Giữa núi rừng Tây Nguyên đại ngàn, có vô vàn nét văn hóa đang hiện hữu làm giàu thêm cho “dòng chảy” non sông. Đó là những Khan, Ót Ndông, những nếp nhà sàn, những tấm thổ cẩm, những trang phục truyền thống và âm vang nhất là tiếng cồng tiếng chiêng ngân – âm thanh của núi rừng, của văn hóa. Là một người con của núi rừng Tây Nguyên, chúng tôi yêu vô cùng và cảm thấy tự hào về mảnh đất với những giá trị lịch sử, văn hóa vô giá ấy, cô trò chúng tôi đều bảo nhau rằng nhất định sẽ tìm hiểu tất cả những nét văn hóa cộng động ấy. Và đề tài này, chúng tôi xin đề cập tới Cồng chiêng Tây Nguyên. Ngày 25 – 11 – 2005, tổ chức USESCO chính thức ghi nhận Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Như vậy, sau Nhã nhạc Cung đình Huế, Cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa phi vật thể thứ hai của Việt Nam được tôn vinh là di sản thế giới, đó là minh chứng cho bề dày văn hóa nước ta. Trong buổi lễ công bố Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên là kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại, Tổng giám đốc UNESCO – ông Koichiro Matsuura đã bày tỏ rằng ông đã được thưởng thức loại hình âm nhạc cồng chiêng rất riêng của Việt Nam và ông thấy được những nhạc cụ rất độc đáo trong dàn cồng chiêng của các dân tộc Tây Nguyên. Ông đã dùng những từ ngữ “tuyệt vời”, “đặc sắc” để nhận xét về cồng chiêng Tây Nguyên và việc công nhận danh hiệu Kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại với văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là hoàn toàn xứng đáng. Qua đó, chúng ta có thể thấy cồng chiêng không chỉ là đặc sắc của người Tây Nguyên mà trở thành bản sắc của đất nước Việt Nam, là niềm tự hào của quốc gia. Đặc biệt, ở địa phương chúng tôi huyện Đắk Rlấp nơi có các nghệ nhân cồng chiêng đã được tham dự Liên hoan nhạc cụ thuộc bộ gõ ở Đan Mạch năm 2016 và Triển lãm thế giới EXPO 2020 Dubai được tổ chức tại Tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất – UAE. Điều đó càng thôi thúc cô trò thực hiện đề tài. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Đăk Nông tỉnh lần thứ XII, nhiệm kì 2020 – 2025 đã thể hiện quan điểm Phát triển du lịch trên nền tảng phát huy các lợi thế tự nhiên, các giá trị văn hoá – đặc trưng sinh thái bản địa, công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đăk Nông đưa du lịch thực sự trở thành một trong ba trụ cột phát triển kinh tế ở Đăk Nông. Trên cơ sở đó, cô trò chúng tôi mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào công cuộc quảng bá, giới thiệu cho những giá trị văn hóa tỉnh nhà.
