1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

chính sách kinh tế của indonesia và quan hệ với việt nam

33 632 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách kinh tế của Indonesia và Quan hệ với Việt Nam
Trường học Trường Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 2,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chính sách kinh tế của indonesia và quan hệ với việt nam

Trang 2

Đề tài: Indonesia và Đông Timor

Câu hỏi gợi mở

1 Đất nước nào có số dân đông đứng thứ tư trên thế giới ?

2 Tên gọi dựa theo đặc điểm tự nhiên của Indonesia ?

3 Đất nước nào từng là 1 tỉnh của Indonesia trong khoảng những năm 1999?

1976-4 Vị trí của Đông Timor trên bản đồ ?

Bố cục nội dung

Phần 1: Đông Timor

Phần 2: Indonesia

I Tổng quan về Indonesia

II Các chính sách kinh tế của Indonesia

III Bài học kinh nghiệm quốc tế rút ra cho Việt Nam

Phần 1: Kinh tế Đông Timor

Về tự nhiên xã hội

Đông Timor tên đầy đủ là cộng hòa dân chủ Đông Timor, là một quốc đảo nhỏ bé với diện tích là 24 000 km vuông Dân số cả nước là 1 131 612 người (tháng 11/2009) với hơn 10 dân tộc có văn hoá và ngôn ngữ riêng Tiếng Tetum và tiếng Bồ Đào Nha là ngôn ngữ chính thức, tiếng In-đô-nê-xi-a và tiếng Anh là ngôn ngữ làm việc Phần lớn người dân theo đạo Thiên chúa giáo chiếm 98% tổng dân số cả nước Khí hậu chia làm 2 mùa, mùa khô từ tháng 5 tới tháng 12, mùa mưa từ tháng 12 tới tháng 4

Từ năm 1976-1999, Đông Ti Mo bị Indonesia chiếm đóng cai quản Được tự trị từ năm 2002, tuy nhiên do những hậu quả nặng nề từ chiến tranh và một nền chính trị thiếu ổn định , trong một khoảng hơn một thập kỷ, Đông Ti Mo vẫn là một nước nghèo kém phát triển với tỷ lệ thất nghiệp cao và nền kinh tế tăng trưởng

Trang 3

chậm Nông nghiệp là ngành chính, chiếm tới 25% tổng sản phẩm quốc dân và 75% lực lượng lao động Cà phê là mặt hàng xuất khẩu chủ yếu chiếm 85% tổng giá trị xuât khẩu Đông Timor có tiềm năng về khí đốt và dầu mỏ.

Tổng thu nhập quốc dân của Đông Timor năm 2011 là 1.054 tỷ USD (Theo WB) Thu Nhập trên đầu người vào loại thấp nhất trên thế giới khoảng 896 USD/Người (Năm 2011 theo WB)

Bảng 1: Thu nhập quốc dân của Đông Timor qua các năm

Đơn vị: Triệu USD

GDP

(Giá so sánh với năm 2000) 314.1 296.0 321.0 362 389

(Số liệu từ trang web Bộ LĐTBVXH)

Biểu đồ thể hiện tổng giá trị sản phẩm quốc dân của

Đông Timor qua các năm

Nhận xét

Trang 4

Từ biểu đồ và bảng số liệu ta thấy:

Từ năm 2005 tới năm 2009, GDP của Đông Timor có tăng nhưng tăng chậm, xấp xỉ 23.8%, trung bình mỗi năm tăng 5.98% tương ứng giá trị tăng tuyệt đối trong 5 năm thấp 74.9 triệu USD Nền kinh tế phát triển chậm do nhiều nguyên nhân trong đó sự bất ổn về chính trị là nguyên nhân chính cản trở sự phát triển kinh

tế Riêng trong giai đoạn 2005 tới 2006, GDP giảm 5.7% xuống 296 triệu USD.Bảng 2: Chỉ tiêu về xuất, nhập khẩu của Đông Timor từ năm 2005 tới 2009

Đơn vị: Triệu USD

( Số liệu từ trang web BTBLĐVXH)

Biểu đồ thể hiện giá trị xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ của Đông Timor từ

năm 2005 tới năm 2009.

