BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI TRẦN BÍCH NGỌC YẾU TỐ TƯỢNG TRƯNG TRONG THƠ BẮC ĐẢO Chuyên ngành Văn học nước ngoài Mã số 8220242 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Người hướng dẫn kh.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRẦN BÍCH NGỌC
YẾU TỐ TƯỢNG TRƯNG TRONG THƠ BẮC ĐẢO
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài
Mã số: 8220242
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Mai Chanh
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng cá nhântôi, không sao chép của ai, do tôi tự nghiên cứu, đọc, dịch tài liệu, tổng hợp và thựchiện Nội dung lý thuyết trong luận văn tôi có sử dụng một số tài liệu tham khảonhư đã trình bày trong phần tài liệu tham khảo Các số liệu và những kết quả trongluận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Hà Nội tháng 10 năm 2020
Tác giả
Trần Bích Ngọc
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập, nghiên cứu, để hoàn thành luận văn này tôi xin bày tỏ
sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới: PGS.TS Nguyễn Thị Mai Chanh – người đãđịnh hướng, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo nhóm Văn học châu Á, tổ Vănhọc nước ngoài, khoa Ngữ Văn cùng toàn thể các thầy, cô giáo trong trường Đạihọc Sư phạm Hà Nội đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quátrình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu
Bên cạnh đó, sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp cũng là nguồnđộng viên để tôi có thể tập trung nghiên cứu và hoàn thành đề tài này
Do về mặt kiến thức và thời gian còn hạn chế, luận văn còn nhiều khiếmkhuyết Tôi mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô và mọi người để luậnvăn hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội tháng 10 năm 2020
Tác giả
Trần Bích Ngọc
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
2 Lịch sử vấn đề
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
4 Đóng góp của luận văn
5 Cấu trúc của luận văn
CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ YẾU TỐ TƯỢNG TRƯNG TRONG THƠ
1.1 Từ chủ nghĩa tượng trưng đến vấn đề yếu tố tượng trưng trong thơ
1.1.1 Chủ nghĩa tượng trưng
1.1.2 Yếu tố tượng trưng trong thơ
1.2 Ý nghĩa của yếu tố tượng trưng trong thơ
1.2.1 Mở rộng phạm vi cái đẹp
1.2.2 Giúp độc giả cảm nhận thơ một cách đa diện
1.3 Yếu tố tượng trưng – một trong những đặc trưng của Thơ mông lung
1.3.1 Yếu tố tượng trưng phơi bày một thế giới khác trong thơ
1.3.2 Yếu tố tượng trưng giúp thơ khái quát những hiện thực
Tiểu kết chương 1
CHƯƠNG 2: NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THƠ BẮC ĐẢO
2.1 Cuộc đời và tâm thức thi nhân
2.1.1 Cuộc đời Bắc Đảo
2.1.2 Tâm thức thi nhân
2.2 Thời đại, văn hóa xã hội và yêu cầu đổi mới thơ
2.2.1 Thời đại
2.2.2 Văn hóa xã hội
2.2.3 Yêu cầu đổi mới thơ Trung Quốc
Tiểu kết chương 2
Trang 5CHƯƠNG 3: BIỂU HIỆN CỦA YẾU TỐ TƯỢNG TRƯNG TRONG
THƠ BẮC ĐẢO
3.1 Đặt mối quan hệ giữa con người và thế giới ở thế tương giao, tương hợp
3.1.1 Thế giới tác động đến con người
3.1.2 Con người cảm nhận thế giới
3.2 Xây dựng “một thế giới” siêu cảm giác trong thơ
3.2.1 Cảm giác đau thương
3.2.2 Cảm giác thất vọng
3.2.3 Cảm giác hi vọng
3.3 Kiến tạo hệ thống thi ảnh tượng trưng
3.3.1 Những thi ảnh thiên nhiên
3.3.2 Các thi ảnh khác
3.4 Tạo tính nhạc trong thơ
3.4.1 Âm điệu
3.4.2 Nhịp điệu
Tiểu kết kết chương 3
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Thơ là thể loại ra đời rất sớm trong lịch sử nhân loại Do có sự gắn bó
mật thiết với tâm hồn và cảm xúc của con người, cho nên thơ được xếp thuộcphương thức biểu hiện trữ tình, là tiếng lòng của người nghệ sĩ Lê Quý Đôn từngkhẳng định: “Thơ phát khởi từ lòng người ta”, hay như nhà thơ Tố Hữu đã viết:
“Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc sống đã thật đầy” Tuy là sự biểu hiện nhữngcảm xúc, tâm sự riêng tư, nhưng những tác phẩm thơ chân chính không chỉ dừng ở
đó, mà còn mang ý nghĩa khái quát về con người và cuộc đời, là cầu nối dẫn đến sựđồng cảm giữa người với người trên khắp thế gian này
1.2 Trung Quốc là quốc gia có nền văn hóa và văn học lâu đời Ảnh hưởng
của nền văn hoá ấy trải dài khắp khu vực miền Đông Châu Á, lan truyền đến cả cácquốc gia lân cận như Triều Tiên, Việt Nam… Cùng với bề dày văn hóa, văn họcTrung Quốc cũng có đến mấy ngàn năm lịch sử Nói đến văn học cổ điển Trung
Quốc, người ta không thể không nói đến những đại danh tác như Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử, Tây du kí, Hồng lâu mộng…; những bài thơ Đường bất hủ và rất
nhiều thành tựu thuộc các thể loại khác như phú đời Hán, tạp kịch đời Nguyên Nói đến văn học hiện – đương đại Trung Quốc, người ta lại thường nhắc tới các tácphẩm tự sự của những tên tuổi như Lỗ Tấn, Ba Kim, Mạc Ngôn, Cao Hành Kiện…;còn với thơ, thì ít được đề cập Theo chúng tôi, thời điểm trước năm 1978, thơ caTrung Quốc chưa có nhiều đổi mới, thơ chưa tiệm cận được với tư duy thơ ca thếgiới Nhưng sau đó ít lâu, phái Thơ mông lung ra đời đã tạo đà cho phong trào thơmới phát triển rầm rộ Với Thơ mông lung, thơ ca hiện đại Trung Quốc đã làm mộtcuộc cách tân vượt thoát khỏi truyền thống ngàn năm thơ cũ và cả thơ trữ tình-chính trị trước đó để vươn tới tầm tư duy thơ ca hiện đại, góp thêm phần phong phú,
đa dạng cho kho tàng văn học của đất nước này
1.3 Bắc Đảo (Bei Dao -北北) là một trong những tác gia từng nhiều lần được
đề cử cho giải thưởng Nobel văn chương danh giá Năm 2000, ông chỉ thiếu một
Trang 7phiếu so với nhà văn đồng hương Cao Hành Kiện để có thể chạm tay vào giảithưởng này Trên thế giới, thơ ông đã được dịch ra nhiều thứ tiếng Ở Trung Quốc,ông được coi là một trong những cây bút quan trọng góp phần làm nên sự đổi mớicủa thơ ca đương đại, là người đi đầu của phái Thơ mông lung Tiếng thơ Bắc Đảo
là tiếng thơ tân kì, tràn đầy những day dứt, khắc khoải của cả một thế hệ thanh niêngiữa một thời đại đầy biến động Thơ Bắc Đảo chịu ảnh hưởng sâu đậm “thơ tượngtrưng” phương Tây – thể thơ vốn được coi là “sự khởi đầu của văn học hiện đại”,thể thơ mà trong đó nhà thơ vận dụng đậm đặc các yếu tố tượng trưng để thể hiệnthế giới xúc cảm của con người Bắc Đảo được các nhà nghiên cứu Trung Quốccũng như hải ngoại đánh giá rất cao, tuy nhiên ở Việt Nam, ông lại chưa được biếtđến nhiều Thực tế này đòi hỏi sự tìm hiểu, dịch thuật và phân tích một cách có hệthống những sáng tác thơ ca của ông Bắt nguồn từ tất cả lí do trên, chúng tôi tiến
hành thực hiện đề tài: Yếu tố tượng trưng trong thơ Bắc Đảo.
học Bắc Kinh, số ra ngày 7 tháng 5 năm 1980; Tôn Thiệu Chấn có bài “令令令令令北北北
北” (Một nguyên tắc mĩ học mới đang trỗi dậy) đăng trên Tạp chí Thơ, Đại học Sư
phạm Phúc Kiến, số 3 năm 1981… Từ Kính Á trong bài viết “令令令北北”(Một nhóm
thơ đã trỗi dậy), đăng trên Tạp chí Trào lưu văn học đương đại, Lan Châu, số 1,
năm 1983 có nhận xét về đặc trưng Thơ mông lung: “nhịp điệu nội tâm dao độnglớn, giống với kĩ thuật dòng ý thức trong tiểu thuyết: cấu trúc kỳ lạ, chập chờn,giống kĩ thuật dựng phim Ngôn ngữ độc đáo dường như có thể khiến người đọcngỡ ngàng; từ ngữ giản đơn nhưng độc đáo, và luôn có cái "tôi" xuất hiện trong cácbài thơ một cách ẩn ý hoặc rõ ràng” [61, tr.22-30]
Trang 8nhiều phương diện khác nhau Chúng ta có thể kể đến các công trình tiêu biểu như:
tiểu luận 论论论论论论论论论论论论 (Khúc xạ ánh sáng trong thơ tình Bắc Đảo) của Thái
Hồ Phong in trên tập san Khoa học xã hội nhân văn của Học viện Kinh tế Hồ Bắc,
10/2012; tiểu luận 论论论论论论论论论 (Chủ đề nội tâm trong thơ ca Bắc Đảo) của Đỗ Lê tại tọa đàm Thơ Bắc Đảo tinh bản, Vũ Hán, 2014; luận văn 论论论论论论论论论论 (Ý nghĩa văn học sử của thơ ca Bắc Đảo) của Mã Thanh, Đại học Trường Giang, 2014; luận văn 《》 (Bàn về làn sóng cá tính trong ngòi bút Bắc Đảo) của Lí Mộng, Viện Văn học, Đại học Hà Nam, 2017; luận văn 论论论论论论论论论 (Bàn về vẻ đẹp bi kịch trong thơ Bắc Đảo) của Lục Hiếu Phong), Đại học Sư phạm Hồ Châu, Triết Giang,
2018… Qua đây cho thấy vẻ đẹp của thơ Bắc Đảo đã thu hút sự quan tâm củakhông ít nhà nghiên cứu Trung Quốc Tác giả Trần Hiểu Minh đánh giá rất cao cảgiá trị tư tưởng và giá trị nghệ thuật của thơ Bắc Đảo: “Thơ Bắc Đảo dạt dào tìnhcảm, tinh thần không chịu khuất phục đầy hoài nghi, phủ định và ý thức bi kịchkhiến thơ Bắc Đảo có sức mạnh lí tính bên trong… Thơ Bắc Đảo rất chú trọng tiếttấu và âm luật, tình cảm biến hóa tầng thứ rõ ràng, sức mạnh lí tính và tình điệutrong sáng siêu thoát đó kết hợp với nhau một cách hoàn hảo” [49, tr.277-283]
2.2 Ở Việt Nam
Như chúng tôi đã nói, ở Việt Nam, những bản dịch thuật và nghiên cứu vềThơ mông lung nói chung và thơ Bắc Đảo nói riêng còn hết sức khiêm tốn ThơMông lung và thơ Bắc Đảo đến với độc giả Việt Nam chủ yếu qua những bản dịchtrên Internet của một số dịch giả như Lê Đình Nhất Lang, Trúc Ti, Hoàng Diễm
Châu, Cù An Hưng… dịch từ nguyên tác tiếng Trung trên trang web 论 岛 岛 论 (Bắc Đảo Thi Tập) và được đăng tải tại trang web sinh hoạt văn nghệ www.tienve.org.