Trang 1CUỘC THI KHOA HỌC KỸ THUẬT CẤP TỈNH
DÀNH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC, NĂM HỌC 2022 - 2023
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DỰ ÁN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỂU BIẾT VÀ
Ý THỨC BẢO TỒN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG CỦA NGƯỜI M'NÔNG CHO HỌC SINH THPT
LĨNH VỰC DỰ THI: KHOA HỌC XÃ HỘI HÀNH VI
Đăk Nông, tháng 12 năm 2022
Trang 2CUỘC THI KHOA HỌC KỸ THUẬT CẤP TỈNH
DÀNH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC, NĂM HỌC 2022 - 2023
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DỰ ÁN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỂU BIẾT VÀ
Ý THỨC BẢO TỒN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG CỦA NGƯỜI M'NÔNG CHO HỌC SINH THPT
LĨNH VỰC DỰ THI: KHOA HỌC XÃ HỘI HÀNH VI
Đăk Nông, tháng 12 năm 2022
Trang 3II Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết khoa học 2
1 Câu hỏi nghiên cứu 2
2 Giả thuyết khoa học 2
III Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 2
1 Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên 2
2 Cồng chiêng của người M'Nông 4
3 Giá trị của cồng chiêng M'Nông 6
4 Thực trạng 7
IV Thiết kế và phương pháp nghiên cứu 9
1 Quy trình tiến hành 9
2 Phương pháp nghiên cứu 10
V Phân tích dữ liệu 11
1 Nguyên nhân của việc thiếu hiểu biết về giá trị của văn hóa cồng chiêng của người M’Nông trong bộ phận học sinh 11
2 Ý nghĩa của đề tài 12
3 Giải pháp giúp bảo tồn và phát huy giá trị của cồng chiêng Tây Nguyên 12
4 Khảo sát về hiệu quả chung của đề tài sau khi tác động: 17
VI Kết luận 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 4I Lí do chọn đề tài
Giữa núi rừng Tây Nguyên đại ngàn, có vô vàn nét văn hóa đang hiện hữu
làm giàu thêm cho “dòng chảy” non sông Đó là những Khan, Ót Ndông, những
nếp nhà sàn, những tấm thổ cẩm, những trang phục truyền thống và âm vangnhất là tiếng cồng tiếng chiêng ngân – âm thanh của núi rừng, của văn hóa Làmột người con của núi rừng Tây Nguyên, chúng tôi yêu vô cùng và cảm thấy tựhào về mảnh đất với những giá trị lịch sử, văn hóa vô giá ấy, cô trò chúng tôiđều bảo nhau rằng nhất định sẽ tìm hiểu tất cả những nét văn hóa cộng động ấy
Và đề tài này, chúng tôi xin đề cập tới Cồng chiêng Tây Nguyên
Ngày 25 – 11 – 2005, tổ chức USESCO chính thức ghi nhận Văn hóa Cồngchiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại.Như vậy, sau Nhã nhạc Cung đình Huế, Cồng chiêng Tây Nguyên là di sản vănhóa phi vật thể thứ hai của Việt Nam được tôn vinh là di sản thế giới, đó là minhchứng cho bề dày văn hóa nước ta
Trong buổi lễ công bố Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên là kiệt tác văn hóaphi vật thể và truyền khẩu của nhân loại, Tổng giám đốc UNESCO – ôngKoichiro Matsuura đã bày tỏ rằng ông đã được thưởng thức loại hình âm nhạccồng chiêng rất riêng của Việt Nam và ông thấy được những nhạc cụ rất độc đáotrong dàn cồng chiêng của các dân tộc Tây Nguyên Ông đã dùng những từ ngữ
“tuyệt vời”, “đặc sắc” để nhận xét về cồng chiêng Tây Nguyên và việc công
nhận danh hiệu Kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại với vănhóa cồng chiêng Tây Nguyên là hoàn toàn xứng đáng
