Kinh tế singapore và quan hệ với việt nam
Trang 1MỤC LỤC
1
Trang 2A. KHÁI QUÁT VỀ ĐẤT NƯỚC SINGAPORE
I VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
1. Vị trí địa ly
Singapore là một quốc đảo hình một viên kim cương nằm ở phía namquần đảo Mã Lai Quốc đảo này có một vị trí lý tưởng: nằm trên trục đường vậntải biển từ Á sang Âu, Đông sang Tây, là đầu cầu, cửa ngõ ra vào của Châu Á.Singapore còn là tâm điểm nối các Châu lục Á – Âu – Phi – Úc và Bắc, Nam
Mỹ (phía Tây Thái Bình Dương), giữa 1o09′ đến 1o9′ độ vĩ bắc và 103o36′ đến104o25′ độ kinh đông; cách xích đạo về phía Bắc khoảng 137 km; eo biển Johorngăn cách Singapore với bán đảo Malaysia và eo biển Singapore là biên giớivới quần đảo Indonesia Với vị trí địa lý thuận lợi như vậy, Singapore chính làđầu mối giao thương quôc tế, là nơi thực hiện các hoạt động xuất nhật khẩu vàquá cảnh nhộn nhịp bậc nhất thế giới
2. Điều kiện tự nhiên
a. Lãnh thô:
Gồm một đảo chính và 63 đảo nhỏ, đảo chính là đảo Singapore có chiều dàikhoảng 42 km và chiều rộng 23 km với diện tích khoảng 556 km2 trong tổngdiện tích 697,25 km2 của cả quần đảo Singapore Singapore đã mở mang lãnhthổ bằng đất lấy từ những ngọn đồi, đáy biển và những nước lân cận Nhờ đó,diện tích đất của Singapore đã tăng từ 581,5 km² ở thập niên 1960 lên 692,7km² ngày nay (xấp xỉ diện tích huyện Cần Giờ (thành phố Hồ Chí Minh)), và cóthể sẽ tăng thêm 100 km² nữa đến năm 2030
Có hai con đường nối giữa Singapore và bang Juhor của Malaysia — mộtcon đường nhân tạo có tên Đường nối Johor-Singapor ở phía Bắc, băng qua eo
Trang 3biển Tebrau và chỗ nối thứ hai Tuas, một cầu phía Tây nối với Juhor Vị trí caonhất của Singapore là đồi Bukit Timah với độ cao 166 m Những hòn đảo cònlại đều nhỏ, đảo rộng nhất là đảo Pulauteking với diện tích 24,4km2; Pulanubin10,2 km2 và đảo Sentosa 3,5 km2
Bản đồ Singapore (nguồn Wikipedia)
b. Địa hình:
Địa hình của Singapore là bình nguyên xen kẽ các gò, đống, đồi thấp và đầmlầy Gần 2/3 diện tích đảo không cao quá 15m so với mực nước biển Đỉnh caonhất của Singapore là Bukitpanjang cũng chỉ cao 177m Phần phía Đông củađảo là một cao nguyên thấp đã bị bào mòn nhiều nên trở thành như đồng bằng,thỉnh thoảng có vài thung lũng nhỏ Với địa hình gần như bằng phẳng như vậy,Singapore không có điều kiện để phát triển thuỷ điện và do đó phải dựa vàonguồn dầu nhập khẩu Đây là một bất lợi cho quốc đảo nhỏ bé này
c. Khí hậu
Singapore nằm trong vùng khí hậu xích đạo nên nhiệt độ và độ ẩm khôngkhí khá cao Nhiệt độ trung bình hằng ngày là 26,7 độ C; nhiệt độ cao nhất vàobuổi chiều là 30,8 độ C và nhiệt độ thấp nhất lúc hoàng hôn là 23,9 độ C Tháng
3
Trang 412 và tháng giêng thường là tháng mát nhất Tháng 5 là tháng nóng nhất trongnăm Lượng mưa hàng năm là 2.344ml; mưa quanh năm nhưng thường mưa tovào tháng 11 đến tháng giêng, tháng 7 là tháng mưa ít nhất Độ ẩm không khíbình quân trong năm cao, khoảng 84,3%
d. Tài nguyên
Singapore hầu như không có tài nguyên, nguyên liệu đều phải nhập từ bênngoài Singapore chỉ có ít than, chì, nham thạch, đất sét; không có nước ngọt;đất canh tác hẹp, chủ yếu để trồng cao su, dừa, rau và cây ăn quả, do vậy nôngnghiệp không phát triển, hàng năm phải nhập lương thực, thực phẩm để đáp ứngnhu cầu ở trong nước.Vì không có tài nguyên nên quốc đảo này luôn phải tiếtkiệm những nguồn năng lượng nhật khẩu Một giọt nước ngọt cũng trở thànhthứ hàng hóa xa xỉ khi được sử dụng tới hai lần
II. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH
Singapore là quốc gia có lịch sử hình thành tương đối muộn so với cácnước trong Đông Nam Á Có thể tổng kết lịch sử của quốc gia nhỏ bé này thànhcác giai đoạn sau:
1.Giai đoạn thuộc Malacca và Johor:
Vào thế kỷ 14, đế chế Srivijaya bị vương quốc Majapahit từ Java tấn công,dân cư từ đảo Sumatra vượt biển theo hướng bắc lên bán đảo Mã Lai và thànhlập vương quốc Malacca ở đây, trong thế kỷ 15 Singapore nói riêng và vươngquốc Malacca có một thế kỷ phát triển huy hoàng bởi tầm quan trọng của vị tríthuận lợi về hàng hải của nó
Năm 1511, thành phố thủ phủ Malacca bị người Bồ Đào Nha xâm chiếm, bộphận còn lại người Mã Lai đã thành lập nên vương quốc Johor ở phía nam bánđảo, lúc này Singapore cũng là một phần của vương quốc Johor
Mặc dù người Bồ Đào Nha cố tìm cách chinh phục vương quốc Johor, songnó đã trở nên thịnh vượng vào cuối thế kỷ 16 đầu thế kỷ 17, nhất là khi ngườiHà Lan đến đây Đặt bản doanh ở đảo Java, người Hà Lan xem Johor là một đốitrọng có ích để cạnh tranh với người Bồ Đào Nha đang ở Malacca và đẩy mạnhviệc buôn bán với vương quốc này Năm 1641, vương quốc Johor liên minh với
Trang 5Hà Lan đuổi được Bồ Đào Nha ra khỏi Malacca, mặc dù Malacca giờ đây có vịtrí không quan trọng lắm vì nó nằm xa vùng kiểm soát của Hà Lan.
2. Giai đoạn là thuộc địa của người Anh:
Sau nhiều thế kỷ là một phần của vương quốc Johor, tới năm 1819 công tyĐông Ấn Anh đã chiếm đảo Singapore Ông Thomas Stamford Raffles, mộtviên chức của công ty Đông Ấn (của Anh), đã kí một thỏa thuận với vua củaJohor Ông đồng thời thiết lập Singapore trở thành một trạm thông thương buônbán và nơi định cư, sau này đã nhanh chóng phát triển và thu hút sự di dân từnhiều chủng tộc khác nhau
Tới năm 1824 hiệp ước Anh - Hà Lan cũng đã đưa thêm Malacca cùng vớiSingapore vào sự kiểm soát của người Anh như là một phần định giới cho haicường quốc Châu Âu, nhằm phân chia ảnh hưởng của họ ở vùng ven biển ĐôngNam Á Lấy eo biển Malacca làm ranh giới, người Anh đã nắm trọn bán đảoMã Lai như là một khu vực riêng của họ Hiệp ước năm 1824 đã thật sự xácđịnh ranh giới tương lai cho các thuộc địa của Anh và Hà Lan ở trong vùng, tuynhiên vào những năm 1820, người Anh không có ý định dính chân sâu vàovùng bán đảo, họ hài lòng với vùng eo biển như Singapore, Malacca và Penang.Singapore sau đó đã trở thành thuộc địa của Anh năm 1867
Vào năm 1819, khi Singapore bắt đầu thuộc về người Anh, hòn đảo này dân
cư mở mang lãnh thổ Đế quốc Anh nhanh chóng đưa Singapore trở thành mộttrung tâm tập trung và phân phối dựa vào vị trí rất quan trọng của nó trên conđường biển nối giữa châu Âu và Trung Quốc
3. Giai đoạn Nhật chiếm đóng:
Trong Thế chiến thứ hai, quân đội Đế quốc Nhật xâm chiếm Malaya vànhững vùng lân cận trong Cuộc chiến Malaya, lên đến cực điểm tại Cuộc chiếnSingapore Quân Anh không được chuẩn bị và nhanh chóng thất thủ mặc dù cólực lượng đông hơn Anh giao nộp Singapore cho quân Nhật vào ngày 15 tháng
2 năm 1942 Người Nhật đổi tên Singapore sang tiếng Nhật thành Chiêu Namđảo (昭島 Shōnantō), nghĩa là "Đảo Ánh sáng Miền Nam", và chiếm đóng nócho đến khi quân Anh trở lại chiếm hòn đảo một tháng sau sự đầu hàng củaNhật vào tháng 9 năm 1945