Bên cạnh thơ, còn có một số bài phát biểu, một số tiểu luận văn chương của BắcĐảo cũng được các dịch giả Hoàng Ngọc Tuấn, nhà thơ Cù An Hưng, nhà thơ DiễmChâu dịch và đăng tải trên trang web trên
Về các công trình nghiên cứu, hiện nay chúng tôi chỉ tập hợp được một số ítbài viết đặt vấn đề tìm hiểu trào lưu Thơ mông lung Thơ Mông lung từng được biếtđến qua một số bài nghiên cứu dịch từ tiếng Trung Quốc như bài viết “Suy nghĩ của
Trang 9tôi về Thơ Mông lung” của tác giả Phương Băng, Lê Huy Tiêu dịch từ Quang Minh nhật báo, số ra 28/01/1981; bài viết “Một hạt giống mới dũng cảm: Bình luận trào lưu Thơ Mông lung” do dịch giả Vũ Cận dịch từ tạp chí Asian week Tác giả Lê
Huy Tiêu có bài viết “Thơ Mông lung, một loại thơ tắc tị của Trung Quốc gần đây”
đăng trên Tạp chí Văn học, Số 2 (212), 1985 Ngoài ra còn có bài viết “Thơ Mông
lung: một hằng số phát triển của thơ hiện đại Trung Quốc” của tác giả Trần Vĩnh
Quốc, Ngân Xuyên đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn học, Số 2 (468), năm 2011.
Gần đây chúng tôi còn biết đến tác giả Nguyễn Thị Mai Chanh với ba bài viết vềtrào lưu thơ này Trong bài “Trào lưu “Thơ Mông lung” trên thi đàn Trung Hoa nửa
sau Thế kỉ XX”, đăng trên Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Số
65 (8), 2020, Nguyễn Thị Mai Chanh đã khái quát những đặc trưng nghệ thuật củaThơ mông lung: “Thơ Mông lung lấy thế giới tinh thần nội tại làm đối tượng thểhiện chủ yếu Để biểu hiện thế giới nội cảm đó, các nhà thơ sử dụng những thủ pháp
và kĩ xảo nghệ thuật đáng chú ý, trong đó nổi bật nhất là cách sử dụng các hìnhtượng tượng trưng ám thị, các thủ pháp “che mờ” tình ý chủ thể trữ tình bằng ngôn
từ “lạ hóa” Các thi phẩm được đặt trong thế vừa như tự biểu hiện mình, lại vừa nhưche giấu mình Mỗi bài thơ tạo nên một thi cảnh mơ hồ, mờ đục, lẩn quất những thi
ý không dễ thuyết minh Chủ đề, thi tứ, do đó cũng trở nên mông lung, bất định, thuhút những lí giải đa nguyên” [2, tr.7] Hay trong bài viết “Sự chuyển biến trongquan niệm nghệ thuật của thơ đương đại Trung Quốc (1949 – 2000)”, đăng trên Kỉ
yếu Hội thảo khoa học Quốc gia Nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm văn học theo thể loại, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, 2020, Nguyễn Thị Mai Chanh thêm một lần
khẳng định: “Phái thơ này hấp thu các thủ pháp, kĩ xảo thơ phương Tây hiện đại,dùng ý tượng hóa, tượng trưng hóa thay thế cho lối tả thực, trực thuật truyền thống;mượn lối nói ám thị và ẩn dụ trùng điệp để biểu hiện tính mông lung, phức hợp củanội tâm” [3, tr.432] Ngoài ra, Thơ mông lung cũng được tác giả đề cập đến trongbài viết “Thời kì hồi sinh của Văn học Trung Quốc (1976 – 1990)”, đăng trên Tạp
chí Lý luận phê bình Văn học - Nghệ thuật, Số 1, năm 2020 Ở bài viết này, tác giả
đưa ra nhận định: “Thơ mông lung được coi là biểu hiện của sự giác ngộ trong thi
Trang 10ca Trung Quốc hiện đại, đánh dấu một cột mốc trong lịch sử thi ca của đất nướcnày Nó đề cao “tự ngã”, thể hiện rất ấn tượng cảm giác lạc loài trong tâm hồn thế
hệ tự gọi là “bị vứt đi”…” [4, tr.126] Trong cuốn sách dịch 60 năm Văn học đương đại Trung Quốc, Nxb Phụ nữ Việt Nam, 2020, dịch giả Đỗ Văn Hiểu cũng giúp
người đọc tiếp cận Thơ mông lung qua bài dịch “Thơ Mông lung: kèn lệnh từ bímật đến thời đại mới” (dịch từ bài phê bình của tác giả Trần Hiểu Minh)
2.3 Ở một số nước khác trên thế giới
Theo khảo sát của chúng tôi, các sáng tác của Bắc Đảo đã được tuyển chọn
và chuyển ngữ sang tiếng Anh với một số bản dịch như: 1) BEI DAO Notes From the City of the Sun: Poems (Bắc Đảo, Ghi chú từ thành phố mặt trời: thơ) - được biên soạn và dịch bởi Bonnie S McDougall (1983); 2) BEI DAO Waves: Stories
(Bắc Đảo, Những con sóng: truyện) - được dịch bởi Bonnie S McDougall và
Susette Ternent Cooke (1987); 3) BEI DAO The August Sleepwalker (Bắc Đảo, Kẻ
mộng du tháng 8: thơ) - được biên soạn và dịch bởi Bonnie S McDougall (1988);
4) BEI DAO Old Snow: Poems (Bắc Đảo, Tuyết cũ: thơ) - dịch bởi Bonnie S McDougall và Chen Maiping (1991); 5) BEI DAO Forms of Distance (Bắc Đảo, Các dạng thức của khoảng cách) - dịch bởi David Hinton (1994) 6) BEI DAO Landscape Over Zero (Bắc Đảo Phong cảnh trên không) - dịch bởi David Hinton
và Yanbing Chen (1996); 7) BEI DAO Unlock (Bắc Đảo Mở khóa) - dịch bởi Eliot
Weinberger và Iona Man Cheong (2000)…
Quan điểm nghệ thuật và hành trình sáng tác của Bắc Đảo được chính ôngbày tỏ trong bài phỏng vấn “Nói chuyện với Bắc Đảo” do Chantal Chen-Andro và
Claude Mouchard thực hiện, đăng trên tờ Po & sie, số 65, Paris, năm 1993: “Trong
một khung cảnh mà tất cả đều xa lạ, ngôn ngữ là nơi trú ẩn, nơi mà, nhờ thi ca, tôi
có thể tìm lại mình” [62] Còn trong bài viết “An Interview With Bei Dao” (Bắc
Đảo nói về chính mình) do Gabi Gleichmann thực hiện, đăng trên tạp chí Modern Chinese Literature, số 9, năm 1996, ông nói: “Tôi thấy một mối liên hệ giữa thơ và
sự nổi loạn Nổi loạn là một đề tài lớn của thế hệ tôi Nhưng tôi tin rằng sự nổi loạnbắt đầu từ cấp độ bản thân” [50, tr.387-393] Cũng trong bài phỏng vấn trên, Bắc
Trang 11Đảo thừa nhận “lần đầu đọc thơ García Lorca qua bản dịch Trung văn tôi đã bịchoáng ngợp như thế nào trước những hình tượng độc đáo và nhạc tính tuyệt hảocủa ông ấy” [62] Những “hình tượng độc đáo”, “nhạc tính” đều là những đặc trưngcủa thơ tượng trưng, sự “nổi loạn” trong thơ Bắc Đảo, cùng với việc “dùng ngônngữ là nơi trú ẩn” đã minh chứng cho việc nhà thơ chịu ảnh hưởng không nhỏ từchủ nghĩa tượng trưng và lối sáng tác của các nhà thơ tượng trưng phương Tây BắcĐảo đồng thời cho biết ông đã vận dụng lí thuyết của chủ nghĩa tượng trưng vàocon đường sáng tác của mình: “Phép ẩn dụ, biểu tượng, đảo cú pháp, thay đổi ngôi
vị hay phối cảnh, phá vỡ mạch thời gian hay không gian, v v … mở cho chúng tanhững khả năng mới Tôi cố gắng áp dụng kỹ xảo dựng cảnh trong điện ảnh vào thơ
để tạo ra hiệu ứng của những hình ảnh va chạm nhau và biến dạng, kích thích óctưởng tượng của người đọc để khỏa lấp những khoảng trống giữa các hình ảnh trongthơ Tôi cũng chú trọng nhiều đến sự phức tạp của thơ và cố gắng nắm bắt nhữngcảm giác thuộc tiềm thức và luôn luôn biến đổi” [50, tr.387-393]
Tóm lại, qua quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy, ngoài một số bài viếtmang tính chất giới thiệu sơ lược về cuộc đời và thơ Bắc Đảo, ở Việt Nam chưa cócông trình nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu về “yếu tố tượng trưng trong thơ Bắc Đảo”
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề “Yếu tố tượng trưng trong thơ Bắc Đảo”.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chủ yếu khảo sát những sáng tác của Bắc Đảo giai đoạn 1972 –
1988 được in trong tập thơ Lí lịch và đăng tải trên trang web: http://www.shigeku.org/shiku/xs/beidao/.
Ngoài ra, chúng tôi còn khảo sát thơ Bắc Đảo giai đoạn 1989 – 2008 in trong
tập Bên trời, thơ tượng trưng Pháp, thơ tượng trưng châu Âu và một số sáng tác của
các tác giả khác trong phái Thơ mông lung để có sự đối chiếu, so sánh làm nổi bậtyếu tố tượng trưng trong thơ Bắc Đảo
Trang 124 Mục đích nghiên cứu
Chọn đề tài Yếu tố tượng trưng trong thơ Bắc Đảo, chúng tôi hi vọng bước
đầu đưa những sáng tác thơ của Bắc Đảo đến với độc giả Việt Nam
Từ những lí thuyết của chủ nghĩa tượng trưng, chúng tôi đi sâu phân tíchnhững biểu hiện của yếu tố tượng trưng trong thơ Bắc Đảo Đó là cơ sở để chúng tôikhẳng định những đóng góp không thể phủ nhận của thơ Bắc Đảo với nền thi cađương đại Trung Quốc và thế giới
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tiếp cận hệ thống: giúp chúng tôi tìm ra những biểu hiện của
yếu tố tượng trưng trong thơ Bắc Đảo
Phương pháp so sánh, đối chiếu: giúp chúng tôi làm nổi rõ điểm khác biệt,
sự đa dạng trong phương thức Bắc Đảo vận dụng các yếu tố tượng trưng qua từngtác phẩm
Phương pháp phân tích văn học: giúp chúng tôi tiếp cận sáng tác của Bắc
Đảo một cách cụ thể, có sức thuyết phục
Phương pháp tổng hợp: giúp cho những luận điểm có tính khái quát sau
khi đã triển khai tìm hiểu những vấn đề, tác phẩm cụ thể
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình đi sâu tìm hiểu một cách có hệ thống thơ Bắc Đảothông qua một phương diện nghệ thuật được coi là đóng vai trò hết sức quan trọngtrong thơ Bắc Đảo nói riêng và Thơ mông lung, thơ tượng trưng nói chung Qua đó,góp thêm tiếng nói khẳng định những đóng góp của Bắc Đảo đối với nền thi cađương đại Trung Quốc cũng như thế giới
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn được triển khai gồm
3 chương:
Chương 1: Chủ nghĩa tượng trưng và quá trình hình thành yếu tố tượng
trưng trong thơ Bắc Đảo
Chương 2: Yếu tố tượng trưng – từ phương diện nội dung thể hiện
Trang 13Chương 3: Yếu tố tượng trưng – từ phương diện hình thức biểu đạt
Trang 14CHƯƠNG 1 CHỦ NGHĨA TƯỢNG TRƯNG VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH YẾU TỐ
TƯỢNG TRƯNG TRONG THƠ BẮC ĐẢO
Trước khi thơ tượng trưng ra đời, lịch sử văn học phương Tây và văn họcPháp từ thế kỉ XVII trở đi đã ghi nhận sự xuất hiện của các trào lưu nghệ thuật lớn:
cổ điển, lãng mạn, hiện thực, tự nhiên chủ nghĩa… Mỗi trào lưu nghệ thuật lại mangnhững đặc điểm riêng Sự hiện diện của các trào lưu này đều có ý nghĩa lịch sử đốivới tiến trình phát triển của nền văn học nói chung Chủ nghĩa tượng trưng cũngvậy Nó cũng mang đến cho văn đàn những quan điểm nghệ thuật mới, những cáchtân nghệ thuật độc nhất vô nhị, những sáng tạo độc đáo Chủ nghĩa tượng trưng đãđưa văn học nói chung, thi ca nói riêng sang một chặng đường mới Và nó cũng là
cơ sở hình thành thuật ngữ “yếu tố tượng trưng” Với thơ Bắc Đảo, yếu tố tượngtrưng được định hình ngay từ giai đoạn đầu sáng tác
1.1 Từ chủ nghĩa tượng trưng đến vấn đề yếu tố tượng trưng trong thơ
1.1.1 Chủ nghĩa tượng trưng
Trên tờ báo Le Figaro ra ngày 18/9/1886, Jean Moreas - một trong những nhà thơ tượng trưng có bài viết Tuyên ngôn thơ tượng trưng công bố với độc giả sự
ra đời của một thời đại mới trong thơ ca Pháp Từ đó, khái niệm chủ nghĩa tượng trưng (symbolisme) ra đời.
