhà nước của nước ta từ trước đến nay và nghiên cứu thành quả của công nghệ thông tin, khả năng hiện có về hạ tầng công nghệ thông tin của Học viện Hành chính Quốc gia
để ứng dụng vào việc xây đựng phần mềm tương ứng nhằm quản lý và khai thác các công trình khoa học hành chính trong phạm vi Học viện và xây
đựng trang Ewbsai đưa lên mạng quốc gia phục vụ chung cho các đối tượng
3 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
3.1 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nhằm các mục tiêu sau:
- Xây dựng phương thức tập hợp và hệ thống hoá các công trình khoa học hành chính và các tác giả (nguồn nhân lực khoa học hành chính) của
chúng;
- Thiết kế một phần mềm tin học vừa quản lý được các công trình
khoa học hành chính, nguồn nhân lực khoa học hành chính, vừa giúp cho
việc tìm được mối liên quan qua quá trình hình thành và phát triển của
chúng, đồng thời tạo ra khả năng phân tích và đánh giá những đóng góp của lĩnh vực khoa học này qua các thời kỳ phát triển của khoa học hành chính
- Làm sáng tỏ hơn nhận thức khoa học đối với việc quản lý các công trình và nguồn nhân lực khoa học hành chính nhằm giúp cho việc khai thác
tư liệu khoa học hành chính trong giảng đạy, nghiên cứu và trong quản lý
nhà nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển của khoa học hành chính nói riêng
và quản lý nhà nước đối với nền kinh tế trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói chung như Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ
1X đã đê ra;
Trang 8- Trên cơ sở Dữ liệu khoa học hành chính điện tử hiện đại, có thể giúp cho việc đánh giá chất lượng công trình; phát hiện những vi phạm quyền tác giả, quyền sở hữu tác phẩm
3.2 NHiệm vụ nghiên cứu đẻ tài
Với mục đích đã được xác định như trên, việc nghiên cứu đề tài được
xác định theo các nhiệm vụ chung sau:
- Xác định phạm vi các công trình khoa học hành chính và quản lý nhà nước;
- Nghiên cứu thành quả của công nghệ thông tin, khả năng hiện có về
hạ tâng công nghệ thông tin của Học viện Hành chính Quốc gia để ứng dụng vào việc xây dựng phân mềm tương ứng để quản lý, khai thác sử dụng
các công trình khoa học hành chính trong phạm vi Học viện và xây dựng trang Ewbsai đưa lên mạng quốc gia phục vụ chung cho các đối tượng
Việc nghiên cứu đề tài còn được xác định theo các nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Tìm ra phương thức để hệ thống hoá các công trình khoa học hành chính và nguồn nhân lực khoa học hành chính;
- Tìm ra phương thức để hệ thống hoá các ý tưởng khoa học hành chính đã được đưa vào thực tiễn cuộc sống cũng như các ý tưởng khoa học mang tính đự báo cho việc quản lý Nhà nước trong những năm tiếp theo;
- Xác định rõ cơ sở khoa học và khả năng thực tiễn của việc hệ thống
hoá, quản lý và khai thác các công trình khoa học hành chính bằng công
nghệ thông tin, từ đó tập hợp được nguồn nhân lực khoa học hành chính;
- Để xuất những tiêu chí cần thiết và xây đựng một phần mềm tin học
cho việc hệ thống hoá, quản lý và khai thác các công trình khoa học hành
chính và quản lý nguồn nhân lực khoa học hành chính;
- Phân tích cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại Học viện Hành chính quốc gia,
kiến nghị các các giải pháp xây dựng Dự án khả thi cho việc hệ thống hoá,
Trang 9quản lý và khai thác các công trình khoa học hành chính bằng công nghệ
thông tin
4 CÁC HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU ĐÃ, CẦN THỰC HIỆN