5
Trang 64. Giai đoạn dành độc lập:
Singapore trở thành một nhà nước tự chủ năm 1959 với người đứng đầu nhànước đầu tiên là Yusof bin Ishak và thủ tướng đầu tiên là Lý Quang Diệu saucuộc bầu cử năm 1959 Cuộc trưng cầu dân ý về việc sát nhập Singapore vàoLiên bang Mã Lai đã đạt được năm 1962, đưa Singapore trở thành một thànhviên của liên bang Mã Lai cùng với Malaya, Sabah và Sarawak như là một bangcó quyền tự trị vào tháng 9 năm 1963 Singapore bị tách ra khỏi liên bang vàongày 7 tháng 8 năm 1965 sau những bất đồng quan điểm chính trị chính phủcủa bang và hội đồng liên bang tại Kuala Lumpur Singapore được độc lập 2ngày sau đó, vào ngày 9 tháng 8 năm 1965, sau này đã trở thành ngày Quốckhánh của Singapore Malaysia là nước đầu tiên công nhận nền độc lập củaSingapore
Năm 1990, Goh Chok Tong kế nhiệm chức thủ tướng, đối mặt với nhiều khókhăn bao gồm ảnh hưởng kinh tế từ cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á năm
1997, sự lan tràn của SARS năm 2003 cũng như những đe dọa khủng bố từJemaah Islamiah, hậu 11 tháng 9 và các vụ đánh bom ở Bali Năm 2004, LýHiển Long, con trai cả của Lý Quang Diệu, trở thành thủ tướng thứ ba
III. DÂN CƯ KINH TẾ XÃ HỘI
1. Dân cư
Singapore là một quốc gia trẻ, đa dân tộc, đa sắc thái văn hoá, được hìnhthành chủ yếu trên nền tảng dân nhập cư từ Trung Quốc, Malaysia, ấn Độ vàChâu Âu
Những ngày đầu tiên của Singapore năm 1819, khi Stamford Raffles (ngườiAnh) phát hiện ra thì Singapore chỉ có khoảng 150 người dân sống rải rác dọc
bờ sông Tính đến năm 2011, dân số Singapore đã là 5353494 người (bao gồm
cư dân và những người cư trú lâu dài) Trong đó cộng đồng người Hoa chiếm76,7%; người Malaysia chiếm 13,9% và người ấn Độ chiếm 7,9%; còn lại 1,5%là người Châu Âu, người A rập và các tộc người khác
Trang 7Biểu đồ 1: Thành phần dân tộc của Singapore năm 2011( nguồn
Wikipedia), ĐƠN VỊ TÍNH %
Vào năm 2010, 5,1 triệu người sinh sống tại Singapore, trong số đó 3,2 triệu(64%) mang quốc tịch Singapore trong khi số còn lại (36%) là cư dân định cưhoặc người làm việc ngước ngoài 2,9 triệu người (57%) được sinh tạiSingapore trong khi số còn lại được sinh tại nước ngoài Theo thống kê mớinhất, năm 2012, dân số Singapore đã lên tới 5,31 triệu người
Tuổi trung bình của người Singapore là 73 và số thành viên trung bình tronggia đình là 3,5 người Năm 2010, tỉ lệ sinh nở là 1,1 trẻ em trên một phụ nữ,thấp thứ ba trên thế giới và dưới tỉ lệ cần thiết 2,1 để giữ vững số dân Để giảiquết vấn đề này, chính quyền Singapore đang khuyến khích những người nướcngoài tới định cư tại Singapore Một lượng lớn dân định cư giữ cho dân số củaSingapore không giảm quá nhanh
Tỷ lệ nam nữ trong cơ cấu dân cư của Singapore hiện nay xấp xỉ bằng nhauvà ngày càng có xu hướng cân bằng Năm 1995 tỷ lệ nam/ nữ là 1,013 đến năm
1999 con số này là 1,006 (theo Uỷ ban Thống kê của Singapore), cùng với sựphát triển của dân số (trung bình khoảng 1,9%/năm thời kì 1995-2000) mật độdân số của Singapore hiện nay là 5.900người/km2 Tuổi thọ của người dânSingapore ở mức cao trên thế giới; năm 1999 tuổi thọ của nam công dânSingapore là 75,6 năm và 79,6 năm đối với nữ
Trang 8Nhân nhân Tổng thống đương nhiệm là Ông S.R Nathan và thủ tướng hiện thờilà ông Lý Hiển Long.