Qua đó, chúng ta có thể thấy cồng chiêng không chỉ là đặc sắc của người TâyNguyên mà trở thành bản sắc của đất nước Việt Nam, là niềm tự hào của quốcgia Đặc biệt, ở địa phương chúng tôi - huyện Đắk Rlấp - nơi có các nghệ nhâncồng chiêng đã được tham dự "Liên hoan nhạc cụ thuộc bộ gõ" ở Đan Mạchnăm 2016 và "Triển lãm thế giới EXPO 2020 Dubai" được tổ chức tại Tiểuvương quốc Ả Rập Thống Nhất – UAE Điều đó càng thôi thúc cô trò thực hiện
đề tài
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Đăk Nông tỉnh lần thứ XII, nhiệm kì
2020 – 2025 đã thể hiện quan điểm "Phát triển du lịch trên nền tảng phát huy cáclợi thế tự nhiên, các giá trị văn hoá – đặc trưng sinh thái bản địa, công viên địachất toàn cầu UNESCO Đăk Nông" đưa du lịch thực sự trở thành một trong batrụ cột phát triển kinh tế ở Đăk Nông Trên cơ sở đó, cô trò chúng tôi mongmuốn đóng góp một phần nhỏ bé vào công cuộc quảng bá, giới thiệu cho nhữnggiá trị văn hóa tỉnh nhà
Tuy nhiên chúng tôi nhận ra một thực trạng rằng sống giữa núi rừng TâyNguyên, một bộ phận không nhỏ các bạn học sinh vẫn chưa nhận biết, chưa hiểu
về văn hóa cồng chiêng từ đó các bạn không yêu thích, ý thức bảo tồn và pháthuy giá trị văn hóa cồng chiêng chưa cao
Một vấn đề cấp bách đặt ra là, phải làm thế nào các bạn học sinh trunghọc – thế hệ tương lai của đất nước hiểu và có ý thức bảo tồn và phát huy những
Trang 5giá trị văn hóa của quê hương đất nước Trước thực tế đó chúng tôi đã quyết
định lựa chọn đề tài: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỂU BIẾT VÀ Ý THỨC BẢO TỒN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG CỦA NGƯỜI M'NÔNG CHO HỌC SINH THPT
II Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết khoa học
1 Câu hỏi nghiên cứu
1.1 Văn hóa Cồng chiêng của người M’Nông đặc sắc như thế nào?
1.2 Làm như thế nào để các bạn học sinh hiểu biết và có ý thức bảo tồnvăn hóa Cồng chiêng của người M’Nông nói riêng và cồng chiêng Tây Nguyênnói chung?
1.3 Giải pháp nào để phát huy vai trò của học sinh THPT trong việc bảotồn và phát huy giá trị văn hóa Cồng chiêng của người M’Nông?
2 Giả thuyết khoa học
Nếu học sinh Trung học – qua khảo sát học sinh THPT Nguyễn TấtThành, huyện Đăk R'Lấp, tỉnh Đăk Nông có hiểu biết và yêu thích văn hóa Cồngchiêng của người M’Nông thì sẽ có những hành vi tích cực trong việc bảo tồn,phát huy vẻ đẹp của cồng chiêng Ngoài ra các bạn sẽ ham tìm hiểu về các nétvăn hóa khác
III Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1 Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc cùng chung sống hòa thuận trênmảnh đất hình chữ S Mỗi dân tộc có những nét văn hóa riêng, chính điều này đãtạo nên sự đa dạng phong phú về bản sắc văn hóa, làm giàu cho nền văn hóanước nhà
Và tự hào hơn bởi cồng chiêng Tây Nguyên ngày nay không chỉ là củariêng người Tây Nguyên mà đã trở thành tài sản vô giá của quốc gia, niềm tựhào của tất cả người Việt Nam
1.1 Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên trải dài trên 5 tỉnh TâyNguyên: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng Chủ thể củakhông gian văn hóa này gồm nhiều dân tộc khác nhau: Ê đê, Jarai, Ba