Việc Hội đồng khoa học Học viện Hành chính quốc gia đã chấp thuận cho triển khai nghiên cứu đề tài khoa học cấp bộ về “Cơ sở lý luận và khả năng thực tiễn của việc xây dựng, khai thác cơ cổ dữ liệu các công trình khoa học hành chính” là đáp ứng được yêu câu phát triển của khoa học hành chính trong tình hình mới và yêu cầu của việc thực hiện Đề án tin
học hóa quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2005 được Thủ tướng
Chính phủ phê đuyệt tại Quyết định số 112/2001/QĐ-TTEg ngày 25/7/2001
Để tiến hành nghiên cứu đề tài, ban chủ nhiệm đã mời đại điện của Trung tâm Tin học, thư viện và nghiên cứu khoa học của Văn phòng Quốc
hôi; lãnh đạo Văn phòng Học viện tham gia Tập thể những người tham gia nghiên cứu đã phối hợp thực hiện các công đoạn nghiên cứu sau:
- Tập trung hệ thống các công trình khoa học hành chính;
- Nghiên cứu hệ thống các tiêu chí quản lý, các từ khóa đặc thù của
khoa học hành chính;
- Khảo sát, thống kê hạ tầng thông tin của Học viện;
- Khảo sát, hệ thống và nghiên cứu sơ bộ các cơ sở đữ liệu hiện có;
- Phân công viết các phần của nội dung két qua dé tài;
- Ký hợp đồng thiết kế phần mềm tin học để hệ thống hoá, quản lý và
khai thác các công trình khoa học hành chính bằng công nghệ thông tin
Trang 10quản lý và khai thác các công trình khoa học hành chính bằng công nghệ thông tin :
4 CAC HOAT DONG NGHIEN CUU DA, CAN THUC HIEN
Việc Hội đồng khoa học Học viện Hành chính quốc gia đã chấp thuận cho triển khai nghiên cứu đề tài khoa học cấp bộ về “Cơ sở lý luận và khả năng thực tiễn của việc xây dựng, khai thác cơ cổ dữ liệu các công
trình khoa học hành chính” là đáp ứng được yêu câu phát triển của khoa
học hành chính trong tình hình mới và yêu cầu của việc thực hiện Đề án tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2005 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1 12/2001/QĐ-TTg ngày 25/7/2001
Để tiến hành nghiên cứu để tài, ban chủ nhiệm đã mời đại diện của
Trung tâm Tin học, thư viện và nghiên cứu khoa học của Văn phòng Quốc
hôi; lãnh đạo Văn phòng Học viện tham gia Tập thể những người tham gia
nghiên cứu đã phối hợp thực hiện các công đoạn nghiên cứu sau:
- Tập trung hệ thống các công trình khoa học hành chính;
- Nghiên cứu hệ thống các tiêu chí quản lý, các từ khóa đặc thù của
khoa học hành chính;
- Khảo sát, thống kê hạ tầng thông tin của Học viện;
- Khảo sát, hệ thống và nghiên cứu sơ bộ các cơ sở đữ liệu hiện có;
- Phân công viết các phần của nội dung kết quả đề tài;
- Ký hợp đồng thiết kế phần mềm tin học để hệ thống hoá, quản lý và
khai thác các công trình khoa học hành chính bằng công nghệ thông tin
Trang 11KẾT QUÁ NGHIÊN CỨU THU ĐƯỢC
PHẦN I NHỮNG KẾT QUÁ VỀ LÝ LUẬN
1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG, KHAI THÁC CƠ SỞ DỮ LIỆU
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HOC HANH CHINH
1.1 Khái niệm về khoa học hành chính
Khoa học hành chính thuộc nhóm các ngành khoa học xã hội và nhân văn, có đối tượng nghiên cứu là nên hành chính với tư cách là hệ thống tổ
chức bộ máy Nhà nước và hoạt động quản lý nhà nước đối với mợi mặt của
đời sống xã hội; có hệ thống các khái niệm, thuật ngữ hành chính; có hệ
thống các phương pháp nghiên cứu đặc thù và đã khẳng định được vị thế của mình trong nên khoa học chung của cả nước
Đặc biệt, trong những năm gần đây, khoa học hành chính đã có nhiều đóng góp cả về phương điện phương pháp luận nhận thức, đến việc đưa ra
các khuyến nghị, các giải pháp khoa học với mục đích xây dựng cơ sở lý
