1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài: Ứng dụng năng lượng sạch vào phát triển kinh tế vùng Nam Trung Bộ - tác giả: Võ Hoàng Phi

79 624 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề ứng dụng năng lượng sạch vào phát triển kinh tế vùng Nam Trung Bộ
Tác giả Ths. Võ Hoàng Phi
Trường học Viện Khoa Học Xã Hội Vùng Trung Bộ
Thể loại Báo cáo tổng hợp
Năm xuất bản 2013
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển nghành công nghiệp năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và tiết kiệm năng lượng là một xu hướng tất yếu mà khu vực Nam Trung Bộ phải hướng đến. Bên cạch lợi thế to lớn về vị trí địa lý và khí hậu rất thích hợp để phát triển điện năng từ các nguồn năng lượng sạch như năng lượng mặt trời, năng lượng gió góp phần giải quyết vấn đề an ninh năng lượng quốc gia, thúc đẩy phát triển cho các doanh nghiệp trong khu vực, ổn định năng lượng phục vụ cuộc sống và phát triển kinh tế vùng. Do vậy việc ứng dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo vào cuộc sống và sản xuất để phát triển bền vững kinh tế là một vấn đề cấp bách, cần được đầu tư nghiên cứu mà đề tài hướng đến để sớm giải quyết vấn đề hiệu quả của năng lượng sạch phục vụ sản xuất của doanh nghiệp, đời sống của người dân, mang lại lợi ích to lớn cho khu vực.

Trang 1

VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VÙNG TRUNG BỘ



Báo Cáo Tổng Hợp

Đề tài cơ sở 2013

Vấn Đề Ứng Dụng Năng Lượng Sạch Vào Phát

Triển Kinh Tế Vùng Nam Trung Bộ

Chủ nhiệm đề tài:

Ths Võ Hoàng Phi

Trang 2

Mục Lục

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Tính cấp thiết của đề tài 3

2 Tình hình nghiên cứu 4

3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu của đề tài 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Giải thích thuật ngữ 8

PHẦN NỘI DUNG 9

Chương 1: Khái quát tình hình ứng dụng năng lượng sạch và tính bền vững khi sử dụng năng lượng sạch để phát triển kinh tế 9

1.1 Khái niệm năng lượng sạch 9

1.2 Tình hình ứng dụng các loại hình năng lượng sạch hiện nay tại Việt Nam và khu vực Nam Trung Bộ Những thuận lợi và khó khăn 10

1.3 Khái niệm bền vững trong lĩnh vực khai thác và sử dụng năng lượng sạch 15

1.4 Mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và phát triển nguồn năng lượng sạch 18

Chương 2: Thực Trạng việc ứng dụng năng lượng sạch trong phát triển kinh tế vùng Nam Trung Bộ từ năm 2002 đến 2012 .25

2.1 Thực trạng ứng dụng năng lượng sạch của TP Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam, từ năm 2002 đến 2012 25

2.1.1 Đối với năng lượng mặt trời 30

2.1.2 Đối với năng lượng gió 39

2.1.3 Đối với năng lượng sinh khối 43

2.1.4 Đối với năng lượng sóng biển và địa nhiệt 50

2.1.5 Các mặt hạn chế trong việc ứng dụng các loại hình năng lượng này trong thực tiễn 57

2.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng các loại năng lượng sạch vào kinh tế của TP Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam 61

2.3 Đánh giá tác động xã hội của việc sử dụng năng lượng sạch đến sự phát triển của TP Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam 64

2.4 Đánh giá, nhận xét chung về thực trạng 65

Chương 3: Kiến nghị một số chính sách và giải pháp để định hướng cho việc ứng dụng năng lượng sạch phát triển bền vững kinh tế vùng Nam Trung Bộ đến năm 2020 .68

3.1 Một số chính sách cho việc ứng dụng năng lượng sạch phát triển kinh tế vùng Nam Trung Bộ 68

3.2 Giải pháp và định hướng cho các nguồn năng lượng sạch: 71

a Đối với nguồn năng lượng mặt trời 71

b Đối với nguồn năng lượng gió 72

c Đối với nguồn năng lượng sóng biển 72

d Đối với nguồn năng lượng sinh khối 73

Kết Luận 74

Kiến Nghị 76

Tài liệu tham khảo 77

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo một báo cáo của Bộ Công thương vào tháng 8 năm 2010, nguồn năng lượngcủa Việt Nam hiện đang cạn kiệt dần Than chỉ còn 3,88 tỷ tấn; dầu còn 2,3 tỷ tấn…Ước tính, nguồn năng lượng tự nhiên hiện nay của chúng ta sẽ cạn kiệt trong thờigian tới, trong đó dự báo nguồn dầu mỏ thương mại tr ên thế giới còn dùng khoảng

60 năm, khí tự nhiên 80 năm, than 150 -200 năm Tại Việt Nam, các nguồn nănglượng tự nhiên này có thể còn hết trước thế giới một vài chục năm An ninh nănglượng trở thành vấn đề cấp bách

Sự phát triển kinh tế luôn gắn liền với việc khai thác và sử dụng các nguồn nănglượng như điện, than, khí đốt, xăng, dầu v v một cách hiệu quả Ngày nay trong thời

kỳ khủng hoảng kinh tế xảy ra ở khắp các quốc gia, vấn đề sống còn của các doanhnghiệp cũng liên quan đến việc thay đổi cô ng nghệ lạc hậu và sử dụng tiết kiệm nănglượng hay thay đổi việc sử dụng các nguồn năng lượng sạch để tiết kiệm chi phí sảnxuất, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường đây là vấn đề đáng được quantâm và nghiên cứu

Khi kinh tế có nhiều biến động thì khu vực Nam Trung Bộ cũng là một trongnhững khu vực có số lượng doanh nghiệp giải thể nhiều Vấn đề tiết kiệm chi phí sảnxuất, tiết kiệm chi phí trong sinh hoạt, chi phí đầu tư đang là bài toán được nhiềungười quan tâm Trong đó việc chuyển đổi nguồn năng lượng để sử dụng cho hiệuquả và tiết kiệm thì ít được nhiều người, nhiều doanh nghiệp quan tâm đến Nhưngviệc chọn lựa nguồn năng lượng sạch nào để sử dụng cho phù hợp và tiết kiệm thìtừng doanh nghiệp ở các lĩnh vực khác nhau cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng để chọnlựa đầu tư hợp lý Vì vậy đề tài sẽ đi sâu vào phân tích thực trạng ứng dụng nănglượng sạch và đề xuất các giải pháp ứng dụng nhằm nâng cao nhận thức và sự hiểubiết các chính sách, để phát triển kinh tế một cách bền vững

Phát triển nghành công nghiệp năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và tiết kiệmnăng lượng là một xu hướng tất yếu mà khu vực Nam Trung Bộ phải hướng đến Bên cạch lợi thế to lớn về vị trí địa lý và khí hậu rất thích hợp để phát triển điệnnăng từ các nguồn năng lượng sạch như năng lượng mặt trời, năng lượng gió góp

Trang 4

phần giải quyết vấn đề an ninh năng lượng quốc gia, thúc đẩy phát triển cho cácdoanh nghiệp trong khu vực, ổn định năng lượng phục vụ cuộc sống và phát triểnkinh tế vùng Do vậy việc ứng dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo vào cuộcsống và sản xuất để phát triển bền vững kinh tế là một vấn đề cấp bách, cần đượcđầu tư nghiên cứu mà đề tài hướng đến để sớm giải quyết vấn đề hiệu quả của nănglượng sạch phục vụ sản xuất của doanh nghiệp, đời sống của người dân, mang lại lợiích to lớn cho khu vực.

Đề tài: “Vấn đề ứng dụng năng lượng sạch vào phát triển kinh tế vùng Nam Trung Bộ” là đề tài mang tính thời sự, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại,

là vấn đề cần thiết phải được nghiên cứu mộ t cách kỹ lưỡng, khoa học

2 Tình hình nghiên cứu

Tình hình nghiên cứu năng lượng sạch trên thế giới :

Việc đầu tư để phát triển nguồn năng lượng sạch đã được các nước trên thế giới

ưu tiên hàng đầu Đã có rất nhiều công trình, đề tài nghiên cứu ứng dụng và nghiêncứu chính sách để thúc đẩy việc ứng dụng năng lượng sạch vào thực tiễn Cụ thể nhưđầu tư cho năng lượng sạch ở châu Á và châu Đại Dương đã tăng 10%, lên 75 tỷUSD, đưa khu vực này trở thành điểm đến hấp dẫn thứ hai cho đầu tư năng lượngsạch, trong đó Ấn Độ, Nhật Bản, và Indonesia nằm trong những thị trường nănglượng sạch tăng trưởng nhanh nhất thế giới

Đầu tư cho năng lượng sạch tại Australia đã tăng 11% trong năm 2011 lên 4,9

tỷ USD, trong đó 82% vào lĩnh vực năng lượng Mặt Trời, và gần 800 triệ u USD vàonăng lượng gió

Hầu hết các nước phát triển đều có các chính sách rõ ràng, khuyến khích việcứng dụng cũng như khuyến khích các đề tài nghiên cứu về lĩnh vực năng lượng sạch.Đối với các nước đang phát triển thì việc đầu tư cũng như số lượng các đề tài nghiêncứu ứng dụng năng lượng sạch để phát triển kinh tế cũng còn nhiều bất cập và chưađược quan tâm đầu tư đúng mức Cụ thể như nước Palestine là một nước đang pháttriển ở trung đông cũng đã có những chính sách phát triển các đề tài nghiên cứu vềnăng lượng tái tạo như:

Trang 5

Đề tài: “Ứng dụng năng lượng tái tạo ở Palestine” của tác giả Basel T Q.Yaseen thuộc trung tâm nghiên cứu môi trường và năng lượng Palestine Đây cũng

là một đề tài hay, khái quát được tình hình ứng dụng năng lượng sạch tại Pa lestine

và đã đề xuất các giải pháp hợp lý để phát triển bền vững

Tình hình nghiên cứu năng lượng sạch ở nước ta:

Việc nghiên cứu và ứng dụng năng lượng sạch của nước ta mới chỉ ở giai đoạn

sơ khai, chúng ta chỉ có một vài thông số về mật độ của các dạng năng lượng tái tạo

mà chưa có những ứng dụng quy mô để phát huy Quy hoạch, phân vùng các dạngnăng lượng chưa được thực hiện, các cơ chế chính sách phát triển năng lượng sạchcủa Việt Nam chưa được đầu tư nghiên cứu Các nghiên cứu mới chỉ được thực hiệ nthông qua đề tài khoa học công nghệ, chưa có triển khai ứng dụng, lắp đặt thiết bị cụthể

Các đề tài nghiên cứu ứng dụng năng lượng sạch phát triển kinh tế chưa đượcquan tâm nghiên cứu một cách quy mô Hầu hết các đầu tư, dự án mang tính cục bộ,đơn lẻ chưa ảnh hưởng và làm đòn bẩy cho khu vực

Đặc biệt các đề tài nghiên cứu sâu về chính sách phát triển năng lượng sạch chotừng khu vực, và cho quốc gia cũng chưa được khai thác, nghiên cứu

Đề tài: “Vấn đề ứng dụng năng lượng sạch vào phát triển kinh tế v ùng NamTrung Bộ ” là một đề tài mới, mang tính đột phá trong việc phân tích, đánh giá thựctrạng ứng dụng năng lượng sạch tại khu vực Nam Trung Bộ và đề xuất các chínhsách để thúc đẩy việc ứng dụng nguồn năng lượng sạch vào phát triển bền vững chokhu vực

3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Trang 6

từng vấn đề đặt ra, đồng thời thu thập các thông tin, số liệu cần thiết phục vụ choviệc phân tích, đánh giá.