Nhận xét

Trang 5

Từ bảng số liệu và biểu đồ ta thấy:

Xuất khẩu không ổn định qua các năm Trong vòng 5 năm, giá trị xuất khẩu

có 2 năm giảm, 2 năm tăng Tổng chung 5 năm, GTXK giảm xấp xỉ 20.7% xuống còn 34.5 triệu USD

Nhập khẩu tăng liên tục qua các năm Từ năm 2006 tới 2008 tăng mạnh nhất với tốc độ trung bình năm là 83.2% Tổng chung qua 5 năm GTNK tăng 170.5% lên 295.1 triệu USD

Về đối ngoại

Với các nước trên thế giới

Ngay sau khi độc lập, Đông Timo đã thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều nước: Trung Quốc, Inđônêxia, Ố-xtrây-li-a, Mỹ, Nhật, một số nước ASEAN…, Đông Timo cũng đã chính thức trở thành thành viên thứ 191 của LHQ, thành viên thứ 84 của IMF và WB, thành viên thứ 61 của ADB Đến nay, Đông Timo đã thiết lập quan hệ ngoại giao với khoảng 90 nước và đã có 15 cơ quan đại diện ở nước ngoài, trong đó chủ yếu là một số nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, Bồ Đào Nha, Inđônêxia, Thái Lan Hiện ở Đili có 9 cơ quan đại diện nước ngoài, trong đó có

Mỹ, Nhật, Trung Quốc, EU, Bồ Đào Nha, Inđônêxia, Ố-xtrây-li-a, Ma-lai-xi-a và Thái Lan

Đông Timo chủ trương thúc đẩy quan hệ láng giềng thân thiện, đặc biệt là với Ố-xtrây-li-a, Inđônêxia và Bồ Đào Nha, cũng như các nước ASEAN, coi trọng quan hệ với các nước lớn như Trung Quốc, Mỹ và EU Ô-xtrây-li-a là nước viện trợ quan trọng nhất cho Đông Timo

Ngày 26/2/2002, tại Bali, Inđônêxia đã diễn ra cuộc gặp đầu tiên giữa Bộ trưởng Ngoại giao ba nước Ố-xtrây-li-a-Inđônêxia-Đông Timo để thảo luận về các vấn đề như xây dựng quan hệ hợp tác kinh tế giữa ba nước sau khi Đông Timo

Trang 6

chính thức tuyên bố độc lập, tái hồi hương người tỵ nạn Đông Timo, phân định lãnh hải khu vực phía Đông và phía Bắc Đông Timo, và phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, cũng như các vấn đề liên quan đến an ninh trong khu vực Đây là cuộc gặp có tính “lịch sử” mở ra chương mới cho mối quan hệ giữa ba nước.

Đông Timo đã tham dự các Hội nghị CC ASEAN, AMM với tư cách khách mời của nước chủ nhà Tại cuộc họp ARF tại Viêng Chăn ngày 29/7/2005, Đông Timo đã được gia nhập làm thành viên thứ 25 của Diễn đàn này

Với Việt Nam

1 Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam: 28/7/2002

2 Hợp tác chính trị:

Ngày 19/8/2009 Đại sứ Ti-mo Lex-te tại Ma-lai-xi-a kiêm nhiệm Việt Nam trình quốc thư lên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết Ngày 14-16/9/2009, Ngoại trưởng Ti-mo Lex-te (Zacarias Albano da Costa) thăm chính thức Việt Nam Hai bên đã thống nhất thành lập Ủy ban hỗn hợp về kinh tế, thương mại và kỹ thuật

3 Hợp tác thương mại

Hợp tác thương mại còn ở mức khiêm tốn, nhưng có nhiều triển vọng Năm

2008 kim ngạch hai chiều đạt 48 triệu USD (Việt Nam xuất 112.000 tấn gạo sang Ti-mo Lex-te ); Đến năm 2009, kim ngạch thương mại 11 tháng đầu năm đạt 96 triệu USD (chủ yếu là ta xuất khẩu gạo sang Ti-mo Lex-te ) Bộ trưởng Công Thương và Du lịch Bạn Gin đờ Cốt-xta An-vít đã có chuyến thăm chính thức và làm việc tại Việt Nam (22-24/9/2009), trong chuyến thăm, Bộ trưởng Công thương Việt Nam và Bộ trưởng Công Thương và Du lịch Ti-mo Lex-te đã ký MOU về thương mại gạo, trong đó, Việt Nam sẽ cung cấp cho Ti-mo Lex-te 200.000 tấn gạo trắng mỗi năm từ năm 2010 – 2012 Hai bên còn có tiềm năng hợp tác trong lĩnh vực dầu khí, khai khoáng, nông nghiệp, thuỷ sản và xây dựng