Từ Symbole (tượng trưng) trong tiếng Pháp vốn được rút từ tiếng Hy Lạp, có
nghĩa là ném cùng một lúc, hay hợp lại một đồ vật bị chia đôi, hay sự gặp gỡ ngẫu
nhiên của hai đồ vật Từ nghĩa đó, từ symbolisme (chủ nghĩa tượng trưng) chỉ định
thái độ chuyển đổi từ cái trừu tượng đến cái cụ thể hay ngược lại Chủ nghĩa tượngtrưng dường như đã được báo trước bởi Platon – nhà triết học Hy Lạp cổ đại, ngườiđược coi là nhà triết học vĩ đại nhất của mọi thời đại Chủ nghĩa tượng trưng cònđược đánh dấu bởi một phần văn học Đức và Anh, bởi các nhà thơ ba rốc (baroque),các nhà thơ La Tinh, Hy Lạp, các nhà siêu hình học, các nhà tư tưởng Ấn Độ E.Swedenborg (nhà thần học người Thụy Điển, người tự coi mình là tôi tớ của ChúaJesus) cùng hai nhà thơ: E Poe (đồng thời là nhà văn, nhà viết kịch, nhà phê bình
Trang 15Mỹ, ông tổ của thể loại truyện trinh thám hình sự) và G Nerval (đồng thời là nhàsoạn kịch, dịch giả, nhà văn Pháp) là những người tiên phong trong hành trình địnhdanh chủ nghĩa tượng trưng Với các nhà tượng trưng, thơ ca lãng mạn mang nộidung nặng nề và hình thức cứng nhắc đã không còn phù hợp để diễn đạt những giátrị cao cả của thơ ca, nên sự ra đời của chủ nghĩa tượng trưng là một sự tất yếu.
Cơ sở lí thuyết của chủ nghĩa tượng trưng bắt nguồn từ triết học duy tâm của
A Schopenhauer – nhà triết học người Đức Ông cho rằng: con người chỉ nhận biết
về thế giới qua hình thức một đại diện hay một hình ảnh trí óc của các đối tượng.Con người chỉ biết trực tiếp các đại diện chứ không nhận biết trực tiếp đối tượng.Mọi đối tượng bên ngoài tâm thức đều được nhận thức một cách gián tiếp qua sựđiều hành của tâm thức Quan niệm này đã manh nha đưa ra ý hiểu về việc một hìnhảnh đại diện cho một đối tượng khác ngoài nó
Bối cảnh lịch sử nước Pháp trước khi chủ nghĩa tượng trưng ra đời được ghilại đầy biến động Năm 1789 Cách mạng tư sản Pháp thành công Các nhà văn lãngmạn bị cuốn vào cơn lốc lịch sử với những hy vọng lớn lao về một thời kì lịch sửđẹp đẽ, xán lạn Chính biến của Napoléon tiểu đế (Napoléon petit) nổ ra, năm 1851nước Pháp bước vào thời kỳ đế quốc chủ nghĩa Đời sống và nghệ thuật dường nhưnảy sinh sự đối nghịch Nếu nghệ thuật hướng đến thẩm mĩ, đề cao các giá trị tinhthần, thì thời kì nước Pháp đế quốc, các giá trị này đều bị vùi dập Người nghệ sĩchìm trong đau khổ vì bị trói buộc tinh thần Và chủ nghĩa tượng trưng ra đời từ sự
tự ý thức về nỗi đau khổ ấy Xã hội tư sản tôn thờ vật chất dẫn đến việc các nhà vănnhà thơ chống lại sự tôn thờ ấy, phản kháng lại thực tại tư sản Giới văn nghệ nhận
ra bản chất xã hội lúc này chẳng khác gì cái ao tù nước đọng lưu niên, cần sự giảiphóng, bứt phá Nền văn minh hàn lâm dường như đã bị suy thoái, trở thành cũ kĩ,lạc hậu, đòi hỏi cấp thiết nhất lúc này là sự đổi mới Đó là sự đổi mới về tư tưởng,
về quan niệm đưa đến sự đổi mới về nghệ thuật Mà với những tâm hồn Pháp đầylãng mạn, thì nghệ thuật chính là đời sống tinh thần không thể thiếu của họ
Chủ nghĩa tượng trưng là thi phái ra đời trên cơ sở vừa tiếp thu, vừa phủnhận thơ lãng mạn và thơ của phái Thi sơn (Parnasse) Nó được đánh giá là đi xahơn cả chủ nghĩa lãng mạn (romantisme) Trong quan niệm của các nhà thơ tượng
Trang 16trưng, thơ không đi vào mô tả rõ ràng đường nét, màu sắc, hình dáng, mà đi vàokhám phá cái huyền hồ, kì bí Chính điều đó mới thúc đẩy quá trình sáng tạo củangười nghệ sĩ Nói vậy không có nghĩa là thơ tượng trưng chỉ thiên về hình thức, mà
nó có những đòi hỏi nghiêm khắc về cách thức thể hiện Theo C Baudelare – nhàthơ tiêu biểu đại diện cho thi phái tượng trưng thì việc sử dụng khéo léo ngôn ngữ
được ví như thực hiện một trò ảo thuật đầy gợi cảm.Ở phương diện nội dung, theoquan niệm của C Baudelare, mọi sự vật hiện tượng đều trở thành những biểutượng đa nghĩa Với chủ nghĩa tượng trưng, vũ trụ đâu đâu cũng là những biểutượng Thi phái tượng trưng đã nhìn nhận thế giới vô cùng độc đáo Tượng trưngcòn được tạo ra bởi các thao tác nghệ thuật trong quá trình làm thơ như sử dụngcác biện pháp tu từ ẩn dụ, so sánh tượng trưng C Baudelaire cho rằng đó là sảnphẩm siêu việt ở trạng thái thăng hoa của toàn bộ con người tinh thần của ngườinghệ sĩ Muốn đạt đến tượng trưng, người nghệ sĩ phải mang toàn bộ cảm xúc,cảm giác để trải nghiệm thế giới, hòa nhập thế giới thực tại vào thế giới tâm linh,
từ đó mới đạt được trạng thái thăng hoa để xây dựng các biểu tượng tượng trưng.Khi làm được điều đó, thi ca sẽ đạt đến độ kiến tạo một thế giới tròn trịa nhất, thậtnhất, đa diện nhất
Đi vào lĩnh vực siêu hình, đi tìm bề sâu của “cái tôi” (le Moi) và “cái tôi đangã” (le Moi multiple) hoặc “cái tôi chưa biết” (le Moi inconnu), chủ nghĩa tượngtrưng có khả năng khám phá và phát hiện cái bản chất ẩn giấu sau vẻ bề ngoài củamỗi sự vật, hiện tượng, cá thể Với chủ nghĩa tượng trưng, thơ không chỉ là gieo vầntạo ý, mà còn là sự chưng cất từng con chữ Quan niệm về cái đẹp của chủ nghĩatượng trưng khác hẳn chủ nghĩa lãng mạn Chủ nghĩa tượng trưng cho rằng, thơ làhòa điệu của âm thanh, màu sắc và hương thơm (theo C Baudelaire) Trong thơ,tính nhạc được đặt lên hàng đầu (theo P Verlaine) Là nghệ thuật thuần túy, thơkhông đi vào các vấn đề chính trị xã hội mà gói trọn trong vấn đề thẩm mĩ
Đặc biệt, chủ nghĩa tượng trưng diễn tả những thứ khó cảm nhận được bằngcác giác quan thông thường, những thứ không thể cầm nắm, không thể chạm tới.Trong quan niệm của chủ nghĩa tượng trưng, con người và vũ trụ có một mối liênkết đặc biệt, có một sợi dây gắn bó vô hình khó có thể lí giải bằng các phép biện
Trang 17chứng duy vật mà chỉ có thể hiểu bằng lí thuyết duy tâm Nó tạo dựng nên trongthơ một thế giới mơ hồ, huyền hoặc, kì bí với những gì lớn lao, sâu sắc hơn cả sựvật Chính vì vậy, chủ nghĩa tượng trưng khiến thơ còn mang một dáng vẻ đầy kì dị.
Chủ ngữ tượng trưng đã đi qua ba giai đoạn Giai đoạn thứ nhất là giai đoạnđịnh hình Thời kỳ đầu, chủ nghĩa tượng trưng chịu sự công kích, lên án dữ dội vì
nó đã tạo nên hiệu ứng gây sốc trong việc tiếp nhận văn học không theo lối thôngthường Về phương diện đề tài, giai đoạn này, thơ tượng trưng còn chịu ảnh hưởngkhá lớn từ chủ nghĩa lãng mạn Các nhà thơ thường viết về nỗi buồn sầu, sự tuyệtvọng, suy tư, hụt hẫng Về phương diện hình thức, tiếp nối con đường của chủ nghĩalãng mạn, chủ nghĩa tượng trưng trưng đi sâu khám phá thế giới nội tâm phức tạpcủa con người, nhưng lại không chấp nhận lối diễn đạt hoa mĩ, màu mè, khuôn sáo
mà phái Thi sơn học tập từ chủ nghĩa lãng mạn
Giai đoạn thứ hai là giai đoạn đỉnh cao và suy thoái Giai đoạn này, chủnghĩa tượng trưng nhanh chóng trở thành hình thức thơ ca phổ biến, quyết định diệnmạo chủ đạo của thơ ca phương Tây và châu Âu cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XXvới nhiều màu sắc khác nhau, ở nhiều quốc gia khác nhau Nhưng đến thời kì cuối,chủ nghĩa tượng trưng lại rơi vào sự bế tắc, khi quanh quẩn giữa ranh giới của nghệthuật và phi nghệ thuật Đến giữa những năm 90 của thế kỉ XIX, nó thoái trào
Giai đoạn thứ ba là giai đoạn tái sinh Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, chủnghĩa tượng trưng được tái sinh thành chủ nghĩa hậu tượng trưng Chủ nghĩa hậutượng trưng mở rộng những vấn đề tình cảm ra ngoài phạm vi xã hội chứ không chỉ
bó hẹp trong cái cá nhân Ngoài ra, nó còn quan tâm đến những vấn đề đầy tính triết
lí như những đối trọng đang tồn tại của đời sống, hay nỗi cô đơn, bế tắc, trống trảitrong nội tâm của con người thời đại Chủ nghĩa hậu tượng trưng xuất hiện ở nhiềuquốc gia với nhiều phong cách nghệ thuật khác nhau
Nếu thơ lãng mạn được coi là bước tiến giải phóng cá nhân, để con ngườidám cất lên tiếng nói bản ngã nhất của mình, trở thành trung tâm của đời sống, của
vũ trụ; thì thơ tượng trưng đi sâu vào thế giới tâm linh với những điều phi lí, vôthường Thơ lãng mạn nghiêng về tình cảm, cảm xúc; thơ tượng trưng tập trung vàotrực giác, vào cảm nhận: “Thơ tượng trưng là tiếng nói của thế giới, là khát vọng
Trang 18tìm kiếm cái bí ẩn đằng sau, bao gồm bản chất của thế giới, các hiện tượng tâmlinh con người, thế giới cảm giác và vô thức” [39, tr.68] Đó là sự khác biệt củathơ tượng trưng và thơ lãng mạn.