luận khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng một nền hành chính nhà nước đúng bản chất của Nhà nước ta, bảo đảm phù hợp với quy luật phát triển
chung của xã hội và tổ chức quản lý có hiệu lực, hiệu quả Giáo sư Đoàn
Trọng Truyến đã viết: “Hành chính học với tư cách là một khoa học, lấy nên Hành chính công túc là lấy việc tổ chức và hoại động (quản lý) của bộ máy
bành chính làm dối tượng, có nhiệm vụ nghiên cứu các quy luật vận hành,
các nguyên tắc, phương pháp quản lý nhà nước, các yếu tố và nhân tố trong
bệ thống tổ chức và hoạt động của bộ máy hành pháp vừa thực thỉ quyền lực
chính trị của Nhà nước mang tính chính trị, viữa thực hiện chức năng quản lý mang tính tổ chức, nghiệp vụ, chuyên môn không mang tính chính trƒ”
Mục tiêu quan trọng nhất của khoa học hành chính là hình thành va
phát triển cơ sở khoa học cho việc xây dựng một nền hành chính nhà nước
đúng bản chất của Nhà nước ta - Nhà nước xã hội chủ nghĩa và xây dựng bộ
máy tổ chức quản lý nhà nước có hiệu lực, hiệu quả
Trang 12Như vậy, khoa học hành chính ở nước ta đóng một vai trò khá quan trọng trong quá trình đổi mới tư đuy về hành chính và quản lý nhà nước Chính khoa học hành chính đã giải quyết khá nhiều vấn đề bức xúc của đời sống đặt ra như đồi hỏi phải có một nên hành chính của dân, vì dân và phục
vụ dân - đối lập với nền hành chính tập trung, bao cấp mang nặng những khuyết tật như quan liêu, cửa quyền và sa vào tình trạng tham những
Tính khoa học và tính cách mạng của khoa học hành chính hầu như đã hòa làm một Khoa học là đi trước dẫn đường về lý luận, cách mạng là giải quyết các vấn để bức xúc của cuộc sống - vạch ra định hướng của quá trình đấu tranh loại bỏ nên hành chính tập trung, bao cấp mang nặng những khuyết tật như quan liêu, cửa quyền và tình trạng tham nhũng trong bộ máy hành chính các cấp để xây đựng một nền hành chính của dân, vì đân và phục
vụ đân, một nên hành chính trong sạch, quản lý có hiệu lực và hiệu quả
Xét về nguyên lý, khoa học hành chính có các đặc thù sau:
- Khoa học hành chính lấy nền hành chính nhà nước và các hoạt động công vụ làm đối tượng nghiên cứu và cải biến;
- Khoa học hành chính lấy các quy luật vận hành xã hội khách quan làm nền tảng lý luận;
- Khoa học hành chính nghiên cứu, phát hiện các nguyên tắc, phương pháp quản lý nhà nước phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội;
- Khoa học hành chính nghiên cứu các yếu tố trong hệ thống tổ chức
và hoạt động của bộ máy hành hành chính nhà nước; những vấn dé hop ly va
bất hợp lý từ các yếu tố đó để đề suất giải pháp khác phục hoặc phát huy;
- Khoa học hành chính nghiên cứu cả các yếu tố mang tính chính trị
hoặc không mang tính chính trị trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà
nước;
- Khoa học hành chính nghiên cứu các yếu tố mang tính tổ chức, nghiệp vụ, chuyên môn và cả những kỹ năng quản lý hành chính nhà nước
Trang 13Với các đặc thù nêu trên, khoa học hành chính có thể được hiểu là mét ngành khoa học dựa trên nên tảng các quy luật vận hành xã hội khách quan, lấy nên hành chính nhà nước và các hoạt động công vụ làm đối tượng nghiên cứu nhằm phái hiện hoặc xây dựng các nguyên tắc, phương pháp quản lý nhà nước phù hợp với điêu kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; dé suất giải pháp khắc phục những yếu tố bất hợp lý, phát huy các yếu tố tích cực để cải biến và xây dựng một nên hành hành chính nhà nước của dân, vì dân và phục vụ dân với bản chất trong sạch và hoạt động quản lý có hiệu lực, hiệu quả