- Tiếp cận liên ngành và đa ngành cho phép nghiên cứu trên nhiều lĩnh vựckhoa học khác nhau, từ lĩnh vực các khoa học xã hội, đến các khoa học tự nhiên,trong đó tiếp cận của các khoa học xã hội đóng vai trò quyết định trong việc làmsáng tỏ thực trạng ứng dụng năng lượng sạch ở một số tỉnh thành trong khu vực

- Tiếp cận hệ thống - cấu trúc để xem xét các vấn đề trong một hệ thống hoànchỉnh, có các mối quan hệ hữu cơ, ràng buộc nhau, điều đó cho phép đưa ra các giảipháp phù hợp cho các loại năng lượng sạch để phát triển bền vững cho khu vực NamTrung Bộ

- Tiếp cận tổng hợp cho phép phân tích đồng bộ nguồn tư liệu, thông tin lưutrữ, đối chứng, so sánh với thực tế ứng dụng năng lượng sạch tại các tỉnh, thành khuvực Nam Trung Bộ để đưa ra các định hướng và giải pháp phù hợp cho quá trìnhphát triển bền vững kinh tế vùng

Phương pháp nghiên cứu:

Để thực hiện mục tiêu đặt ra, việc nghiên cứu đòi hỏi có sự kết hợp giữa các

phương pháp định tính với các phương pháp định l ượng Các phương pháp nghiên

cứu chính sẽ được sử dụng cụ thể là:

- Phương pháp phân tích, đánh giá: Từ các số liệu, các tài liệu có sẵn, bao gồmđọc, phân tích và xử lý thông tin từ các sách, báo cáo khoa học, dự án và cácbáo cáo tổng kết của các cơ quan trung ương và địa phương liên quan đến chủ

đề nghiên cứu

- Phương pháp thống kê: Thu thập số liệu từ các nguồn như Internet, cục thống

kê, các sở ban ngành liên quan ở các tỉnh thành

- Phương pháp chuyên gia: Tổ chức tọa đàm để tham khảo ý kiến các nhà quản

lý và các chuyên gia Đây là phương pháp rất quan trọng, thông qua trao đổi,toạ đàm với các chuyên gia

Trang 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đ ề tài là tình hình ứng dụng năng lượng sạch và giảipháp sử dụng năng lượng sạch vào cuộc sống, phục vụ cho công cuộc phát triển kinh

tế tại các tỉnh, thành thuộc khu vực Nam Tr ung Bộ

Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng ứng

dụng năng lượng sạch vào phát triển kinh tế ở TP Đà Nẵng, Tỉnh Quảng Nam Đánhgiá hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội Từ đó đưa ra các kiến nghị chính sác h, giảipháp, định hướng cho việc sử dụng năng lượng sạch để phát triển bền vững kinh tếvùng Nam Trung Bộ

- Phạm vi lãnh thổ: Đề tài tập trung nghiên cứu trong phạm vi thuộc TP Đà

Trang 8

5 Giải thích thuật ngữ, từ viết tắc

Tấm quang năng/ tấm quang

điện

Là thiết bị luôn được đặt ngoài trời để tiếp nhận ánhnắng mặt trời và chuyển năng lượng ánh sáng mặttrời thành dòng điện

Tua bin gió

Là động cơ quay có gắn các cánh quạt để thu nhậnsức gió tự nhiên làm động cơ quay và phát ra dòngđiện hay nói ngắn gọn là thiết bị biến sức gió thànhdòng điện

Bình nước nóng năng lượng

mặt trời

Là thiết bị tăng cường khả năng hấp thụ nhiệt từ ánhnắng mặt trời và làm nóng nước trong bính chứa

Khí sinh học hay Biogas

Là hỗn hợp khí được tạo ra từ sự phân huỷ các vậtchất hữu cơ trong môi trường hiếm khí Thành phầnchủ yếu của khí sinh học gồm CH4; CO2; hơi nước,

N2, H2S, CO trong đó phần lớn là CH4

Địa nhiệt

Là dạng năng lượng tự nhiên sản sinh ra từ lòng đất

và giải phóng ra ngoài nhờ hoạt động của các núilửa, suối nước nóng hay giếng phun

GDP Gross Domestic Product – là tổng sản phẩm quốc nội

Trang 9

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: Khái quát tình hình ứng dụng năng lượng sạch và tính bền vững khi sử dụng năng lượng sạch để phát triển kinh tế

1.1 Khái niệm năng lượng sạch

Năng lượng sạch là những dạng năng lượng trong quá trình chuyển hóa, sử dụng ít gây ô nhiễm môi trường nhất.

Có thể kể ra những loại năng lượng sạch như: năng lượng mặt trời, nănglượng sức gió, năng lượng thủy triều, sóng biển, năng lượng địa nhiêt, năng lượngsinh khối… Các dạng năng lượng này dễ dàng sử dụng và dễ tái tạo nên cũng đượcgọi là năng lượng tái tạo (NLTT)

Khái niệm sạch được đề cập ở đây cũng mang tính tương đối vì xét cho thậtthấu đáo thì dạng năng lượng sạch nào khi trong quá trình khai thác, sử dụng cũngđều ảnh hưởng ít nhiều đến môi trường sống (môi trường sống của động, thực vật vàcon người), nhưng sự ảnh hưởng, tác động của nó đến môi trường sống không lớn và

có thể kiểm soát được

Tất cả các nguồn năng lượng tái tạo đều sạch nên việc sử dụng các nguồn nănglượng này sẽ mang lại nhiều lợi ích về môi trường sống cũng như là lợi ích kinh

tế So sánh với các nguồn năng lượng truyền thống như: Than đá, dầu mỏ, haythuỷ điện, năng lượng tái tạo có nhiều ưu điểm hơn vì tránh được các hậu quả cóhại đến môi trường Nhưng việc khai thác và sử dụng thì khó khăn hơn vì kỹ thuật

và công nghệ khai thác phức tạp hơn, đòi hỏi phải đầu tư nhiều Năng lượng mặttrời, năng lượng gió được đánh giá là thân thiện nhất với môi trường và ít gây ảnhhưởng xấu về mặt xã hội

Theo báo cáo từ Tổ chức Hoà Bình Xanh và Hội đồng Năng lượng Tái tạochâu Âu việc đầu tư vào năng lượng sạch tới năm 2030 sẽ giảm một nửa lượng phátthải CO2 Bản báo cáo này cung cấp một luận cứ kinh tế về sự luân chuyển cáckhoản đầu tư toàn cầu sang năng lượng mặt trời, năng lượng gió, thuỷ điện, địanhiệt và năng lượng sinh khối trong hơn nửa thế kỷ tới

Trang 10

1.2 Tình hình ứng dụng các loại hình năng lượng sạch hiện nay tại Việt Nam và khu vực Nam Trung Bộ Những thuận lợi và khó khăn.

Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn năng lượng tái tạo, các dự án vềđiện gió và mặt trời của Việt Nam đã hình thành từng bước, đặc biệt là đi ện gió, mặc

dù vẫn ở mức sơ khai Cụ thể, Hiệp hội Phát triển quốc tế (IDA) thông qua Ngânhàng Thế giới triển khai một Dự án “Phát triển năng lượng tái tạo” tại Việt Nam vớitổng vốn đầu tư lên tới 318,05 triệu USD ; trong đó 204,275 triệu USD vốn ODA;113,78 triệu USD vốn trong nước Dự án sẽ được hoàn thiện từ năm 2008 đến 2014với mục tiêu quan trọng nhất là nâng cao năng lực cho cán bộ, ngành, ngân hàngthương mại và các nhà đầu tư trong lĩnh vực năng lượng tái tạo; qua đó sẽ tạo điềukiện huy động nguồn vốn bổ sung cho ngành Điện và thúc đẩy chính sách khuyếnkhích phát triển năng lượng tái tạo tại nước ta

Tính từ năm 2000, Việt nam đã bắt đầu triển khai nghiên cứu một số dự án vàđược ứng dụng rộng rãi như dự án điện gió 30 KW + 10 diezel tại Hải Hậ u – NamĐịnh, dự án tại Kontum công suất từ 50 đến 400 KW, tại Bạch Long Vĩ

Năm 2002, dự án nhà máy phong điện Phương Mai ra đời tại Phù Cát – NinhThuận với công suất ban đầu 15.000 kW do Đức sản xuất, tạo ra khoảng 49 triệukWh/năm Cũng tại khu vực này, 3 doanh nghiệp là Tổng công ty xây dựng côngnghiệp Việt Nam, CTCP Phong điện miền Trung và Công ty đầu tư hạ tầng kinhdoanh đô thị (Cienco 8) đã đăng ký đầu tư xây dựng thêm 3 nhà máy điện gió vớicông suất khoảng 50 MW, vốn đầu tư từ 700 – 800 tỷ đồng

Ngày 12/9/2007, nhà máy phong điện Phương Mai 3, chính thức khởi công xâydựng tại khu kinh tế Nhơn Hội, tỉnh Bình Định Nhà máy được xây dựng trên mặtbằng rộng 140ha, với tổng số vốn đầu tư hơn 35,7 triệu USD do Công ty cổ phầnPhong điện miền Trung làm chủ đầu tư Nhà máy gồm 14 tuabin, 14 máy biến áp, cókhả năng cung cấp trên 55 triệu kWh điện mỗi năm

Ngày 9/12/2008, Công ty TNHH Năng lượng tái tạo Aerogie Plus (Thụy Sỹ)cho biết sẽ xây dựng nhà máy phong điện - diesel tại huyện Côn Đảo, Bà Rịa - VũngTàu với tổng chi phí đầu tư lên tới 20 triệu EUR Chủ đầu tư đã tiến hành ký hợp

Trang 11

đồng nguyên tắc mua bán điện với UBND huyện Côn Đảo.Theo thiết kế, nhà máyphong điện này hoạt động đồng thời bằng hai hệ thống gồm các tổ hợp tuabin gióvới công suất 7,5MW và nhiệt diesel khoảng 3MW Dự kiến nhà máy sẽ được khởicông đầu năm 2009 và đi vào hoạt động chỉ một năm sau đó.