Thủ đô: Singapore
Đơn vị tiền tệ: Singapore Dollar (SGD)
TỈ giá: 1 SGD 16.796 VND
Lãnh đạo nhà nước hiện nay:
Tổng thống: Tony Tan Keng Yam, nhậm chức nhiệm kỳ thứ nhất ngày 1tháng 9 năm 2011, nhiệm kỳ 6 năm
Thủ tướng: Lý Hiển Long (Lee Hsien Loong), làm Thủ tướng Singapore
từ ngày 12 tháng 8 năm 2004 đến nay (giữ chức Bộ trưởng Tài chính từ năm
2001 đến tháng 12 năm 2007)
Chủ tịch Quốc hội (Speaker of Parliament): Abdullah Tarmugi được bầulại làm Chủ tịch Quốc hội Singapore khóa 11 từ ngày 2 tháng 11 năm 2006
Bộ trưởng Cao cấp (Senior Minister):
Goh Chok Tong nhậm chức ngày 30 tháng 5 năm 2006 (làm Thủ tướng từ năm
1990 – 2004), kiêm Chủ tịch Cơ quan tiền tệ Singapore (MAS)
S Jayakumar (Giay-a-ku-ma) nhậm chức từ ngày 1 tháng 4 năm 2009, kiêm Bộtrưởng Điều phối An ninh Quốc gia
Bộ trưởng Cố vấn (Minister Mentor): Lý Quang Diệu (Lee Kuan Yew) từngày 30 tháng 5 năm 2006 (làm Thủ tướng Singapore từ năm 1965 - 1990)kiêm Chủ tịch Tập đoàn đầu tư Chính phủ Singapore (GIC)
Thể chế chính trị: Cộng hòa nghị viện
Singapore theo chế độ đa đảng Từ khi giành độc lập đến nay, ĐảngNhân dân Hành động (People's Action Party – PAP) liên tục cầm quyền TrongQuốc hội hiện nay có 94 đại biểu (82 đại biểu thuộc Đảng Nhân dân hành động,
2 đại biểu thuộc Đảng Công nhân, 1 đại biểu của Liên minh Dân chủ và 9 đạibiểu chỉ định) Lý Quang Diệu là cựu Tổng thư ký của Đảng Từ tháng 12 năm
Trang 91992 đến tháng 12 năm 2004, Tổng thư ký Đảng là Gô Chốc Tông Từ 12/2004đến nay, Tổng Thư ký Đảng PAP là Thủ tướng Lý Hiển Long.
Quốc kỳ:
Quốc kỳ của Singapore gồm 2 phần: nửa ở trên màu đỏ và nửa dưới màutrắng Ngoài ra, ở nửa trên còn có thêm hình trăng lưỡi liềm và 5 ngôi sao Mỗimột màu, một hình ảnh đều có ý nghĩa riêng của nó Màu đỏ trên lá cờSingapore tượng trưng cho mối tình anh em giữa người với người, giữa các dântộc trên thế giới, và sự bình đẳng của con người Còn một cách hiểu khác đó làvì Singapore là một nước đa dân tộc (gồm Trung Quốc, Malaysia, Ấn Độ, )nên có thể hiểu màu đỏ này theo nhiều mặt: sự can đảm và dũng cảm của nhữngngười Malaysia, sự may mắn của những người Trung Quốc Màu trắng là biểutượng của sự trong sạch và tinh khôi vĩnh viễn, không nhơ bẩn Trăng lưỡi liềmcó nghĩa biểu trưng cho 1 quốc gia trẻ còn đang trên đường phát triển Nămngôi sao nhỏ gần mặt trăng tượng trưng cho năm lý tưởng của quốc giaSingapore: dân chủ, sự bình đẳng, hòa bình, phát triển và công lý
b. Tôn giáo
Về tôn giáo, Singapore là một quốc gia đa tôn giáo, theo thống kê khoảng51% dân số Singapore theo Phật giáo và Đạo giáo, 15% dân số (chủ yếu làngười Hoa, người gốc Âu, và người Ân Độ) là tín đồ Đạo Cơ đốc.Hồi giáochiếm khoảng 14% dân số, chủ yếu tồn tại trong các cộng đồng người Mã Lai,người Ấn Độ theo Hồi giáo, và người Hồi (người Hoa theo Hồi giáo) Cókhỏang 15% dân số Singapore tuyên bố họ không có tôn giáo, cá tôn giáo kháckhông đáng kể Có hơn 50 thánh đường Hồi giáo, 25 nhà thờ Thiên Chúa giáo,nhiều nhà thờ Phật giáo, Hinđu và một số giáo đường Do Thái Tất cả đều đượcghi trong cuốn những trang vàng Singapore và sách hướng dẫn về đường phố
Biểu đồ 2: Cơ cấu tôn giáo của Singapore năm 2011 ( nguồn Wikipedia)
c. Ẩm thực
9
Trang 10Trong lúc các nhà hàng lớn phục vụ món ăn các nước, các cửa hàng bánthức ăn nhanh và các khu phố ẩm thực là nơi bạn có thể thưởng thức một bữa