Trang 7

Phần 2: Kinh tế Indonesia

1 Thông tin tổng quan chung

Tên nước: Cộng hoà Indonesia (The Republic of Indonesia)

Thủ đô: Jakarta, (Có khoảng 10 triệu dân)

Đơn vị tiền tệ: Rupiah

Ngôn ngữ: Bahasa Indonesia (chính thức), Hà Lan, Anh, và hơn 583 thổ ngữ

2 Đặc điểm về địa lý, tự nhiên sinh thái

2.1Đặc điểm địa lý

Diện tích: Phần đất rộng 1,9 triệu km2 (đứng thứ 16 trên thế giới về diện tích đất liền) và phần nước 9,9 triệu km2

Nằm trong khoảng múi giờ UTC +7 đến +9, giữa hai lục địa Đông Nam

Á và Châu Đại Dương

Có biên giới trên bộ với Malaysia trên hòn đảo Borneo và Sebatik, Papua New Guineatrên đảo New Guinea, và Đông Timor trên đảo Timor; chung biên giới với Singapore, Malaysia, và Philippines ở phía bắc và Australia ở phía nam bằng một dải nước hẹp

Là quốc gia quần đảo lớn nhất trên thế giới, gồm trên 17.500 hòn đảo lớn nhỏ

4 đảo lớn nhất: Sumatra, Java, Bali, Kalimantan

Nhận xét

Vị trí chiến lược thuận lợi phát triển kinh tế [Indonesia nằm trên trục đường biển và hàng không quốc tế] [Là đường giao thông hàng hải nối Châu Á, Châu Âu với Châu Đại Dương và nối liền châu Mỹ với Châu Á và châu Âu.]

Trang 8

Lãnh thổ trải rộng trên nhiều hòn đảo gây khó khăn cho việc quản lý và việc thực hiện một cách thống nhất các chủ trương, đường lối phát triển kinh tế.

2.2 Đặc điểm tự nhiên sinh thái

Khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa: mùa khô từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa mưa từ tháng 11 đến tháng 4

Các con sông lớn nhất là các đường giao thông quan trọng nối giữa các khu định cư trên đảo Lượng mưa trung bình hàng năm tại các vùng đất thấp Độ ẩm nói chung cao, trung bình khoảng 80% Nhiệt độ ít thay đổi trong năm

Indonesia nằm trên các rìa của các mảng kiến tạo Thái Bình Dương, Âu Á,

và Úc khiến nước này trở thành nơi có nhiều núi lửa và thường xảy ra các vụ động đất Indonesia đứng thứ hai thế giới về mức độ đa dạng sinh học và có nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên lớn, gồm dầu mỏ, khí tự nhiên, thiếc, đồng, và vàng

Nhận xét

Địa hình và khí hậu lý tưởng thuận lợi cho phát triển nghề nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản, ngành giao thông đường biển, trung chuyển hàng hóa phát triển Hai phần ba diện tích lãnh thổ là rừng nhiệt đới ẩm với nhiều loại gỗ quý thuận lợi cho ngành lâm sản phát triển Có thế mạnh trong phát triển du lịch, đặc biệt nổi tiếng là hòn đảo thiên đường Bali

Nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú

Một số ngọn núi lửa vẫn còn hoạt động đe dọa đời sống của nhân dân và sản xuất của nền kinh tế

3 Chính trị, văn hóa, xã hội

3.1Chính trị

Trang 9

Indonesia theo thể chế cộng hòa với một bộ máy lập pháp và tổng thống do dân bầu Với tư cách một quốc gia đơn nhất, quyền lực tập trung trong tay chính phủ trung ương

3.2 Văn hóa

Ngôn ngữ quốc gia, tiếng Indonesia, được dạy trong các trường học và đại học, và được sử dụng bởi hầu hết mọi người dân Indonesia Đây là ngôn ngữ được dùng trong thương mại, chính trị, truyền thông quốc gia, giáo dục và hàn lâm

Có khoảng 300 nhóm sắc tộc, mỗi nhóm có văn hóa khác biệt và đã phát triển qua nhiều thế kỷ, với ảnh hưởng từ Ấn Độ, Ả Rập, Trung Quốc, Malaysia và Châu Âu