Thời điểm giữa tháng 9/ 2010, dự án nhà máy điện gió 200 MW lớn đầu tiên đãđược xây dựng tại tỉnh Ninh Thuận, nơi được xem là hội tụ nhiề u lợi thế về vị trí địa

lý do Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Trung Nam khảo sát Dự án có tổng vốn đầu

tư vào khoảng 500 triệu đô la Mỹ Theo cam kết với UBND tỉnh, sau khi hoàn thànhxong dự án, Trung Nam sẽ tiếp tục đầu tư xây dựng một nhà máy sản xuất thiết bịđiện gió tại 2 xã Lợi Hải và Bắc Phong [1]

Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nhiều tiềm năng để phát triển nănglượng sạch Tuy nhiên, chỉ tiêu phát triển 3% các nguồn năng lượng tái tạo trên tổngnăng lượng thương mại sơ cấp vào năm 2010 đã không đạt được Thực trạng này chothấy, chỉ tiêu 5% nguồn điện trên hệ thống điện quốc gia từ các nguồn năng lượngtái tạo vào năm 2020 cũng khó thành hiện thực (theo định hướng quy hoạch củangành điện lực Việt Nam)

Vấn đề ứng dụng năng lượng sạch để góp phần phát triển kinh tế ở nước ta còngặp rất nhiều khó khăn, còn nhiều bất cập mà không có những đột phá để làm nềntản cho các dự án khác noi theo, chưa tạo ra sức loan tỏa trong cuộc sống xã hộingày nay

Theo các chuyên gia về năng lượng, khó khăn đầu tiên và lớn nhất trong việctìm kiếm và phát triển các nguồn năng lượng sạch, là hiện nay, vẫn chưa có nghiêncứu hay cơ sở dữ liệu nào xác định được tiềm năng chính xác của các loại tài nguyênthiên nhiên như năng lượng gió, mặt trời, địa nhiệt…, chủ yếu là những ước tính trên

lý thuyết, chứ chưa có những nghiên cứu, tính toán cụ thể về tiềm năng kỹ thuật để

có thể triển khai đầu tư một cách hiệu quả, bền vững Chúng ta chưa có cơ chế hay

tổ chức chuyên trách để cập nhật thường xuyên dữ liệu về các nguồn năng lượng táitạo biến đổi theo không gian và thời gian Khi biến đổi khí hậu thì những thông sốliên quan đến khí tượng, đến năng lượng gió hay mặt trời đều có những thay đổi nhấtđịnh Do vậy, để đầu tư có hiệu quả vào lĩnh vự c này phải tiến hành đo đạc thường

Trang 12

xuyên, định kỳ; xác định được cả tiềm năng kinh tế cũng như những ảnh hưởng từbiến đổi khí hậu đến các nguồn năng lượng này.

Khó khăn thứ hai là chi phí đầu tư cho 1 kWh điện từ các nguồn năng lượng táitạo đang ở mức khá cao so với việc đầu tư các nguồn năng lượng truyền thống ví dụ

để đầu tư cho 1 tấm quang năng có công suất 50 w/h phải chi trả 290 USD tức làkhoảng 5,8 USD/1w điện tạo ra Khả năng đầu tư nguồn vốn vào ngành năng lượngcủa nước ta hiện tại có 3 Tập đoàn lớn đang chủ yếu phát triển ngành điện là TKV,PVN và EVN Theo dự báo của các tổng công ty này, để đáp ứng nhu cầu phát triển

từ năm 2010 trở đi, TKV phải huy động khoảng 1,3-1,6 tỷ USD; kế hoạch từ 2010 –

2015 của PVN là vốn đầu tư nằm trong khoảng 20 tỷ USD; với EVN con số này tínhđến năm 2015 cũng lên đến 40 tỷ USD Như vậy, vốn đầu tư đổ vào ngành Điện sửdụng ngoài năng lượng sạch đã chiếm quá lớn khiến khả năng huy động trong nguồnnăng lượng này khó khăn Đầu tư phát triển năng lượng sạch , sẽ tiết kiệm chi phí vềlâu dài và không gây tác động xấu đối với biến đổi khí hậu toàn cầu hay môi trườngnhưng nguồn vốn đầu tư cho ban đầu thì không nhỏ

Tuy nhiên, cái khó thứ ba là đến nay vẫn chưa có cơ chế ưu tiên phát triển phùhợp đối với lĩnh vực năng lượng tiềm năng này Chính phủ đã có rất nhiều các chỉthị, nghị định về ưu tiên phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo… nhưngchưa có văn bản hướng dẫn cụ thể Nói cách khác, phát triển năng lượng tái tạo làchính sách lớn nhưng tính đến nay cơ quan quản lý nhà nước chưa có những cơ chế,chính sách cụ thể cho việc đầu tư, thúc đẩy phát triển nguồn năng lượng sạch này.Với cơ chế thông qua giá do EVN quyết định như hiện nay, giá thành điện đượcEVN mua lại thấp dẫn tới không kích thích phát triển đầu tư nguồn năng lượng mới

Do đó, hoạt động này chỉ thu hút được một vài tổ chức, viện nghiên cứu và cáctrường đại học quan tâm, trong khi phía doanh nghiệp, cá nhân vẫn chưa thật sự

“mặn mà”

Trong thực tế, các doanh nghiệp năng lượng truyền thống, những liên minhkhổng lồ, không bao giờ muốn các ngành công nghiệp năng lượng tái tạo lấn sân,hay thậm chí đe dọa sự thống trị của họ trên thị trường năng lượng Chúng ta đã mấtkhá nhiều thời gian và gần như dẫm chân tại chỗ với lý do chủ yếu: Nhà nước c hưa

Trang 13

có chính sách quyết liệt hỗ trợ phát triển ngành năng lượng chiến lược này Điều đókhiến cho một số dự án thậm chí đã phải ngừng lại với nguyên nhân muôn thuở:

“Không thỏa thuận được giá bán điện với EVN ”, đầu tư cho điện sức gió dường như

không có tương lai

Tại cuộc họp với các bộ, ngành nhằm giải quyết bài toán an ninh năng lượng,Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải đã chỉ đạo Bộ Công thương sớm lấy ý kiến các bộ,ngành liên quan để trình Chính phủ xem xét, quyết định Chiến lược và Quy hoạchtổng thể phát triển các nguồn năng lượng tái tạo ở Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìnđến năm 2050 Đây được coi như một động thái tích cực nhằm cởi nút thắt chongành năng lượng nói chung, lĩnh vực năng lượng mới và tái tạo nói riêng

Kể từ ngày Thủ tướng Chính phủ ban hành “Quyết định về cơ chế hỗ trợ pháttriển các dự án điện gió tại Việt Nam” số 37/2011/QĐ-TTg vào cuối tháng 6/2011.Chúng ta đã được các phương tiện thông tin và truyền thông liên tục đưa tin và hìnhảnh về các dự án đã thực hiện thành công như Tuy Phong (hình 1), hay Phú Quý(hình 2), và mới đây nhất là tại miền biển Bạc Liê u (hình 3) Đây là 2 địa danh cóhai dự án lớn về phong điện của nước ta

Dự án Nhà máy điện gió Tuy Phong, đặt tại xã Bình Thạnh, huyện TuyPhong, tỉnh Bình Thuận do Công ty cổ p hần Năng lượng tái tạo Việt Nam (REVN)đầu tư được triển khai đầu tiên Toàn bộ dự án, khi hoàn thành, sẽ có 80 tuabin vớitổng công suất 120 MW, sử dụng công nghệ hiện đại của Cộng hòa liên bang Đức.Giai đoạn 1 của dự án gồm 20 trụ điện gió (tuabin) chiều cao cột 85 m, đường kínhcánh quạt 77 m, công suất 1,5 MW/tuabin; tức tổng công suất của giai đoạn này là

30 MW Và mỗi năm dự tính sản xuất khoảng gần 100 triệu kWh điện Nhà máyđiện gió Tuy Phong 1 đã chính thức được khánh thành, đi vào hoạt động từ n gày18/4/2012

Trang 14

Hình 1: Các tuabin điện gió ở Tuy Phong- Bình Thuận (nguồn: [ 2 ])

Trên đảo Phú Quý trước đây chỉ có nguồn điện duy nhất là từ máy chạy dầudiesel có công suất 3 MW của Công ty điện lực Bình Thuận Tháng 9.2012, Tổngcông ty điện lực dầu khí đã đưa vào khai thác nhà máy điện gió với 3 trụ tua bin cótổng công suất 6 MW

Hình 2: Các tuabin điện gió ở đảo Phú Quý- Bình Thuận.(nguồn:[ 3 ])

Dự án điện gió trên biển đầu tiên nước ta ở tỉnh Bạc Liê u, được đặt dọc theo đêbiển Đông, kéo dài từ phường Nhà Mát đến ranh giới tỉnh Sóc Trăng và chiểm tổngdiện tích gần 500 ha các tuabin gió được sản xuất tại Mỹ, làm bằng thép đặc biệt

Trang 15

không gỉ, cao 80m, đường kính 4m, mỗi tuabin có 3 cánh quạt, mỗi cánh dài 42 m,làm bằng nhựa đặc biệt, có hệ thống điều khiển giúp cánh quạt tự gập lại khi gặpthời tiết xấu, bão lớn Dự án có vốn đầu tư khoảng 5.200 tỷ đồng do Công ty TNHHXây dựng - Thương mại và Du lịch Công Lý (Cà Mau) làm chủ đầu tư Dự án đượckhởi công năm 2010 và dự kiến hoàn thành vào năm 2013 Trong giai đoạn 1 đãhoàn thành lắp đặt 10 cột (hay tuabin), công suất tổng cộng của giai đoạn này là 16

MW và điện năng sản xuất dự tính khoảng 56 triệu kWh/năm Giai đoạn 2 của dự án

sẽ xây lắp tiếp 52 tuabin gió còn lại Sau khi hoàn thành, Nhà máy điện gió Bạc Liêu

sẽ có tổng số 62 tuabin với tổng công suất trên 99 MW và điện năng sản xuất rakhoảng 320 triệu kWh/năm

Hình 3: Các tuabin điện gió trên biển thuộc Nhà máy điện gió Bạc Liêu (nguồn:[ 4 ])

Nhà máy điện gió Bạc Liêu là một điển hình về vi ệc thu hút doanh nghiệp tưnhân đầu tư vào ngành điện nói chung và đầu tư vào các nguồn năng lượng sạch nóiriêng

1.3 Khái niệm bền vững trong lĩnh vực khai thác và sử dụng năng lượng sạch.

Khái niệm bền vững ngày nay được nhắc đến rất nhiều trong tất cả các ngành,lĩnh vực như: ngành công nghiêp bền vững, phát triển ngành nông nghiệp bền vững,

Trang 16

dịch vụ và du lịch sinh thái bền vững, Phát triển bền vững, v v Vì sao ngày nay conngười phải chú trọng đến tính bền vững? Trong những thập niên 80 con người chỉquan tâm và quan tâm đến phát triển Trong quá trình phát triển nhanh và mạnh mẽcủa mình, các quốc gia có nền khoa học kỹ thuật tiên tiến và có nền kinh tế mạnh rasức tận thu và càng quét hết tất cả các nguồn tài nguyên, các nguồn năng lượng sẵn

có mà không quan tâm đến môi trường sống và tác động cũng như hệ lụy của nó đểlại cho môi trường Khi tất cả các liên kết giữa môi trường tự nhiên, khí hậu, conngười bị phá vỡ thì ảnh hưởng của nó đến kinh tế, và xã hội quá lớn, làm gióng lên

hồi chuông cảnh tỉnh con người phải quan tâm cả đến tính bền vững nữa Làm gì cũng phải nghĩ đến “hậu quả”.

