Tình hình xuất nhập khẩu của việt nam 2002 2012 và biện pháp nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trong điều kiện là thành viên WTO
Trang 1DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 5 - LỚP KTQT I _ 1
Trang 2A – PHẦN MỞ ĐẦU
Bất cứ một quốc gia nào muốn phát triển kinh tế không thể chỉ dựa vào nền sản xuất trong nước mà còn phải quan hệ với các nước bên ngoài Do có sự khác nhau về điều kiện tự nhiên như tài nguyên, khí hậu mà mỗi quốc gia có thế mạnh trong việc sản xuất một số mặt hàng nhất định
Để đạt được hiệu quả kinh tế đồng thời đáp ứng được nhu cầu ngày càng đa dạng ở trong nước, các quốc gia đều mong muốn có được những sản phẩm chất lượng cao với giá rẻ hơn
từ các nước khác đồng thời mở rộng được thị trường tiêu thụ đối với các sản phẩm thế mạnh của mình Chính từ mong muốn đó đã làm nảy sinh hoạt động thương mại quốc tế
Hoạt động thương mại quốc tế thông qua mối quan hệ rộng rãi vượt ra ngoài biên giới quốcgia sẽ là cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với nền kinh tế bên ngoài, đồng thời tạo ra động lực thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế ở mỗi khu vực và trên toàn thế giới
Thương mại quốc tế được cấu thành bởi hai bộ phận cơ bản xuất khẩu và nhập khẩu Do vậy, xác định được vai trò quan trọng cũng như có sự quan tâm thích đáng đến hoạt động xuất nhập khẩu là nhiệm vụ hàng đầu của hoạt động thương mại quốc tế
Đối với Việt Nam, ngoài những đặc điểm nêu trên chúng ta còn có những nét đặc thù riêng
đó là nền kinh tế có xuất phát điểm thấp, cơ sở hạ tầng kĩ thuật lạc hậu, công nghệ thủ công đang rất cần được đổi mới, bên cạnh đó tiềm lực xuất khẩu lại lớn nhưng chưa đượckhai thác hiệu quả Tất cả những điều này cho thấy hoạt động xuất nhập khẩu đối với nước
ta càng quan trọng hơn Đây là những lí do cơ bản khiến nhóm chúng em quyết định chọn
đề tài: “Đánh giá tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam trong thời gian qua? Cần phải có những giải pháp gì để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trong điều kiện là thành viên của WTO và cho ví dụ minh họa?” Bố cục bài thuyết trình của nhóm chúng em gồm 2 phần lớn:
Trang 3I Đánh giá tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam từ năm 2001 – 2012:
1 Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001 – 2006
2 Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2007 – 2011 (giai đoạnViệt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO)
3 Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam năm 2012 (năm đầu tiên Việt Nam xuất siêu kể từ 1993)
II Biện pháp nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trong điều kiện là
thành viên WTO và ví dụ minh họa
Trang 4B – PHẦN NỘI DUNG
I – Đánh giá tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam từ năm 2001 – 2012:
1 Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001 – 2006
a) Quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu:
Theo số liệu của tổng cục thống kê thì tổng kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu có xu hướng tăng lên trong giai đoạn 2001-2006 Năm 2001, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 31.247 tỷ USD trong đó trị giá hàng hóa xuất khẩu là 15.029 tỷ USD và trị giá hàng hóa nhập khẩu là 15.637 tỷ USD Đến năm 2006 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu là 84.215 tỷ USD (đứng thứ 6/11 nước khu vực Đông Nam Á, 39/165 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới)
Nhập khẩu Xuất khẩu Cán cân thương mại
Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá
và cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 2001-2006 ( Đơn vị: tỷ USD)
Nguồn: Tổng cục thống kê
Trị giá hàng hóa nhập khẩu trong giai đoạn này luôn ở mức cao hơn so với hàng hóa xuất khẩu.Vì thế mà cán cân thương mại của Việt Nam luôn bị âm (bị thâm hụt) Năm
2000 cán cân thương mại thâm hụt 1.154 tỷ USD Năm 2004 con số này đã tăng lên 5.572
tỷ USD (tăng 4.83 lần so với năm 2000) Đến năm 2006 thì con số này đã giảm xuống còn 4.805 tỷ đồng tuy vậy đây vẫn là một con số đáng kể so với năm 2000
Trang 5 Chính vì thế Việt Nam trong giai đoạn này luôn ở tình trạng nhập siêu → Điều này đặt ra 1 vấn đề nhà nước cần phải đưa ra giải pháp thuế quan, hạn
ngạch,tiêu chuẩn kĩ thuật…để khắc phục tình trạng nhập siêu hay là thâm hụt cán cân thương mại.
Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu không ổn định Năm 2001, tăngtrưởng xuất nhập khẩu chỉ đạt 3,7% do tình tình kinh tế - chính trị thế giới biến động Chỉ
số này đã được cải thiện vào năm 2002, và bứt phá trong hai năm 2004-2005.Sau khi suy giảm nhẹ vào năm 2005, tốc độ tăng trưởng tiếp tục giữ ở mức cao
Tốc độ tăng xuất khẩu Tốc độ tăng nhập khẩu Tỷ lệ nhập siêu
Biểu đồ 2: Tốc độ tăng xuất khẩu, nhập khẩu và tỷ lệ nhập siêu
giai đoạn 2000-2006 (Đơn vị :%)
Nguồn: Bộ thương mại- Tổng cục thống kê
- Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá hàng năm giai đoạn 2000-2006
là 19,3%, được xếp vào mức cao nhất khu vực, chỉ đứng sau Trung Quốc Tốc độ tăngtrưởng kim ngạch xuất khẩu trong giai đoạn 2000-2006 không đồng đều.Năm 2000 đạt tốc
độ 25.5% nhưng đến năm 2001 giảm mạnh chỉ còn 3.8% sau đó tăng nhanh trong 4 năm2001-2004.Năm 2004 tăng trưởng xuất khẩu đạt 31.5% Nhưng sau đó đã giảm xuống còn21.6% năm 2005.Tuy vậy năm 2006 đã tăng trở lại nhưng chỉ đạt 22.9%
Trang 6- Xuất khẩu từ chỗ chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ so với tổng thu nhập quốc dân (24% GDP
năm 1991), đến nay xuất khẩu đã chiếm 64,9%, đứng thứ 5 so với các nước trong khu vực Đông Nam Á, thứ 6 ở châu Á, thứ 8 trên thế giới Hệ số giữa tốc độ tăng kim ngạch
xuất khẩu hàng hoá với tốc độ tăng GDP đạt hơn 2,7 lần
=> Đây là dấu hiệu tích cực đối với xuất khẩu, lượng hàng hóa xuất khẩu tăng thể hiện quy mô sản xuất đã được mở rộng, là yếu tố giúp duy trì nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu một cách bền vững Xuất khẩu đã trở thành nhân tố quan trọng và là động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế Nhìn chung, nền kinh tế quốc dân đã được định vị theo hướng xuất khẩu và độ mở cửa là tương đối rộng
- Tốc độ tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu cũng không ổn định nhưng tăng trưởng nhanh hơn so với kim ngạch xuất khẩu Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu bình quân giai đoạn
2001 - 2006 là 19% Năm 2001 tốc độ tăng trưởng chỉ đạt 3.7%, trong 2 năm 2002-2003 tăng lên đến 27.9% vào năm 2003 nhưng sau đó lại giảm vào 2 năm 2004, 2005 (đạt 15% vào năm 2005) rồi lại tăng lên 20.4% vào năm 2006
- Tỷ lệ nhập siêu cũng không ổn định.Tỷ lệ này giảm mạnh vào năm 2001 sau đó tăng nhanh trong 2002-2004 nhưng lại giảm mạnh vào năm 2005 Tuy vậy tỷ lệ này vẫn tăng lên vào năm 2006 (đạt 21.6%)
=> Điều này thể hiện nhà nước bước đầu đã có những chính sách thích hợp để khắc phục tình trạng nhập siêu ở Việt Nam nhưng những chính sách này vẫn chưa ổn định và hiệu quả
b) Mặt hàng và thị trường chủ lực:
Mặt hàng chủ lực xuất khẩu
Đến năm 2005, ngoài dầu thô có kim ngạch xuất khẩu trên 5 tỷ USD còn có thêm 6 mặthàng khác có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD là dệt may, thuỷ sản, giày dép, hàng điện
tử và linh kiện máy tính, sản phẩm gỗ và gạo Các mặt hàng gạo, cà phê tiếp tục duy trì vị trí thứ 2 trên thế giới, hạt tiêu đứng đầu thế giới, hạt điều đứng thứ 3 thế giới
Trang 7Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu có sự chuyển dịch tiến bộ
Dầu thô, thủy sản, gạo, dệt may, cà phê,
lâm sản, cao su, lạc, hạt điều
Dầu thô, dệt may, giày dép, thủy sản, sản phẩm gỗ, điện tử và gạo.