3.3 Xã hội

Dân số Indonesia đông thứ tư trên thế giới, 237,424,363 người (2011), mật

độ dân số vào khoảng 123.76 người/km2 Tốc độ tăng dân số là 1,6% trên năm.Người dân Indonesia chủ yếu là người Java (45% dân số) ngoài ra còn có người Sundan (14%), Madura (7,5%), Malay (7,5%), các dân tộc khác (26%) Indonesia là quốc gia có số dân theo Hồi giáo đông nhất thế giới (Chiếm 87% dân số) còn lại theo đạo Thiên Chúa (9%), Hindu (2%), các tôn giáo khác (2%)

Tỷ lệ người nghèo tại Indonesia là 27,1% (1998), tỷ lệ thất nghiệp là 10.3% (2005) Tình trạng chênh lệch giàu nghèo và chỉ số phát triển con người vào mức trung bình với hệ số GINI là 36,8 (2011) và HDI là 0,617 (2011)

Nhận xét

Có nguồn nhân lực dồi dào

Sự phức tạp về dân tộc, tín ngưỡng sẽ gây ít nhiều khó khăn cho công tác quản lý và triển khai

Trang 10

4 Kinh tế

4.1 Tổng quan

Indonesia có một nền kinh tế thị trường trong đó chính phủ đóng vai trò chủ đạo Nó có hơn 164 công ty sở hữu quốc doanh, hoạt động kinh doanh các mặt hàng cơ bản như dầu mỏ, gạo, và điện lực

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Indonesia được ước tính khoảng 1208 tỉ USD (2012) (theo PPP), GDP danh nghĩa khoảng 928.274 tỷ USD Năm 2012, ước tính GDP bình quân đầu người danh nghĩa là 3797 đô la, và GDP trên đầu người theo sức mua tương đương (PPP) là 4943 (đô la quốc tế)

Lĩnh vực dịch vụ là ngành lớn nhất của nền kinh tế và chiếm 45,3% GDP (2005) Tiếp theo là công nghiệp (40,7%) và nông nghiệp (14,0%) Nông nghiệp sử dụng 44,3% trong tổng số lực lượng lao động 95 triệu người Tiếp theo là lĩnh vực dịch vụ (36,9%) và công nghiệp (18,8%) Các ngành công nghiệp chính là dầu mỏ

và khí thiên nhiên, dệt, may, và khai thác mỏ Các sản phẩm nông nghiệp chính là

dầu cọ, gạo, chè, cà phê, gia vị, và cao su

Các thị trường xuất khẩu chính (2009) là Nhật Bản (17.28%), Singapore

(11.29%), Hoa Kỳ(10.81%) và Trung Quốc (7.62%) Nhập khẩu nhiều hàng của Nhật Bản (18,0%), Trung Quốc (16,1%), và Singapore (12,8%) Năm 2011 lạm phát của Indonesia là 5.3%, nợ công là 454,3 tỷ USD (56,2% GDP)

4.2 Đặc điểm

Trong thập kỷ 1960, nền kinh tế đã suy giảm nghiêm trọng vì sự bất ổn chính trị, một chính phủ trẻ và không có kinh nghiệm, và chủ nghĩa kinh tế quốc gia yếu kém, dẫn tới tình trạng nghèo đói nghiêm trọng Sau khi chế độ Sukarno sụp đổ hồi giữa thập niên 1960, chính sách Trật tự Mới đã mang lại một mức độ kỷ lục cho chính sách kinh tế nhanh chóng làm giảm lạm phát, ổn định tiền tệ, tái cơ cấu nợ nước ngoài, và thu hút đầu tư cũng như viện trợ từ nước ngoài Indonesia là thành

Trang 11

viên duy nhất của OPEC tại Đông Nam Á, và sự bùng nổ giá dầu mỏ thời thập niên

1970 đã mang lại một nguồn thu xuất khẩu lớn giúp duy trì tốc độ tăng trưởng kinh

tế cao Sau những cải cách thêm nữa hồi thập niên 1980, Đầu tư nước ngoài đổ vào Indonesia, đặc biệt vào những khu vực chế tạo phát triển nhanh và định hướng xuất khẩu, và từ năm 1989 tới năm 1997, kinh tế Indonesia phát triển với tốc độ trung bình trên 7%