Ngày nay, môi trường sống, kinh tế, xã hội đã thay đổi quá nhanh, sâu rộngtrong từng lĩnh vực và tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của xã hội và con người Cácthay đổi này ngày càng theo chiều hướng bất lợi cho con người, nên trong thập niênnày con người không chỉ còn quan tâm đến phát triển mà còn phải quan tâm đến

phát triển bền vững.

Sự phát triển kinh tế của một thành phố hoặc một quốc gia phụ thuộc quá lớnđến nguồn năng lượng Nguồn năng lượng hóa thạch như dầu mỏ, than đã bị khaithác cạn kiệt, với tiêu chí tận thu mà không hề quan tâm đến hậu quả của nó để lại,nguồn tài nguyên này sẽ bị cạn kiệt trong vài thập niên đến Nguồn năng lượng nàykhó có khả năng tái tạo lại, nếu có chăng thì cũng phải mất hàng triệu năm Vì thếkhai thác và sử dụng năng lượng cũng phải quan tâm đến tính bền vững

Khái niệm khai thác và sử dụng nguồn năng lượng sạch bền vững là quá trình khai thác và sử dụng nguồn năng lượng sạch có chú trọng đến hai yếu tố : một là mối liên kết của nguồn năng lượng đó với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội theo chiều hướng tích cực; hai là khả năng phục hồi (tái tạo) của nguồn năng lượng đó.

Trong quá trình khai thác và sử dụng một nguồn năng lượng nào đó chúng tahay mắc phải căn bệnh rất lớn là áp đặt ý chí chủ quan của chúng ta vào lợi ích củaloại năng lượng đó, chúng ta hay nhìn nhận, đánh giá theo cảm tính cho một loạihình năng lượng mà không có dựa trên một cơ sở khoa học nào Đây là một căn bệnh

Trang 17

cần được chữa trị; cần được nhìn nhận lại và thay đổi tư duy trong thời gian đến Vìvậy khi khai thác và sử dụng một nguồn năng lượng nào chúng ta cũng cần quan tâmđến hai vấn đề:

Một là tính bền vững trong quá trình khai thác và sử dụng năng lượng sạch khixét đến các yếu tố liên kết Trong quá trình khai thác các nguồn năng lượng sạch nhưnăng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng sinh khối hay năng lượng địa nhiệt

ta phải luôn quan tâm đến các mối liên kết với môi trường sinh thái, môi trường xãhội

Ví dụ trong quá trình khai thác và sử dụng nguồn năng lượng mặt trời chúng taphải quan tâm đến các yếu tố liên kết về tự nhiên như độ che phủ khi lắp tấm quangnăng có làm ảnh hưởng đến mức độ chiếu sáng và quang hợp của tầng thực vật bêndưới hay không; hay khi các tấm quang năng không còn sử dụng được nữa thì sẽ tiêuhủy như thế nào?, có gây độc hại đến môi trường tự nhiên hay con người haykhông? Đối với môi trường xã hội thì yếu tố mỹ quan đô thị khi lắp đặt nhiều tấmquang năng có làm thay đổi mỹ quan của thành phố hay không?, trong quá trình khaithác có gay tiếng ồn hay gây ô nhiễm không khí ảnh hưởng đến sinh hoạt của ngườidân hay không?, những lợi ích của nó mang lại cho xã hội; tất cả các yếu tố có liênquan đến việc khai thác và sử dụng tấm quang điện để khai thác nguồn năng lượngmặt trời chúng ta phải đánh giá và xem xét thật kỹ mới có được sự đầu tư đúng, hiệuquả và bền vững

Ví dụ khi đầu tư các tuabin gió để khai thác năng lượng điện từ nguồn nănglượng gió thì chúng ta phải xem xét các yếu tố liên kết có ảnh hưởng đến môi trường

tự nhiên và xã hội như yếu tố an toàn khi đặt các cột tuabin có đảm bảo an toàn chongười dân sống xung quanh hay không?, yếu tố tiếng ồn khi tuabin vận hành suốtngày đêm có ảnh hưởng đến cuộc sống người dân hay không?, khả năng chống chịubão của các cột tuabin, yếu tố về mỹ quan đô thị, yếu tố nguồn vốn đầu tư, yếu tố lợiích mang lại đối với xã hội, tất cả phải được xem xét, đánh giá thiệt hơn để khai thác

và sử dụng được hiệu quả và bền vững

Hai là khả năng phục hồi (tái tạo) của nguồn năng lượng sạch Trong quá trìnhkhai thác và sử dụng nguồn năng lượng sạch cần phải chú ý đến thuộc tính phục hồi

Trang 18

của nguồn năng lượng này trong thực tế Thời gian phục hồi càng ngắn thì càng tốt,phương pháp phục hồi càng dễ dàng, đơn giản càng tốt, giúp chúng ta có thể đễ dàngkiểm soát và phục hồi lại để tái sử dụng Ví dụ đối với nguồn năng lượng hoá thạchnhư than đá, dầu mỏ, thời gian phục hồi có thể đến hàng triệu năm trầm tích và phảiqua quá trình kiến tạo của trái đất, nên khả năng phục hồi là không thể Nhưng đốivới nguồn năng lượng mặt trời thì có thể được xem là vô tận vì nó luôn luôn tồn tại

để sưởi ấm trái đất và vạn vật sống Nếu xét thời gian phục hồi thì rất ngắn chỉ có 12giờ đồng hồ và phương pháp cũng dễ dàng là tuân theo quy luật tự nhiên của trái đấtxoay quanh trục tạo ngày và đêm Đối với nguồn năng lượng gió thì thời gian phụchồi không ổn định, luôn thay đổi nhưng ngắn vì xét về bản chất nó cũng được tạo ra

từ nguồn năng lượng mặt trời vì khi mặt trời sưởi ấm bầu khí quyển sẽ tạo nên cácdòng đối lưu không khí và tạo nên sự chênh áp khác nhau giữa các vùng và tạo thànhgió Đối với nguồn năng lượng sinh khối thời gian phục hồi phụ thuộc vào chu kỳsống của các loại vi sinh vật yếm khí và phương pháp thực hiện cũng dễ dàng, khôngphức tạp, miễn chúng ta duy trì số lượng vi sinh vật yếm khí hợp lý Đối với nguồnnăng lượng sóng biển thì thời gian phục hồi rất ngắn và cũng không ổn định và luônthay đổi vì nó phụ thuộc vào năng lượng gió và sự hoạt động của thềm lục địa

Như vậy để khai thác và sử dụng các nguồn năng lượng sạch chúng ta cần phảiquan tâm xem xét, đánh giá các yếu tố liên quan có ảnh hưởng đến môi trường và xãhội cũng như khả năng phục hồi của nó trong thực tế một cách khoa học thì chúng tamới có sự lựa chọn hợp lý, mới khai thác và sử dụng bền vững ở hiện tại và trongtương lai

1.4 Mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và phát triển nguồn năng lượng sạch

a/ Vai trò của năng lượng đối với phát triển kinh tế, xã hội

Trong lịch sử phát triển của loài người, năng lượng luôn đóng một vai tròquan trọng Năng lượng là một trong những nguyên nhân của các cuộc cách mạngkhoa học kỹ thuật Năng lượng quyết định tiềm năng, mức độ và nhịp độ phát triểncủa một nền kinh tế

Trang 19

Trong một trăm năm cuối cùng của thiên niên kỷ thứ hai, loài người đã khaithác và sử dụng năng lượng nhiều hơn 19 thế kỷ trước cộng lại 95% trong số đó lànăng lượng hóa thạch Việc sử dụng quá nhiều năng lượng hóa thạch nẩy sinh haivấn đề làm đau đầu các nhà hoạch định chính sách năng lượng: đó là sự cạn kiệtcủa các nguồn năng lượng hóa thạch và các vấn đề liên quan đến môi trường.

Năng lượng cần cho sự sống của con người: đem lại sự số ng cho con người,vạn vật; phục vụ các nhu cầu thiết yếu: sưởi ấm, nấu chín thức ăn, thắp sáng, sửdụng phương tiện giao thông… Đảm bảo các hoạt động cho sinh hoạt, sản xuất,hoạt động dịch vụ

Năng lượng là thành tố không thể thiếu trong hoạt động sản xuất: côngnghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải Đảm bảo các hoạt động cho sinh hoạt, sảnxuất, hoạt động dịch vụ

Việt Nam với tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm khoảng 7.5%, tốc độtiêu thụ điện tăng 14% năm Theo các nhà hoạch định chính sách năng lượng ViệtNam thì với tốc độ tăng trưởng kinh tế và điện năng đó, đến năm 2020, Việt Namcần 200 tỷ kWh

Như vậy chúng ta thấy vai trò rất quan trọng của nguồn năng lượng trong quá

trình phát triển kinh tế của một địa phương, một thành phố, một quốc gia Vì thế điều kiện cần và đủ trong mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và phát triển nguồn năng lượng sạch đó là muốn phát triển kinh tế bền vững, chúng ta phải ưu tiên hàng đầu phát triển nguồn năng lượng sạch Khi nguồn năng lượng sạch được ưu t iên phát triển mạnh mẽ sẽ làm động lực cho các ngành khác phát triển, sẽ làm động lực cho kinh tế phát triển bền vững Giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, sự tương tác qua lại, tương hỗ cho nhau tạo nên một thể thống nhất không thể tách rời.

b/ Muốn phát triển kinh tế bền vững phải ưu tiên hàng đầu phát triển nguồn năng lượng sạch.