Ngay sau khi thời kì cực thịnh của thơ lãng mạn với những tên tuổi như A.Lamartine, A Vigny, A Musset… kết thúc, thi phái tượng trưng ra đời, đánh dấu
bằng tập thơ Những bông hoa ác của C Baudelare (1857) Đáng tiếc, chủ nghĩa
tượng trưng có vòng đời ngắn ngủi hơn so với một số trường phái nghệ thuật khác.Nhưng sự ngắn ngủi ấy cũng đủ để nó lưu lại những dấu ấn đặc biệt trong lịch sửvăn chương
Khi thơ ca Pháp nói riêng, thơ ca châu Âu nói chung bước vào thời kì mới thời kì mà thơ đong đầy cảm xúc, nhà thơ là người luyện chữ, ngôn ngữ được sángtạo vượt bậc, thế giới đa diện, điệu hồn người đa thanh được bộc bạch đầy bản ngãtrong thơ; thì ngay cả chính độc giả - người tiếp nhận cũng trở thành những ngườisáng tạo trong cuộc hành trình khám phá câu chữ, nhạc điệu của thơ Thơ tượngtrưng nhìn thế giới vô cùng mới mẻ và trở thành một hiện tượng thơ đầy sức hấpdẫn Với thơ tượng trưng, quá trình sáng tạo là vô cùng, quá trình tiếp nhận khôngbao giờ dừng lại và những giá trị thẩm mĩ không bao giờ vơi cạn
-Như vậy, chủ nghĩa tượng trưng được thai nghén ở Pháp đã mang lại nhữngđiều mới mẻ, độc đáo, riêng biệt cho thi ca và trở thành khuynh hướng chủ đạocủa thi ca châu Âu cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX Hơn nữa, nó còn được mở rộng
ra phạm vi thế giới Thơ ca hiện đại châu Á như Trung Quốc, Việt Nam đều tiếpthu mạnh mẽ những đặc điểm của thơ tượng trưng để làm giàu thêm cách thứcbiểu đạt của mình
1.1.2 Yếu tố tượng trưng trong thơ
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (1996) định nghĩa: “Tượng trưng
là dùng một sự vật cụ thể có tính hình thức hoặc tính chất thích hợp để gọi ra sự liêntưởng đến cái trừu tượng nào đó Ví dụ chim bồ câu tượng trưng cho hòa bình, sư tửtượng trưng cho sức mạnh, xiềng xích tượng trưng cho nô lệ, hoa tượng trưng cho
cái đẹp” [33, tr.1046] Ở phương diện ngôn ngữ học, tượng trưng có thể được coi là
một biện pháp tu từ Biện pháp tu từ này được hiểu là việc sử dụng những ẩn dụ để
Trang 19biểu đạt Hình ảnh ẩn dụ là những hình ảnh đã được sử dụng nhiều lần, mang tính
lặp đi lặp lại, ví như thuyền – bến, trầu – cau, cánh bèo, cánh buồm, mặt trời…
Những ẩn dụ sử dụng trong văn chương đã trở thành các hình tượng nghệ thuật, mà
“hình tượng nghệ thuật cũng chính là một tượng trưng vì một mặt vừa cho thấy đặcđiểm của nó, mặt khác lại bộc lộ một ý nghĩa phổ biến, sâu rộng hơn cái sự vật, cábiệt được miêu tả” [39, tr.60]
Trong tác phẩm văn học, tính tượng trưng có vai trò rất quan trọng Nó gợi ra
sự liên tưởng, tưởng tượng cho độc giả Nó khiến nội dung, ý nghĩa của tác phẩmvượt ra ngoài phạm vi câu chữ Chúng ta đều biết sự đa tầng của thế giới ngôn từ.Trong mỗi văn cảnh khác nhau, mỗi từ ngữ có thể biểu đạt những nội dung khônggiống nhau Ngôn từ luôn có khả năng sinh sôi, sáng lập những nghĩa mới, bao hàmnghĩa hiển ngôn và nghĩa hàm ngôn, hay còn gọi là nghĩa đen và nghĩa bóng, nghĩagốc và nghĩa chuyển Nghĩa hàm ngôn, nghĩa bóng, nghĩa chuyển chính là nghĩatượng trưng Ví dụ, “mặt trời” tượng trưng cho lí tưởng, “giọt mồ hôi” tượng trưngcho nỗi vất vả, “nước mắt” tượng trưng cho nỗi đau khổ… Chính việc sử dụngnhững hình ảnh gợi sự liên tưởng đã làm nên nghĩa tượng trưng cho thơ ca
Trong thi ca, biện pháp tu từ quen thuộc mà chúng ta thường bắt gặp là ẩn dụ
và hoán dụ cũng được xây dựng trên nguyên lí chung là sự tượng trưng Đó là việclấy một hình ảnh này để gợi người đọc liên tưởng đến một hình ảnh, một vấn đề,một ý nghĩa khác Tượng trưng dựa trên mối quan hệ ở một khía cạnh nào đó đểsáng tạo nghĩa mới cho những hình ảnh không mới, vì thế nó khiến hình ảnh trongvăn chương không đi vào sự cũ mòn, nhàm chán Thông qua những hình ảnh ấy,người nghệ sĩ muốn gửi gắm một thông điệp, kiến tạo một khái niệm Giá trị của tácphẩm được tạo dựng như thế Nó vượt ra khỏi sự mộc mạc của lớp ngôn từ
Tượng trưng trong văn học là một dạng chuyển nghĩa Đó không phải là việcđưa ra các kí hiệu đơn giản, thô sơ, mà tượng trưng là đa nghĩa và mang tính hàmsúc Với một hình tượng nghệ thuật, việc vận dụng cả nghĩa đen và lớp nghĩa đằngsau nó đã tạo nên tính tượng trưng Trong các lĩnh vực nghệ thuật như hội họa, âmnhạc, điêu khắc, tượng trưng cũng được coi là thứ ngôn ngữ thứ hai Bởi vậy,
“Khái niệm tượng trưng vừa mang nghĩa rộng là một phạm trù thẩm mĩ, vừa
Trang 20được giới hạn lại để chỉ một phương thức chuyển nghĩa trong ngôn từ nghệthuật” [47, tr.1998] Để làm nên tính tượng trưng thì cần vật tượng trưng là một vật
cụ thể, có đầy đủ hình ảnh, đặc điểm, tính chất Vật này có thể nhìn thấy bằng mặt,cũng có khi chạm đến được bằng tay, cảm nhận được bằng đầy đủ các giác quan, và
có thể định nghĩa bằng khái niệm Vật này bắt buộc phải mang nhiều ý nghĩa, từ cáinghĩa cụ thể, nó có thể gợi lên nhiều liên tưởng, tức là khả năng hàm nghĩa của nó
vô cùng phong phú Tượng trưng chính là dùng sự vật này để ám gợi sự vật kia,
để nội hàm của sự vật được gợi mở với nhiều tầng ý nghĩa, khơi dậy liên tưởng,tưởng tượng của người tiếp nhận
Yếu tố tượng trưng trong thơ chính là sự kết hợp của cả nghĩa rộng và nghĩahẹp, nghĩa gốc và nghĩa chuyển, nghĩa hàm ngôn và nghĩa hiển ngôn như đã trìnhbày ở trên Yếu tố tượng trưng là sản phẩm của quá trình tìm tòi, sáng tạo, liêntưởng, lao động nghệ thuật gian nan của người nghệ sĩ Nếu với thơ lãng mạn, chấtlãng mạn nằm ở hình tượng; thì với thơ tượng trưng, yếu tố tượng trưng nằm ở rấtnhiều phương diện Đó là hình ảnh thơ đầy sức gợi, ngôn ngữ thơ hiện đại, nhịpđiệu biến động vô thường, mạch thơ nhảy cóc đứt nối bất định, tính nhạc thổn thứctrong từng câu chữ, thậm chí biểu đạt ở từng dấu chấm câu đầy ẩn ý Yếu tố tượngtrưng làm nên một thế giới thơ bí ẩn, vô thức và vô tận Ở đó, con người và sự vật
có mối tương giao tương hợp, trong cái vô thức lại là sự thổn thức Chẳng hạn,
trong bài thơ Tương ứng [PL1] của C Baudelaire, ông viết:
“…Rộng như đêm và bát ngát ánh mầuCho hương sắc cùng âm thanh đối đáp
Có hương thơm tươi nguyên da trẻ nhỏTiếng sáo dịu dàng, đồng cỏ xanh nonKhiến giàu sang và hãnh tiến héo hon,
Điều vô hạn cơ duyên này khai mởNhư oải hương, cánh gián với hương trầm,Hát trường ca ngây ngất của thân tâm.”
(Vĩnh An Nguyễn Văn Sơn dịch) [64]
Trang 21Đây là một trong những bài thơ tiêu biểu có giá trị như một tuyên ngôn của
C Baudelaire Yếu tố tượng trưng thể hiện qua những hình ảnh rất đỗi cụ thể như:
“đêm đen”, “ánh sáng”, “hương thơm”, “hương sắc”, “âm thanh”, “da trẻ nhỏ”,
“tiếng sáo”, “đồng cỏ”, “oải hương”, “cánh gián”, “hương trầm”, “nhựa hương”,
“thân tâm”…- những hình ảnh mà chỉ nhắc đến, người đọc ngay lập tức có thể hiểuđược nó là gì Tượng trưng ở chỗ nhà thơ liệt kê những hình ảnh này gợi sự tươnghợp của vạn vật trong vũ trụ Vũ trụ mênh mông, huyền diệu, vô định, nhưng bảnchất của nó là tất cả những gì tồn tại trong đó đều có một mối tương giao vô hình,
có một sợi dây liên kết đặc biệt Để cảm nhận mối liên hệ ấy, người đọc không chỉcần vận dụng các giác quan, mà còn cần đi sâu vào thế giới huyền bí của thần học
Tiếp cận yếu tố tượng trưng có thể nói là con đường để đi vào khám phá thế giớinghệ thuật của tác phẩm Thực chất yếu tố tượng trung đã tồn tại trước cả khi khái niệmchủ nghĩa tượng trưng ra đời Yếu tố tượng trưng là thủ pháp tư duy xuất hiện trong vănhọc từ bao đời nay Nhưng đến khi chủ nghĩa tượng trưng xuất hiện nó mới được gọi tên
cụ thể, được định nghĩa rõ ràng và được các nhà thơ vận dụng một cách cao độ Đó chính
là nhân tố không thể thiếu để làm nên sức gợi, làm nên giá trị của thi ca
1.1.3 Vai trò của yếu tố tượng trưng trong thơ
1.1.3.1 Mở rộng phạm vi cái đẹp
* Cái đẹp nằm bên trong sự xấu xí, chết chóc
“Cái đẹp” là phạm trù chỉ những giá trị thẩm mĩ tồn tại khắp mọi nơi: trongthiên nhiên, trong xã hội, ở con người, trong những sản phẩm vật chất và tinh thầncủa con người và cả trong nghệ thuật Cái đẹp tổng thể bao gồm cái đẹp bên trong
và cái đẹp bên ngoài là phạm trù trung tâm và cơ bản của mỹ học Cái đẹp, về gốcgác cơ sở đánh giá, có liên quan mật thiết với khái niệm hài hòa, là sự thống nhấtbiện chứng giữa các yếu tố tạo nên sự vật, mang lại cảm giác về sự thăng bằng,hoàn thiện và toàn vẹn
“Cái đẹp” là khái niệm thuộc về phạm vi của thẩm mỹ, văn hóa, tâm lý xãhội và xã hội học Chính vì thế mà ở mỗi vùng địa lí, mỗi phạm trù, hay ở tư tưởng
Trang 22của mỗi cá nhân, quan niệm về cái đẹp lại không giống nhau Một “vẻ đẹp lýtưởng” là một thực thể được ngưỡng mộ, hoặc sở hữu những đặc điểm được cho là
lý tưởng trong một nền văn hóa cụ thể Vì vậy mà mỗi quốc gia, mỗi vùng văn hóalại có những quan niệm không giống nhau về cái đẹp.Nhưng ở bất kì vùng văn hóanào, theo bất kì quan niệm nào, thì đối ngược với cái đẹp luôn luôn là cái xấu xí
Thi ca cổ điển quan niệm về cái đẹp rất quy chuẩn Đó là cái đẹp đóng khungtrong phạm vi của phong hoa tuyết nguyệt, cầm kì thi tửu, trong mắt biếc màyngài… Nói đến cái đẹp là nói đến cái gì đó thuần khiết, tươi sáng, không bị nhuốmmàu u ám, tiêu cực Đến thơ tượng trưng, quan niệm về cái đẹp đã vượt ra khỏinhững khuôn khổ ấy Yếu tố tượng trưng với đặc điểm gợi ra cả trường liên tưởng
đã mở rộng phạm vi cái đẹp Trong sáng, thánh thiện đương nghiên là đẹp, nhưngyếu tố tượng trưng khiến cái đẹp trong thơ không còn đối nghịch với cái xấu Có khicái đẹp tồn tại song hành cùng cái xấu như một lẽ tất yếu Cũng có khi người ta cóthể phát hiện cái đẹp nằm sau cái xấu xa, chết chóc Hành trình khám phá cái đẹp ẩngiấu là hành trình bóc tách những biểu tượng Thế nên thơ tượng trưng không phải
là thứ thơ chỉ cần đọc nên là hiểu ngay, mà nó buộc độc giả phải đồng hành cùng thinhân trong hành trình sáng tạo, với vai trò là người thụ cảm sau cùng
Nhà thơ tượng trưng C Baudelaire quan niệm rằng, cái đẹp có thể đến từ bất
cứ nơi nào trên thế giới: bất kể là thiên đường hay địa ngục, dù là thượng đế hayquỷ sa tăng, thánh thiện hay tội lỗi, niềm vui hay thảm hoạ, đến cả cái xác chết "thốihoăng" cũng toát lên một vẻ đẹp rực rỡ như một bông hoa vừa nở sớm mai, trongtiếng chuông rè kia lại vang lên những "âm thanh kính cẩn", quỷ sa tăng vẫn có thể
là "vị thiên thần hơn tất cả những thiên thần đẹp giỏi" C Baudelaire đã xoá nhoàranh giới giữa cái đẹp với cái ghê tởm, ca ngợi xác thịt với những câu thơ nặngnhục cảm, đưa cái ác vào phạm trù thẩm mĩ Theo ông, cái xấu cũng như cái đẹp,cái thiện cũng như cái ác, một khi được đưa vào tác phẩm nghệ thuật đều có thể gâynên những rung động thẩm mĩ ngang nhau
Trang 23Trong bài La Muse malade (Nàng Thơ nhuốm bệnh) [PL2], C Baudelaire viết:
“Nàng Thơ hỡi, sáng nay em sao thế?