Trong hơn 30 năm của thời kỳ Trật tự mới (1966-1998), chiến lược phát triển kinh tế của Inđônêxia trải qua 2 giai đoạn chính Giai đoạn đầu là giai đoạn thay thế nhập khẩu, hướng nội (1966-1982) lấy sản xuất dầu khí làm trọng tâm và giai đoạn hướng ngoại (1983 đến nay) chủ yếu thông qua xuất khẩu hàng hóa ngoài dầu lửa Từ 1970 - 1997, tốc độ phát triển kinh tế tăng từ 7% đến 8%/năm Từ tháng 7/1998, kinh tế In-đô-nê-xi-a chịu tác động sâu sắc của cuộc khủng hoảng kinh tế Đông Á nên phải yêu cầu IMF và quốc tế giúp đỡ để vượt qua khủng hoảng Cho đến nay, In-đô-nê-xi-a đã có một số chỉ số vĩ mô được cải thiện như tỷ giá đồng nội tệ được kìm giữ xung quanh mức 9.000 Rupiah /USD, dự trữ ngoại tệ tính đến 3/2006 đạt 34 tỷ USD, lạm phát 1 con số Từ năm 2001 đến nay, tuy có khó khăn nhưng tăng trưởng kinh tế (GDP) của In-đô-nê-xi-a giữ được ở mức khá GDP tăng trung bình hàng năm đạt khoảng 3-4% Trong cuộc Khủng hoảng tài chính Đông Á

năm 1997–1998, Indonesia là nước chịu tác động mạnh nhất Tỷ giá tiền tệ nước này so với đồng đô la Mỹ đã giảm từ khoảng 2.000 Rp tới 18.000 Rp, và nền kinh

tế giảm 13,7%.Từ đó đồng rupiah đã ổn định ở mức trong khoảng 10.000 Rp/dollar, và đã xuất hiện dấu hiệu khôi phục kinh tế quan trọng tuy còn chậm chạp Sự bất ổn chính trị, cải cách kinh tế chậm chạp và tham nhũng ở mọi cấp độ chính phủ và kinh doanh từ năm 1998 đã ảnh hưởng tiêu cực tới sự phục hồi kinh

tế

Trang 12

Ví dụ, Tổ chức Minh bạch Quốc tế xếp Indonesia đứng hạng 143 trên 180 nước trong bảng Chỉ số nhận thức tham nhũng của họ Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng GDP đã vượt 5% trong cả hai năm 2004 và 2005, và được dự báo sẽ còn tăng thêm Mặc dù vậy, tốc độ tăng này chưa đủ mạnh đề dẫn tới một sự thay đổi lớn trong tỷ lệ thất nghiệp, và mức tăng lương, giá nhiên liệu và gạo tăng cao càng làm trầm trọng hơn vấn đề đói nghèo Năm 2006, ước tính 17,8% dân số sống dưới mức mức nghèo khổ, 49,0% dân số sống với chưa tới 2 đô la mỗi ngày, và tỷ lệ thất nghiệp ở mức 9,75%

Năm 2005, có thặng dư thương mại, với kim ngạch xuất khẩu đạt 83,64 tỷ

USD và kim ngạch nhập khẩu là 62,02 tỷ Các mặt hàng nhập khẩu chính của Indonesia gồm máy móc và thiết bị, hoá chất, nhiên liệu và các mặt hàng thực phẩm

Dưới đây là bảng thống kê tổng sản phẩm quốc nội của Indonesia theo giá cả thị trường bởi Quỹ tiền tệ quốc tế Đơn vị tính là triệu rupiah

Trang 13

5 Đối ngoại

5.1 Tổng quan

Luôn nêu cao tự cường quốc gia, tự cường khu vực và đa dạng hoá quan hệ, kiên trì chính sách đối ngoại "độc lập và tích cực", hoà bình, độc lập, trung lập và không liên kết Trong đó, In-đô-nê-xi-a coi trọng quan hệ với ASEAN, các nước và các trung tâm lớn như Mỹ, Nhật, Trung Quốc, EU, Nga…, tranh thủ về vốn, kỹ thuật và thị trường cho phát triển kinh tế In-đô-nê-xi-a đồng thời đẩy mạnh hoạt động ngoại giao đa phương trong các tổ chức, diễn đàn khu vực và thế giới, thúc đẩy vai trò và vị thế của In-đô-nê-xi-a ở khu vực và trên thế giới