Vì sao phát triển kinh tế bền vững phải ưu tiên phát triển nguồn năng lượngsạch trước tiên Như đã đề cập ở vai trò của nguồn năng lượng, chúng ta thấy năng

lượng là “huyết mạch của nền kinh tế”, nó nuôi dưỡng nền kinh tế, là sự sống còn

của tất cả các ngành trong nền kinh tế của một quốc gia Cụ thể năng lượng điện là

Trang 20

yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả các ngành từ công nghiệp, nông nghiệp, dịch

vụ, y tế,.vv Hơn 95% tất cả các sản phẩm, dịch vụ tạo ra trên thị trường đều trựctiếp hoặc gián tiếp sử dụng năng lượng điện Điện là chi phí đầu vào cho tất cả cácloại sản phẩm và dịch vụ ngày nay

Phát triển năng lượng điện từ các nguồn năng lượng hóa thạch như dầu mỏ,than đá sẽ ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sống và môi trường tự nhiên Độ ổnđịnh về giá cả của các loại năng lượng này trên thị trường luôn luôn bị biến động,phụ thuộc rất lớn vào các tập đoàn kinh tế lớn, các tập đoàn khai thác và các tậpđoàn chế biến Các đại gia kinh tế này khống chế giá cả và khống chế thị trườngnăng lượng, chỉ cần có một biến động nhỏ thì các đại gia kinh tế này có thể tăng giábán hoặc giá nhập khẩu năng lượng bất kể lúc nào, như vậy giá của các loại sảnphẩm khác trên thị trường sẽ đồng loạt tăng theo, tạo nên sự bất ổn định trên thịtrường; ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế của khu vực, của quốc gia; làm chonền kinh tế phát triển không ổn định, không bền vững

Ngoài ra độ ổn định của năng lượng điện khi sử dụng nguồn năng lượng hoáthạch này cũng không ổn định do nguồn cung của năng lượng hóa thạch là không ổnđịnh, có giới hạn và mau cạn kiệt nếu như không khai thác hợp lý Nhưng do nhucầu của thi trường quá lớn nên các tập đoàn khai thác khoáng sản phải khai thác thậtnhiều để cung cấp cho thị trường Ngày nay trữ lượng của nguồn năng lượng hoáthạch đang ở mức báo động đỏ, mức độ cạn kiệt nguy hiểm Thực trạng này đã làmcho các cường quốc kinh tế và quân sự lên phương án, thiết lập các kế hoạch xâmchiếm các quốc gia yếu thế mà có trữ lượng nguồn năng lượng hoá thạch còn nhiều

để thâu tóm, khai thác; đã làm cho tình hình an ninh trên thế giới và khu vực ngàynay có nhiều biến động không lường và mất ổn định trong khu vực Thềm lục địacủa Việt Nam cũng được đánh giá còn trữ lượng nguồn năng lượng hoá thạch nhiềunên Việt Nam cũng nằm trong danh sách đen của các cường quốc kinh tế và quân sựnhư Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản dòm ngó

Phát triển năng lượng điện từ các nguồn năng lượng sạch; có khả năng tái tạonhư năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng địa nhiệt, sóng biển hay thủytriều là một hướng đi chiến lượt, là một sự lựa chọn của tương lai không thể thaythế Các nguồn năng lượng này có độ ổn định cao, bền vững, nên khi ứng dụng năng

Trang 21

lượng này để tạo ra điện phục vụ cho sản xuất và đời sống sẽ ổn định được chi phíđầu vào, ổn định được thị trường năng lượng nói chung không phải bị phụ thuộc vàocác tập đoàn năng lượng sẽ ổn định được sản phẩm tạo ra cho xã hội và nền kinh tế

sẽ được ổn định

Vùng Trung Bộ được đánh giá là vùng có tiềm năng lớn về năng lượng mặttrời và năng lượng gió; với số ngày nắng khoảng từ 2000 - 2600 giờ mỗi năm, vớitổng bức xạ năng lượng mặt trời trung bình khoảng 4,8 kw/m2/ngày và tốc độ gióđạt 6-7m/s ở độ cao trên 50m; có thể đạt công suất phát điện khoảng 800-1400kwh/m2/năm [5] Đây là điều kiện rất tốt mà thiên nhiên ưu đãi cho vùng Trung Bộ.Chúng ta cần có những chính sách và đầu tư hợp lý để thúc đẩy cho các doanhnghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân tham gia phát triển, khai thác nguồn tiềmnăng quý giá này để tạo ra năng lượng điện phục vụ cho sản xuất và đời sống gópphần ổn định an ninh năng lượng quốc gia

Ưu tiên phát triển nguồn năng lượng sạch không chỉ tác động đến nền kinh tế

mà còn tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của xã hội

Thứ nhất khi ưu tiên đầu tư phát triển nguồn năng lượng sạch thì trong conmắt của cộng đồng quốc tế chúng ta sẽ được đánh giá cao là có trách nhiệm vớicộng đồng, có trách nhiệm với môi trường sống; sẽ dễ dàng thu hút các nguồn việntrợ, các nguồn vốn đầu tư của các tổ chức phi chính phủ, ngân hàng thế giới…

Thứ hai khi ưu tiên phát triển nguồn năng lượng sạch sẽ khẳng định đượctrình độ khoa học công nghệ, khả năng ứng dụng khoa học công nghệ trong đờisống và sản xuất

Thứ ba khi ưu tiên phát triển nguồn năng lượng sạch sẽ giảm thải được lượngkhí thải CO2 tác nhân chính gây ra hiệu ứng nhà kính và làm biến đổi khí hậu toàncầu

Thứ tư khi ưu tiên phát triển nguồn năng lượng sạch sẽ giảm thiểu ô nhiễmmôi trường, bảo vệ được sức khoẻ của con người

Một khi tình hình xã hội ổn định, cuộc sống của con người được bảo vệ thìnền kinh tế mới phát triển ổn định bền vững, vì con người là yếu tố quyết định tấtcả

Trang 22

c/ Khi phát triển nguồn năng lượng sạch sẽ làm động lực cho phát tri ển kinh tế.

Khi đoàn tàu chuyển bánh về phía trước chắc chắn phải cần có đầu tàu kéo,phải có động cơ để tạo nên lực kéo hoặc đẩy để đưa đoàn tàu từng bước vượt thờigian Tương tự vậy, khi chúng ta ưu tiên phát triển nguồn năng lượng sạch sẽ làmđộng lực cho kinh tế phát triển bền vững, đây là điều kiện đủ và cũng là một trongnhững nhân tố chính để nền kinh tế có sức khoẻ tốt, để phát triển bền vững Một khi

đã đầu tư phát triển nguồn năng lượng sạch đòi hỏi phải có một trình độ khoa họccông nghệ cao, phải có một đội ngũ các chuyên gia có kinh nghiệm, phải có được sựđầu tư đúng mức về tài lực và phải có được sự đồng thuận của toàn xã hội

Trong văn kiện của đại hội Đảng khoá XI về chiến lược phát triển kinh tế - xãhội 2011-2020; Đảng cũng đã xác định rõ mục tiêu chiến lược và khâu đột phátrong định hướng phát triển kinh tế - xã hội là “Phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ.Chú trọng phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn, năng lượng sạch,năng lượng tái tạo và vật liệu mới đi đôi với áp dụng công nghệ tiết kiệm nănglượng, nguyên liệu ” và Đảng đã khẳng định: “Phát triển khoa học và công nghệ thực

sự là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững” [6]

Đây là một chủ trương đúng đắn, khoa học, phù hợp với xu thế phát triển của xã hội

và của thế giới

Thật vậy, khi đầu tư phát triển năng lượng điện từ các nguồn năng lượng sạchnhư năng lượng mặt trời thì phải cần các tấm quang điện để biến đổi năng lượng ánhsáng mặt trời thành điện năng như vậy sẽ kích thích ngành công nghiệp vật liệu mớiphát triển, ngành điều khiển tự động, ngành hoá học phát triển theo để đáp ứng đượcnhu cầu phát triển của công nghệ sản xuất tấm quang điện

Hình 4: Tấm quang điện - biến đổi ánh sáng mặt trời thành điện năng (nguồn: [ 7 ])

Trang 23

Khi đầu tư phát triển điện năng từ năng lượng gió thì cần phải đầu tư pháttriển các tuabin gió có công suất lớn; các tuabin gió này có đặc điểm phải nhẹ nhưngrất chắc chắn, linh động, phải chịu được sức gió bão cấp 12 hay 13 Khi công nghệsản xuất tuabin gió công suất lớn phát triển thì đòi hỏi các ngành vật liệu mới, côngnghiệp nặng, cơ khí, công nghiệp sắt thép, ngành xây dựng, ngành điện,v vv pháttriển theo.

Hình 5: Tuabin gió- biến đổi năng lượng gió thành điện năng ( nguồn: [ 8 ]

Nếu đầu tư phát triển điện năng từ các nguồn năng lượng sạch khác như nănglượng sinh khối, địa nhiệt hay thuỷ triều sẽ kéo theo nhiều ngành khác như ngànhnông nghiệp, địa chất, ngành hải dương học, công nghiệp nặng, ngành xây dụng,ngành tự động hoá, vv phát triển theo để đáp ứng các công nghệ chuyển đổi nănglượng này

Trên đây là hai ví dụ cụ thể cho chúng ta thấy chuỗi các giá trị liên kết giữacác ngành Khi đầu tư cho phát triển nguồn năng lượng sạch sẽ kéo theo một chuỗi

Trang 24

các ngành khác phát triển theo, sẽ thúc đẩy các ngành khác có liên quan cùng pháttriển và sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nói chung.

Như vậy phát triển nguồn năng lượng sạch sẽ làm động lực cho các ngànhcông nghiệp khác phát triển nói riêng, sẽ là động lực cho phát triển kinh tế nói chungmột cách bền vững

Trang 25

Chương 2: Thực Trạng việc ứng dụng năng lượng sạch trong phát triển kinh tế vùng Nam Trung Bộ từ năm 2002 đến 2012.

2.1 Thực trạng ứng dụng năng lượng sạch của TP Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam, từ năm 2002 đến 2012.

Điều kiện tự nhiên của TP Đà Nẵng

Đà Nẵng là thành phố cảng biển lớn nhất của khu vực Duyên hải miền TrungViệt Nam; có vị trí địa lý trải dài từ 15°15' - 16°40' Bắc và từ 107°17' - 108°20'Đông; phía bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế, phía tây và nam giáp tỉnh Quảng Nam,phía đông giáp biển Đông Trung tâm thành phố cách thủ đô Hà Nội 764 km về phíaBắc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 964 km về phía Nam

Địa hình thành phố Đà Nẵng vừa có đồng bằng duyên hải, vừa có đồi núi.Vùng núi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc, từ đây có nhiều dãy núi chạydài ra biển, một số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp Địa hình đồi núichiếm diện tích lớn, độ cao khoảng từ 700 - 1.500 m, độ dốc lớn, là nơi tập trungnhiều rừng đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái cho thành phố

Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn,

là vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân sự, đất ở vàcác khu chức năng của thành phố

Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và

ít biến động Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc vàmiền Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở ph ía Nam Mỗi năm có 2mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đếntháng 7

Toàn thành phố có diện tích 1.255,53 km² (trong đó phần đất liền là 950,53km²; phần huyện đảo Hoàng Sa là 305 km²) Đà Nẵng hiện tại có tất cả là 6 quận, và

2 huyện là Hòa Vang và huyện đảo Hoàng Sa [9]

Điều kiện kinh tế, xã hội của TP Đà Nẵng

Đà Nẵng là trung tâm kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ lớnnhất của khu vực miền Trung - Tây Nguyên; là thành phố trực thuộc Trung ương và

Trang 26

là một trong 7 đô thị loại 1 của Việt Nam hiện nay Tổng dân số của thành phố tínhđến cuối năm 2009 khoảng 890.490 người; trong đó dân cư thành thị chiếm 86,87%.