Na, Mạ, Lặc
Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên bao gồm các yếu tố bộphận sau: cồng chiêng, các bản nhạc tấu bằng cồng chiêng, những người chơicồng chiêng, các lễ hội có sử dụng cồng chiêng (Lễ mừng lúa mới, Lễ cúng Bếnnước ), những địa điểm tổ chức các lễ hội đó (nhà dài, nhà rông, nhà gươl,rẫy, bến nước, nhà mồ, các khu rừng cạnh các buôn làng Tây Nguyên, ),
1.2 Ý nghĩa của cồng chiêng với người Tây Nguyên
Trang 6Bao ngàn đời nay, cồng chiêng gắn với Tây Nguyên như một phần khôngthể thiếu trong suốt vòng đời mỗi con người và trong hầu như tất cả các sự kiệnquan trọng của cộng đồng: từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh, lễ cưới xin, lễ tiễn đưangười chết, lễ đâm trâu trong ngày bỏ mả, cho đến lễ cúng máng nước, mừnglúa mới, lễ đóng cửa kho, lễ mừng nhà rông mới,
Theo quan niệm của người Tây Nguyên, đằng sau mỗi chiếc cồng,chiêng đều ẩn chứa một vị thần Cồng chiêng càng cổ thì quyền lực của vịthần càng cao Cồng chiêng còn là tài sản quý giá, biểu tượng cho quyền lực
và sự giàu có Đã có thời một chiếc chiêng giá trị bằng hai con voi hoặc 20con trâu Cồng chiêng góp phần tạo nên những sử thi, những áng thơ ca đậmchất văn hóa Tây Nguyên vừa lãng mạn, vừa hùng tráng
Mỗi dân tộc đều có những bản nhạc cồng chiêng riêng để diễn tả vẻđẹp thiên nhiên, khát vọng của con người Người Giarai có các bài chiêngJuan, Trum vang Người Bana có các bài chiêng: Xa Trăng, Sakapo, Atâu,Tơrơi Cồng chiêng có mặt trong nhiều dịp sinh hoạt cộng đồng của đồngbào Tây Nguyên
Với người Tây Nguyên, cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng là tài sản
vô giá Âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên không những là một giá trị nghệthuật đã từ lâu được khẳng định trong đời sống xã hội mà còn là kết tinh củahồn thiêng sông núi qua bao thế hệ Cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ có
ý nghĩa về mặt vật chất cũng như những giá trị về nghệ thuật đơn thuần mà
nó còn là "tiếng nói" của con người và của thần linh theo quan niệm "vạnvật hữu linh"
Mỗi một dàn cồng chiêng là tiếng nói tâm linh, tâm hồn của người TâyNguyên, để diễn tả những niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống lao động vàsinh hoạt hàng ngày của họ Các tộc người ở Tây Nguyên sử dụng cồngchiêng theo cách thức riêng để chơi những bản nhạc của riêng dân tộc mình.Trải qua bao năm tháng, cồng chiêng đã trở thành nét văn hoá đặc trưng, đầysức quyến rũ Cồng chiêng chính là cuộc sống của người Tây Nguyên Nghecồng chiêng thì thấy được cả không gian săn bắn, không gian làm rẫy, khônggian lễ hội Tây Nguyên
Trang 7Có giả thuyết cho rằng văn hóa cồng chiêng bắt nguồn từ văn minh ĐôngSơn, là nền văn hóa đồng thau xuất hiện tại Đông Nam Á Cồng chiêng của ViệtNam rất đặc trưng so với cồng chiêng ở những khu vực khác do tính cộng đồngrất cao Điều này thể hiện ở việc mỗi nhạc công đánh một chiếc Từng thànhviên trong dàn nhạc nhớ rõ từng tiết tấu của từng bài chiêng trong mỗi nghi lễ vàkết hợp hài hòa với các nhạc công khác cùng chơi Tùy theo từng nhóm dân tộc,cồng chiêng được đánh bằng dùi hoặc bằng tay; mỗi dàn cồng chiêng có khoảng