=> Cơ cấu này phản ánh xu hướng gia tăng các chủng loại mặt hàng chế biến, chế tạo,
và sự giảm đi về tỷ trọng của các mặt hàng xuất khẩu thô, chủ yếu là các mặt hàng nông, lâm, hải sản và khoáng sản
Tuy nhiên, dù có sự tiến bộ như vậy, nhưng các mặt hàng xuất khẩu thô của Việt Nam đến nay vẫn còn chiếm tỷ trọng cao, đòi hỏi một sự nỗ lực lớn hơn nữa để tăng nhanh các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu Ta có thể thấy tỷ trọng của sản phẩm thô trong giai đoạn này vẫn luôn ở mức trên 46% kim ngạch xuất khẩu
- Về nhóm hàng khoáng sản, nguyên liệu:
Trong số những sản phẩm thô thuộc mảng này, đáng chú ý nhất và quan trọng, đồng thời cũng chiếm tỷ trọng cao nhất chính là Dầu thô và Than đá
+ Tổng lượng dầu thô xuất khẩu giai đoạn 2001-2005 đạt khoảng 90 triệu tấn, trị giáđạt 23,2 tỷ USD Tốc độ tăng kim ngạch bình quân giai đoạn 2001-2005 đạt trên 16%/năm
+ Xuất khẩu than đá có sự tăng truởng đột biến, tính chung giai đoạn 2001-2005: lượng than đá xuất khẩu trong 5 năm đạt trên 44,2 triệu tấn, kim ngạch 1,389 tỷ USD, tốc
độ tăng kim ngạch bình quân đạt gần 48%/năm
- Về nhóm hàng nông nghiệp, thủy sản:
+ Kim ngạch xuất khẩu ngành thủy sản luôn chiếm 1 tỷ trọng đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước vào khoảng 10% và ngành thủy sản cũng đóng góp trên 10% vào GDP của nước ta Đến năm 2006 mặt hàng thủy sản Việt nam đã có mặt trên 130 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới
+ Hàng hóa nông sản chủ yếu xuất khẩu ở việt nam là gạo, cà phê, cao su, hạt điều
và tiêu… nhưng chủ yếu là xuất khẩu sản phẩm thô chưa qua chế biến
Trang 8=> Tóm lại, do đã có quá trình phát triển lâu dài, đã khai thác phần lớn tiềm năng nên hoạt động xuất khẩu nông, thủy sản của Việt Nam những năm qua có xu hướng tăng trưởng chậm lại về khối lượng, nhưng vẫn gia tăng nhanh về giá trị do giá cả thế giới
có xu hướng tăng lên Để các mặt hàng này thực sự trở thành thế mạnh của xuất khẩu Việt Nam, về lâu dài cần phát triển theo hướng: nâng cao dần chất lượng sản phẩm, gia tăng hàm lượng chế biến, đẩy mạnh hoạt động xây dựng và quảng bá thương hiệu, phát triển hạ tầng pháp lý.
