c ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN XUÂN NHẬT Tên chuyên đề ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH CHO ĐÀN BÒ CÁI SINH SẢN TẠI TRẠI BÒ THUỘC KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y, TR[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2017 - 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp: K49 - TY - N03 Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2017 - 2022
Giảng viên hướng dẫn: TS La Văn Công
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và sinh hoạt trong 6 tháng thực tập nghề nghiệp
em đã hoàn thành đợt thực tập lần này Em muốn gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y và các thầy cô đã trang bị cho em những kiến thức cơ bản để em có thể hoàn thành tốt và tiếp thu thêm những kiến thức mới tại cơ sở
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS La Văn Công đã hướng dẫn,
chỉ bảo tận tình đã giúp đỡ em hoàn thành tốt nhiệm vụ trong lần thực tập vừa qua tại trại bò của khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã luôn động viên và ủng hộ em về cả vật chất lẫn tinh thần tạo điều kiện thuận lợi để
em học tập và hoàn thành tốt quá trình thực tập
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2022
Sinh viên
Nguyễn Xuân Nhật
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Công thức phối trộn thức ăn tinh (tính cho 200 kg) 8
Bảng 2.2 Biểu hiện của bò cái ở trong giai đoạn động dục 14
Bảng 2.3 Thời điểm thích hợp để phối giống cho bò cái 15
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn bò của trại trong 6 tháng qua 33
Bảng 4.2 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh khử trùng tiêu độc chuồng trại 34
Bảng 4.3 Kết quả tiêm phòng vắc xin cho đàn bò tại trại 35
Bảng 4.4 Tình hình mắc bệnh của đàn bò trong thời gian thực tập 35
Bảng 4.5 Kết quả điều trị một số bệnh cho đàn bò tại trại 36
Bảng 4.6 Kết quả thực hiện một số công việc khác tại trại 37
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu đề tài 2
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN VÀ TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3
2.1.1 Vị trí địa lý 3
2.1.2 Điều kiện khí hậu và thủy văn 3
2.1.3 Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng bò cái sinh sản 4
2.2 Cơ sở khoa học của chuyên đề 9
2.2.1 Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh dục ở bò 9
2.2.2 Đại cương về sinh lý sinh sản của bò cái 11
2.2.3 Sinh lý quá trình mang thai và đẻ 15
2.2.4 Một số bệnh sinh sản thường gặp ở bò cái 15
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 27
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 27
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 28
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30 3.1 Đối tượng 30
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 30
3.3 Nội dung tiến hành 30
Trang 63.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 30
3.4.2 Phương pháp thực hiện 30
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Tình hình chăn nuôi bò tại mô hình bò Khoa chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 33
4.2 Thực hiện quy trình phòng và trị bệnh cho đàn bò của khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 34
4.2.1 Công tác vệ sinh phòng bệnh tại trại 34
4.2.2 Công tác phòng bệnh bằng vắc xin cho đàn bò của trại 35
4.2.3 Kết quả chẩn đoán một số bệnh trên đàn bò tại khoa 35
4.2.4 Kết quả điều trị bệnh trên đàn bò thuộc khoa 36
4.2.5 Kết quả thực hiện một số công việc khác trong thời gian thực tập tại trại 37
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 38
5.1 Kết luận 38
5.2 Đề nghị 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39 MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH CHĂM SÓC VÀ NUÔI DƯỠNG