Với mức tăng trưởng liên tục và khá ổn định, gắn liền với các mặt ti ến bộtrong đời sống xã hội, mức sống dân cư thành phố không ngừng được nâng cao, cơ

sở hạ tầng phát triển nhanh và tương đối đồng bộ, đô thị được chỉnh trang, các loạihình dịch vụ về khoa học công nghệ, đào tạo, y tế, giáo dục được cải thiện, các dịch

vụ về ngân hàng, bảo hiểm, du lịch đã và đang phát triển nhanh chóng

Tổng sản phẩm nội địa (GDP) của thành phố Đà Nẵng năm 2010 đạt 10.400 tỉđồng, tăng bình quân 11%/năm trong giai đoạn 2006 - 2010 GDP bình quân đầungười năm 2010 ước đạt 33,2 triệu đồng, gấp 2,2 lần so với năm 2005 và bằng 1,6lần mức bình quân chung cả nước Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướngdịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp Tỷ trọng nhóm ngành dịch vụ trong GDP năm

2009 đạt 50,5%; công nghiệp - xây dựng đạt 46,5% và nông nghiệp đạt 3% Cơ cấulao động chuyển biến tích cực, đến năm 2010, tỷ lệ lao động nông nghiệp (thủy sản -nông - lâm) ước còn 9,6%, lao động công nghiệp - xây dựng là 35,1% và dịch vụ55,3%

Theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng đến năm

2020, tỷ trọng GDP của thành phố chiếm 2,8% GDP cả nước với cơ cấu kinh tế nhưsau: dịch vụ chiếm 55,6%, công nghiệp - xây dựng chiếm 42,8%, nông nghiệp chiếm1,6%; GDP bình quân đầu người đạt 4.500 - 5.000 USD; tốc độ đổi mới công nghệbình quân giai đoạn 2011 - 2020 đạt 25% Tổng dân số của thành phố đến năm 2020

dự kiến trên1,5 triệu người

Chủ trương phát triển năng lượng của TP Đà Nẵng

Ngày 7/1/2011, UBND TP Đà Nẵng đã phê duyệt triển khai Đề án "Sử dụngnăng lượng hiệu quả và ứng dụng trên địa bàn TP Đà Nẵng giai đoạn 2011 - 2015".Mục tiêu của Đề án là tiết kiệm 5 - 8% tổng mức tiêu thụ điện năng so với dự báo vềphát triển năng lượng và phát triển kinh tế - xã hội; tiết kiệm 11 - 12% sản lượngđiện năng tiêu thụ tại các cơ quan, công sở nhà nước, chiếu sáng công cộng, qua đó,giảm tối đa phát thải khí CO2từ các ngành có mức tiêu thụ điện năng lớn Việc triểnkhai Đề án bước đầu đã mang lại một số kết quả: Từ năm 2005 đến na y đã có 6 dự

Trang 27

án tiết kiệm và sử dụng NLTT đã và đang triển khai tới 75 đơn vị, doanh nghiệptrên địa bàn thành phố, qua đó giảm phát thải ra môi trường hơn 12.000 tấn

CO2/năm, tiết kiệm tương đương 11,8 tỷ đồng/năm

Đồng thời, thành phố đã lắp đặt các loạ i đèn sử dụng phương pháp Dimming,công nghệ nano đối với các công trình chiếu sáng công cộng và tiến hành lắp đặt thíđiểm ở 10 trường học hệ thống chiếu sáng tiết kiệm và bảo vệ mắt cho các em họcsinh Đặc biệt, thành phố đã xây dựng thí điểm làng năng lượng sạch, đẩy mạnh việclắp đặt các thiết bị sử dụng nguồn NLTT tại các khách sạn, các nhà máy sản xuất Thực tế, thời gian qua, hàng trăm hộ gia đình tại phường Hòa Quý, quận Ngũ HànhSơn đã sử dụng bếp nấu parabol ứng dụng năng lượng mặt trời để nấu thức ăn, đunnước

Theo Sở Khoa học & Công nghệ Đà Nẵng, từ năm 2011, TP Đà Nẵng đã tiếpcận và đã có nhiều giải pháp nhằm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia củaChính Phủ Đề án “Sử dụng năng lượng tiết kiệm và ứng dụng năng lượng tái tạo”giai đoạn 2011 – 2015 đã được UBND TP Đà Nẵng chính thức phê duyệt cùng vớiviệc thành lập Trung tâm tiết kiệm năng lượng và Tư vấn chuyển giao công nghệ

Điều kiện tự nhiên của tỉnh Quảng Nam

Quảng Nam là một tỉnh ven biển thuộc vùng phát triển kinh tế trọng điểmmiền Trung có vị trí địa lý trải dài từ 14°57' - 16°03' Bắc và từ 107°12' - 108°44'Đông; Phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên Huế; phía Đông giápbiển Đông với trên 125 km bờ biển; phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi; phía Tây giáptỉnh Kon Tum và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào Quảng Nam có 14 huyện và

2 thị xã, trong đó có 08 huyện miền núi là Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang,Nam Trà My, Bắc Trà My, Phước Sơn, Hiệp Đức và Tiên Phước Diện tích tự nhiên10.406,83 km2, dân số xấp xỉ 1.5 triệu người Quảng Nam ở vào vị trí trung độ củađất nước, nằm trên trục giao thông Bắc - Nam về đường sắt, đường bộ và đườngbiển và đường hàng không, có đường Hồ Chí Minh, Quốc lộ 14D, 14B, 14E nốiđồng bằng ven biển qua các huyện trung du miền núi của tỉnh đến biên giới Việt -Lào và các tỉnh Tây Nguyên

Trang 28

Địa hình tỉnh Quảng Nam tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông,hình thành 3 vùng sinh thái: vùng núi cao, vùng trung du, vùng đồng bằng và venbiển; mặt khác bị chia cắt theo các lưu vực sông V u Gia, Thu Bồn, Tam Kỳ, đã tạonên các tiểu vùng có những nét đặc thù riêng Hệ thống sông ngòi nằm trên địa phậntỉnh Quảng Nam có tổng chiều dài 900 km, trong đó có 337 km đã đưa vào khaithác, bao gồm 9 con sông chính Nguồn nước mặt lớn với diện tíc h lưu vực sông: VuGia 5500km2, Thu Bồn 3350 km2, Tam Kỳ 800 km2, Cu Đê 400km2, Tuý Loan 300

km2, LiLi 280 km2 Quảng Nam là địa bàn có điều kiện thuận lợi về cung cấp nướccho phát triển sản xuất nông nghiệp

Thổ nhưỡng Quảng Nam gồm 09 loại đất khác nhau : cồn cát và đất cát venbiển, đất phù sa, đất xám bạc màu, đất đỏ vàng, đất thung lũng, đất bạc màu xói mòntrơ sỏi đá, Quan trọng nhất là nhóm đất phù sa thuộc hạ lưu các con sông thíchhợp với trồng lúa, cây công nghiệp ngắn ngày, rau đậu; nhóm đất đỏ vàng ở khu vựctrung du, miền núi thích hợp với cây rừng, cây công nghiệp dài ngày, cây đặc sản,cây dược liệu

Khí hậu: Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, chỉ có 2 mùa là mùamưa và mùa khô, chịu ảnh hưởng của mùa đông lạnh miền Bắc Nhiệt độ trung bìnhnăm 20-21oC, không có sự cách biệt lớn giữa các tháng trong năm Lượng mưa trungbình 2000-2500mm, nhưng phấn bố không đều theo thời gian và không gian, mưa ởmiền núi nhiều hơn đồng bằng, mưa tập trung vào các tháng 9 - 12, chiếm 80%lượng mưa cả năm; mùa mưa trùng với mùa bão, nên các cơn bão đổ vào miềnTrung thường gây ra lở đất, lũ quét ở các huyện trung du miền núi và gây ngập lũ ởcác vùng ven sông [10]

Điều kiện kinh tế, xã hội của tỉnh Quảng Nam

Tỉnh Quảng Nam có vị trí khá thuận lợi trong phát triển kinh tế, nằm trongvùng trọng điểm kinh tế miền Trung, có hai di sản văn hóa thế giới là Hội An và MỹSơn, nằm trên trục đường du lịch “Con đường di sản miền Trung”, và hành lang kinh

tế Đông Tây Quảng Nam là cầu nối giữa Đà Nẵng và khu công nghiệp Dung Quất,

có sân bay lớn và nhiều cảng biển lớn, nếu cầu Cửa Đại nối bờ nam và bắc Hội An,

và đường cao tốc Đà Nẵng nối liền Dung Quất hoàn thành thì vấn đề giao thông và

Trang 29

liên kết kinh tế giữa Quảng Nam và các tỉnh trong khu vực càng thuận lợi; nhất làtrong việc tận dụng hạ tầng và phát triển kinh tế từ Quảng Nam đến các tỉnh lân cận.

Kinh tế Quảng Nam có những bước phát triển khá nhanh Tổng sản phẩm trênđịa bàn tỉnh (GDP) tăng liên tục qua các năm bình quân trong 14 năm tăng 11,05%,trong đó khu vực công nghiệp- xây dựng tăng 18,7%; khu vực dịch vụ tăng 12,07%;nông, lâm, thủy sản tăng 2,45% Nhờ vậy đến năm 2010 tổng sản phẩm trên địa bàntỉnh tăng gấp 3,7 lần so với năm 1997 Trong đó, khu vực công nghiệp và xây dựnggấp 8,7 lần; dịch vụ gấp 4,3 lần; nông, lâm, thủy sản gấp 1,4 lần

Quảng Nam tổng kết có 70 làng nghề cần được bảo tồn và phát triển (Sở CôngThương Quảng Nam, 2008) [a] Trước đây hoạt động làng nghề gắn với lúc nôngnhàn của sản xuất nông nghiệp và sử dụng các nguyên liệu từ sản xuất nông nghiệp,như dệt lụa, dệt chiếu, hàng thủ công mỹ nghệ, mây tre, sản xuất nước mắm, Ngàynay làng nghề có xu hướng chuyên môn hóa theo lao động và ngành nghề

Tỉnh Quảng Nam có 73 hồ chứa, 728 đập dâng và 230 trạm bơm điện vớitổng năng lực tưới trên 71 ngàn ha lúa và 12 ngàn ha màu Hệ thống kênh thủy lợiđược thường xuyên nâng cấp sửa chữa, bê tông hóa, đáp ứng tưới tiêu khoảng 90%diện tích lúa nước vùng trung du và đồng bằng

Đến 2010 Quảng Nam có 94% số xã có điện lưới, các xã còn lại sử dụng điệntại chỗ bằng nguồn máy phát diesel, thủy điện nhỏ, điện mặt trời và hiện có 97% số

hộ dân tại nông thôn có điện; 97% số xã có điện thoại tại trụ sở xã, 82% số xã cóbưu điện văn hóa; 98% số xã có trạm y tế xã; 8,3% số xã có trường trung học phổthông; 87,07% số xã có trường trung học cơ sở; 100% số xã có trường tiểu học và82% số xã có trường mẫu giáo

Chủ trương phát triển năng lượng của tỉnh Quảng Nam

Ngày 27/12/2011 UBND Tỉnh Quảng Nam đã phê duyệt triển khai Đề án "Sửdụng năng lượng hiệu quả và ứng dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011

- 2015" [b]

Mục tiêu của đề án là nâng cao nhận thức của các tổ chức, cá nhân về sử dụngnăng lượng, tạo chuyển biến từ nhận thức sang hành động cụ thể để sử dụng năng

Trang 30

lượng tiết kiệm và hiệu quả Thông qua các hoạt động của Chương trình tăng hiệusuất sử dụng năng lượng, hợp lý hoá sản xuất; phấn đấu tiết kiệm 5% - 8% tổng mứctiêu thụ năng lượng so với dự báo hiện nay về phát triển năng lượng và phát triểnkinh tế - xã hội; tiết kiệm từ 10 - 12% sản lượng điện so với dự báo phụ tải các cơquan, công sở nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Nam; góp phần thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế.