Là sáng lập viên của ASEAN (1967) In-đô-nê-xi-a chủ trì Hội nghị Á-Phi năm 1955 và là một trong những sáng lập viên của phong trào “Không liên kết” Tháng 9/1992, In-đô-nê-xi-a tổ chức Hội nghị Không Liên kết lần thứ 10, tích cực đóng góp vào việc củng cố và tăng cường vai trò của phong trào, thúc đẩy hợp tác Nam - Nam và đối thoại Bắc - Nam Tháng 4/2005, In-đô-nê-xi-a đã tổ chức thành công Lễ kỷ niệm 50 năm Hội nghị Băng-Đung

Muốn cải tổ và dân chủ hoá Hội đồng Bảo an Liên Hiệp quốc theo hướng mở rộng thành viên Hội đồng In-đô-nê-xi-a cũng tích cực tham gia các hoạt động của lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên Hiệp quốc

5.2 Quan hệ Việt Nam

Trang 14

Sau Hiệp định Pa-ri về Việt Nam năm 1973, In-đô-nê-xi-a tham gia Uỷ ban quốc tế ở Việt Nam Từ 1975, quan hệ 2 nước bắt đầu được cải thiện và thúc đẩy Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm In-đô-nê-xi-a năm 1978 Từ 1990 đến nay quan

hệ 2 nước bước vào giai đoạn mới, với việc trao đổi nhiều chuyến thăm cấp cao như Tổng thống Xu-hác-tô (11/1990), Tổng thống Mê-ga-oát-ti (8/2001) Chủ tịch Trần Đức Lương thăm chính thức In-đô-nê-xi-a vào ngày 10-12/11/2001 Tổng thống Megawati thăm chính thức Việt Nam từ ngày 25 đến 27/6/2003 Dịp này, hai nước đã ký nhiều hiệp định và MOU, trong đó quan trọng nhất có “Tuyên bố về Khuôn khổ Hợp tác Hữu nghị và Toàn diện bước vào thế kỷ 21”, Hiệp định Phân định ranh giới thềm lục địa và Hiệp định Miễn thị thực cho người mang hộ chiếu phổ thông Ngày 6/10/2004, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam và In-đô-nê-xi-a đã

ký Bản ghi nhớ hợp tác hai Bộ Ngoại giao Tổng thống In-đô-nê-xi-a là ông

Xu-xi-lô Bam-bang Giu-đô-giô-nô đã thăm chính thức Việt Nam từ 28-30/5/2005 Lãnh đạo hai nước nhất trí duy trì các cơ chế tham khảo ý kiến hiện nay giữa hai nước và thiết lập cơ chế tham vấn ở cấp cao Hai nước đã ký MOU về Hợp tác phòng ngừa

và đấu tranh chống tội phạm và MOU về Hợp tác trong lĩnh vực giáo dục Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải thăm chính thức In-đô-nê-xi-a từ ngày 22-23/2/2006 Nhân dịp này, hai bên đã ký Thoả thuận về Hợp tác Du lịch

Từ 6-7/11/2006, tại Ba-tam (In-đô-nê-xi-a) đã diễn ra cuộc họp giữa hai đoàn cán bộ liên ngành của Việt Nam và In-đô-nê-xi-a nhằm giải quyết vấn đề ngư dân

và tàu thuyền của Việt Nam hiện còn bị kẹt tại In-đô-nê-xi-a

 Về hợp tác kinh tế, đầu tư, khoa học công nghệ và văn hóa

Về đầu tư, In-đô-nê-xi-a tập trung vào các lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí, khai thác than, ngân hàng, khách sạn, chế biến xuất khẩu gỗ, sản xuất sợi Polyester và hoạt chất tẩy rửa DBSA, may mặc và dịch vụ dầu khí Tính đến hết

Trang 15

năm 2005, In-đô-nê-xi-a có 13 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký là