1.2 Khái niệm về các công trình khoa học hành chính
Cũng như các lĩnh vực khoa học khác, khoa học hành chính cũng
được thể hiện bởi các công trình khoa học hoặc các ý tưởng khoa học Đó
là cả một kho tàng trí tuệ của loài người nói chung và của Việt Nam nói
riêng về lĩnh vực xã hội, tổ chức xã hội và quản lý xã hội
Các công trình khoa học hành chính hàm chứa rất nhiều các ý tưởng khác nhau, thậm chí là các ý tưởng xung đột, mâu thuẫn với nhau trong cách nhìn nhận và giải quyết hàng loạt các vấn đề nào đó về xã hội và tổ chức, quản lý xã hội và nhất là qunả lý xã hội, quản lý nhà nược Ngoài ra, về
khía cạnh lịch sử chính các công trình này cũng có vai trò nhất định, nó có
thể phân ánh nhận thức về xã hội và quản lý xã hội qua từng thời kỳ phát triển, thậm chí còn phản ánh được tính chất từng giai đoạn trong quá trình phát triển của một chế độ xã hội nhất định
Qua thực tiễn kiểm nghiệm, các ý tưởng khoa học hành chính tạo ra
cơ sở lý luận cho việc hoạch định đường lối, chính sách cũng như biện pháp
cụ thể để thiết kế tổ chức, quản lý, điều hành xã hội và ngược lại, các ý
tưởng khoa học hành chính lại được chính thực tiễn khẳng định về độ tin
cậy, thậm chí là đúng hay sai
Trong thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta theo cơ chế tập trung và bao cấp, các công trình khoa học hành chính chưa phát triển trên
Trang 14nên tảng các quy luật vận hành xã hội khách quan, ma thudng 1a dién dat một chiều theo tư tương của những nhà lãnh đạo Ngày nay, đựa trên nên tảng các quy luật vận hành xã hội khách quan, các công trình khoa học hành chính đã phản ánh được các quan điểm, quan niệm vừa mang tính khoa học, vừa mang tính cách mạng, đòi hỏi các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý phải tham khảo trong quá trình hoặch định chính sách, xây dựng pháp luật, nhất
là trong quản lý, điêu bành các hoạt động của xã hội
Tuy nhiên, cũng như bất cứ ngành khoa học nào khác, khoa học hành
chính cũng có những mặt mạnh, mặt yếu, dù hiện tại nó đã được tạo mọi
điều kiện để phát triển
Mặt mạnh của khoa học hành chính xuất phát từ quan niệm, quan điểm của nhà nghiên cứu, sự dũng cảm và tính xây dựng đầy trách nhiệm
của một số nhà khoa học hành chính đã tạo nên những công trình khoa học
đây giá trị Những khuyến nghị của họ vững chắc về cơ sở lý luận và thực
tiễn, đặc biệt là tính phù hợp sâu sắc với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội nước ta theo từng giai đoan Những khuyến nghị đó thực sự được đưa vào
thực tiễn cuộc sống thông qua các nghị quyết của Đảng, các văn bản quy
phạm pháp luật, cũng như vào trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước
các cấp
Mặt yếu của khoa học hành chính cũng xuất phát từ quan niệm, quan điểm của nhà nghiên cứu Từ sự thiếu đũng cảm hay thiếu trách nhiệm, một số nhà khoa học vẫn đi theo con đường cũ, họ thường là điễn đạt một chiêu theo tư tương của những nhà lãnh đạo, chỉ đựa đầm theo những gì đã được khẳng định trong các văn bản hiện hành mà thiếu đi tỉnh thần trách nhiệm, tính cách mang , do đó nội dung công trình loại này thường khó được thực tiễn chấp nhận Đặc biệt, tình trạng giáo điều, lý luận chung chưng, sao chép, thậm chí là vi phạm quyền tác giả vấn còn điễn ra trong
một số công trình khoa học hành chính, làm cho khoa học hành chính trở
nên tẻ nhạt, giảm uy tín trong diễn đàn khoa học cũng như trong thực tiễn!