Mắt em sâu chan chứa mộng không lànhTôi băn khoăn nhìn ngắm nước da xanh
Vẻ câm nín như điên cuồng, ghê sợ
Ma quái nào xanh và tiểu quỷ nào hồngLàm em sợ và vấn vương bình đựng cốt?
Ác mộng nào với nắm tay tàn khốcNhận em chìm vào Âm phủ hoang đường
Tôi muốn xông em mùi hương khoẻ mạnhCho vú xinh nuôi ý tưởng ngọt ngàoMáu tín đồ đạo hạnh sóng lao xao
Như đồng vọng nhạc xưa sầu tha thiếtNơi bậc thầy nhã nhạc hát dâng côngLên Thái Dương thần, và cả Thần Nông”
(Vĩnh An Nguyễn Văn Sơn dịch) [64]
Bài thơ này được rút từ tập thơ Hoa của nỗi đau (Les fleurs du mal) cũng là
minh chứng cho cách nhìn và cách diễn đạt về thế giới mới của nhà thơ Bài thơ
nằm trong phần thứ nhất Chán chường và lí tưởng (Spleen et idéal) Phần thứ nhất
này tập trung các tác phẩm đưa ra quan niệm về cái đẹp, nghệ thuật và người nghệ
sĩ Với danh hiệu “ông vua biểu tượng” của thơ Pháp, bài thơ đã được Baudelarevận dụng hàng loạt yếu tố tượng trưng Có thể thấy xuyên suốt bài thơ, những hình
ảnh tượng trưng được xây dựng theo thế đối lập Vế bên này là hình ảnh Nàng Thơ;
vế bên kia là một loạt những hình ảnh ghê rợn, gợi sự kinh hãi, chết chóc, tàn lụi:
“mộng không lành, nước da xanh, câm nín, điên cuồng, ghê sợ, ma quái, tiểu quỷ,bình đựng cốt, ác mộng, tàn khốc, âm phủ hoang đường, máu tín đồ, nhạc sầu ” Sự
Trang 24đối nghịch ấy đã đưa ra quan niệm của Baudelaire về nghệ thuật, cái đẹp và người
nghệ sĩ Nàng Thơ là yếu tố tượng trưng cho cái đẹp, cho nghệ thuật Cái đẹp và
nghệ thuật luôn ẩn chứa trong nó những mặt đối nghịch: thi vị và trần trụi, lãng mạn
và nhục thể, thiện và ác, sinh sôi và tàn lụi… Vai trò của người nghệ sĩ là nhìn rabản chất của sự sống nằm trong những mặt đối nghịch ấy Việc sử dụng yếu tốtượng trưng giúp người đọc nhận diện thông điệp về nghệ thuật và cái đẹp Cái đẹpvẫn hiện hữu đằng sau những ma quái, đằng sau những thứ tưởng chừng xấu xanhất Kể cả khi chết chóc cận kề, thì cái đẹp vẫn sống, như Nàng Thơ một mình đốidiện với hàng loạt những ghê rợn kinh người
Sử dụng yếu tố tượng trưng là mẫu số chung của thơ tượng trưng, nhưngkhông phải ai cũng có thể khai thác được toàn bộ ưu thế của nó trong sáng tạo Yếu
tố tượng trưng khiến thơ không còn là sự biểu lộ cảm xúc đơn thuần, mà đã đượcnâng lên thành những thông điệp mang tính nghệ thuật Yếu tố tượng trưng đưangười đọc đến những phát hiện độc đáo, mà cụ thể ở đây là phát hiện ra sự hiện hữucủa cái đẹp ở nơi xấu xa, chết chóc, nơi không ai ngờ đến nhất
* Cái đẹp tồn tại phi thực tế
Quan niệm thẩm mỹ của thơ tượng trưng được xác lập trên cơ sở tiếp nhận từhai nguồn cơ bản: thứ nhất là tư tưởng triết - mỹ của E Kant, A Schopenhauer vàthuyết thần cảm Đức; thứ hai là quan niệm “nghệ thuật vị nghệ thuật” của T.Gautier và thuyết “thuần văn học” của E Poe T Gautier với quan niệm “nghệ thuật
vị nghệ thuật” cho rằng, nghệ thuật không có giá trị thực dụng cho nên những thứ
vô dụng mới đẹp, những thứ có ích đều xấu Ông không đồng tình với việc coi nghệthuật là một thứ công cụ hay để truyền tải một phạm trù đạo đức Ông quan niệmnhiệm vụ duy nhất của thơ là mang lại mĩ cảm tuyệt đối trong lòng người đọc Còn
E Poe cho rằng thơ được viết ra chỉ vì thơ mà thôi! Với E Poe, thơ không lấy chânthực làm đối tượng mà lấy tự thân làm mục tiêu
Tiếp thu những quan niệm trên, các nhà thơ tượng trưng đã giải phóng thơkhỏi những ràng buộc của chính trị, xã hội và gạt bỏ cả chức năng giáo hoá ra khỏithơ Thơ chỉ phụng sự cho cái đẹp thuần túy Điều này đã làm thay đổi khá nhiềunhận thức của con người về cái đẹp
Trang 25Như đã nói ở trên, trong văn học truyền thống, bất kể là cái đẹp hay cái xấuthường bị trói buộc vào những chuẩn mực Ví như trong nghệ thuật tuồng hát bộicủa Việt Nam, việc sử dụng các kiểu vẽ mặt được quy ước để biểu hiện tính cáchnhân vật: mặt mốc là nịnh thần gian xảo; mặt trắng thường dành cho các nam, nữthư sinh; mặt đỏ là người xuất thân từ vùng biển, thuộc người trí tướng, nghĩa khí;mặt đỏ bầm cũng chỉ nhân vật trí tướng, sức mạnh hơn người nhưng là nhân vậtphản diện, hoang dâm vô độ; mặt đen chỉ người xuất thân từ miền núi, là võ tướng,tính khí nóng nảy Hay người con gái đẹp trong thơ cổ mặc định là vẻ đẹp băngthanh ngọc khiết, bế nguyệt tu hoa…
Nhưng đến thơ tượng trưng, tất cả những gì thuộc về quy phạm đã được phá bỏ.Yếu tố tượng trưng không gói trọn cái đẹp trong những chuẩn mực quen thuộc, mà nókhiến cái đẹp được bứt phá Cái đẹp trở nên phá cách, táo bạo, phi thường, thậm chí
còn trở thành phi thực tế Bài thơ tình buồn (I) [PL3] là một tác phẩm mà qua đó, độc
giả có thể thấy được phần nào vẻ đẹp phi thực tế mà C Baudelaire tôn thờ:
“ Anh không cần em hiền thục
Em hãy đẹp và hãy buồnNước mắt làm đẹp mặt hơnNhư sông làm đẹp thêm cảnh vậtGió bão làm hoa thêm xuân
Ta yêu em hơn khi cái vui khấn khởi
Xa lánh trán em, nặng u sầu;
Khi trái tim em chìm ngập sâu;
Trong khủng khiếp, khi trên hiện tạiCủa em, quá khứ giăng màn âm u
Ta yêu em khi đôi mắt to của em
Để những dòng lệ nóng như huyết;
Khi mặc dầu ta vỗ về, yêu em tha thiết,Nỗi lo lắng nặng nề của em vẫn kêu lên,Như tiếng rên la của người sắp chết
Trang 26Ta uống vào lòng ta, ôi khoái lạc thần tiên!
Bài ca êm đềm và sâu sắc!
Của ngực em, những tiếng thổn thức,
Và ta thấy như trái tim em sáng bừng lên
Vì những giọt lệ long lanh trong mắt!”