130 triệu USD, tập trung vào lĩnh vực dịch vụ, công nghiệp và xây dựng

Kim ngạch thương mại hai chiều đạt 1,18 tỷ USD năm 2004 và năm 2005 đạt 1,17 tỷ USD Năm 2006 kim ngạch thương mại hai chiều đạt khoảng 1,7 tỷ USD Trong 4 tháng đầu năm 2007, kim ngạch thương mại hai chiều đạt gần 930 triệu USD In-đô-nê-xi-a tiếp tục là thị trường truyền thống về nhập khẩu gạo của ta Ta nhập chính các mặt hàng hoá chất và các sản phẩm hoá chất, bông, vải sợi, nguyên phụ liệu dệt may, máy móc thiết bị, sắt thép, kim loại thường… Hai Bộ Thương mại đã ký MOU năm 2003 về Hàng đổi hàng nhưng đến nay vẫn khó triển khai vì

cơ cấu hàng hai bên khá giống nhau và chưa tìm ra được phương thức thanh toán Tháng 4/2005, hai nước đã tổ chức Diễn đàn Doanh nghiệp tại TP Hồ Chí Minh

Từ khi lập Uỷ ban hỗn hợp năm 1990, hai nước đã họp được 4 phiên

Mặt hàng xuất khẩu chính của Indonesia sang Việt Nam bao gồm phân bón, sản phẩm từ dầu, gỗ, nguyên liệu cho công nghiệp dệt, may mặc và thuộc da, máy móc, thiết bị…Mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Indonesia là dầu thô, gạo, tiêu, rau quả… Trong nội bộ ASEAN, Indonesia là bạn hàng lớn thứ tư của Việt Nam sau Singapore, Malaysia và Thái Lan

Đầu tư của Indonesia vào Việt Nam tập trung vào một số lĩnh vực như chế biến gỗ, khai thác than, dịch vụ khách sạn, lắp ráp xe gắn máy, sản xuất thuốc lá, sản xuất thuốc tẩy… Tuy nhiên, Việt Nam chưa đầu tư vào Indonesia

 Các hiệp định thỏa thuận đã ký

Hiệp định về hợp tác Văn hóa ký ngày 19/12/1960

Hiệp định Thương mại ký ngày ngày 23/3/1995 (thay cho Hiệp định 8/11/1978)Hiệp định về hợp tác kinh tế, KHKT (21/11/1990)

Hiệp định về việc thành lập UBHH hai nước (21/11/1990)

Hiệp định Khuyến khích và bảo đảm đầu tư (25/10/1991)

Trang 16

Hiệp định vận tải biển (25/10/1991)

Hiệp định vận chuyển hàng không dân dụng (25/10/1991)

Hiệp định hợp tác lâm nghiệp (5/11/1991)

Hiệp định thương mại mới (ký lại 23/3/1995)

Thỏa thuận hợp tác (MOU) về hàng đổi hàng giữa hai Bộ Thương mại (2003)

Thoả thuận hợp tác trong lĩnh vực dầu khí

Thỏa thuận về hợp tác kỹ thuật giữa Hiệp hội cà phê-ca cao với Hiệp hội các nhà xuất khẩu cà phê In-đô-nê-xi-a (26/6/2003)

MOU về Hợp tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và MOU về Hợp tác trong lĩnh vực giáo dục (28-30/5/2005)

Thoả thuận về Hợp tác Du lịch (2/2006) MOU về hợp tác mua bán gạo (5/4/2007) ( Nguồn: http://vietbao.vn/The-gioi/Viet-Nam-Indonesia-Hop-tac-kinh-te-la-quan-trong-nhat/10735519/159/ http://vi.wikipedia.org/wiki/Indonesia

http://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_t%E1%BA%BF_Indonesia

http://www.vietnamembassy-indonesia.org/vi/nr070521165956/news_object_view?

newsPath=/vnemb.vn/cn_vakv/ca_tbd/nr040819102944/ns070731094247

http://en.wikipedia.org/wiki/Indonesia )

II Các chính sách kinh tế tại Indonesia

Chính sách thương mại quốc tế

Trong thời kỳ những năm 1980 tới năm 1997 Indonesia theo đuổi chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu Khi khủng hoảng tư bản xảy ra, giá dầu suy

Ngày đăng: 15/05/2014, 02:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Thu nhập quốc dân của Đông Timor qua các năm - chính sách kinh tế của indonesia và quan hệ với việt nam
Bảng 1 Thu nhập quốc dân của Đông Timor qua các năm (Trang 3)
Bảng số liệu tỷ trọng sản phẩm không phải dầu mỏ trong tổng giá xuất khẩu. - chính sách kinh tế của indonesia và quan hệ với việt nam
Bảng s ố liệu tỷ trọng sản phẩm không phải dầu mỏ trong tổng giá xuất khẩu (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w