Trang 15Phân loại và đánh giá các công trình khoa học nói chung và khoa hoc hành chính nói riêng, hiện nay đang là vấn đề thời sự được xã hội và các nhà quản lý quan tâm Tuy nhiên, điều quan trọng hơn cả vẫn là vấn đề xác định
thế nào là công trình khoa học hành chính
Nghiên cứu nhiều tác phẩm, bài viết về các vấn đề trong lĩnh vực hành chính và quản lý nhà nước, chúng tôi rút ra được một số điểm có thể dùng làm các tiêu chí để đánh giá, xếp loại các công trình khoa học hành chính, đặc biệt là các tiêu chí xác định một bài viết, một ấn phẩm có thể được công nhận là công trình khoa học hành chính hay không Kêt quả này
sẽ là phần quan trọng trong việc tập hợp lại theo một hệ thống nhất định các công trình khoa học hành chính và các tác giả của chúng để đưa vào Cơ sở
đữ liệu khoa học hành chính mà đề tài này xác định mục tiêu đạt tới
Dựa trên khái niệm khoa học hành chính và những phân tích về công trình khơa học hành chính, có thể xác định công trình khoa học hành chính
là một sản phẩm khoa học dựa trên nên tảng các quy luật vận hành xã hội
khách quan, nghiên cứu các vấn đề về tổ chức, hoạt động hành chính nhà
nư nhằm phát hiện hoặc xây dựng các nguyên tắc, phương pháp quản lý nhà nước phù hợp với điêu kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;
đề suất giải pháp khắc phục những yếu tố bất hợp lý, phát huy các yếu tố tích cực để cải biến và xây dựng một nên hành hành chính nhà nước của dân, vì dân và phục vụ dân với bản chất trong sạch và hoại động quản lý
có hiệu lực, hiệu quả
1.3 Khái niệm hệ thống hoá các công trình Khoa học hành chính Với những đặc điểm hết sức quan trọng như đã phân tích trên đây,
các công trình khoa học hành chính và các tác giả của chúng cần được tập hợp lại theo một hệ thống nhất định Việc hệ thống hoá các công trình khoa học hành chính theo ngành khoa học xã hội và nhân văn nói chung, theo chuyên ngành khoa học hành chính nói riêng có những lợi ích nhất định,
những lợi ích đó được thể hiện ở các mặt sau:
Trang 16- Theo đối được toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của một ngành khoa học bành chính nói chung và của các chuyên ngành hẹp của ngành khoa học hành chính nói riêng Thậm chí, qua việc hệ thống hoá các công trình khoa học hành chính có thể phát hiện sự thống nhất, không thống nhất giữa các chuyên ngành hoặc phát hiện để xây dựng những chuyên
ngành còn thiếu , từ đó có thể định hướng cho việc mở rộng và phát triển
tiếp theo hoặc có kế hoạch xây dựng mới hay hoàn thiện các chuyên ngành
hẹp trong lĩnh vực khoa học hành chính;
- Cưng cấp được dữ liệu để có thể hệ thống được các ý tưởng khoa học hành chính về một lĩnh vực hay vấn đề nhất định, xác định được mức độ phù hợp hay không phù hợp của mỗi ý tưởng khoa học đã được thực tiễn kiểm nghiệm để định hướng phát triển các ý tưởng phù hợp, khác phục các ý tưởng không phù hợp;
- Quản lý được các công trình khơa học theo các chuyên ngành hẹp, theo thời gian hoặc theo những vấn đề nhất định;
- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác các công trình khoa học
hành chính phục vụ cho công tác giảng đạy, nghiên cứu , đặc biệt là đối với đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên của Học viện Hành chính Quốc gia, đội
ngũ giảng viên chuyên ngành quản lý nhà nước của các trường chính trị cấp tỉnh và các trường nghiệp vụ của các Bộ, ngành ở Trung ương và các học viên cao học, nghiên cứu sinh của Học viện Ngoài ra, trong chừng mực nhất định, việc khai thác các công trình khoa học hành chính có thể phục vụ cho những nhà lãnh đạo, quản lý đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội
Cũng như các ngành khoa học khác, muốn hệ thống các công trình