- Về nhóm hàng chế biến:
Đây là nhóm hàng gồm nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực như: dệt may, giày dép, sản phẩm cơ khí, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa, điện tử, thủ công mỹ nghệ… Có thể phân chia các mặt hàng này thành hai nhóm
+ Hàng chế biến chính: thủ công mỹ nghệ, dệt may, giày dép, thực phẩm chế biến, hóa phẩm tiêu dùng, sản phẩm cơ khí – điện, vật liệu xây dựng, sản phẩm gỗ
+ Hàng chế biến cao: điện tử và linh kiện máy tính, phần mềm
=> Vấn đề nan giải đối với các sản phẩm chế biến: dệt may, da giày, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa… là nguồn nguyên, phụ liệu phần lớn phải nhập khẩu từ nước ngoài Do vậy, giá trị gia tăng của sản phẩm xuất khẩu chưa cao, các doanh nghiệp chưa thực sự chủ động trong việc kí kết các hợp đồng Nhiều sản phẩm chế biến còn mang tính chất gia công.
* Mặt hàng chủ lực nhập khẩu:
Xét theo cơ cấu nhóm hàng, cơ cấu nhập khẩu có sự biến động giữa hai nhóm hàng tư liệu sản xuất và vật phẩm tiêu dùng Nhập khẩu hàng tiêu dùng có xu hướng giảm nhanh Xét trong cả giai đoạn từ 2000-2006, hàng tiêu dùng nhập khẩu chiếm tỷ trọng bình quân 7% - 11%
=> Điều này đã thể hiện đúng định hướng nhập khẩu của nước ta là: giảm tỷ trọng hàng nhập khẩu phục vụ tiêu dùng, tăng tỷ trọng hàng nhập khẩu là máy móc thiết bị, nguyên vật liệu cho sản xuất, đồng thời cũng phản ánh xu hướng: nhập khẩu đã góp phần phát triển sản xuất trong nước theo hướng thay thế nhập khẩu hàng tiêu dùng.
Trang 9Trong nhóm hàng tư liệu sản xuất, nhóm máy móc thiết bị, động cơ, phụ tùng và nguyên, nhiên vật liệu chiếm tỷ trọng tương đối ổn định, ít có thay đổi lớn Tuy vậy, nguyên, nhiên vật liệu trong giai đoạn 2000 - 2006 vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng giá trị nhập
→ Điều này cho thấy việc “Diễn đàn Kinh tế thế giới” xếp nước ta vào hàng rất thấp về đổi mới công nghệ và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế là điều dễ hiểu Điều này cũng cho thấy sự phát triển yếu kém của ngành công nghiệp phụ trợ cũng như sản xuất thay thế nhập khẩu, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế xét theo năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) Điều này sẽ hạn chế việc cải thiện cán cân thương mại trong dài hạn.
* Thị trường xuất nhập khẩu chủ lực:
- Thị trường xuất khẩu:
Đến năm 2006, thị trường xuất khẩu của Việt Nam đã được mở rộng đến 220 nước và vùnglãnh thổ Từ chỗ chúng ta phải lệ thuộc hoàn toàn vào khu vực thị trường Đông Âu và Liên
xô (cũ), từ năm 1991 đến nay, thị trường ngày càng được mở rộng từ ASEAN đến châu Á, châu Âu và châu Mỹ, châu Phi Nếu như từ năm 2000 trở về trước thị trường xuất khẩu thị trường chủ yếu của nước ta chủ yếu ở khu vực châu Á, thì từ 2001 đến nay, thị trường đã được đa dạng hoá
Bảng 9: Cơ cấu thị trường xuất khẩu (%)
Khu vực thị trường 2000 2002 2003 2004 2005 2006
Trang 10Châu Âu
Nguồn: Tổng cục Thống kê và Bộ Thương mại
=> Châu Á vẫn là thị trường chủ lực, bên cạnh đó, nước ta cũng thiết lập được mối quan hệvới những thị trường mới mẻ là Châu Phi và Châu Đại Dương
- Thị trường nhập khẩu:
Đến hết năm 2006, thị trường nhập khẩu của Việt Nam đã được mở rộng tới 170 nước và
vùng lãnh thổ Khu vực châu Á (chủ yếu là ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hồng Công, Đài Loan) là thị trường nhập khẩu lớn nhất của nước ta trong thời gian qua
do có những lợi thế về vị trí địa lý, giá cả Đồng thời, đây cũng là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ lệ cao.Khu vực này cung cấp chủ yếu nguyên liệu, phụ liệu, máy móc phụ tùng và hàng tiêu dùng
Bảng 10: Tỷ trọng một số thị trường nhập khẩu chủ yếu, giai đoạn 1996 - 2006 (%)
Năm
Thị trường
Trang 11Châu Á 74,2 79,7 74,2 80,7 80,7
Nguồn: Tổng cục Thống kê và Bộ Thương mại
2 Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2007 – 2011
a) Quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu:
Kim ngạch xuất nhập khẩu và cán cân thương mại Việt Nam 2007 – 2012
Trang 12Tổng kim ngạch xuất khẩu trong 5 năm (2007-2011) là 336,54 tỷ USD, bằng 2,24 lần của 6 năm 2001- 2006 (150,65 tỷ USD) Cần lưu ý rằng, trong kinh tế, con số tương đốiđược thể hiện bằng tỷ lệ phần trăm đánh giá tốc độ phát triển, nhưng con số tuyệt đối mới nói lên sức mạnh của từng lĩnh vực Nếu mỗi phần trăm tăng kim ngạch xuất khẩu năm
2000 tương đương 145 triệu USD, thì năm 2011 là 960 triệu USD (bằng 6,2 lần)
Một tác động được dự đoán từ trước khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới là sự gia tăng nhập khẩu và nhập siêu Tình trạng nhập siêu tiếp diễn nhưng có xu hướng giảm cả số tuyệt đối và tỷ lệ phần trăm Năm 2007, nhập siêu 14,2 tỷ USD bằng 29,2%, năm 2011 nhập siêu 9,5 tỷ USD (bằng 9,9% kim ngạch xuất khẩu) Trong khi cán cân thương mại của Việt Nam là nhập siêu, các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã xuất siêu trong những năm gần đây, trong đó, năm 2011 khoảng 5,5 tỷ USD, góp phần giảm bớt tình trạng nhập siêu của nền kinh tế
Nguyên nhân của tình trạng nhập siêu của nước ta trong giai đoạn này:
- Nguyên nhân vừa trực tiếp, vừa sâu xa và ảnh hưởng lâu dài đến nhập siêu là sự bất hợp lý về cơ cấu kinh tế Nền kinh tế còn nặng về xuất khẩu thô, gia công cho nước ngoài nên khả năng cạnh tranh kém, giá trị gia tăng thấp
- Cơ chế chính sách quản lý và điều hành xuất nhập khẩu hàng hoá nhiều yếu kém, bất cập Phương pháp quản lý hành chính, phi thị trường đối với xuất nhập khẩu đang bị lạm dụng Nhiều biện pháp chống nhập siêu hiện nay chỉ có tính chất ứng phó, ngắn hạn vàtác dụng rất hạn chế chỉ với một số nhóm hàng chiếm tỷ trọng không lớn trong kim ngạch nhập khẩu
- Thiếu chiến lược bài bản về điều hành tỷ giá hối đoái, tỷ giá hiện nay đang khuyếnkhích nhập khẩu và hậu quả là gia tăng nhập siêu
- Năng lực cạnh tranh ở cả 3 cấp độ sản phẩm,doanh nghiệp và nền kinh tế quốc dâncòn thấp
Trang 13- Trong một thời gian dài quá chú trọng vào thị trường nước ngoài, say mê với xuất khẩu mà chưa quan tâm đúng mức đến thị trường trong nước Điều này sẽ dẫn đến hai hệ luỵ: bỏ ngỏ thị trường trong nước cho nước ngoài chiếm lĩnh và tạo tâm lý sính hàng ngoại.