Trang 8PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Ở Việt Nam 80% dân số làm nghề sản xuất nông nghiệp, được phát triển theo hai ngành lớn đó là ngành trồng trọt và ngành chăn nuôi Trong những năm qua ngành chăn nuôi ở nước ta đang được quan tâm và phát triển Trong đó có ngành chăn nuôi bò đã đem lại những lợi nhuận lớn cho người chăn nuôi Theo thống kê năm 2017 tổng đàn bò cả nước khoảng trên 5,6 triệu con, cung ứng một lượng thịt và sữa lớn cho nhu cầu tiêu dùng trong nước Ngành chăn nuôi bò sữa hiện nay đang nuôi khoảng trên 300 nghìn con và cung cấp gần 900.000 tấn sữa tươi, đáp ứng khoảng 40 - 50% nhu cầu về sữa trong cả nước Những năm gần đây cùng với sự phát triển đi lên của nền kinh
tế của đất nước, nhu cầu đời sống của người dân ngày càng được cải thiện thì nhu cầu tiêu thụ thịt bò của người dân ngày càng cao cả về số lượng cũng như chất lượng
Do nhu cầu tiêu thụ thịt bò trong nước tăng nhanh, do sự cạnh tranh gay gắt về chất lượng và giá bò giống cùng với sản phẩm chế biến từ thịt bò trên thị trường trong nước và quốc tế Nhiều hộ nông dân, trang trại và doanh nghiệp chăn nuôi bò ở nước ta đã cố gắng chuyển phương thức chăn nuôi truyền thống chủ yếu dựa vào kinh nghiệm vốn có và nguồn thức ăn từ phụ phẩm nông nghiệp sang chăn nuôi theo hướng công nghiệp
Mấy năm gần đây được sự quan tâm của các ngành, các cấp, nhiều nỗ lực chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi tới sản xuất của hệ thống khuyến nông, hệ thống các trường đào tạo , quy trình kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến được giới thiệu một cách có hệ thống tới hộ nông dân và mang lại hiệu quả kinh tế cao
Ở nước ta nuôi bò hướng thịt đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và
đã phần nào đáp ứng được yêu cầu người tiêu thụ thịt trong nước cũng như
Trang 9phục vụ nhu cầu cho xuất khẩu Việc đánh giá khả năng sinh sản đang là đòi hỏi cấp thiết đối với người làm công tác chọn và nhân giống vật nuôi Bên cạnh những tiến bộ đã đạt được thì chúng ta còn gặp không ít khó khăn về kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng và tình hình dịch bệnh diễn ra trên đàn bò còn nhiều phức tạp
Xuất phát từ thực tế trên, nhằm nâng cao kiến thức cũng như góp phần
đẩy mạnh công tác chăn nuôi bò ở Việt Nam, em đã thực hiện chuyên đề: “Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh cho đàn bò cái sinh sản tại trại bò thuộc khoa Chăn nuôi Thú y - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu đề tài
- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đối với đàn bò cái sinh sản tại trại của khoa Chăn nuôi Thú y
- Xác định tình hình dịch bệnh và cách phòng trị một số bệnh trên đàn
bò cái sinh sản tại trại
- Nắm vững kiến thức về quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho bò cái sinh sản qua từng giai đoạn
- Rèn luyện và nâng cao tay nghề, củng cố kiến thức đã học và tìm hiểu thêm những kiến thức thực tế
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề
- Biết cách nuôi dưỡng, chăm sóc đàn bò tại trại
- Biết cách chẩn đoán, phòng và điều trị một số bệnh đàn bò tại trại
Trang 10PHẦN 2 TỔNG QUAN VÀ TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1 Vị trí địa lý
Trại bò thuộc khoa Chăn nuôi Thú y nằm trong khuôn viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cách trung tâm thành phố khoảng 4 km về phía Tây Ranh giới Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên được xác định như sau:
+ Phía Đông giáp phường Quang Trung và phường Đồng Quang
+ Phía Tây giáp với xã Quyết Thắng và xã Phúc Hà
+ Phía Nam giáp với phường Tân Thịnh và phường Thịnh Đán
+ Phía Bắc giáp với phường Quán Triều và phường Quang Vinh
Tổng diện tích của trại là 9.000 m2, trong đó diện tích xây dựng chuồng