Đẩy mạnh việc thực hiện tiết kiệm điện tro ng các khâu truyền tải, phân phối,kinh doanh và sử dụng điện, phấn đấu giảm tỉ lệ điện dùng xuống dưới 7% vào năm

2015 (hiện nay 8,6%) Tiết kiệm 10% - 15% sản lượng điện so với dự báo tại các cơquan, công sở nhà nước trên địa bàn tỉnh Từ năm 2011 trở đi, 100% trụ sở cơ quan,đơn vị thụ hưởng ngân sách nhà nước, doanh nghiệp có vốn của nhà nước được đầu

tư mới phải sử dụng các thiết bị tiết kiệm năng lượng Đến hết năm 2012 hoàn thànhviệc thay thế đèn sợi đốt, đèn huỳnh quang T10 bằng các loại đèn tiết kiệm điện

Khuyến khích, khai thác và sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo thay thếnăng lượng hoá thạch, hỗ trợ các nhà sản xuất, nhập khẩu đưa ra thị trường các trangthiết bị sử dụng năng lượng mới hiệu suất cao (các thiết bị cung cấp và sử dụng nănglượng mặt trời tại các toà nhà, khách sạn và trong sinh hoạt; thiết bị phát điện từ khísinh học ) Hình thành và từng bước hoàn chỉnh cơ sở dữ liệu năng lượng phục vụcho các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và quốc gia

2.1.1 Đối với năng lượng mặt trời

Hiện nay năng lượng mặt trời chủ yếu được sử dụng dưới 2 dạng:

Một là, tập trung nhiệt lượng từ nguồn năng lượng mặt trời để phục vụ cho sinh hoạthằng ngày của người dân như đun, nấu, sưởi; và một số doanh nghiệp dùng để sấynông sản

Trang 31

Hình 6: Bếp năng lượng mặt trời dùng để đun nấu

Tại Đà Nẵng:

Năm 2010, tại khối phố Bình Kỳ, phường Hòa Quý, quận Ngũ Hành Sơn, thànhphố Đà Nẵng Sau khi tổ chức được 5 lớp tập huấn với tổng số người tham gia lớptập huấn 171 ngườ i, cho người dân biết về kiến thức tiết kiệm năng lượng và cách sửdụng bếp năng lượng mặt trời , dự án tiến hành phát thiết bị cho các hộ này (110 bếphình hộp, 60 bếp Parabôn và 01 hệ thống nước nóng) Người dân đã dùng các thiết

bị này để sử dụng trong việc đun nấu hàng ngày (khi có nắng) và đã giúp họ tiếtkiệm được một phần kinh phí trong việc đun nấu Người dân rất phấn khởi và hưởngứng nhiệt tình trong việc sử dụng các thiết bị năng lượng mặt trời

Người dân Đà Nẵng chọn mua bếp mặt trời tại

Ngày hội năng lượng 2010

Trang 32

Hình 7: Người dân ở khối phố Bình Kỳ, phường Hòa Quý, quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng

đang nấu ăn bằng bếp năng lượng mặt trời.

Hai là, tập trung năng lượng ánh sáng của năng lượng mặt trời để tạo ra điệnnăng phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất thông qua các tấm pin năng lượng mặt trờihay còn gọi là các tấm quang năng; các tấm quang năng có công dụng biến nănglượng ánh sáng thành điện năng

Tình hình tiêu thụ năng lượng của TP Đà Nẵng; năm 2010 toàn thành phố sửdụng 14,8 TJ dưới nhiều dạng khác nhau, trong đó 73% là sản phẩm từ dầu như dầuhỏa, dầu nhiên liệu FO, khí hóa lỏng LPG, xăng và dầu diesel DO; còn lại 27% dướidạng điện năng nhập vào thành phố qua mạng lưới truyền tải điện cao thế của Tậpđoàn Điện lực Việt Nam (EVN) Theo số liệu thống kê của Công ty TNHH MTV

Hình 8: Tấm quang điện - biến đổi ánh sáng mặt trời thành điện năng

Trang 33

Điện lực Đà Nẵng thì trong năm 2009, toàn thành phố tiêu thụ 1.154MWh (tăng15,69% so với năm 2008) và đến năm 2010 sản lượng điện tiêu thụ tăng 14% (trong

đó khối khách sạn, tòa nhà tăng 25%), năm 2011 tốc độ tăng trưởng trung bình là15% so với năm 2010 [11]

Trung bình nhu cầu tiêu thụ năng lượng điện của năm sau tăng so với nămtrước tăng khoảng 13-15% Như vậy cho chúng ta bức tranh về nhu cầu tiêu thụnăng lượng của TP Đà nẵng rất lớn, nhưng hầu hết điện năng của TP Đà Nẵng đều

từ nguồn năng lượng quốc gia Điện năng từ nguồn năng lượng mặt trời là rất nhỏ,chiếm tỉ lệ không đáng kể mà hầu hết tập trung ở các doanh nghiệp, trung tâmnghiên cứu và các dự án thí điểm của thành phố

Ngày 6/12/2011, UBND TP Đà Nẵng đồng ý triển khai thí điểm trong 1 nămviệc lắp đặt 10 bộ đèn chiếu sáng đường phố bằng năng lượng gió và mặt trời tạiđường Trường Sa (quận Sơn Trà, quận Ngũ Hành Sơn) đoạn tiếp giáp với QuảngNam Theo đó, Công ty CP Lê Gia Long hỗ trợ các thiết bị chính như Pin nănglượng mặt trời 140W, turbin gió 400W, đèn LED, ắc quy, thiết bị điều khiển SởKhoa học Công nghệ Đà Nẵng phối hợp với Công ty Quản lý vận hành điện chiếusáng công cộng thiết kế thi công trụ đèn, tiến hành cho lắp đặt

Hình 9: Bộ đèn chiếu sáng bằng năng lượng gió và năn g lượng mặt trời trên đường Trường Sa, TP.

Đà Nẵng

Trang 34

Hiện tại ở TP Đà Nẵng có một hệ thống điện năng lượng mặt trời lớn nhất cócông suất 7,3 kw được hoà lưới điện quốc gia tại trường tư thục chuyên biệt ThanhTâm: 15b Phan Tứ, Q Ngũ Hành Sơn; dự án này d o tổ chức phi chính phủLuxembourg tài trợ năm 2011, đây được xem là một dự án đầu tiên và điển hình vềđiện năng lượng mặt trời tại TP Đà Nẵng Kế đến là hệ năng lượng mặt trời 6,8 kwcủa trường đại học Bách khoa - đại học Đà Nẵng phục vụ cho công tác học tập vànghiên cứu cũng như cấp điện dùng trong khuôn viên nhà trường.

Hình 10: Hệ thống điện năng lượng mặt trời tại trường tư thục chuyên biệt Thanh Tâm, Đà Nẵng

Đối với bồn nước nóng năng lượng mặt trời theo điều tra thực địa với mẫu ngẫunhiên và tổng lượng 20 mẫu ta có:

Bảng 1: Tỉ lệ sử dụng bồn nước nóng NLMT theo từng đối tượng tại Đà Nẵng

Trang 35

doanh nghiệp kinh doanh về khách sạn đã có đầu tư về bồn nước năng lư ợng nhằmgiảm chi phí về điện để làm nóng nước phục vụ cho khách lưu trú Khối doanhnghiệp kinh doanh nhà hàng cũng đã có những đầu tư nhưng chưa cao, chỉ tậptrung vào một vài chủ nhà hàng có vốn, có nhận thức tốt về tiết kiệm năng lượng Khối nhà dân thì còn rất hạng chế, tập trung vào những gia đình giàu có.

Tại Quảng Nam:

Tháng 5/2002, Ủy ban Dân tộc và Đại sứ quán Phần La n tại Việt Nam cùngTập đoàn NAPS Systems (Cộng hòa Phần Lan) thỏa thuận xây dựng dự án cungcấp điện mặt trời cho 300 xã đặc biệt khó khăn thuộc địa bàn chương trình 135 từnguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của Chính phủ Phần Lan

Lễ ký kết hợp đồng vay vốn tổ chức năm 2005 Giai đoạn 1 của dự án đượcthực hiện ở 70 xã đặc biệt khó khăn thuộc 20 huyện của tám tỉnh miền Trung vàmiền núi phía Bắc Thời gian thực hiện từ quý 2-2009 đến quý 3-2010 Các xã này

sẽ được lắp đặt đồng bộ hệ thống năng lượng mặt trời nhằm cấp điện cho trụ sở cácUBND xã, trạm y tế xã, tủ bảo quản văcxin, nhà văn hóa xã (hoặc thôn, bản), trạmnạp ăcquy và trạm thu - phát tín hiệu truyền hình qua vệ tinh Tổng mức đầu tư lêntới hơn 197 tỉ đồng (tương đương 7,9 triệu euro), tro ng đó vốn vay là hơn 134 tỉđồng, vốn đối ứng hơn 64 tỉ đồng Trong đó tỉnh Quảng Nam có 4 huyện TâyGiang, Nam Giang, Nam Trà My và Bắc Trà My với tổng số 19 xã được thụ hưởng

dự án này

Hình 11: Bồn nước nóng năng lượng mặt trời

Trang 36

Bảng thống kê số lượng các tấm quang điện được tra ng bị cho Tỉnh QuảngNam do Ủy Ban Dân Tộc và tổ chức Naps (phần lan) thực hiện (từ 2/2009-3/2010).