ăn thỏa thích với chỉ vài đô la Tại phố ẩm thực, về cơ bản giống như khu cửahàng thức ăn nhưng được trang bị máy lạnh, bạn sẽ thấy nhiều người bày báncác món ăn khác nhau trong cùng một khu vực Bạn có thể ăn mì Trung Hoavới cà ri Ấn Độ và các món ăn thêm của Mã Lai, cùng với món tráng miệngkiểu Pháp và trái cây tươi Tất cả đều vừa mới nấu và những người bán phảiđảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm
d. Ngôn ngư
Tiếng Anh là ngôn ngữ chính trong kinh doanh và hành chính Tuy vậy,tiếng Trung (Phổ thông), tiếng Mã Lai và Tamil cũng là ngôn ngữ chính thức vàlà một phần bắt buộc trong chương trình học ở trường Tiếng Quảng Đông,Phúc Kiến được sử dụng rất rộng rãi ở Singapore
e. Quốc đảo xanh- văn hóa ứng xử với môi trường
Hơn 90% dân cư Singapore sống trong các khu nhà xây dựng sẵn và gần ½dân cư sử dụng phương tiện giao thông công cộng Chất lượng đường bộ củađảo quốc này được đánh giá vào loại tốt nhất thế giới Do Singapore có diệntích rất chật hẹp, nên chính quyền thường có những biện pháp đặc biệt để tránhtình trạng nghẽn xe, tắc đường Chính nhờ các phương tiện giao thông côngcộng này, cùng với các qui định nghiêm ngặt của chính phủ trong các vấn đềmôi trường đã làm cho nạn ô nhiễm môi trường ở quốc gia này giảm mạnh.Đường phố sạch tinh tươm, vì chính quyền áp dụng luật lệ và nghiêm phạt ngaycả những ai phạm những tội được xem là nhẹ ở các nước khác, như xả rác, đi bộkhông đúng luật giao thông và khạc nhổ nơi công cộng Hiện nay, Singapoređược coi là quốc gia sạch đẹp nhất thế giới với môi trường trong lành và thảmthực vật phong phú
3. Kinh tế
Kinh tế Singapore là nền kinh tế phát triển, theo đường lối kinh tế tư bản Sựcan thiệp của chính phủ vào vào nền kinh tế được giảm thiểu tối đa Singaporecó môi trường kinh doanh mở, tham nhũng thấp, minh bạch tài chính cao, giá cả
Trang 11ổn định, và là một trong những nước có GDP bình quân đầu người thuộc hàngcao nhất thế giới Để tính toán và so sánh theo sức mua tương đương, có thể lấysố liệu 1 Đô la Mỹ = 1,43 Đô la Singapore.
Bảng 1: GDP của Singapore qua các năm ( nguồn VCCI)
Biểu đồ 3: GDP của Singapore với các nước trong khu vực năm 2010.
11
Trang 12Tốc độ tăng trưởng của Singapore gặp nhiều biến động Kinh tế Singapore
từ cuối những năm 1980 đạt tốc độ tăng trưởng vào loại cao nhất thế giới: 1994đạt 10%, 1995 là 8,9% Tuy nhiên, từ cuối 1997, do ảnh hưởng của khủnghoảng tiền tệ, đồng đô la Singapore đã bị mất giá 20% và tăng trưởng kinh tếnăm 1998 giảm mạnh chỉ còn 1,3% Từ 1999, Singapore bắt đầu phục hồinhanh: Năm 1999, tăng trưởng 5,5%, và năm 2000 đạt hơn 9% Do ảnh hưởngcủa sự kiện 11 tháng 9, suy giảm của kinh tế thế giới và sau đó là dịch SARS,kinh tế Singapore bị ảnh hưởng nặng nề: Năm 2001, tăng trưởng kinh tế chỉ đạt-2,2%, 2002, đạt 3% và 2003 chỉ đạt 1,1% Từ 2004, tăng trưởng mạnh: năm
2004 đạt 8,4%; 2005 đạt 5,7%; năm 2006 đạt 7,7% và năm 2007 đạt 7,5% Năm
2009, GDP chỉ tăng 1,2% do tác động của khủng hoảng kinh tế và kinh tế hồiphục 14,5% trong năm 2010, 5,3% trong năm 2011
Tỷ lệ lạm phát của Singapore tương đối thấp, luôn giữ ở mức lạm phát antoàn Tỷ lệ lạm phát Singapore được tính toán trung bình là 2,82% (1962 –2012), cao nhất vào tháng 3/ 1974 là 34% và thấp nhất là -3,1% tháng 6/1996)
Biểu đồ 4: Lạm phát Singapre qua các năm
Trang 13( nguồn Cục thống kê Singapore
Biểu đồ 5: Tỷ lệ thất nghiệp Singapore tháng 6/2007 đến tháng 1/2013
( nguồn Singapore Ministry of Manpower http://www.tradingeconomics.com/singapore/unemployment-rate )
13
Trang 14Nền kinh tế Singapore chủ yếu dựa vào buôn bán và dịch vụ (chiếm 70% thunhập quốc dân) Nông nghiệp hầu như không phát triển, dịch vụ trong đó hoạtđộng xuất nhập khẩu chính là chìa khóa sinh tồn của quốc đảo nhỏ bé này.
Biểu đồ 6: Cơ cấu kinh tế của Singapore năm 2011
(Nguồn VCCI)
Singapore cũng được coi là nước đi đầu trong việc chuyển đổi sang nền kinh
tế tri thức Singapore đang thực hiện kế hoạch đến năm 2018 sẽ biến Singaporethành một thành phố hàng đầu thế giới, một đầu mối của mạng lưới mới trongnền kinh tế toàn cầu và châu Á và một nền kinh tế đa dạng nhạy cảm kinhdoanh Singapore có cơ sở hạ tầng và một số ngành công nghiệp phát triển caohàng đầu châu Á và thế giới như: cảng biển, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu,công nghiệp lọc dầu, chế biến và lắp ráp máy móc tinh vi Singapore có 12 khuvực công nghiệp lớn, trong đó lớn nhất là Khu công nghiệp Jurong Singaporelà nước hàng đầu về sản xuất ổ đĩa máy tính điện tử và hàng bán dẫn Singaporecòn là trung tâm lọc dầu và vận chuyển quá cảnh hàng đầu ở châu Á
1.1 Singapore – trung tâm lọc dầu
1.2 Singapore – trung tâm chế tạo và lắp ráp các đồ điện tử
1.3 Singapore – trung tâm dịch vụ thương mại thế giới
1.4 Singapore – trung tâm dịch vụ hàng hải, cảng biển quốc tế
1.5 Singapore – trung tâm dịch vụ hàng không quốc tế
1.6 Singapore – trung tâm dịch vụ viễn thông
Trang 151.7 Singapore – trung tâm tài chính ngân hàng
1.8 Singapore – trung tâm trọng tài quốc tế
Singapore thu hút hàng triệu lượt khách du lịch mỗi năm tới thưởng ngoạn
vẻ đẹp của quốc đảo nhỏ bé này
Điều này đã chứng tỏ Singapore có một mức sống cao hàng đầu trên thếgiới Tỷ lệ dân cư được tiếp cận với các dịch vụ công cộng là rất cao 100% dânsố đợc tiếp cận điện năng và các dịch vụ công cộng khác Trẻ em Singaporesinh ra đã trở thành triệu phú với mức trơ cấp hàng nghìn đô la Singapore vàđược nhà nước chu cấp sinh hoạt đến năm 18 tuổi Singapore còn là quốc gianằm trong tốp 7 nước có chỉ số HDI cao nhất khu vực Châu Á - Thái BìnhDương (ước tính trong năm 2013 là 0,895)
Biểu đồ 7: Tỷ lệ tiếp cận điện năng năm 2012 ( nguồn WB).
15
Trang 16Biểu đồ 8: Tỷ lệ dân cư nông thôn của các nước.
Tuy nhiên với những nỗ lực của chính phủ Singapore như thế nhưng chỉ sốhạnh phúc của người dân Singapore lại thuộc hàng trung bình (chỉ khoảng36,14), trong khi đó Việt Nam là 61,23
B. CÁC CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CỦA SINGAPORE
I. CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
Cơ quan tiền tệ Singapore (MAS) thực hiện đầy đủ các chức năng ngân hàngtrung ương liên quan đến việc xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ
2. Nội dung
Trang 17Chính sách tiền tệ của Singapore tập trung vào việc quản lý tỷ giá hối đoái
kể từ đầu những năm 1980 Việc lựa chọn các chế độ chính sách tiền tệ được xác định trên tính chất nhỏ và mở cửa của nền kinh tế Singapore
Có ba đặc điểm chính trong hệ thống tỷ giá hối đoái ở Singapore:
a. Đồng đô la Singapore được quản lý so với giỏ ngoại tệ của các đối tác thương
mại lớn và các đối thủ cạnh tranh của Singapore
Các loại tiền tệ của các đối tác khác nhau được gán tỷ trọng phù hợp với tầmquan trọng trong quan hệ thương mại của Singapore với đối tác đó so với cácđối tác còn lại
Thành phần của giỏ này được xem xét và điều chỉnh định kỳ để đưa vào tàikhoản thay đổi trong mô hình thương mại của Singapore
b. MAS hoạt động theo chế độ thả nôi có quản lý cho đồng đô la Singapore với tỷ giá theo tỷ trọng thương mại (Trade-Weighted) cho phép dao động trong dải
chính sách.
Tỷ giá theo tỷ trọng thương mại tức là chỉ số tính giá trị đồng đô laSingapore so với đồng tiền của các đối tác thương mại chính; giúp cho nhữngnhà đầu tư tiền tệ biết được giá trị của đồng đô la Singapore và sức mạnh thanhtoán quốc tế của nó Nhà đầu tư tiền tệ (Foreign Exchange) cũng có thể sử dụngchỉ số này để đánh giá giá trị của một ngoại tệ so với đô la Singapore
Tỷ giá hối đoái theo tỷ trọng thương mại này được duy trì rộng rãi trong mộtkhoảng mục tiêu không được tiết lộ, và được đánh giá cao hoặc giảm giá tùythuộc vào các yếu tố như mức độ lạm phát thế giới và áp lực giá cả trong nước.MAS cũng có thể can thiệp vào thị trường ngoại hối để ngăn chặn sự biến độngquá mức trong tỷ lệ trao đổi đô la Singapore
Dải cung cấp một cơ chế chứa biến động ngắn hạn trong thị trường ngoại hốivà sự linh hoạt trong quản lý tỷ giá hối đoái Ở Việt Nam thì là Chỉ số VND-Index, hay còn được gọi là Chỉ số Đồng Việt Nam theo tỷ trọng thương mại(Trade Weighted Vietnam Dong Index)
c. Dải chính sách tỷ giá hối đoái được xem xét định kỳ để đảm bảo rằng nó vẫn
còn phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế.
17
Trang 18-Vì chính phủ Singapore đã chọn chống lạm phát bằng việc tập trung vàochính sách trung gian là chính sách tỷ giá cho nên không giống nhiều ngân hàngtrung ương khác như Hệ thống dự trữ liên bang hoặc Ngân hàng Anh , MASkhông điều chỉnh hệ thống tiền tệ thông qua chính sách lãi suất để ảnh hưởngđến thanh khoản trong hệ thống và cũng không có mục tiêu chính sách độc lậpcho cung tiền.
Chính sách cung tiền chỉ được sử dụng cho mục tiêu cần phá giá nội tệ.Trong bối cảnh của tự do hóa dòng vốn, lãi suất của Singapore chủ yếu đượcxác định bởi lãi suất nước ngoài và kỳ vọng của nhà đầu tư vào tương lai củađồng đô la Singapore Lãi suất trong nước thường thấp hơn lãi suất của Mỹ.Chính sách tiền tệ (MPS) được xem xét 6 tháng/ 1 lần và đưa ra vào tháng
Tư và tháng Mười để giải thích và đánh giá các điều kiện kinh tế, lạm phát vàtriển vọng của Singapore và đưa ra quan điểm chính sách tiền tệ trong sáu thángsau
4. Kết quả và bài học
Tỷ giá hối đoái đã nổi lên như một công cụ chống lạm phát hiệu quả cho nềnkinh tế Singapore Trong vòng hai mươi năm qua hay như vậy kể từ khi thựchiện khuôn khổ tỷ giá hối đoái, lạm phát trong nước đã tương đối thấp, trungbình 1,9% mỗi năm từ năm 1981 đến 2010 Như kết quả lạm phát thấp duy trìtrong thời gian dài, kỳ vọng ổn định giá cả trong Singapore đã trở thành cố hữutrong những năm qua
Trang 19Hệ thống tỷ giá hối đoái cũng giúp giảm thiểu những tác động bất lợi củabiến động ngắn hạn trong nền kinh tế thực, trong khi đồng thời đảm bảo rằng tỷgiá hối đoái vẫn còn phù hợp với điều kiện cơ bản của nền kinh tế Sự thànhcông của hệ thống nhờ vào nguyên tắc kinh tế cơ bản mạnh mẽ của Singapore.Chúng bao gồm các chính sách tài khóa thận trọng, sản phẩm linh hoạt và cácyếu tố thị trường, hệ thống tài chính lành mạnh, và khu vực doanh nghiệp trongnước mạnh mẽ.