(Vũ Đình Liên dịch) [64]Bài thơ như một bức thư tình gửi đến người yêu Trong đôi mắt si tình củachàng trai, “em” chắc chắn là đẹp, là minh chứng cho cái đẹp Cái đẹp của “em”thật độc đáo, độc đáo đến kì lạ Đó không phải là cái đẹp khi em cười, mà lại là cáiđẹp khi em u sầu, khi em buồn, khi gương mặt em ngập tràn nước mắt, khi em lolắng, khi em thổn thức và đôi mắt em đầy nước Những câu thơ có đôi phần kinh dịbởi lối mượn hình ảnh thường thấy của thơ tượng trưng - những hình ảnh đầy chếtchóc: “quá khứ giăng màn âm u”, “những dòng lệ nóng như huyết”, “tiếng rên lacủa người sắp chết”, “những giọt lệ long lanh”
Xưa nay, tình yêu vẫn được nhắc đến với sự cao thượng khi những kẻ yêunhau sẵn sàng đánh đổi bản thân để người yêu được hạnh phúc, để thấy nụ cười trênkhuôn mặt người mình yêu Nó như một dạng chuẩn mực của tình yêu vậy Với C.Baudelaire thì khác Tình yêu dành cho người yêu của nhân vật trữ tình trong thơông được đẩy lên cao tỉ lệ thuận với nỗi sầu muộn của nàng Em càng buồn tôi càngyêu em Em càng buồn, trong tôi, em càng đẹp Từ cách bộc lộ tình yêu của bài thơ,
ta có thể thấy được phần nào quan niệm về cái đẹp của Baudelaire nói riêng và củathơ tượng trưng nói chung Cái đẹp không bị trói buộc bởi bất kì định nghĩa nào.Cái đẹp được tự do tồn tại ở bất kì nơi đâu Nó có thể bất định, phi lí, phi thực tế,đầy mâu thuẫn khó có thể lí giải, nhưng chỉ cần người cảm nhận thấy nó đẹp, cónghĩa là nó đẹp
C Baudelaire từng đưa ra quan niệm cho rằng cái đẹp là sự kì dị, kì dị một cáchngây ngô, không cố ý. Đây là ý kiến của thi nhân về hội họa, nhưng cũng là một nhậnđịnh có sự liên đới với văn chương, và đã được minh chứng trong chính những bài thơcủa C Baudelaire Thơ tượng trưng cho phép cái đẹp kì dị, phi thực tế tồn tại
Trang 27Đến với thơ của nhà thơ Trung Quốc Cố Thành – một trong những cây bút tiênphong của trào lưu thơ Mông lung, chúng ta cũng bắt gặp cái đẹp tồn tại phi thực tế
được xây dựng bởi các yếu tố tượng trưng Chẳng hạn, bài thơ Cái đẹp [PL4]:
“Cái đẹp mà tôi hằng khao khát
Là vĩnh hằng nếu so với cuộc sốngCái đẹp của cuộc sống không ngừng biến đổi
Và cuối cùng cũng chỉ là tro bụi thôi”
(Thân Trọng Sơn dich) [65]
Bài thơ thể hiện tình yêu tha thiết với cái đẹp Con người vẫn say đắm vẻ đẹptrên đôi má non tơ của người thiếu nữ, vẻ đẹp trong đôi mắt trong veo trẻ thơ, hay
vẻ đẹp của cỏ cây hoa lá mơn mởn xuân thì Nhưng với nhà thơ có cái nhìn độc đáonhư Cố Thành, thì cái đẹp hiện hữu trong mắt ông cũng thật khác Đâu có mấy ainhìn thấu được cả cái đẹp trong lụi tàn như ông Trong bài thơ, yếu tố tượng trưng
được thể hiện rõ nhất ở hình ảnh: cái đẹp vĩnh hằng Khát vọng hướng tới cái đẹp,
chiêm ngưỡng cái đẹp, tận hưởng cái đẹp là khát vọng chân chính muôn đời của conngười Cái đẹp khiến người ta rung động, và cái đẹp khiến người ta có thể trở nênyếu lòng Ấy vậy mới có chuyện “nhất tiếu khuynh thành”, anh hùng khó qua ải mĩnhân Cố Thành cũng không nằm ngoài quy luật đó Tình yêu mà ông dành cho cáiđẹp đã được khẳng định ở bài thơ này Ông cho rằng cuộc sống thì luôn biến đổi,nhưng cái đẹp mà ông hằng khao khát thì tồn tại vĩnh hằng Rõ ràng, thời gian chảytrôi, đứng trước quy luật băng hoại của tạo hóa, chẳng có cái đẹp nào là bất tử Máhồng thiếu nữ rồi sẽ có ngày tàn phai, trẻ thơ rồi sẽ đến ngày không còn thơ trẻ, mùaxuân chỉ hiện hữu ngắn ngủi trong mấy tháng trời Sự vĩnh hằng mà Cố Thành nhắcđến có phần phi thực tế Không phải nhà thơ không nhìn ra dòng chảy của thời gian.Ông hiểu, cái đẹp của cuộc sống này biến đổi không ngừng, tất cả rồi sẽ thành trobụi Sở dĩ chỉ có cái đẹp trong lòng thi nhân là còn mãi, là bởi vì ông cho nó cáiquyền được như vậy
Trang 28Chúng ta có thể lí giải cho cái đẹp phi thực tế mà Cố Thành nhắc đến, đóchính sự bất biến của tình yêu con người Cuộc sống biến đổi, vạn vật đều đổi thay.Nhưng một khi con người có tình yêu mãnh liệt, thì trong tro tàn vẫn hiện hữu cáiđẹp, và không gì làm cái đẹp ấy tan biến được Nó bất tử vì người say đắm nó cho
nó quyền được bất tử Như vậy, có thể thấy, cái đẹp bất tử phi thực tế mà Cố Thànhnhắc đến trong bài thơ là minh chứng cho tình yêu bất biến, vững vàng của chínhngười nghệ sĩ Lòng yêu sẽ khiến phi thực tế trở thành thực tế, biến điều không thểthành có thể Nhà thơ đã sử dụng yếu tố tượng trưng rất tự nhiên để bộc lộ quanđiểm của mình Với yếu tố tượng trưng ấy, độc giả đã phát hiện được cái đẹp tồn tạiphi thực tế, nhưng hoàn toàn phù hợp với lí thuyết của tình yêu con người
Văn học nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng đều bắt rễ từ đời sống.Nhưng thế giới tinh thần và khả năng sáng tạo của người nghệ sĩ là vô cùng, vô tận
Vì vậy, trong thi ca người ta chấp nhận cả những thứ dường như không có thật Cáiđẹp bao đời nay đã được con người định nghĩa và tìm kiếm, nó không còn là cái gìquá mới mẻ hay gợi sự tò mò Nhưng thơ tượng trưng với đặc quyền của mình là sửdụng các yếu tố tượng trưng đã tạo ra những giới thuyết hoàn toàn mới về cái đẹp
Có mông lung bất định, có phi thực tế, có mơ hồ khó hiểu, nhưng tất cả đều đượcgiải thích một cách hợp lí bằng các yếu tố tượng trưng Thế giới thơ vì thế mà càngthêm phần thu hút độc giả
1.1.3.2 Giúp độc giả cảm nhận thơ một cách đa diện
* Cảm nhận thơ bằng tất cả các giác quan
Muôn đời nay, thơ vẫn là nói ít gợi nhiều Hành trình tiếp nhận thơ khônggiống như việc ăn một món ăn đã được chế biến sẵn Mà nó biến mỗi độc giả thànhmột đầu bếp đại tài, thành chủ nhân của một món ăn Họ phải chuẩn bị từng khâutừng bước mới cho ra thành phẩm là một món ăn tuyệt mĩ Cũng như thưởng thứcthơ phải thưởng thức bằng mắt nhìn, bằng đôi tai để nghe nhịp điệu, thanh sắc, bằngkhối óc để đi tìm chân lí, và bằng trái tim để cảm nhận cái tình mà người nghệ sĩ gửigắm Đặc biệt với thơ tượng trưng, khi mỗi hình ảnh đều mang tầng tầng lớp lớp ý
Trang 29nghĩa, thì độc giả buộc phải mở rộng tất cả các giác quan để cảm nhận thơ một cáchtrọn vẹn nhất.
Ngoài ra, nhạc tính và họa tính cũng là một yếu tố tượng trưng thường gặptrong thơ tượng trưng Hai yếu tố này khiến người đọc tiếp nhận thơ bằng trí tưởngtượng, bằng khả năng cảm âm riêng của mỗi người Vậy nên, cùng một thi phẩm màngười yêu thích, kẻ dửng dung; người say mê, kẻ lạnh nhạt
Paul-Marie Verlaine là một trong những nhà thơ lớn nhất của Pháp ở thế kỷXIX Ông được xem như ông tổ của phong trào thơ tượng trưng và là người sángtạo nghệ thuật thơ mới, phục hồi mối liên hệ với thơ ca dân gian, giữ gìn truyềnthống nghệ thuật của thơ ca Pháp Một trong những bài thơ tiêu biểu của P Verlaine
là bài Thu ca [PL5]:
“Vĩ cầm nức nởTiếng thuLòng ta một mốiSầu tư
Khôn cầm
Giờ tàn nghĩ tủiChiếc thânNhớ ngày vui cũ
Âm thầm
Lệ rơi
Ra đi trận gióTơi bờiCuốn theo đây đó
Rã rời
Lá khô”
(Trần Mai Châu dịch) [64]
Trang 30Bài thơ này nằm trong tập thơ được giới chuyên môn đánh giá rất cao - tập
Tình ca không lời viết của P Verlaine (xuất bản năm 1874) Đọc thơ P Verlaine,
người đọc cảm nhận được một giọng thơ tinh tế, du dương như những lời ru vớinhững cảm xúc mơ mộng tựa như không có thực Phong cảnh trong thơ ông rất đẹp,gợi người đọc như được thấy ánh sáng của những ngọn đèn đường, cái mờ mịt củasương mù, ánh sáng le lói của mặt trời một ngày mù sương Để thơ mà như nhạc vànhư họa, P Verlaine đã sử dụng ngôn ngữ như người nghệ sĩ chơi trò tung hứng tạo
sự biến động của giai điệu Các câu thơ được cắt, được sắp, được vắt dòng nhưnhững lời thủ thỉ bên tai vậy Lối làm thơ độc đáo, nhất là về nhạc điệu đã khiến chocác nhà phê bình gọi ông là người làm một cuộc “phát minh” về thơ
Rõ ràng, để cảm nhận Thu ca, độc giả chỉ nhìn, chỉ nghe thôi chưa đủ, mà
còn cần thả tâm trí theo từng dòng thơ, mở rộng các giác quan để cảm từng câu thơ.Tiếng vĩ cầm nức nở như tiếng lòng của người nghệ sĩ lang thang muôn đời sầumuộn Bên cạnh tiếng vĩ cầm, ta còn như nghe thấy tiếng gió rít, tiếng lá khô xàoxạc, đều là những âm thanh nguội lạnh, gợi cảm giác trống vắng đến vô cùng Cáithú vị nhất của bài thơ bên cạnh giá trị nội dung có lẽ chính là ở nhạc tính Nhữngcâu thơ ngắn và cực ngắn, như tiếng khóc, lại như nhịp bước chân của người nghệ sĩlãng du trong cuộc hành hương, đã thấm thía nỗi mệt nhoài P Verlaine dường như
đã phá vỡ mọi gông xiềng của phép làm thơ, để viết nên những dòng thơ tượngtrưng có cả nhạc, cả họa Muốn cảm bài thơ, người đọc cũng phải ngân nga theonhạc điệu của từng câu thơ, cũng phải thầm phác họa một bức tranh mùa thu trời Âuđiển hình Vậy mới nói, yếu tố tượng trưng khiến độc giả phải cảm nhận thơ bằngtất cả các giác quan
Thơ tượng trưng giàu tính nhạc và có cả tính họa Nhưng không chỉ gói gọntrong tính nhạc – họa, thơ tượng trưng còn có khả năng thức tỉnh xúc giác, khứugiác của người đọc, khiến chỉ đọc thôi mà độc giả tưởng như có thể chạm vào cảchủ thể trữ tình trong tác phẩm, ngửi thấy được mùi thơm của cỏ cây hoa lá, của
Trang 31thanh sắc Baudelare là nhà thơ có biệt tài như vậy Trong bài thơ Parfum exotique (Hương thơm ngoại lai) [PL6], ông viết:
“Nhắm mắt lại, trong đêm thu ấm áp,Hít mùi hương bầu ngực ấm của em,Tôi thấy trải rộng ra bờ hạnh phúcÁnh mặt trời toả rạng chói ngời lên
Một hòn đảo yên bình, nơi thiên nhiên ban tặngQuả thơm nồng trên những tán cây xanh,
Những chàng trai dong dỏng cao, khoẻ mạnh,Thật ngạc nhiên, mắt cô gái chân thành
Hương của em dẫn tới nơi mê đắmThấy cảng kia, đầy những cột buồm,
Đã rã rời vì sóng của đại dương
Khi những trái me xanh quyến rũHương ngạt ngào đưa tới bên tôi,Rộn trong tim, tiếng ca người thuỷ thủ”
(Phạm Thanh Cải dịch) [64]
Đây là bài thơ được khơi nguồn từ mối tình của C Baudelare với J nguồn cảm hứng lớn nhất trong cuộc đời Baudelare J Duval là một nữ diễn viênngười lai vô cùng xinh đẹp, gợi cảm, có biệt danh là Venus đen Thi phẩm đã thểhiện những rung động mãnh liệt trong các giác quan và tâm hồn của C Baudelarekhi bắt gặp vẻ đẹp của J Duval Cảm nhận bài thơ cũng đòi hỏi người đọc phải mởrộng các giác quan của chính mình
Duval-Ấn tượng đậm nét nhất về vẻ đẹp của Jeanne Duval được Baudelare khắc họatrong bài thơ đó là bầu ngực và mùi hương Đặc biệt, mùi hương của nàng như mở
ra một cuộc hành trình đến một vùng biển ấm nóng, rạng rỡ Đó là nơi có ánh mặt
Trang 32trời tỏa rạng, có một hòn đảo yên bình với những thứ quả nồng, những chàng trai,
cô gái khỏe khoắn, tràn trề sức sống Mùi hương ấy còn gợi ra những bến cảng, gợi
ra những cột buồm, gợi ra cả vị chua của trái me xanh Baudelare đã dẫn dắt ngườiđọc khai phóng khứu giác của mình đến cực độ, thậm chí còn liên đới đến cả vịgiác Nét độc đáo của thi nhân ở đây chính là làm cho trí tưởng tượng được mở rabằng khứu giác Yếu tố tượng trưng mùi hương đã gợi ra mùi của nắng, của gió, củabiển, của hoa trái Vị giác của người đọc cũng được tác động với hình ảnh trái mechua Xúc giác cũng như được tác động ở sự mềm mại, mơn mởn trong hình ảnhbầu ngực của người thiếu nữ Mùi hương của Jeanne Duval, bầu ngực của JeanneDuval không còn là đối tượng của nhục dục như người đời vẫn tưởng Mà chúng đãđược nâng lên thành những biểu tượng, nơi khơi nguồn cho cảm hứng sáng tạo nghệthuật, và là minh chứng cho tình yêu cái đẹp Nhờ có chúng mà mới có những thiphẩm để đời
Thơ ca là loại hình nghệ thuật sơ khai nhất của loài người Không có cốttruyện, không có tình huống, không bề thế lớp lang như truyện ngắn hay tiểu thuyết,nhưng thơ ca vẫn có sức lôi cuốn đặc biệt với người đọc Có lẽ là bởi khả năngtruyền tài những cảm xúc mãnh liệt, ca từ âm điệu dễ dàng đi vào trí nhớ và tâmthức con người Đọc thơ, cảm thơ không phải là việc dễ dàng Quá trình này buộcngười đọc phải tự xây dựng cả trường liên tưởng, phải hóa thân vào chính ngườilàm thơ Với thơ tượng trưng, quá trình này càng nhọc nhằn Vì hình ảnh trong thơtượng trưng thì tầng tầng lớp lớp ý nghĩa, nhịp điệu trong thơ tượng trưng thì biếnđổi vô cùng Các yếu tố tượng trưng khiến người đọc phải thức nhọn mọi giác quan
để cảm nhận giá trị của thi phẩm một cách trọn vẹn nhất Hai bài thơ trên đã chứngminh được vai trò của yếu tố tượng trưng trong việc đưa người đọc đi tiếp nhận thơ
* Cảm nhận thơ trong sự vô thức
Vô thức là cái thuộc về phần tiềm thức của con người Theo Phân tâm học,những sáng tạo nghệ thuật hay phát minh khoa học đều được phát xuất từ cõi vôthức Các nhà triết học từ trước thế kỉ XIV đã từng cho rằng vô thức là một sự linhcảm thần thánh, là một trực giác siêu nhiên mà Chúa ban cho những nhà thơ Nó
Trang 33thuộc về phần tiềm thức của con người Đại thi hào Đức Goethe đã thể hiện thái độtrân trọng với việc làm thơ trong trạng thái vô thức khi cho rằng trong trạng thái vôthức, sức mạnh của trí tuệ và lí tính đều mất tác dụng.