Bảng2: Thống kê số lượng các tấm quang điện được trang bị cho Tỉnh Quảng Nam

Trạm y tế (300w/h)

Nhà dịch vụ (300w/h)

Tủ xin (200w/h)

vắc-Trạm nạp ắc qui (800w/h)

Trạm V3 (400w/h)

Tổng số gói lắp

đặt

Tổng công suất lắp đặt (w/h)

Trang 37

Hình 12: Tấm năng lượng tại trạm y tế xã A Nông, Tây Giang, Quảng Nam

Ngoài ra, tỉnh Quảng Nam đã thực hiện được 3 dự án năng lượng tái tạo cấpđiện cho khoảng 650 hộ ở 2 xã miền núi cao dọc theo biên giới Việt – Lào (xã AXan, Ga Ri - huyện Tây Giang) và xã đảo Tân Hiệp (thành phố Hội An)

Theo đánh giá của UBND tỉnh Quảng Nam, đến 2013 đã triển khai thí điểmthành công 3 dự án này thuộc Chương trình Năng lượng nông thôn Việt Nam - ThụyĐiển, với tổng mức đầu tư 34 tỷ đồng, cấp điện cho 3 xã nói trên nhằm tạo điều kiệnphát triển kinh tế - xã hội, tạo việc làm ổn định cho người dân ở các xã này Trong

đó, hệ thống điện xã A Xan (thí điểm) và hệ thống điện xã Ga Ri (dự án bổ sung)cấp điện cho 550 hộ dân bằng việc đầu tư xây dựng nhà máy thuỷ điện nhỏ tại chỗ;

hệ thống phát điện hỗn hợp pin mặt trời – diezel, công suất 48 kW tại xã đảo TânHiệp cấp điện cho 100 hộ dân ở thôn Bãi Hương

Trang 38

Hình 13: Hệ thống pin năng lượng mặt trời tại Bãi Hương, Cù Lao Chàm.

Từ 3 năm trở lại đây, trước thực tế còn 1 2 xã và hàng chục thôn, bản chưa cóđiện đều thuộc vùng sâu, vùng xa và hải đảo, mật độ dân cư thưa thớt, tiêu thụ điệnthấp dẫn đến mỗi xuất đầu tư/hộ dân rất lớn, chi phí đầu tư cao, vì thế UBND tỉnhQuảng Nam đã phối hợp với Tổng công ty Điện lực miền Trung, một mặt tạo vốnđầu tư cấp điện bằng lưới điện quốc gia về những vùng chưa có điện, mặt khác cấpđiện bằng các dạng năng lượng tái tạo như: Pin mặt trời, năng lượng gió, thủy điệnnhỏ để từng bước phủ điện đến những nơi “đầu sóng ngọn gió” này

Đây là những dự án đầu tiên cấp điện bằng năng lượng sạch ở miền núi và hảiđảo Quảng Nam

Đối với bồn nước nóng năng lượng mặt trời theo điều tra thực địa ở vùngthành thị và vùng nông thôn của tỉnh Quảng Nam với mẫu ngẫu nhiên và tổnglượng 20 mẫu ta có:

Bảng 3: Tỉ lệ sử dụng bồn nước nóng NLMT theo từng đối tượng tại Quảng Nam

khách sạn

Khối nhà hàng

Nhà dân ở thành thị

Nhà dân ở nông thôn

Trang 39

Khối khách sạn từ 3 sao trở xuống của 2 thành phố Hội An và Tam Kỳ cũng

đã có sự đầu tư về bồn nước nóng năng lượng mặt trời trong việc kinh doanh củamình, nhưng con số này cũng chưa cao v à chưa được nhân rộng cũng như đầu tưmạnh Khối nhà dân ở thành thị thì còn rãi rác có đầu tư nhưng tập trung ở các nhàgiàu có Tuy nhiên ở nông thôn thì sự đầu tư này hầu như không có, chỉ vài nơi là cóđầu tư bếp nấu năng lượng mặt trời, nhưng con số này rất thấp không đáng kể

2.1.2 Đối với năng lượng gió

Năng lượng gió là động năng của không khí di chuyển trong bầu khíquyển Trái Đất Năng lượng gió là một hình thức gián tiếp của năng lượng mặt trời

Sử dụng năng lượng gió là một trong các cách lấy năng lượng xa xưa nhất từ môitrường tự nhiên Đây là một nguồn tài nguyên vô tận Sử dụng năng lượng giókhông gây ra các vấn đề môi trường quan trọng, do gió là nguồn năng lượng sạch,không tạo ra chất thải, không sinh ra SO2, CO2 hay những NOx Gió không cần

"nguyên liệu", nó gần như vô tận, chỉ phải tốn kém cho việc đầu tư thiết bị banđầu Vì thế, các công nghệ tiến bộ mới cho thấy năng lượng gió sẽ có thể trở thànhnguồn năng lượng quan trọng trong những thập kỷ tới, mặc dù hiện nay, gió chỉ cómột vị trí nhỏ trong bức tranh năng lượng

Tuy nhiên, cũng giống năng lượng mặt trời, loại năng lượng này lệ thuộc vàođiều kiện thiên nhiên và đòi hỏi một sự đầu tư lớn (chi phí sản xuất điện từ nănglượng gió ngày càng giảm nhờ các tuabin cải tiến)

Ngày đăng: 15/05/2014, 08:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Các tuabin điện gió ở Tuy Phong- Bình Thuận (nguồn: [2]) - Đề tài: Ứng dụng năng lượng sạch vào phát triển kinh tế vùng Nam Trung Bộ - tác giả: Võ Hoàng Phi
Hình 1 Các tuabin điện gió ở Tuy Phong- Bình Thuận (nguồn: [2]) (Trang 14)
Hình 3: Các tuabin điện gió trên biển thuộc Nhà máy điện gió Bạc Liêu. (nguồn:[4]) - Đề tài: Ứng dụng năng lượng sạch vào phát triển kinh tế vùng Nam Trung Bộ - tác giả: Võ Hoàng Phi
Hình 3 Các tuabin điện gió trên biển thuộc Nhà máy điện gió Bạc Liêu. (nguồn:[4]) (Trang 15)
Hình 5: Tuabin gió- biến đổi năng lượng gió thành đ iện năng (nguồn: [8]) - Đề tài: Ứng dụng năng lượng sạch vào phát triển kinh tế vùng Nam Trung Bộ - tác giả: Võ Hoàng Phi
Hình 5 Tuabin gió- biến đổi năng lượng gió thành đ iện năng (nguồn: [8]) (Trang 23)
Hình 7: Người dân ở khối phố Bình Kỳ, phường Hòa Quý, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng - Đề tài: Ứng dụng năng lượng sạch vào phát triển kinh tế vùng Nam Trung Bộ - tác giả: Võ Hoàng Phi
Hình 7 Người dân ở khối phố Bình Kỳ, phường Hòa Quý, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng (Trang 32)
Hình 8: Tấm quang điện - biến đổi ánh sáng mặt trời thành điện năng - Đề tài: Ứng dụng năng lượng sạch vào phát triển kinh tế vùng Nam Trung Bộ - tác giả: Võ Hoàng Phi
Hình 8 Tấm quang điện - biến đổi ánh sáng mặt trời thành điện năng (Trang 32)
Hình 12: T ấm năng lượng tại trạm y tế xã A Nông, Tây Giang, Quảng Nam - Đề tài: Ứng dụng năng lượng sạch vào phát triển kinh tế vùng Nam Trung Bộ - tác giả: Võ Hoàng Phi
Hình 12 T ấm năng lượng tại trạm y tế xã A Nông, Tây Giang, Quảng Nam (Trang 37)
Hình 13: H ệ thống pin năng lượng mặt trời tại Bãi H ương, Cù Lao Chàm. - Đề tài: Ứng dụng năng lượng sạch vào phát triển kinh tế vùng Nam Trung Bộ - tác giả: Võ Hoàng Phi
Hình 13 H ệ thống pin năng lượng mặt trời tại Bãi H ương, Cù Lao Chàm (Trang 38)
Hình 14: Một số loại tua-bin gió được sử dụng hiện nay trên thế giới (nguồn: [8]) - Đề tài: Ứng dụng năng lượng sạch vào phát triển kinh tế vùng Nam Trung Bộ - tác giả: Võ Hoàng Phi
Hình 14 Một số loại tua-bin gió được sử dụng hiện nay trên thế giới (nguồn: [8]) (Trang 40)
Hình 16: PGS.TS. Tr ần Văn Nam và PGS.TS. Lê Kim Hùng tham quan trạm - Đề tài: Ứng dụng năng lượng sạch vào phát triển kinh tế vùng Nam Trung Bộ - tác giả: Võ Hoàng Phi
Hình 16 PGS.TS. Tr ần Văn Nam và PGS.TS. Lê Kim Hùng tham quan trạm (Trang 42)
Hình 18: Ti ến s ĩ Nhan H ồng Quang đang hướng d ẫn quy trình sử dụng máy phát điện chạy bằng - Đề tài: Ứng dụng năng lượng sạch vào phát triển kinh tế vùng Nam Trung Bộ - tác giả: Võ Hoàng Phi
Hình 18 Ti ến s ĩ Nhan H ồng Quang đang hướng d ẫn quy trình sử dụng máy phát điện chạy bằng (Trang 46)
Hình 20: Hầm bigogas của 1 gia đ ình có trại nuôi 3 00 con heo o huyện Phú Ninh, Quảng Nam - Đề tài: Ứng dụng năng lượng sạch vào phát triển kinh tế vùng Nam Trung Bộ - tác giả: Võ Hoàng Phi
Hình 20 Hầm bigogas của 1 gia đ ình có trại nuôi 3 00 con heo o huyện Phú Ninh, Quảng Nam (Trang 48)
Hình 26: Các bồn tắm khoáng nóng và bùn non ở Thôn Phước Nhơn, xã hoà khương, huyện hoà - Đề tài: Ứng dụng năng lượng sạch vào phát triển kinh tế vùng Nam Trung Bộ - tác giả: Võ Hoàng Phi
Hình 26 Các bồn tắm khoáng nóng và bùn non ở Thôn Phước Nhơn, xã hoà khương, huyện hoà (Trang 53)
Hình 25: Khu du lịch tắm khoáng nóng Thôn Phước Nhơn, xã hoà kh ương, huyện hoà vang, TP. - Đề tài: Ứng dụng năng lượng sạch vào phát triển kinh tế vùng Nam Trung Bộ - tác giả: Võ Hoàng Phi
Hình 25 Khu du lịch tắm khoáng nóng Thôn Phước Nhơn, xã hoà kh ương, huyện hoà vang, TP (Trang 53)
Hình 27: Suối nước nóng Tây Viên, huyện Duy Xuyên, Tỉn h Quảng Nam (nguồn:[18]) - Đề tài: Ứng dụng năng lượng sạch vào phát triển kinh tế vùng Nam Trung Bộ - tác giả: Võ Hoàng Phi
Hình 27 Suối nước nóng Tây Viên, huyện Duy Xuyên, Tỉn h Quảng Nam (nguồn:[18]) (Trang 54)
Hình 30: Một bộ phận siêu trọng của Tuabin gió - Đề tài: Ứng dụng năng lượng sạch vào phát triển kinh tế vùng Nam Trung Bộ - tác giả: Võ Hoàng Phi
Hình 30 Một bộ phận siêu trọng của Tuabin gió (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm