1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Chính sách thương mại quốc tế của hàn quốc

14 606 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 54,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện tự do hóa thị trường ngoại hối và phá giá đồng nội tệ: Bắt đầu vào năm 1964, chính phủ đánh bạo đưa ra hàng loạt chính sách nhằm mục đích hỗ trợ xuất khẩu,thị trường được mở rộ

Trang 1

A CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA HÀN QUỐC.

I.CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ TỪ 1961-1980:

1 Mục tiêu:

a) Giai đoạn hướng về xuất khẩu 1961- 1971

Lựa chọn chiến lược tăng trưởng dựa vào công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu và xuất phát từ điều kiện cụ thể của đất nước, chính sách công nghiệp của Hàn Quốc thời kì này là phát triển công nghiệp chủ yếu dựa vào vốn vay nước ngoài và thúc đẩy xuất khâu

b) Giai đoạn ưu tiên phát triển công nghiệp nặng và hóa chất (1972-1979)nhằm hiện đại hóa cơ cấu nông nghiệp hướng ngoại Chính sách thay thế nhập khẩu được thay bằng chủ trương đẩy mạnh xuất khẩu trên cơ sở sử dụng nhiều lao động

2 Công cụ biện pháp:

2.1 Đối với xuất khẩu:

a Đưa ra định hướng các mặt hàng XK chủ lực phù hợp:

GĐ 1961-1970: xuất khẩu sản phẩm công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động, được thực hiện đặc biệt trong kế hoạch 5 năm lần thứ hai(1967- 1971) Năm 1965, chính phủ Hàn “nhắm tới” 13 loại ngành hàng mà họ xem là

“những nhân tố chiến thắng” phục vụ cho chương trình xúc tiến đặc biệt Danh sách đó bao gồm những ngành nghề đòi hỏi thâm dụng lao động, trong

đó có sản xuất tơ tằm, vải sợi, cao su, máy thu thanh sợi nhân tạo, hóa dầu, thiết bị điện, các ngành công nghiệp nhẹ như vải, cao su, gỗ dán… - những ngành hàng có lợi thế cạnh tranh đặc biệt nhờ vào lực lượng lao động dồi dào, chăm chỉ và có giá rẻ

GĐ 1971 – 1980: chuyển hướng sang xuất khẩu sản phẩm công nghiệp nặng như thép, hóa chất và sản xuất ô tô

b Thực hiện tự do hóa thị trường ngoại hối và phá giá đồng nội tệ:

Bắt đầu vào năm 1964, chính phủ đánh bạo đưa ra hàng loạt chính sách nhằm mục đích hỗ trợ xuất khẩu,thị trường được mở rộng, trong số đó có việc phá giá nội tệ gần như 100% rồi sau đó là thả nổi đồng Won, thời kì 1976-1985 tỷ giá hối đoái của Hàn Quốc được coi là thấp nhất trong số các nước đang phát triển, giúp hàng hóa Hàn Quốc sát với giá hàng hóa của thế giới, duy trì sự cạnh tranh cho xuất khẩu

Trang 2

Đồng thời chính phủ tiến hành tự do hóa cơ chế xuất khẩu nghiêm ngặt của Hàn Quốc để tạo điều kiện cho các công ty Hàn Quốc dễ dàng hơn trong việc đưa vào nước các loại máy móc, nguyên liệu thô và những bộ phận cấu thành cần thiết để sản xuất phục vụ xuất khẩu

Bằng cách này, chính phủ Hàn Quốc đã thay đổi cơ cấu kích thích đầu tư của nền kinh tế, hay nói theo cách của Amsden là đã bóp méo giá cả, nhằm khuyến khích đầu tư vào những ngành nghề xuất khẩu bằng cách làm cho việc đầu tư kiểu này trở nên sinh lợi một cách bất tự nhiên

c Đưa ra quy định về việc điều chỉnh hoạt động của các công ty trong nước:

Đối với những công ty không đủ khả năng hướng ngoại xuất khẩu thì cho phép họ phá sản còn đối với doanh nghiệp có khả năng song hiện tại chưa thực hiện được thì chuyển hướng kinh doanh Biện pháp này nhằm làm tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, nâng cao chất lượng sản phẩm để xuất khẩu được đẩy mạnh

d Thành lập tổ chức xúc tiến thương mại và đầu tư Hàn Quốc (KOTRA) năm 1962

Đây là tổ chức của chính phủ Hàn Quốc với chức năng là hỗ trợ hoạt động marketing cho các công ty Hàn Quốc, kết nối doanh nghiệp và nghiên cứu thị trường Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Hàn Quốc tránh được rủi ro trên thị trường cũng như phát huy tối đa được lợi thế của mình trên cơ sở hiểu rõ các thị trường nước ngoài Tổ chức này có mạng lưới khắp thế giới, điều này đã có tác động lớn trong việc hỗ trợ phát triển quan hệ thương mại quốc tế

e Tích cực triển khai thực hiện đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng

Giai đoạn đầu chủ yếu dựa vào nguồn vốn ODA của Hoa Kì sau đó là dựa vào nguồn vốn của các công ty trong nước và ngân sách nhà nước

f Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực tại cơ sở sản xuất và tại các cơ sở dạy nghề

Phối hợp chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo nghề trong nước và nước ngoài thông qua dự

án của nhà dầu tư nước ngoài, chú trọng đào tạo lao động phổ thông

g Thực hiễn chính sách miễn giảm thuế thu nhập và thuế nhập khẩu đầu vào sản xuất:

100% trong 2-9 năm đầu ,20-30% trong 2 năm sau đó

Các công ty hoạt động trong những lĩnh vực như sản xuất công nghiệp nhẹ được hưởng nhiều đặc quyền từ phía chính phủ chẳng hạn như được cung cấp tín dụng lãi suất thấp và chịu các chi phí vay mượn thấp hơn so với lãi

Trang 3

suất thị trường cho các công ty Chính sách trợ cấp tính dụng giúp các nhà xuất khẩu đủ lượng vốn cần thiết, đáp ứng nhu cầu kinh doanh và tăng nhanh xuất khẩu cuối những năm 1960, xuất khẩu tăng bình quân 30.8%

=> Ba biện pháp này là góp phần tạo điều kiện thuận lợi toàn diện cho các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa xuất khẩu, từ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cơ

sở hạ tầng cũng như giá ưu đãi về nguyên vật liệu, máy móc thiết bị Qua đó, thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển hàng hóa cả về số lượng lẫn chất lượng, tạo ra sức hấp dẫn lớn đối với các bạn hàng nước ngoài

2.2 Đối với nhập khẩu

Nhằm thực hiện từng bước tự do hóa nhập khẩu, chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra các biện pháp sau đây:

• Đưa ra quy định về danh mục hàng hóa nhập khẩu, tăng số mặt hàng tự do nhập khẩu

• Giảm dần việc áp dụng các biện pháp hạn chế NK bằng số lượng

• Cắt giảm thuế quan NK

3 Thị trường:

Áp dụng chính sách đa dạng hóa thị trường: Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu, khu vực châu

Á Thái Bình Dương, Đông Âu, Mỹ Latinh, châu Phi,

II.CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ HÀN QUỐC TỪ 1980-NAY:

1.Mục tiêu:

Chính sách TMQT của Hàn Quốc trong giai đoạn này là: Tự do hóa thương mại và

đa dạng hóa thị trường

Mục tiêu của chính sách này được xác định rõ ràng trong 2 giai đoạn nhỏ:

GĐ1: 1980-1989: điều chỉnh cơ cấu và tự do hóa nền kinh tế, tư nhân hóa ngành công nghiệp, mở cửa nền kinh tế  thúc đẩy cạnh tranh trên các thị trường

GĐ2: 1990-nay: thực hiện chính sách toàn cầu hóa, thúc đẩy tự do tài chính, đầu tư vốn ra nước ngoài  đưa nền kinh tế Hàn Quốc ngày càng phát triển và hội nhập với nền kinh tế thế giới

2.Biện pháp:

2 1 Đối với thúc đẩy xuất khẩu:

Trang 4

- Tăng cường hoạt động của các tổ chức Xúc tiến Thương Mại (XTTM) và đa dạng hóa các loại hình xúc tiến:

Hàn Quốc rất tích cực trong việc tăng cường các hoạt động hỗ trợ XTTM với sự kết hợp hiệu quả của nhiều tổ chức XTTM như Hiệp hội thương mại quốc tế Hàn Quốc (KITA), Cơ quan Xúc tiến thương mại hải ngoại Hàn Quốc( KOTRA) Các hình thức xúc tiến được triển khai rất đa dạng: từ hội chợ, triển lãm, hội thảo hay tổ chức các cuộc viếng thăm gặp mặt định hướng thường xuyên với chính phủ và doanh nghiệp nước ngoài

- Thực hiện tự do hóa thị trường vốn:

Một biện pháp gián tiếp nhưng có hiệu quả rất cao trong việc thúc đẩy XK của Hàn Quốc đó là thực hiện tự doa hóa thị trường vốn, tích cực tạo môi trường thu hút đầu tư nước ngoài Biện pháp này đã góp phần hỗ trợ phát triển TM và ĐTQT

- Tăng cường hoạt động của các tổ chức tín dụng, qua đó hỗ trợ XK và ĐT:

Để khuyến khích XK Chính phủ Hàn Quốc tập trung cấp tín dụng với lãi suất thấp cho các ngành công nghiệp ưu tiên, thực hiện chuyển dịch cơ cấu Tuy nhiên, do quy mô sản xuất của các tập đoàn lớn Hàn Quốc lớn và sự tài trợ quá mức của ngân hàng dành cho các tập đoàn đã đẩy hệ thống ngân hàng Hàn Quốc phải đối đầu với khó khăn nợ nước ngoài

1.2.Đối với nhập khẩu:

Chính sách TMQT của HQ đối với NK trong giai đoạn này là tiếp tục thực hiện tự

do hóa NK

Từ năm 1983, Hàn Quốc đã đẩy mạnh tự do hóa NK, đồng thời liên tục cắt giảm thuế quan Hàn Quốc công bố trước danh mục hàng NK tự do và đặt ra thời hạn từ 1-5 năm để các hãng sản xuất trong nước điều chỉnh bằng cách nâng cao năng lực cạnh tranh hay chuyển sang một lĩnh vực kinh doanh mới Bên cạnh đó, hệ thống giám sát nhập khẩu được áp dụng từ năm1977 để theo dõi và điều chỉnh việc NK các mặt hàng mới được tự do hóa

Cùng với việc tự do NK, HQ cũng đưa ra những chương trình giảm thuế quan trong vòng 5 năm dựa trên danh mục được công bố trước đó Ví dụ GD 1988-1993 mức thuế quan giảm đáng kể từ 18.1% (1998) đến 11.4% (1990) đến 7.9% (1993)

Trang 5

Hiện nay, việc cắt giảm thuế quan của HQ tuân theo lộ trình chung của WTO và Chính phủ nước này quản lý NK chủ yếu bằng các rào cản kĩ thuật và hạn chế xuất khẩu tự nguyện

3.Thị trường:

3.1.Thị trường ngoại địa:

Nhờ có nguồn lao động dồi dào, ngày càng nâng cao về trình độ và tác phong công nghiệp, Hàn Quốc là một quốc gia có tiềm lực xuất khẩu nhiều mặt hàng có giá trị cao Xuất khẩu luôn khẳng định vị thế là động lực tăng trưởng bền vững của kinh tế Hàn Quốc

Thị trường xuất khẩu lớn của Hàn Quốc hiện nay là Trung Quốc Ngoài ra, các

doanh nghiệp Hàn Quốc họat động rất hiệu quả ở thị trường Trung Quốc và các thị trường mới nổi như Trung Đông hay khu vực ASEAN

Hàn Quốc đã tận dụng sự thay đổi chiến lược phát triển kinh tế của Trung Quốc (chuyển từ chiến lược xuất khẩu sang chiến lược hướng vào tiêu dùng nội địa) làm

cơ hội thuận lợi cho hàng hóa tiêu dùng chất lượng cao của Hàn Quốc (điện, điện

tử, ôtô, mỹ phẩm cao cấp và các ngành công nghiệp xây dựng, cung cấp nước, hệ thống nước thải) để xâm nhập vào thị trường Trung Quốc Theo Cục khuyến khích đầu tư thương mại Hàn Quốc (KOTRA – Korea Trade Investment Promotion Agency), Hàn Quốc có khoảng 4000 công ty, doanh nghiệp đang họat động tại Trung Quốc