khoa học hành chính thì về cơ bản cũng phải xác định được mục đích của việc hệ thống đó, từ đó xây dựng hệ các tiêu chí tương ứng phù hợp với từng
mục đích đã đặt ra Trên cơ sở các tiêu chí chung của các ngành khoa học xã hội và nhân văn như: thời gian, lĩnh vực, ngành, chuyên ngành , chúng ta có
thể có được một số các tiêu chí nhất định dành riêng cho việc hệ thống hoá
Trang 17các công trình khoa học hành chính Tuy nhiên, với đặc thù là một ngành khoa học nghiên cứu nên hành chính với tư cách là hệ thống tổ chức bộ máy
nhà nước và hoạt động thực tiễn quản lý nhà nước về mợi mặt của đời sống
xã hội đã tổn tại và biến đổi theo sự ra đời, tồn tại và biến đổi của Nhà nước, thì việc hệ thống các công trình khoa học hành chính cũng có những điểm riêng của nó Như vậy, việc hệ thống các công trình khoa học hành chính ngoài các tiêu chí chung của một ngành khoa học xã hội và nhân văn nói chung cũng cần phải tính đến các tiêu chí riêng của nó
Nghiên cứu các chuyên ngành của khoa học hành chính, chúng tôi thấy
cần bổ sung cho việc hệ thống các công trình khoa học hành chính một só tiêu chí sau:
- Tiêu chí về quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực;
- Tiêu chí tổ chức bộ máy nhà nước và tổ chức cán bộ;
- Tiêu chí về cải cách hành chính;
Ngoài ra, để phục vụ trực tiếp cho công tác giảng đạy, việc hệ thống để quản lý các công trình khoa học hành chính bằng cơ sở đữ liệu điện tử nhằm
phục vụ cho việc khai thác trong nghiên cứu, giảng dạy và trong công tác
lãnh đạo, quản lý mọi mặt của đời sống xã hội , cũng cần bổ sung thêm các
tiêu chí khác nữa, ví đụ như:
- Tiêu chí về công nghệ hành chính;
- Tiêu chí về phương pháp sư phạm hành chính
Tém lai, hệ thống các công trình khoa học hành chính là việc thống kê
toàn bộ nội dung các công trình khoa học hành chính theo các tiêu chí chung của khoa học xã hội và nhân văn, đồng thời theo các tiêu chí riêng xác định cho khoa học hành chính, nhằm mục đích quản lý được các công
trình khoa học hành chính nói chung, các ý tưởng khoa học hành chính và về
cải cách hành chính nói riêng, phục vụ cho việc khai thắc trong nghiên cứu,
giảng dạy và trong công tác lãnh đạo, quản lý mọi mặt của đời sống xã hội
Trang 181.4 Khái niệm hệ thống hoá nguồn nhân lực khoa học hành chính
Kèm theo các công trình khoa học là tác giả hoặc nhóm tác giả (Từ đây trở đi gọi chung là tác giả) của các công trình khoa học hành chính Tác giả
và công trình khoa học là hai yếu tố không thể tách rời nhau Đã hệ thống các công trình khoa học hành chính, thì không thể không hệ thống các tác giả của chúng - đó chính là việc hệ thống nguồn nhân lực khoa học hành
chính
Hệ thống nguồn nhân lực khoa học hành chính không những là yếu tố
bất buộc đối với việc hệ thống các công trình khoa học hành chính, mà còn
đạt được những mục đích khác, những mục đích đó có thể kể đến là:
- Nấm được ý tưởng khoa học cụ thể của tác giả;
- Nấm được số lượng công trình của một tác giả;
- Nắm được ý tưởng khoa học chung của nhiều tác giả;
- Kiểm soát được sự trùng lấp ý tưởng khoa học của các tác giả, kể cả việc phát hiện sự lạm dụng hay ví phạm bản quyền tác giả
Ngoài ra, để tạo điều kiện cho việc liên hệ với tác giả hay tạo điều kiện cho sự liên hệ giữa các tác giả, việc hệ thống nguồn nhân lực khoa học hành chính còn có thể kèm theo các tiêu chí về cá nhân tác giả, lý lịch khoa học của tác giả , như:
- Số lượng các công trình khoa học đã công bố
Tóm lại, hệ thống nguồn nhán lực khoa học hành chính là việc
Trang 19nhằm mục đích quản lý được số lượng các các nhà khoa học hành chính
và các công trình khoa học hành chính của họ nói chung, các ý tưởng khoa học hành chính, cải cách hành chính nói riêng, đông thời kiểm soát được sự trùng lắp ý tưởng khoa học của các tác giả, kể cả việc phát hiện
sự lạm dụng hay vi phạm bản quyên tác giả phục vụ cho việc khai thác tong nghiên cứu, giảng dạy và bảo vệ quyên tác giá trong lĩnh vực khoa
học hành chính
1.5 Khái niệm về cơ cở dữ liệu các công trình khoa học hành chính
Từ việc hệ thống hoá các công trình khoa học hành chính và tác giả các công trình đó theo hệ các tiêu chí nhất định, chúng ta đã có được một kho đữ
liệu các công trình khoa học hành chính
Đã có được một kho đữ liệu các công trình khoa học hành chính, đương
nhiên phải tính đến tính hữu ích của nó đối với những công việc cụ thể của chúng ta Những công việc đó có thể kể đến là công tác nghiên cứu, giảng
dạy, thậm chí trong một chừng mực nào đó có thể phục vụ cho các nhà lãnh đạo, quản lý xã hội thông qua một phương thức khai thác thuận lợi, nhanh
nhạy và hiệu quả Đây chính là đòi hỏi cấp thiết của việc tạo thành cơ sở đữ
liệu các công trình khoa học hành chính
Để có được cơ sở dữ liệu các công trình khoa học hành chính cần có một phương thức (công cụ) quản lý và khai thác thuận lợi và nhanh nhạy và
có hiệu quả kho đữ liệu các công trình khoa học hành chính Điều hiển nhiên
là của việc đáp ứng đòi hỏi này là phải có một công nghệ sử lý khoa học,
công nghệ đó không thể là gì khác, mà chính là một phần mềm tin học tương
thích
Kỹ thuật công nghệ thông tin có khả năng tập hợp lưu trữ và xử lý các
đữ liệu theo hệ các tiêu chí nhất định, căn cứ vào các tiêu chí đó, người ta có
thể tra cứu nó để tìm được các thông tin cần thiết phục vụ cho công việc cụ thể của mình
Trang 20Bài toán cơ bản để có thể ứng dụng công nghệ thông tin vào việc quản
lý và khai thác kho dữ liệu các công trình khoa học hành chính là việc xây đựng được hệ các tiêu chí phù hợp không những đối với yêu cầu của việc
quản lý và khai thác kho đữ liệu các công trình khoa học hành chính, mà còn phải thích ứng với khả năng kỹ thuật sử lý của công nghệ thông tin (Phần mềm tương thích) Trên nên của phần mềm hệ thống nhất định, bài toán này được giải quyết một cách có cơ sở chắc chắn
Tóm lại, cơ sở đữ liệu các công trình khoa học hành chính là sự hệ
thống hoá để quản lý các công trình khoa học và nguôn nhân lực khoa học hành chính trên nên tầng sử dụng công nghệ thông tin với hệ các tiêu chí phù
hợp với yêu câu quản lý và khai thác kho đữ liệu các công trình khoa hoc
hành chính, nhằm mục đích khai thác tính hiữm ích của nó trong công tác
nghiên cứu, giảng dạy và phục vụ cho các nhà lãnh đạo, quản lý xã hội thông qua một phương thức khai thác thuận lợi, nhanh nhạy và hiệu quả
II ĐẶC ĐIỂM CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG VIỆC HỆ THỐNG HOÁ, QUẢN LÝ VÀ KHAI THẮC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC HÀNH CHÍNH
* Khi nghiên cứu về kỹ thuật công nghệ thông tin để áp dụng vào việc xây dựng các cơ sở dữ liệu nói chung và xây đựng cơ sở đữ liệu các công trình khoa học hành chính nói riêng, chung tôi đã nhận biết các đã điểm phù hợp như sau:
2.1 Đặc điểm về hàm lượng lưu trữ
Kỹ thuật công nghệ thông tin đã phát triển tới mức mà các sản phẩm
của nó đã trở thành các công cụ siêu việt phục vụ đắc lực cho công việc của
cơn người Ngày nay, trên thế giới người ta không thể nói đến phát triển, nếu thiếu công nghệ thông tin Cuộc khủng khoảng toàn cầu có thể xảy ra, tai hoạ đối với cuộc sống của con người cũng có thể xảy ra nếu có sự cố chung
vẻ công nghệ thông tin, mà điển hình chính là vấn dé về sự cố Y2K cuối năm
1999 đâu năm 2000 - năm chuyển giao thế kỷ Người ta đã phải tốn kém
Trang 21nhiều tỷ đô la để thực hiện kế hoạch phòng ngừa sự cố này với độ tập trung trí tuệ cao nhất của nhân loại Thậm chí có tình trạng đó, chính là vì các sản