Tuy không có nhiều công trình nghiên cứu về vô thức trong sáng tạo vănhọc, nhưng những ý kiến rải rác trong các tác phẩm của mình, S Freud – nhà tâm líhọc người Áo, chủ nhân của thuyết phân tâm học cho rằng những nhà nghệ sĩ lànhững người tìm vào vô thức dễ dàng nhất Nghệ thuật với ông là thứ gì đó thậtthần diệu và người nghệ sĩ được ví như người có ma thuật Theo S Freud, vô thức
là những sự kiện tâm linh cá nhân, chìm khuất trong góc tối của thế giới nội cảm vàkhông bao giờ có ở dạng tồn tại biểu hiện, không thể dùng ý chí để điều khiển được
Nó là động cơ tiềm ẩn, có khi trở nên mãnh liệt, thôi thúc hành động đến mứckhông kiểm soát được, không hợp với lý trí Vô thức quyết định đến sự hình thànhcác khuynh hướng ở con người Trong vùng vô thức luôn diễn ra cuộc xung đột
giữa bản năng và bản ngã, giữa phần con và phần người cùng bản năng bị dồn nén
lại trong hàng rào kiểm duyệt (censure) không cho vượt lên tầng ý thức được
Trong văn học, người nghệ sĩ sáng tạo nghệ thuật trong trạng thái vô thức tựanhư có những âm thanh vang bên tai, có những sự tiếp xúc trên thân thể, có nhữnghình ảnh hiện hữu trước mắt, có những xúc cảm từ bên trong nội tâm mà chính họ
cũng không lí giải được Vô thức trong sáng tạo văn học có khi được lí giải bằng
những điều ám ảnh từ thực tại khách quan mà nhà văn đã từng trải qua và có tácđộng cực kỳ to lớn đến nhận thức của nhà văn Thực tại ấy đã tạo ra những ám ảnh
Ám ảnh ấy có thể rơi vào quên lãng nhưng là quên lãng ở trạng thái tạm thời, sẽ cólúc nó trỗi dậy và bộc phát ra ngoài bằng những hình ảnh tượng trưng trong thi ca.Đồng thời với những ám ảnh tuổi thơ và bi kịch cá nhân của nhà văn, thì vô thứccòn có thể là do bản năng, hay nói cách khác là linh cảm trực quan của nhà văn quánhạy bén
Với thơ tượng trưng, các nhà thơ có một sự giao cảm đặc biệt với thế giớitâm linh, và họ thường xuyên làm thơ trong trạng thái vô thức Trạng thái ấy dẫn dắt
họ vào thế giới tâm linh huyền bí Hoạt động làm thơ được xem là một hoạt động
Trang 34mang tính thần cảm Làm thơ là liên hệ giữa cái hữu hình và vô hình, người làm thơ
có nhiều vụ khai phá những gì thuộc thế giới bên trong Thế giới bí ẩn nằm sau lớp
vỏ câu chữ trong thơ tượng trưng là thế giới được phát hiện ra một cách vô thức bởi
sự quan sát của thi nhân Người nghệ sĩ như vậy, thì độc giả cũng cần khám phá thơ
ở tầng sâu, cảm nhận thơ ở cả hai mặt Mặt thứ nhất là mặt thực thể, lí trí Mặt thứhai là mặt vô thức, ở một nơi sâu thẳm, thiêng liêng, vô tận Cảm nhận thơ trong sự
vô thức, gạt bỏ hoàn toàn lí trí và sự tỉnh táo sẽ giúp độc giả phát hiện những thứkhông dễ gì thấy được ở thế giới bên ngoài
C Baudelaire là người đầu tiên gợi ra cách cảm nhận thế giới thơ trong sự vôthức Đó là những cảm quan tương ứng, tương hợp, đặc trưng của tư duy thơ Ví dụ
như bài thơ Spleen – Chán đời [PL7] của ông.
“Trời trũng thấp như chiếc vung nặng trĩu
Đè lên hồn rền rĩ nỗi buồn daiXiết vòng quanh là chân trời vây kínRót ngày đen sầu thảm hơn đêm dài
Mặt đất biến thành nhà tù ẩm thấpNơi chốn mà Cuồng Vọng tựa cánh dơiBức tường ngăn rụt rè đôi cánh đậpChạm đầu va trần mục nát tả tơi
Từng vạt lớn cơn mưa tràn vung vãiTựa khung tù song sắt rộng thênh thangGhê gớm quá lặng câm nhìn đàn nhệnTận óc mình thả lưới bủa vây giăng
Trong bất chợt cỗ chuông reo phẩn nộThất kinh người tiếng hú vọng lên trờiKhông tổ quốc tựa linh hồn lang bạtPhàn nàn than dai dẳng chẳng ngừng thôi
Trang 35Đoàn xe tang chạy dài không chiêng trốngQua hồn tôi bước chậm Hy Vọng tàn …
Òa lên khóc, Kinh Hoàng và áp chếTrên đầu tôi nghiêng gục cắm cờ đen ”
có thể cảm được thế giới mà Baudelaire đề cập đến Đó là một thế giới nặng nề,chứa đựng những nỗi buồn dai dẳng không thể lí giải Ở thế giới ấy, ngày dài hơnđêm, “mặt đất như một nhà tù lớn” với những “con dơi”, những “đàn nhện” gợi cảmgiác ghê người Thế giới ấy không còn gì ngoài sự mục nát, tả tơi Đỉnh cao của sự
ám ảnh là hình ảnh “đoàn xe tang”, với những “tiếng hú” không biết từ đâu vọnglại, là lá cờ đen minh chứng cho một hy vọng đã lụi tàn Đây đều là những hình ảnhtượng trưng cho sự mất mát, địa ngục, cái chết, gợi cảm giác hãi hùng, ghê sợ Thếgiới mà Baudelare khắc họa ở đây dường như là chốn địa ngục chứ không phải nơicon người đang sống Chắc chắn thế giới ấy xuất hiện khi thi nhân đang chìm đắmtrong sự vô thức, trong những ám ảnh Độc giả nào có ai đã xuống được chốn địangục để trải nghiệm, thế nên để cảm nhận bài thơ, chỉ có cách đặt mình vào vị trícủa nhà thơ, đắm mình trong trạng thái vô thức Khi ấy, tâm trí không bị chi phốibởi thực tại, bởi những hình ảnh có thực, ta sẽ chấp nhận và hiểu được thế giới kháctrong thơ tượng trưng mà nhà thơ tạo dựng Với Baudelaire, tâm trạng spleen – ámảnh, chán chường không phải chỉ là một sự buồn chán đơn giản, nhẹ nhàng Trái lại
nó là nỗi đau đớn dằn vặt trong tâm hồn Người nghệ sĩ đau đáu về giá trị của bảnthân, về quá trình mình hiện diện trong đời sống Ông cảm thấy sự hiện hữu củamình là không thích đáng Tâm trạng ấy khiến thơ Baudelare có những địa ngục nơitrần thế, tưởng chừng vô lí nhưng lại hợp lí Địa ngục ấy chỉ có thể được cảm nhận
ở trạng thái vô thức, tức là khi người đọc rũ bỏ hoàn toàn mọi ý niệm về cuộc sống
Trang 36nhiều lí tưởng ở cuộc đời, để rồi khi lí tưởng không thành, ông thất vọng, tuyệtvọng, sợ hãi thậm chí là ghê tởm cuộc sống Lý tưởng càng lớn lao thì đổ vỡ càngkhủng khiếp, và người nghệ sĩ càng gánh chịu nhiều tai họa.