trại là 80 m2, diện tích sân thả bò là 350 m2, còn lại là diện tích đất trồng cỏ làm thức ăn cho bò Vườn cỏ dùng cho đàn bò của trại gồm 3 giống cỏ chính
đó là: Cỏ VA06, TD58 và cỏ mombasa ghine Hiện mới trồng thêm 2 giống
cỏ voi mới đó là cỏ voi xanh Thái Lan pennisetum purpureum và cỏ voi lùn
Đài Loan panicum sarmentosum sp hay pennisetum purpuseum sp
2.1.2 Điều kiện khí hậu và thủy văn
Thái Nguyên nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, nhưng dựa vào địa hình, khí hậu mùa đông ở Thái Nguyên được chia thành 3 vùng rõ rệt:
+ Vùng lạnh nằm ở phía Bắc huyện Võ Nhai
+ Vùng lạnh ôn hòa gồm các huyện Định Hoá, Phú Lương và phía nam của huyện Võ Nhai
+ Vùng nóng gồm: TP Thái Nguyên, Sông Công, Phổ Yên và các
huyện Đồng Hỷ, Phú Bình, Đại Từ
Trang 11Nhiệt độ trung bình của Thái Nguyên là 21,5 - 23°C (tăng dần từ Đông sang Tây và bắc vào nam); Sự chênh lệch giữa tháng ấm nhất (tháng 6: 28,9°C) và tháng lạnh nhất (tháng 1: 15,2°C) là 13,7°C Đã từng đo được tại Thành phố Thái Nguyên nhiệt độ cao nhất là 41,5°C và thấp nhất là 3°C Số giờ nắng trong năm dao động từ 1.300 đến 1.750 giờ (giảm dần so với hướng Đông sang phía Tây) và phân bố tương đối đồng đều các tháng trong năm
Khí hậu Thái Nguyên chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 10 đến tháng 5 Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.000 đến 2.500 mm; cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1 nhìn chung khí hậu tỉnh Thái Nguyên thuận lợi cho phát triển ngành nông, lâm nghiệp
2.1.3 Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng bò cái sinh sản
2.1.3.1 Tiêu chuẩn ăn đối với bò mang thai
- Nhu cầu duy trì: nhu cầu duy trì của bò cái được tính theo thể trọng của con vật
- Nhu cầu nuôi thai: căn cứ vào thời điểm mang thai mà cho ăn phù hợp với giai đoạn phát triển của thai
+ Bò chửa giai đoạn 1: từ 0 - 4 tháng thì bổ sung thêm 0,2 đơn vị thức ăn/100kg trọng lượng cơ thể
+ Bò chửa giai đoạn 2: cứ 5 tháng đến đẻ thì bổ sung thêm 0,3 đơn vị thức ăn/100kg trọng lượng cơ thể
+ Bò cái chửa kết hợp với cày kéo nặng thì 1 ngày cho ăn thêm 2 đơn
vị thức ăn
+ Bò cái chửa kết hợp cày kéo nhẹ 1 ngày ăn thêm 1,5 đơn vị thức ăn + Bò cái chửa lứa đầu 1 ngày cho ăn thêm 1 đơn vị thức ăn
Trang 12Đối với bò cày kéo chủ yếu dựa vào cỏ tự nhiên trong thời gian mang thai thì phải bổ sung thêm thức ăn tinh tỷ lệ 10-15% trên tổng lượng thức ăn trên ngày Chú ý nên hạn chế cho bò ăn những thức ăn thô khó tiêu như: Rơm
rạ, để tránh ảnh hưởng phát triển của thai
2.1.3.2 Chăm sóc nuôi dưỡng bò cái mang thai
Chăm sóc:
- Bò có chửa chú ý 2 thời kỳ dễ bị sẩy thai:
+ Thời kỳ đầu (từ 1-2 tháng): Thời kỳ này dễ bị sẩy thai do tác động của các chất hoá học, độc tố trong thức ăn, độc tố do vi khuẩn Thời kỳ này phôi bào chưa bám chắc chắn với niêm mạc tử cung của bò mẹ thông qua nhau thai Để đề phòng sảy thai ở thời kỳ này cần chú ý tới bệnh truyền nhiễm, phát hiện sớm và điều trị kịp thời
+ Thời kỳ thai được 8-9 tháng: Giai đoạn này cần chú ý đến những tác động cơ học vì thai đã lớn.Tác nhân hoá học ít tác động đến bào thai
- Nguyên tắc chung đối với gia súc có chửa:
+ Đối với bò cày kéo cần phải dừng lại, không đánh đập xua đuổi và không chăn thả ở những vùng có địa hình phức tạp
+ Chế độ làm việc: Làm việc nặng - làm việc nhẹ - nghỉ Giai đoạn đầu gia súc vẫn làm việc nặng được Giai đoạn giữa giảm tần suất làm việc nặng xuống chuyển sang làm việc nhẹ và giai đoạn cuối cho gia súc nghỉ
+ Chế độ chăn thả: Giai đoạn đầu có thể chăn thả ở bãi chăn xa, giai đoạn giữa chỉ chăn ở những bãi gần và giai đoạn cuối chăn tại chuồng
+ Chăn ở các địa hình: Giai đoạn đầu có thể chăn ở các vùng có địa hình dốc, giai đoạn giữa chăn gia súc ở các địa hình bằng phẳng và giai đoạn cuối sẽ chăn ở các bãi sân chơi ở cạnh chuồng