kế hoạch tập trung vào tài sản giá trị nhất của đất nước: tri thức
Vào những năm 2000, Chính phủ Singapore đã chú trọng đầu tư nhiều vàokhoa học và công nghệ với tham vọng biến đảo quốc này thành một xã hội trithức, phù hợp với nền “kinh tế tri thức”
Trang 20Nhờ tăng trưởng luôn ở mức hai con số, Singapore đã tăng gấp đôi ngânsách cho nghiên cứu: từ 1,34% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 1996 lên2,65% GDP năm 2008, một mức chi còn cao hơn của Pháp Hiện ngân sách chonghiên cứu của Singapore vẫn tiếp tục tăng đều, và chính phủ nước này đặt mụctiêu là đạt mức 3% GDP, ngang ngửa với các nước có mức chi cho khoa họccao nhất như Nhật Bản, Phần Lan, Thụy Điển, Hàn Quốc…
Xây dựng hai khu nghiên cứu Fusionopolis và Biopolis dưới sự quản lý của
Cơ quan khoa học công nghệ và nghiên cứu của Singapore (A*STAR).A*STAR, cầu nối giữa trường đại học và khu vực công nghiệp “Chúng tôiđứng giữa trường đại học và khu vực công nghiệp”, Zukoski giải thích “Chúngtôi phát hiện ra vấn đề cần giải quyết hoặc chúng tôi lấy lại kết quả nghiên cứu
từ các trường đại học Sau đó, chúng tôi đẩy mạnh nghiên cứu để đạt tới kết quảcuối cùng, chuyển giao nó hoặc thành lập một công ty mới để phát triển” Ví
dụ, các nhà khoa học của Fusionopolis đã phát triển thiết bị theo dõi hoạt độngcủa tim có thể tương tác với điện thoại di động Điện thoại di động có thể ghi lạicác tín hiệu từ thiết bị theo dõi và cảnh báo cho người đeo hoặc các bác sĩ.Những dự án như vậy đã liên kết các nhà khoa học thiết kế ra chương trìnhphần mềm, xây dựng các thuật toán và hiểu về công nghệ không dây và các kỹ
sư thiết kế thiết bị
Các nhà khoa học cũng phối hợp với các bác sĩ tại các bệnh viện của cáctrường đại học Những nghiên cứu kiểu này trước đây thường bị phân tán tạinhiều bộ phận của các viện nghiên cứu, nay Fusionopolis góp phần nối kết cácnhà nghiên cứu lại với nhau
Năm 2009, A*STAR đã khai trương khu vực dành cho chương trình nghiêncứu hàng không có sự tham gia của các nhà khoa học của các công ty nhưBoeing, EADS, Pratt & Whitney, Rolls-Royce Những nhà công nghiệp lớn nàyký thỏa thuận hợp tác với các nhà khoa học của A*STAR các nghiên cứu baogồm kiểm tra, chế tạo, vật liệu tiên tiến, thiết kế máy như dự án hợp tác pháttriển những kỹ thuật thử nghiệm, kiểm tra không cần tới tháo rỡ các bộ phậncủa máy bay Các kỹ thuật này cho phép tiết kiệm thời gian và tiền bạc
Trang 21b. Singapore đang tích cực thúc đẩy và phát triển công nghệ sinh học công nghiệp
Tới 16% sản lượng sản xuất của đất nước đầu tư cho y sinh như A*Star, cácchỉ số kinh kế cho thấy ngành công nghiệp y sinh đang phát triển rất mạnh Sảnphẩm của ngành khoa học y sinh đã tăng 4 lần từ 6.3 tỷ SGD vào năm 2000 lên
24 tỷ SGD vào năm 2007, với mức tăng trưởng hằng năm là 21% vượt xa mứctăng tưởng của ngành công nghiệp toàn cầu Chi tiêu tư nhân cho nghiên cứu vàphát triển trong lĩnh vực y sinh năm 2005 chiếm khoảng 35% tổng chi tiêu chonghiên cứu phát triển Chỉ riêng năm 2007, lĩnh vực y sinh đã tuyển hơn 12500người, chiếm 5% GDP của Singapore, theo thống kê của Ủy ban Kinh tế pháttriển Singapore (EDB)
Công nghiệp y sinh thịnh vượng từ giữa những năm 1980 khi EDB đưa ramột số giải pháp để thu hút ngành công nghiệp Ví dụ, các công ty đầu tiên chếtạo ra loại thuốc hoặc các dụng cụ y tế mới ở Singapore có thể nhận được danhhiệu “người tiên phong” và không phải trả thuế trên khoản tiền thu được từ việcthương mại hóa sản phẩm EDB cũng đưa ra những khoản tiền tài trợ nghiêncứu phát triển có thể lên tới 50% ngân sách chi tiêu của công ty, tùy thuộc vào
kỹ năng, kiến thức mà các công ty mang tới cho quốc đảo này
c. Chính sách thu hút tài năng
Singapore được đánh giá là quốc gia có chính sách thu hút nhân tài nướcngoài bài bản nhất thế giới Điều này cũng dễ hiểu bởi ngay từ khi mới lên cầmquyền, cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu đã xác định rõ nhân tài là yếu tố thenchốt quyết định khả năng cạnh tranh và phát triển của nền kinh tế Chính vì thế,trong suốt những năm qua, thu hút nhân tài, đặc biệt là nhân tài nước ngoài đãtrở thành chiến lược ưu tiên hàng đầu của Singapore
Là quốc gia được tạo dựng nên từ những người nhập cư, Singapore chào đóntất cả những ai có thể đóng góp phần mình vào công cuộc phát triển kinh tế củađất nước Tuy nhiên, với dân số quá ít (4,5 triệu dân), tỷ lệ sinh liên tục sụtgiảm, Singapore rơi vào cuộc khủng hoảng dân số Rõ ràng, tình trạng dân sốcũng như nguồn lực lao động bị "co lại" sẽ là một trong những nguyên nhânquan trọng gây ra nguy cơ khủng hoảng thiếu nhân tài
21