từ 2 đến 13 chiếc có đường kính dao động từ 25 đến 120 cm
Xưa nay, người Tây Nguyên không tự chế tác mà mua cồng chiêng củangười Kinh từ các vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, dân tộc Lào hoặc Campuchia,rồi về nắn chỉnh lại để có được âm thanh mong muốn Mỗi một làng bản đều cómột người chuyên lên chiêng (hay còn gọi là người chỉnh chiêng)
1.4 Đặc điểm, cấu tạo
Cồng, Chiêng làm bằng đồng thau hoặc hợp kim đồng thiếc, với tỉ lệ củacác hợp kim rất khác nhau tùy theo nơi đúc, hình tròn ở giữa hơi phồng lên,chung quanh có bờ gọi là thành Cồng luôn luôn có núm ở giữa, Chiêng có hailoại: Chiêng có núm ở giữa gọi là Chiêng núm và Chiêng không có núm gọi làChiêng bằng Cồng, Chiêng có nhiều cỡ to nhỏ, dày mỏng khác nhau, có loạiđường kính rộng 90cm, phải treo lên giá đỡ, khi đánh lên tiếng ngân rền nhưsấm, có loại nhỏ đường kính chỉ 15cm, tiếng cao, trong trẻo
Mỗi dân tộc, mỗi vùng miền lại có những đặc trưng riêng của cồngchiêng Cồng chiêng có thể được dùng đơn lẻ, hoặc dùng theo dàn, theo bộ
từ 2 đến 12 chiếc, cũng có bộ 18 đến 20 chiếc như bộ chiêng của ngườiGiarai Dàn cồng chiêng Tây Nguyên được tổ chức như một dàn nhạc có thểdiễn tấu những bản nhạc đa âm với các hình thức hòa điệu khác nhau Điềuđặc biệt trong dàn nhạc này mỗi người chỉ đánh một chiếc cồng, hoặc chiêng(cồng là loại có núm, chiêng không có núm)
2 Cồng chiêng của người M'Nông
Cũng như các dân tộc khác ở Tây Nguyên, người M’Nông trên địa tỉnh ĐắkNông cũng có một vốn di sản truyền thống vô cùng độc đáo và quý giá, đó làKhông gian văn hoá Cồng chiêng Tây Nguyên Mỗi bon có đội cồng chiêngriêng phục vụ cho đồng bào trong những dịp sinh hoạt cộng đồng, lễ hội Cồngchiêng là loại nhạc cụ truyền thống đặc sắc, có ý nghĩa hết sức quan trọng trongđời sống tinh thần của các dân tộc Tây Nguyên nói chung và người M'Nông ởĐắk Nông nói riêng
2.1 Nguồn gốc và cấu tạo
Người M'Nông không làm ra cồng chiêng mà thường mua lại của người Làohoặc của người Việt Cồng chiêng được đúc bằng hợp kim bao gồm đồng và một
số kim loại khác Những chiếc cồng chiêng quý thường có thêm bạc Chất lượng
âm thanh phụ thuộc vào tỷ lệ hợp kim sử dụng đúc cồng chiêng Khi mua về,dưới đôi bàn tay khéo léo và những giác quan nhạy bén người nghệ nhân chỉnhchiêng M’nông chỉnh âm thanh hết sức tinh tế bằng nhiều cách khác nhau như
Trang 8dùng búa sắt, dùi gỗ cứng đập vào lòng chiếc cồng, có khi chỉ đơn giản là dùngmóng tay vẽ một đường lên mặt trong của chiếc chiêng, …
Cồng chiêng của người M’nông gồm có 2 bộ: bộ chiêng 6 chiếc và bộ cồng
3 chiếc có kích thước khác nhau Mỗi chiếc mang một chức năng riêng trong khihòa điệu và có những tên gọi khác nhau tùy theo từng nhóm địa phương Têngọi bộ chiêng 6 chiếc theo thứ tự: Chiêng lớn nhất được gọi là chiêng mẹ (mei,