Yếu tố tượng trưng đã kiến tạo trong thơ C Baudelaire và không ít nhà thơsau ông một thế giới kì dị, ma quái, một thế giới mà không phải ai cũng có thể thấuhiểu Để đi vào tận cùng thơ của những nhà thơ như thế, người đọc chắc chắn cầnxóa bỏ mọi quan niệm, rào cản, giới thuyết, cảm nhận thơ một cách vô thức nhất,bản năng nhất
1.1.4 Yếu tố tượng trưng – một trong những đặc trưng của Thơ mông lung
1.1.4.1 Phơi bày một thế giới khác trong thơ
Thơ Mông lung ra đời từ năm 1979, khởi nguồn từ những bài thơ in trên tạp
chí Ngày nay do Bắc Đảo, Mang Khắc, Hoàng Nhuệ sáng lập, và đạt đến cao trào
vào những năm 80 của thế kỉ XX Đây là trào lưu thơ ca đã tạo ra bước chuyểnmình kì tích cho thơ hiện đại Trung Quốc Những tên tuổi được lưu dấu cùng tràolưu thơ này có thể kể đến Bắc Đảo, Thư Đình, Giang Hà, Cố Thành, DươngLuyện… Với sự phát triển ở cả quy mô và tốc độ, thơ Mông lung được nhiều nhàphê bình đương thời như Tạ Miện, Tôn Thiệu Chấn, Lưu Đăng Hàn, Ngô Tư Kính,Dương Khuông Hán, Lý Lê, Châu Tiên Thụ, Trần Trọng Nghĩa, Từ Kính Á… khích
lệ và cổ vũ, khẳng định đây là “sự trỗi dậy của một mặt trận mới” [59, tr.6-17], “sựtrỗi dậy của một nguyên tắc mĩ học mới” [60, tr 67-76] tạo nên một bầu không khíthuận lợi cho sự phát triển của văn học
Các nhà thơ Mông lung đa phần đều là những nhà thơ được tiếp xúc với lànsóng tượng trưng từ thơ ca Pháp và các nước châu Âu Thơ họ là sự hòa trộn kinhnghiệm sống và ngôn ngữ thể nghiệm Tất cả thủ pháp nghệ thuật hiện đại đều đượckhai thác và vận dụng tối đa trong thơ Mông lung, tạo ra những thi phẩm có tínhsiêu thực đậm nét Cho nên có thể nói, yếu tố tượng trưng đã trở thành một trongnhững đặc trưng của thơ Mông lung
Với bản chất là mượn một hình ảnh cụ thể để biểu tượng cho cái trừu tượnghơn, gợi nên ý nghĩa sâu sắc, yếu tố tượng trưng đã tạo cho những bài thơ Mônglung trường liên tưởng Ra đời trong thời kì văn học nghệ thuật nằm trong vòngkiểm duyệt gắt gao, khi thơ không thể nói thẳng, thì yếu tố tượng trưng đã giúp
Trang 37người nghệ sĩ thông qua những hình ảnh tượng trưng đơn sơ, mộc mạc dễ dàngtruyền tải thông điệp của mình Với thơ Mông lung, yếu tố tượng trưng là nhân tốchủ đạo để trào lưu này lách qua những rào cản, phơi bày một thế giới khác – mộtthế giới khác xa những gì đang diễn ra trước mắt chúng ta Có thể lấy ví dụ qua mộttác phẩm của nhà thơ Cố Thành – cây bút chủ xướng của trào lưu Mông lung thi,với một cuộc đời dị biệt và những vần thơ từng làm độc giả Trung Quốc cũng như
độc giả thế giới ngỡ ngàng Đó là bài thơ Một lớp người [PL8]:
“Đêm đen cho tôi đôi mắt đenNhưng tôi vẫn dùng mắt để tìm kiếm ánh sáng.”
(Thân Trọng Sơn dịch) [65]
Bài thơ ngắn ngủi chỉ có hai dòng, nhưng khi được công bố với độc giả trên
tạp chí thơ Tinh Tinh (số 3/1980) nó đã tạo nên một tiếng vang lớn trên thi đàn
Trung Quốc Lúc bấy giờ, đối với trào lưu Thơ mông lung, người khen cũng lắm, kẻchê cũng nhiều Tuy nhiên khi bài thơ xuất hiện, kể cả những người yêu mến hayphủ định phái thơ đều đồng thuận trong việc công nhận giá trị của bài thơ và khâmphục người sáng tác ra nó
Yếu tố tượng trưng được sử dụng trong bài thơ là hình ảnh “đêm đen, đôimắt đen” Màu đen vốn dĩ là màu sắc gợi cho con người cảm giác u ám, tăm tối.Màu đen còn là màu tang tóc, màu của sự chết chóc Không gian đêm còn gợi thếgiới ảo mộng – thế giới từng được ca tụng rất nhiều trong thơ Đó là thế giới huyền
bí, đẹp đẽ và đầy hy vọng Nhưng thế giới mà Cố Thành đề cập đến qua hình ảnhtượng trưng “đêm đen” lại là một thế giới tăm tối, hắc ám, nặng nề Màu đen baophủ như nuốt chửng tất cả. Thế giới ấy hẳn cũng cất giấu vô vàn những bí mật xấu
xa Như một sự hô ứng với hình ảnh “đêm đen” là hình ảnh “đôi mắt đen” Đôi mắtvốn dĩ được dùng để nhìn nhận các sự vật, hiện tượng của đời sống “Đôi mắt đen”trong bài thơ mang ý nghĩa biểu tượng cho sự kiếm tìm, sự phát hiện Kiếm tìm điềugì? Ai đang tìm kiếm? Câu trả lời được mở ra ở câu thơ thứ hai, cũng là câu thơcuối cùng của bải thơ Đó là “tôi” đang kiếm tìm, và “kiếm tìm ánh sáng” “Tôi” làhình ảnh tượng trưng cho một lớp người, một thế hệ trẻ, là gương mặt đại diện chonhững kẻ lớn lên trong đêm trường tăm tối Hành trình trưởng thành của những con
Trang 38người như “tôi” là cuộc hành trình chẳng hề dễ dàng Họ oằn mình gánh những giátrị cũ, cũng oằn mình đón nhận những giá trị mới, để rồi phải gắng gượng biết baonhiêu để khẳng định giá trị của bản thân Họ trưởng thành trong một thế giới đầyloạn lạc, trong một môi trường đang bị con người tàn phá, trong chiến tranh, trongbộn bề những hoang mang với chính đồng loại của mình, khi thật – giả, tốt – xấu,đúng – sai đều rơi vào hỗn loạn Trong những bức bối ấy, tôi – họ vẫn “kiếm tìmánh sáng” “Ánh sáng” ở đây là hình ảnh tượng trưng cho những điều nhân văn, tốtđẹp, những điều có thể thay đổi thế giới này, làm cho “đêm đen” không chỉ có màuđen tuyệt vọng Thế hệ trẻ đứng trước sự tăm tối mà không tuyệt vọng, vẫn giữtrong mình khát vọng tìm ra một con đường sáng Họ ý thức được mình chính làchủ nhân của thế giới này, vận mệnh của thế giới nằm trong tay họ, và hành trình
“kiếm tìm ánh sáng” là hành trình không thể buông xuôi
Một cây bút xuất sắc khác của trào lưu Mông lung thi là nhà thơ Bắc Đảo.Người đọc cũng có thể thấy việc ông sử dụng yếu tố tượng trưng để khắc họa một
thế giới khác Ví như bài Văn tự [52, tr.28]
“Khởi sự với dòng nướckết thúc với suối nguồn
một trận mưa kim cương
xé toang thật tàn nhẫnthế giới pha lê này
mở những nắp cống, mởđôi môi đàn bà
xăm trên cánh tay một người đàn ông
mở cuốn sách này, những nét chữ đã phai nàyphế tích
có trọn vẹn một đế quốc”
(Diễm Châu dịch) [62]
Bài thơ được Bắc Đảo sáng tác vào những năm tháng đầu trong hành trình
Trang 39lưu vong dài hơn 20 năm của mình Sự kiện Thiên An Môn diễn ra vào tháng6/1989 là cú huých dẫn đến quyết định xa xứ của Bắc Đảo Đây cũng là sự kiện tácđộng mạnh đến tư tưởng của một trí thức khao khát tự do bất bình khi tự do bị kìmhãm Dấu vết của sự bất bình ấy in dấu khá rõ nét trong những sáng tác của BắcĐảo giai đoạn này Bài thơ này là một trong số đó Hệ thống hình ảnh tượng trưng
được Bắc Đảo sử dụng dày đặc xuyên suốt cả bài thơ Đó là hình ảnh “dòng nước,
suối nguồn, trận mưa kim cương, thế giới pha lê, mở những nét chữ, mở đôi môiđàn bà xăm trên cánh tay một người đàn ông, cuốn sách – những nét chữ đã phaimàu, phế tích, trọn vẹn một đế quốc”
Nước là một trong hai nhân tố khởi nguyên tạo nên sự sống Nước đại diệncho sức mạnh bền bỉ, dẻo dai bởi khả năng biến đổi muôn hình vạn trạng, vốn dĩ làchất lỏng, khi lại hóa chất rắn là băng đá, có khi lại thành hơi nước tan biến vàothinh không Nước có khả năng vượt qua những địa hình hiểm trở, đó cũng là cuộchành trình để “dòng nước” trở thành “suối nguồn”, từ cái nhỏ bé thành cái lớn lao,
bề thế Khát vọng mang cái cá nhân hòa vào cộng đồng để trở thành suối nguồn cao
cả, tưới mát cho đời cũng là khát vọng đẹp đẽ của thế hệ thanh niên thời bấy giờ.Nhưng khát vọng ấy đã bị dập tắt bởi “trận mưa kim cương” Hình ảnh “trận mưakim cương” có lẽ là hình ảnh tượng trưng cho sự hà khắc của chế độ Để rồi trậnmưa ấy đã xóa tan “thế giới pha lê” – thế giới của những mộng ước tốt đẹp, thế giớicủa tự do, công bằng mà tuổi trẻ khao khát Những hình ảnh tượng trưng tiếp theo
mà Bắc Đảo sử dụng là: “mở những nắp cống” và “mở đôi môi đàn bà xăm trêncánh tay một người đàn ông” Cống ngầm đâu phải là nơi đẹp đẽ, thơm tho “Trậnmưa kim cương” ấy không chỉ làm tan vỡ những khát vọng, mà còn phơi bày những
gì không đẹp đẽ, không thơm tho đang bị cất giấu như giấu dưới lớp cống ngầm.Mọi chế độ đều tồn tại những mặt trái phải dường như Bắc Đảo đang muốn mở ramặt trái của chế độ đã xóa tan “thế giới pha lê” của ông và những người cùng khátvọng với ông Hình ảnh tượng trưng được Bắc Đảo sử dụng đồng đẳng với nắpcống là hình ảnh đôi môi đàn bà xăm trên cánh tay một người đàn ông Không phảicái miệng – vật dùng để nói, để phát ngôn, mà là đôi môi, mà lại chỉ là “hình xăm
Trang 40đôi môi” Hình xăm vốn dĩ chỉ là một hình vẽ trên thịt da, hình xăm không biết nói,không biết kể Nhưng “trận mưa kim cương” đã khiến “hình xăm đôi môi” phải mở,
nó không còn là hình xăm nữa rồi Nó đã trở thành cái miệng, đã có thể cất tiếng nóiphản kháng, bất bình Điều đó càng chứng tỏ trận mưa kim cương mà Bắc Đảomuốn nói đến là một sự kiện mang tính chất thời đại Nó đã phơi bày mặt trái của cảmột xã hội, một chế độ Nó gây chấn động mạnh mẽ khiến những vật tưởng chỉ cóthể lặng im cũng muốn cất lời
Cuối cùng, Bắc Đảo đã kết luận: “trận mưa kim cương” ấy còn mở ra “mộtcuốn sách – những nét chữ đã phai màu”, còn lại “phế tích là một đế quốc” Đấtnước Trung Hoa vẫn tự hào về nền văn minh sông Hoàng Hà, tự hào với kho sử bềthế, tự hào vì từ thủa sơ khai, Trung Hoa đã được coi là một cường quốc NhưngBắc Đảo đã nhìn ra trong “cuốn sách” – tượng trưng cho những trang sử được ghichép lại ấy “những nét chữ đã phai màu” – tượng trưng cho thời gian chảy trôi Lịch
sử đã qua đi rất lâu, rất lâu Xã hội đã thay đổi rất nhiều Một đế quốc Trung Hoalừng lẫy trong lịch sử, giờ chỉ còn lại là phế tích Niềm tự tôn cố hữu của ngườiTrung Hoa đã trở nên lạc hậu so với thế thời
Với những vần thơ trên, dễ lí giải vì sao thơ Bắc Đảo cùng với Thơ mônglung bị cấm tại đại lục trong suốt một thời gian dài Chính Bắc Đảo cũng bị bắtgiam khi trở về Bắc Kinh, và bị gửi trở lại Hoa Kì Yếu tố tượng trưng đã giúp nhàthơ phác họa bức tranh về một thế giới khác đầy ấn tượng Con người vẫn luôn vấnvương những gì đẹp đẽ đã qua, nhưng thế giới mà bao người sùng bái, tự hào có thểchỉ còn lại là phế tích của ngày hôm qua, tất cả hào quang đã thuộc về quá khứ, mãimãi không thể tìm lại
Qua sáng tác của hai cây bút tiêu biểu trong trào lưu Thơ mông lung, chúng
ta có thể phần nào thấy được quá trình các nhà thơ sử dụng yếu tố tượng trưng để
mở ra một thế giới khác trong thơ Thế giới ấy có thể không tốt đẹp, có thể chỉmang vẻ hào nhoáng bên ngoài nhưng cũ kĩ xói mòn bên trong, nhưng không ai cóquyền che giấu nó Văn chương gánh nhiệm vụ cao cả là không trốn tránh hiệnthực Các nhà Thơ mông lung với yếu tố tượng trưng được sử dụng hiệu qủa, đã