Số liệu thực tế về kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc tháng 1 – 2013:

Bộ Kinh tế tri thức Hàn Quốc vừa cho biết kim ngạch xuất khẩu của nước này trong tháng 1 tăng gần 12% so với cùng kỳ năm ngoái lên 46,08 tỷ USD, cao hơn nhiều so với mức giảm 5,7% trong tháng 12 năm ngoái Trong khi đó, nhập khẩu tăng 3,9% lên 45,21 tỷ USD, giúp nước này đạt thặng dư thương mại 874 triệu USD trong tháng 1 vừa qua

Ông Han Jin-Hyun, Thứ trưởng phụ trách vấn đề đầu tư và thương mại quốc tế nói rằng kinh tế toàn cầu đang có những dấu hiệu thoát khỏi mức đáy Xuất khẩu các sản phẩm công nghệ thông tin (IT), linh kiện và thiết bị điện thoại di động cũng như ô tô tăng mạnh tại thị trường Hàn Quốc

Trang 6

Thị trường nội địa:

Thực hiện chiến lược kích cầu kinh tế để kích thích sản xuất và khuyến khích tiêu dùng nội địa

Nguy cơ suy thoái kép của kinh tế toàn cầu tác động tiêu cực tới xuất khẩu buộc Hàn Quốc phải hướng tới chi tiêu tiêu dùng để duy trì tăng trưởng Vì vậy, song song với thúc đẩy xuất khẩu, chính phủ Hàn Quốc thực hiện các biện pháp kích cầu trong nước để tạo ra sự cân bằng cho nền kinh tế Để duy trì tăng trưởng, Hàn

Quốc hướng tới chi tiêu tiêu dùng với gói kích cầu được thông qua lớn chưa từng

có trong lịch sử, trị giá 28,9 nghìn tỷ won (khoảng 21 tỷ USD) để chặn đứng đà suy giảm kinh tế, tạo việc làm mới Gói kích cầu của chính phủ Hàn Quốc tương đương với 5,4% tổng sản phẩm nội địa (GDP) và là mức chi ngân sách bổ sung cao nhất trong khu vực (Số liệu năm 2011)

Thông qua kích thích chi tiêu nội địa sẽ có lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và những người có thu nhập thấp để vực dậy nền kinh tế và khuyến khích người nghèo làm việc Sự phục hồi của nhu cầu tiêu dùng trong nước đi đôi với nền tảng xuất khẩu vững chắc đã tạo đà để kinh tế Hàn Quốc phát triển mạnh hơn

4.Hàng hóa:

Hàn Quốc sớm xác định phát triển mặt hàng xuất khẩu chủ lực ở các lĩnh vực có hàm lượng chất xám, công nghệ cao, thâm dụng vốn Trong các mặt hàng XK chủ lực, chất bán dẫn chiếm tới 50% kim ngạch XK, các mặt hàng khác là máy móc chính xác, thiết bị khai thác khoáng sản và xây dựng, phụ tùng ô tô, TV, xe hơi, điện thoại di động, tàu biển

VD:

Công nghiệp ô tô: Sự thành công của ngành công nghiệp ôtô Hàn Quốc, các chuyên gia cho rằng, đó chính là kết quả của cuộc cách mạng về công nghệ và mẫu

mã Đầu tư công nghệ và ứng dụng công nghệ tiên tiến vào quá trình chế tạo đã giúp cho các chiếc xe xuất xưởng gần đây của nền kinh tế lớn thứ tư châu Á (sau Nhật Bản, Trung Quốc và Ấn Độ) không thua kém gì công nghệ châu Âu hay Nhật Bản Những chiếc Kia Forte, Hyundai Santa Fe 2010, Tucson, Daewoo Lacetti xuất xưởng gần đây khiến những khách hàng khó tính nhất cũng hài lòng với mẫu

mã trẻ trung, hiện đại hơn các mẫu trước đây rất nhiều

VD2:

Thị phần smartphone:

Trang 7

Samsung chấm dứt 14 năm đứng đầu về sản xuất điện thoại di động của Nokia vào quý 1 năm 2012 Hãng nghiên cứu phân tích chiến lược (Strategy Analytics) cho biết, trong quý 1-2012 Samsung đã xuất xưởng 93,5 triệu điện thoại, tăng 36% cùng kỳ năm trước, đạt lợi nhuận 5,85 nghìn tỉ won (tương đương 5,15 tỷ USD) bỏ

xa con số 82,7 triệu sản phẩm của Nokia Hãng Apple của Mỹ xuất xưởng 35,1 triệu điện thoại Đáng nói hơn, Samsung cũng lấy lại ngôi đầu về sản xuất điện thoại thông minh (smartphone) lớn nhất từ Apple Hãng điện tử Hàn Quốc xuất xưởng 44,5 triệu smartphone trong ba tháng đầu năm 2012, chiếm 31% thị phần Trong khi đó, Apple chỉ tung ra 35,1 triệu sản phẩm, chiếm 24% thị phần

III BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM TỪ CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA HÀN QUỐC

1. Thành lập các tổ chức xúc tiến thương mại

Việt Nam nên thành lập các tổ chức xúc tiến thương mại nhằm hỗ trợ phát triển quan hệ thương mại quốc tế theo đúng hướng và đúng chiến lược đề ra đồng thời khuyến khích các hoạt động sản xuất và kinh doanh trong nước Bên cạnh việc thành lập cần phải tăng cường các họa đông của tổ chức xúc tiến thương mại nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tìm hiểu về thị trường và các đối tác nước ngoài, nâng cao năng lực cạnh tranh của mình

2. Nhà nước tăng cường hoạt động của tổ chức tín dụng

Phối hợp giữa việc tăng cường hoạt động của các tổ chức xúc tiến thương mại với các tổ chức tín dụng Đặc biệt ở những ngành then chốt, trọng điểm, nhằm cung cấp vốn cho doanh nghiệp, tổ chức kinh tế trong nước phát triển hàng hóa, dịch vụ cả về số lượng và chất lượng, nâng cao năng lực cạnh tranh đồng thời mở rộng thị trường Tuy nhiên, cần quản lý vốn và các khoản tín dụng một cách chặt chẽ để tránh tình trạng cho vay tràn lan, gây thất thoát vốn, đầu tư không hiệu quả, cản trở sự phát triển kinh tế

3. Chính sách tự do hóa thương mại theo một lộ trình phù hợp

Nhà nước cần có những chính sách tự do hóa thương mại phù hợp với đặc điểm, tình hình kinh tế xã hội của Việt Nam và xu hướng của quốc tế trong từng thời kì Từng bước thực hiện tự do hóa thương mại như việc cắt giảm thuế quan nhập khẩu, đơn giản hóa thủ tục hải quan, giảm bớt danh mục các hàng hóa quản lý bằng giấy phép nhằm tạo điều kiện cho hoạt động xuất nhập khẩu

Trang 8

4. Xác định mặt hàng xuất khẩu chủ lực

Bên cạnh đó, Việt Nam cần xác định các mặt hàng xuất khẩu chủ lực phù hợp của mình trong từng thời kỳ Hiện nay, các mặt hàng xuất khẩu của VN chủ yếu là các mặt hàng sơ chế, ít chế biến, sử dụng nhiều lao động, do đó tuy kim ngạch xuất khẩu cao nhưng giá trị thực tế nhận được lại không nhiều Việt Nam cần tiến tới xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng chất xám, công nghệ cao

5. Tăng cường việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên

môn

Việt Nam cần học tập HQ trong việc tăng cường đào tạo người lao động có năng lực chuyên môn và trình độ ngoại ngữ nhằm đáp ứng xu hướng toàn cầu hóa hiện nay

B CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ TỶ GIÁ CỦA HÀN QUỐC

1) Giai đoạn trước năm 1997

Hàn Quốc từng được biết đến như một trong những nước nông nghiệp nghèo nhất thế giới Cho đến năm 1962, khi bắt đầu bước vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm lần thứ nhất (1962 -1966), GDP bình quân đầu người là 87 USD đã phản ánh rằng Hàn Quốc vẫn chưa thể thoát khỏi cảnh nghèo nàn, lạc hậu sau gần thập kỷ nỗ lực khôi phục lại nền kinh tế đã bị tàn phá nặng nề bởi cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai và tiếp đó là cuộc chiến Nam – Bắc Triều Tiên

Thế nhưng chỉ hơn 25 năm sau, vào cuối thập kỷ 80, Hàn Quốc đã đạt được những thành tựu kinh tế được cả thế giới biết đến như “Kỳ tích trên sông Hàn” Đó là một quá trình phi thường đã nhanh chóng giúp cải tạo nền kinh tế Hàn Quốc, đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử của đất nước Để có được một Hàn Quốc như ngày nay, Chính phủ Hàn Quốc đã áp dụng hàng loạt các biện pháp nhằm quản lý, điều tiết nền kinh tế, trong đó đặt trọng tâm là hướng về xuất khẩu

Chính sách hướng về xuất khẩu: Trong những năm 60, nền kinh tế Hàn Quốc đang

phải đối mặt với những khó khăn lớn; không có thị trường trong nước cho các loại hàng hóa sản xuất, tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn Để đối phó với vấn đề này, Chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện chính sách hướng về xuất khẩu với 2 bước đi

quan trọng đó là khuyến khích và tăng cường tiết kiệm thông qua việc tăng lãi suất, cải thiện thâm hụt thương mại bằng việc phá giá đồng nội tệ Bên cạnh đó, Chính

phủ Hàn Quốc đã thực hiện hàng loạt biện pháp nhằm hỗ trợ xuất khẩu như giảm

Trang 9

thuế nhập khẩu, hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp xuất khẩu một cách hợp lý,

ưu đãi về tài chính cho các ngành công nghiệp mũi nhọn, điều chỉnh chế độ tỷ giá linh hoạt, mục tiêu xuất khẩu được cụ thể hóa bởi Chính phủ và khen thưởng, động

viên từ Tổng thống Hàn Quốc

Sau hàng loạt những chính sách của Chính phủ, kết quả đạt được là hết sức khả quan Hàn Quốc trở thành một trong những quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhất thế giới với kim ngạch xuất khẩu tăng từ 41 triệu USD năm 1960 lên 1.048 triệu USD vào năm 1970

Tuy nhiên lâu dài trong những thập niên tiếp theo cụ thể là đầu thập niên 90 cùng với việc thực hiện kế hoạch 5 năm (1993- 1997) và tiếp tục chính sách lấy XK làm trọng tâm và sự kiểm soát tỉ giá một cách chặt chẽ thông qua việc thắt chặt lãi suất

và tín dụng khiến cho thị trường tài chính HQ phát triển chậm chạp và thiếu động lực

2) Giai đoạn 2 từ 1997-2007

Khi cuộc Khủng hoảng tài chính Châu Á bùng nổ ở thái Lan và lan rộng ra nhiều quốc gia khác như NB, TQ, trong đó có cả HQ Cuộc khủng hoảng này đã giáng một đoàn mạnh vào nền kinh tế Hàn Quốc Đồng won giảm giá đột ngột so với đồng USD (từ 1000W đổi 1USD nay thành 1700W đổi 1USD), nợ xí nghiệp bình quân của các doanh nghiệp Hàn Quốc vọt lên 400%, trong đó có 30 doanh nghiệp lớn có mức nợ lên tới 518%, dự tữ ngoại tệ chỉ còn lại 3,8 tỉ USD Một loạt doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực gang thép, công nghiệp ô tô bị phá sản, nền kinh

tế dường như bị “đột quỵ”