me hay măi); chiêng lớn thứ hai gọi là rênul (nhóm M’nông Nong gọi lànêgrơm); chiếc thứ ba gọi thống nhất là n'dơt hay n'dất; chiếc thứ tư gọi là tru(M’nông Preh, M’nông Nong và M’nông Prâng), gọi là dua (M’nông Chil,M’nông Rlăm); chiếc thứ năm gọi là trơ (M’nông Preh, M’nông Nong, M’nôngPrâng) và gọi là thơ (M’nông Chil và M’nông Rlăm); chiêng nhỏ nhất gọi làchiêng con (kon) Bộ cồng 3 chiếc: Chiếc lớn nhất gọi là cồng mẹ; chiếc thứ hailàm chuẩn trong khi hòa nhạc và được gọi là tru (M’nông Prâng), du gong(M’nông Rlăm và M’nông Chil); chiếc nhỏ nhất là cồng con (kuôn gong haykon gong) Ngoài ra, người M’nông còn có một chiếc chiêng lớn gọi là Char,giống như chiêng Char của người Êđê nhưng hiếm khi họ sử dụng chiếc chiêngnày
2.2 Cách đánh chiêng của người M'Nông
Người M’nông dùng nắm tay phải đánh vào mặt chiêng, cùng lúc đó bàn taytrái giữ mặt trong lòng chiêng (lúc bịt, lúc mở) Khi tay phải gõ thì tay trái mở,khi tay trái giơ lên thì tay trái bịt lại để làm nhịp, điều chỉnh âm thanh tạo nêncác cao độ, âm sắc khác nhau Riêng nhóm M’nông Chil ở Lắk đôi khi cũngđánh chiêng bằng dùi và tạo âm thanh ở mặt lõm, nhưng sự ảnh hưởng này chưađược phổ biến Cồng được đánh bằng dùi, tác động tạo âm thanh ở mặt lồi, trênphần chóp núm
Dàn chiêng của người M'Nông gồm 6 chiếc
Trang 9
2.3 Không gian văn hóa cồng chiêng M'Nông
Cồng và chiêng là loại nhạc cụ chủ yếu để dùng trong nghi lễ Người M’nôngthường sử dụng bộ chiêng 6 chiếc Các nghi lễ dùng vật hiến sinh là heo hay gà,người M’nông tấu nhạc bằng bộ chiêng 6 chiếc Trong các cuộc rượu ngàythường, đôi khi bộ chiêng 6 chiếc cũng được đem ra hòa điệu Trường hợp trongbuôn có khách từ xa tới, chủ nhà đãi khách rượu cần và khi đấy thường phải sửdụng bộ chiêng 6 chiếc như một nghi thức đón mừng để tỏ lòng hiếu khách củatoàn buôn Đây cũng là dịp để bà con trong buôn đến vui chung Ngoài tang lễ,hôn lễ và những dịp vui, những nghi lễ khác thường được tổ chức tấu cồngchiêng như: lễ kết bạn, cúng hồn lúa, cúng cơm mới sau ngày thu hoạch, lễ chúcsức khỏe người chủ nhà trong dịp dựng nhà mới đối với hầu hết các nhómM’nông; lễ lên nhà mới của người M’nông Chil; lễ hoàn công một ngôi nhà,cúng rường cột của người M’nông Rlăm Ứng với mỗi hoàn cảnh ấy là một bàichiêng khác nhau Ngay trong một lễ hội, các bài chiêng cũng được đánh theotiết tấu, nhịp điệu khác nhau, tùy theo không khí chung của lễ hội
3 Giá trị của cồng chiêng M'Nông
3.1 Giá trị thẩm mĩ
Mỗi âm thanh của từng chiếc chiêng vang lên đều có những âm điệuriêng, khi kết hợp hài hòa trong một dàn cồng chiêng sẽ tạo ra một bản nhạc hàihòa, có âm vang của núi rừng, có tình yêu, nỗi niềm, Âm nhạc cồng chiêngthể hiện tài năng sáng tạo văn hoá - nghệ thuật ở đỉnh cao, sự khéo léo, tài hoacủa các dân tộc Tây Nguyên nói chung và người M'Nông nói riêng
3.2 Giá trị văn hóa
Thể hiện nét đẹp văn hóa của cộng đồng Tây Nguyên nói riêng và cộngđồng Việt nói chung, cồng chiêng Tây Nguyên như một dòng suối trong lành
Người M’Nông dùng nắm tay phải để đánh chiêng
Trang 10hòa chung vào bể lớn văn hóa, tạo ra dòng chảy văn hóa của Việt Nam đa dạng,đặc sắc Phán ánh đời sống tinh thần, vùng đất, con người, nét văn hoá đặc trưngriêng biệt, độc đáo; vô cùng phong phú của con người Tây Nguyên từ xưa đếnnay, thể hiện tinh thần đoàn kết cộng đồng bền chặt và cồng chiêng M'Nông làđang góp phần vào bản sắc văn hóa của đất nước ta.