phẩm của công nghệ thông tin đã chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong
đời sống kinh tế-xã hội và khoa học-kỹ thuật toàn cầu
Đối với việc lưu trữ đữ liệu thì người ta đã sử dụng công nghệ thông tin như một công cụ không thể thay thế Với một công cụ không lớn có thể lưu được cả một thư viện lớn tầm cỡ quốc gia Hàng tỷ trang sách có thể lưu vào
bộ nhớ của máy tính hay chỉ bằng một con chíp nhỏ như chiếc chìa khoá
2.2 Đặc điểm về khả năng điêu hành
Đối với mỗi máy tính PC, phần mềm hệ thống (Hệ điêu hành - DOS, WINDOWS ) là không thể thiếu, nó điều khiển toàn bộ hoạt động của PC và các thiết bị nối với PC Đối với mạng máy tính có hệ điều hành mạng, như UNIX, WINDOWS-NT , hệ điều hành mạng điều khiển toàn bộ các phần mềm chạy trên máy chủ, quản trị và phân phối tài nguyên cho các máy PC nối mạng
Ngày nay, hệ thống mạng toàn cầu đã và đang góp phần làm thay đổi nhiều lĩnh vực cơ bản của mỗi quốc gia Sự bùng nổ thông tin, các dịch vụ thông tin v.v ngày càng được mở rộng về phạm vi, phát triển về chất lượng
đã và đang được bảo vệ và phát triển bên vững trong những hệ thống thống nhất toàn cầu
Đi đầu trong lĩnh vực này là MICROSOFT, không những MICROSOFT
đã xây dựng, phát triển và thúc đẩy sự phát triển về hệ thống mà nó còn đảm bảo sự thích nghi, hỗ trợ đối với những hệ thống điều hành khác, đảm bảo cho phân tích và tích hợp hệ thống từ quy mô nhỏ đến quy mô toàn cầu
Trong Quyết định số 81/2001/QĐ-TTg, ngày 24 tháng 5 năm 2001
của Thủ tướng Chính phủ có nêu các chương trình trọng điểm, trong đó
"Chương trình phát triển nguồn nhân lực về CNTT, do Bộ giáo đục và Đào tạo chủ trì, nhằm tạo các chuyên gia, chuyên viên, lập trình viên chất lượng
Trang 22cao ở mọi trình độ đáp ứng các yêu cầu của ứng dụng và phát triển CNTT, phục vụ cho nhu cầu trong nước và nhu cầu xuất khẩu lao động"
Tại nước ta đã hình thành và phát triển các Viện công nghệ thông tin, các Trung tâm nghiên cứu và nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực lập kế hoạch hệ thống, thiết kế hệ thống, tích hợp hệ thống, duy trì và bảo vệ hệ thống, tin học hoá văn phòng v.v đủ sức đảm bảo được các nhu cầu hình thành và phát triển khá nhanh của nền công nghệ thông tin Đã hình thành và
phát triển một loạt các Công ty phần mềm, tại Hà Nội có FPT, VASC, Cty
TINHVAN, v.v Tại thành phố Hồ Chí Minh có nhiều công ty phần mềm có
đủ khả năng thực hiện thiết kế hệ thống, bảo đảm an toàn hệ thống, xây dựng các phần mềm hệ thống, ví dụ phần mềm hệ thống thư viện điện tử và nghiệp
vụ thư viện LIBOL, của TINHVAN v.v
2.3 Đặc điểm về khả năng xử lý thông tin
Công suất của máy tính về cơ bản là khả năng lưu trữ và tốc độ xử lý thông tin, Cả hai yếu tố này đang có những bước nhảy vọt Khả năng của chíp năm 1999 vào khoảng vài triệu thành phần trên một chíp, hiện nay đã lên tới hàng tỷ thành phần và mạch điện tử sẽ chỉ còn bằng vài nguyên tử Vì vậy, tốc độ xử lý tăng lên gần chục lần
Ưu điểm của đèn điện tử chân không đã được lặp lại ở mức lượng tử
với những chíp chứa hàng tỷ dụng cụ hoạt động trong chân không (đo đó
không có cần trở đối với chuyển động của các êlectrôn) Thậm chí, người ta còn lưu trữ thông tin trong các liên kết hoá học giữa các nguyên tử chất hữu
cơ, hay nói cách khác, còn có thé tạo ra các "biochip" (chip sinh học) có khả năng lưu trữ đữ liệu của DNA
Thay cho các kiến trúc cấp bậc trước đây dùng chỉ một bộ xử lý lớn, các bộ xử lý song song và các mạng lưới dây thân kinh sử đụng nhiều bộ xử
lý nối mạng song song bắt chước mạng lưới các tế bào tạo thành não người
Vì vậy tốc độ xử lý thông tin càng tăng lên gấp bội Hiện nay, tốc độ của máy tính loại siêu lớn có thé đạt tới 1.000 tỷ lần/giây, 1.000 GB ký tu/giay