Trước tình hình đó thì chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện một loạt các biện pháp cải

cách nhằm vực dậy nền kinh tế sau khủng hoảng Việc chuyển từ chế độ tỉ giá cố định sang chế độ tỉ giá thả nổi linh hoạt nhằm mục đích thu hút dòng vốn đầu tư

nước ngoài Để tránh việc đồng Won mất giá quá mạnh thì Bộ Tài chính nước này

đã quy định trần trạng thái giao dịch kỳ hạn tiền tệ và áp thuế đối với các tài sản

“Nợ” ngoại tệ không phải tiền gửi mà các ngân hàng nắm giữ Cơ quan này cũng

áp thuế với mức tối đa lên tới 14% đối với các khoản thu nhập từ lãi đối với trái phiếu bộ tài chính do người nước ngoài nắm giữ và đánh thuế lên tới 20% trên thu nhập từ vốn khi bán các trái phiếu này

Tác động của chính sách

- Duy trì đồng bản tệ ở mức thấp nên thúc đẩy XK đồng thời thu hút đầu tư vào HQ

Trang 10

- Việc thực hiện chế độ thả nổi tỉ giá khiến cho việc bơm hay hút vốn vào thị trường HQ một cách dễ dàng khiến cho tâm lí thoải mái và k sợ mất vốn đối với các nhà đầu tư từ đó kích thích FDI

Kết quả:

Hàn Quốc đã nhanh chóng đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng Chỉ trong vòng

2 năm 1998-2000 HQ giải quyết toàn bộ hậu quả của KHTC, trả hết số nợ khổng lồ

57 tỉ USD cho IMF Quá trình cái cách nền kinh tế đã tạo một bước tiến nhảy vọt trong mọi lĩnh vực của Hàn Quốc đồng thời đưa nước này trở thành một trong những nước công nhiệp phát triển hàng đầu Châu Á

Tuy nhiên chế độ tỉ giá mà Hàn Quốc áp dụng vẫn chưa được coi là thả nổi tự do một cách hòan toàn Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế tại các tổ chức quốc tế như WB hay IMF thì thực chất chế độ tỉ giá của Hàn Quốc vẫn là chế đột hả nổi có điều tiết tuy nhiên sự can thiệp của nhà nước đang dần dần giảm xuống Đến năm 2002 do ảnh hưởng của nền kinh tế Mỹ khiến đồng USD giảm giá mạnh trong khi đó các nguồn vốn đầu tư vẫn đổ dồn vào HQ cùng với kim ngạch

XK ngày càng tăng đã khiến cho đồng Won đột ngột tăng giá thậm chí còn cao hơn rất nhiều so với trước khủng hoảng tài chính năm 1997 Nếu như trước 1997 tỉ giá won/USD là 1000 won ăn một USD thì đến giai đoạn này tỉ giá này lên tới 940 won ăn một USD có lúc còn có 920 won ăn một USD Không chỉ tỉ giá won/USD

mà tỉ giá Won/ Yên Nhật cũng giảm mạnh xuống còn 800 won ăn một Yên Nhật Điều này tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế cũng như tình hình xuất khẩu của HQ

vì với mức tỉ giá này càng xuất khẩu nhiều thì càng bị lỗ

Biện pháp của chính phủ:

Trong thời gian qua chính phủ đã phát hành rất nhiều trái phiếu nhằm ổn định tỷ giá hối đoái Số trái phiếu ổn định tỷ giá hối đoái tăng lên sẽ làm tăng gánh nặng

lãi suất của người dân, và chính phủ đang ở trong hoàn cảnh không thể tùy ý căn thiệp vào thị trường để giúp các doanh nghiệp xuất khẩu ổn định Xác suất chính phủ Hàn Quốc lựa chọn khả năng tham gia vào thị trường hối đoái

là thấp do Hàn Quốc đã tham gia vào nền kinh tế toàn cầu và gánh nặng về lãi suất của trái phiếu ổn định tỷ giá hối đoái

3) Giai đoạn 3 từ 2007- nay

Năm 2007 khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra bắt đầu từ nước mỹ sau đó lan rộng ra các nước trên thế giới nền KT Hàn Quốc lại tiếp tục rơi vào khủng hoảng đặc biệt đồng Won mất giá hơn 40% so với trước khủng hoảng Vào cuối tháng 7,

Ngày đăng: 15/05/2014, 03:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w