Theo quan niệm của người M’nông, âm thanh của hai loại nhạc cụ cồngchiêng trong lễ hội vang lên sẽ kết nối với các thần linh, có thể gọi thần tốt đến
và nhờ sự trợ giúp của họ đuổi các ma xấu Vì thế, tính tâm linh ở các lễ hộitrong đời sống văn hóa tinh thần qua tiếng chiêng luôn được đồng bào gìn giữ vàphát huy
3.3 Giá trị giáo dục
Giáo dục tình yêu với bản sắc, chăm chỉ, hình thành những giác quan
nhạy bén cho mỗi con người, giáo dục lịch sử, văn hoá, vun đắp truyền thống tốt
đẹp, giáo dục truyền thống yêu nước, khơi dậy lòng tự hào và ý thức tham gia của mọi người trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá
4 Thực trạng
Để nắm rõ thực trạng hiểu biết về cồng chiêng Tây Nguyên chúng tôi tiếnhành phát phiếu khảo sát với các lớp đại diện cho mỗi khối 10,11,12 của trườngTHPT Nguyễn Tất Thành, huyện Đăk R'Lấp, tỉnh Đăk Nông với 260 phiếu
4.1 Khảo sát hiểu biết của học sinh THPT Nguyễn Tất Thành với văn hóa Cồng chiêng của người M’Nông
Chúng tôi đã đặt ra câu hỏi: Bạn có yêu thích văn hóa Cồng chiêng của
người M’Nông không? Trong số 260 phiếu khảo sát thu về, chúng tôi thấy: có
190 phiếu đồng ý yêu thích chiếm 73,1%; 65 phiếu không thích chiếm 25%; 5phiếu trống chiếm 1,9%
Sau khi phân tích số liệu, chúng tôi có biểu đồ như sau:
73.10%
25.00% 1.90%
BI U Đ M C Đ YÊU THÍCH VĂN HÓA Ể Ồ Ứ Ộ
C NG CHIÊNG C A NG Ồ Ủ ƯỜ I M'NÔNG
Yêu thích không thích phiếu trống
Trang 11Nhận xét:
Qua biểu đồ trên, ta thấy phần đa các bạn học sinh đều yêu thích cồngchiêng như vậy trong mỗi học sinh đều có tình cảm với văn hóa của đất nước
Chúng tôi cũng tiến hành khảo sát về việc các bạn học sinh hiểu về cồng
chiêng như thế nào, chúng tôi đặt ra câu hỏi: Bạn hiểu cồng chiêng của người
M’Nông như thế nào? Trong 260 phiếu nhận về, chúng tôi thấy có 18 phiếu hiểu
nhiều chiếm 6.9%, có 186 phiếu hiểu ít chiếm 71,5% và có đến 56 phiếu khônghiểu chiếm 21.6%
Sau khi tiến hành phân tích số liệu, chúng tôi thu được kết quả là:
là sự hiểu biết rất ít Khi đi thực tế tại bon BuZaZah, bon PiNao huyện ĐăkR'Lấp, tỉnh Đăk Nông, chúng tôi hỏi thanh niên địa phương là người M'Nông cóbiết cách đánh, ý nghĩa, của cồng chiêng không thì các bạn trẻ đều trả lờikhông biết Và khi tìm hiểu về số lượng người biết đánh cồng chiêng thì sốlượng rất ít, trong đó phần đa là người lớn tuổi còn thế hệ thanh niên gần nhưkhông có Trong tâm sự của vị già làng ở bon Buzazah chứa đầy sự tiếc nuối và
cả nỗi buồn vì tuổi trẻ bon làng hầu như không thích học và không biết đánhcồng chiêng, một dàn chiêng 6 chiếc mà tìm mãi mới đủ người đánh Thiết nghĩnếu không có ý thức bảo lưu thì chắc chắn tài sản quý báu này sẽ dần mai mộtbởi không có sách vở nào dạy cách làm đánh chiêng mà tất cả chỉ có trong kĩ
BIỂU ĐỒ MỨC ĐỘ HIỂU BIẾT VỀ CỒNG CHIÊNG
CỦA NGƯỜI M’NÔNG