Cả hai điều này đều làm gia tăng nhập khẩu
b) Mặt hàng và thị trường chủ lực:
* Mặt hàng xuất khẩu chủ lực:
- Về nhóm hàng khoáng sản, nhiên liệu:
Dầu thô và than đá vẫn là những mặt hàng xuất khẩu chính
+ Lượng dầu thô xuất khẩu năm 2011 đạt 8,24 triệu tấn, tăng 3,3% và trị giá đạt 7,24
tỷ USD, tăng 46,1% so với năm 2010 Đơn giá xuất khẩu bình quân đạt 879 USD/tấn (khoảng 115 USD/thùng), tăng 41,4% so với thời kì trước
+ Lượng than xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2011 là 17,2 triệu tấn, giảm 13,4%, trị giá đạt 1,63 tỷ USD, tăng 1,3% so với năm 2010 Lượng xuất khẩu than đá của Việt Nam sang hầu hết các thị trường đều giảm so với thời kì trước
- Về nhóm hàng nông nghiệp, thủy sản:
+ Tính đến hết năm 2011, kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản đạt 6,11 tỷ USD, tăng 21,8% so với năm 2010 và tăng 65,6% so với mức bình quân giai đoạn 2005- 2009
+ Gạo vẫn là một mặt hàng nông sản chủ đạo, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị
xuất khẩu nông sản của nước ta (chiếm 26,8% tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản) Bên cạnh đó, cà phê và cao su vẫn giữ được mức tăng trưởng đáng kể
- Về nhóm hàng các sản phẩm chế biến:
+ Hàng dệt may: kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may năm 2011 của nước ta đạt 14,04
tỷ USD, tăng 25,3% so với năm 2010 và tăng tới 132% so với kim ngạch bình quân của giai đoạn 2001 - 2010 Ngoài ra, trong lĩnh vực hàng dệt may cũng xuất hiện thêm nhiều mặt hàng mới và có mức tăng trưởng ấn tượng như giày dép, vali, túi xách, mũ và ô dù…
Trang 14+ Điện thoại các loại & linh kiện: diễn biến xuất khẩu nhóm hàng này trong năm
2011 theo hướng tăng mạnh trong quý II và quý III Tính chung năm 2011, xuất khẩu điện thoại các loại & linh kiện đạt 6,89 tỷ USD, tăng 198,4% so với năm 2010
=> Điều này thể hiện cơ cấu xuất khẩu hàng của nước ta giai đoạn này biến đổi theo hướng đa dạng hóa và có phần tăng cơ cấu của những mặt hàng có hàm lượng công nghệ cao hơn
* Mặt hàng nhập khẩu chủ lực:
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùnglà nhóm hàng dẫn đầu về kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam Bên cạnh đó, nước ta cũng tăng cường nhập khẩu xăng dầu,
sắt thép các loại Nhóm hàng nguyên vật liệu, phụ liệu phụ kiện cho các ngành dệt may, da giày vẫn không có xu hướng giảm Điều này thể hiện rõ ngành công nghiệp nhẹ nước ta vẫn chỉ dừng lại ở mức độ gia công là chính, phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu của nước ngoài
Biểu đồ 8: Lượng sắt thép các loại nhập khẩu năm 2005- 2011
+ Một mặt hàng mới xuất hiện trong giai đoạn này nhưng lại chiếm tỉ trọng không nhỏ trong cơ cấu hàng nhập khẩu nước ta là Ô tô nguyên chiếc
Trang 15Biểu đồ 9: Lượng nhập khẩu ô tô nguyên chiếc các loại trong năm 2011
* Cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu
Nhìn chung, giai đoạn này, cơ cấu các thị trường xuất nhập khẩu chủ yếu của nước ta không có nhiều biến động lớn so với giai đoạn trước Số liệu cụ thể về cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu được thể hiện rõ tại bảng sau:
Trang 16=> ASEAN, APEC, EU và Hoa Kỳ tiếp tục là những thị trường đáng quan tâm trong lĩnh vực xuất nhập khẩu của nước ta.
3 Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam năm 2012.
Trang 17Năm 2012 xuất siêu 284 triệu USD và là năm đầu tiên Việt Nam xuất siêu hàng hóa kể
từ năm 1993 Đây là thước đo cho một cán cân thương mại lành mạnh, góp phần lớn cho tăng trưởng GDP, ổn định tỷ giá và dự trữ ngoại hối Điều đó thật quý giá trong bối cảnh đầu ra của doanh nghiệp năm nay cực kỳ khó khăn, kinh tế thế giới vẫn chưa hồi phục
Trong năm chỉ có ba tháng nhập siêu ở mức thấp, các tháng còn lại đều xuất siêu, đặc biệt làcác tháng cuối năm Nguyên nhân chủ yếu do suy giảm của sản xuất và tiêu dùng trong nước nênnhập khẩu tăng thấp hơn nhiều so với xuất khẩu