Trang 13+ Bò trong thời gian mang thai không nên chăn thả những nơi nhiệt độ quá nóng, nhiệt độ quá lạnh Đối với bò chăn thả hoàn toàn cần chăn ở những
bãi chăn mà có bóng mát
- Quản lý:
- Chế độ ăn đối với bò có chửa phải chia nhỏ bữa ăn, ít nhất chia làm 3 bữa/1 khẩu phần thức ăn, tránh tập trung khẩu phần ăn vào 1 bữa Quá no dẫn đến hiện tượng chèn ép bào thai và các bệnh về đường tiêu hóa và hô hấp
- Nếu nuôi bò chăn theo đàn lớn thì cần tách riêng những bò cái đang chửa sang 1 chuồng riêng, không nhốt lẫn bò chửa và bò thường dễ gây sẩy thai do tác động cơ học
- Căn cứ vào lịch phối giống trước khi đẻ 15 ngày (8 tháng 20 ngày) phải tách riêng bò cái có chửa sắp đẻ để dễ chăm sóc và trực đỡ đẻ cho bò
2.1.3.3 Chăm sóc nuôi dưỡng bò cái đẻ
- Hiện tượng bò sắp đẻ:
Khi bò sắp đến ngày đẻ thường quan sát thấy các biểu hiện lâm sàng như sau: Bụng sệ xuống, hai bên gốc đuôi sụt xuống, sưng mông, niêm dịch chảy ra nhiều, trong suốt Bò có biểu hiện chọn những nơi thoáng mát, bằng phẳng hay kín đáo để tránh những tác động của những con khác Có hiện tượng đứng nằm không yên là dấu hiệu rặn đẻ, càng gần ngày sinh tần suất
rặn đẻ càng nhiều Quá trình rặn đẻ có thể kéo dài 30 phút đến 1 giờ
- Đỡ đẻ cho bò:
Khi bò bắt đầu có biểu hiện rặn đẻ thì người đỡ đẻ phải chuẩn bị như sau: Tay người đỡ phải rửa sạch và sát trùng bằng cồn 900 Trước hết kiểm tra xem thai thuận hay nghịch Nếu nghịch ta phải sửa lại thuận, trong trường hợp khó đẻ phải báo ngay cho cán bộ quản lý thú y can thiệp kịp thời Khi vỡ
ối, nước ối chảy ra và cũng là lúc bò rặn, thai sẽ được đẩy từ từ ra ngoài Nếu
bò rặn đẻ yếu thì ta tiến hành giúp bò kéo thai ra, nhớ kéo theo nhịp rặn của
bò mẹ
Trang 14Khi bê vừa sinh ra thì người đỡ đẻ phải lau các chất nhờn ở mũi và miệng để cho bê hô hấp dễ dàng Dùng khăn khô lau khô bê và để bê nằm trên nệm được lót rơm, rạ hoặc cỏ khô Nếu rốn không tự đứt thì phải dùng kéo (sau khi đã thắt dây rốn và được sát trùng) tiến hành cắt rốn Kỹ thuật thắt dây rốn là dùng chỉ thắt dây rốn cách bụng khoảng 4 – 8 cm sau đó cắt cách da bụng 5 – 10 cm rồi tiêu độc (sát trùng) bằng cồn 90 0C Bê con sau khi sinh cần được bú sữa non càng sớm càng tốt Những con nào yếu không đứng dậy được ta phải hỗ trợ giúp bê bú
Sau khi bò đẻ xong phải rửa sạch phần sau của bò mẹ bằng nước muối sinh lý hoặc dung dịch thuốc tím nồng độ 0,1 % Thông thường bò sau khi đẻ khoảng 4 - 6 giờ thì ra nhau thai nếu đã quá 12 giờ sau khi đẻ mà không thấy nhau ra thì bò bị sát nhau
Sau khi bò đẻ song, nên cho uống thêm nước đường và nước trắng có thêm một ít muối hoặc cháo loãng Cho bò ăn những thức ăn dễ tiêu như cỏ non hoặc cỏ khô có nhiều dinh dưỡng Chú ý theo dõi chăm sóc chu đáo cho
bò trong thời gian sau đẻ, vệ sinh tiêu độc, khử trùng cho bò đẻ
2.1.3.4.Chăm sóc nuôi dưỡng bò cái nuôi con
- Quy trình nuôi dưỡng
Sau khi đẻ, sự trao đổi chất của bò tăng lên, vì vậy cần đảm bảo thức ăn
có chất lượng tốt, dễ tiêu hóa, thức ăn không bị nhiễm nấm mốc, lên men, kém dinh dưỡng… Đồng thời không nên cho bò ăn cùng một lúc quá nhiều dẫn đến rối loạn tiêu hóa và gây bệnh ở bầu vú Sau khi đẻ được 10 ngày khẩu phần ăn của bò mẹ chuyển dần về khẩu phần ăn bình thường
Trang 15Luôn đảm bảo chuồng khô ráo, sạch sẽ, thoáng mát về mùa hè và ấm áp
về mùa đông
2.1.3.5 Chăm sóc và nuôi dưỡng bê con đến tuổi trưởng thành
Nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý bê là một trong những giai đoạn quan trọng nhất trong chăn nuôi bò
- Từ khi bê được đẻ ra thì được nuôi ở tại chuồng đến 30 ngày tuổi cùng bò mẹ Lưu ý luôn giữ ấm cho bê, tránh gió lùa vào chuồng, chỗ bê con nằm phải sạch sẽ và khô ráo
- Bê trên 1 tháng tuổi: Bê được chăn thả cùng bò mẹ ở đồng cỏ gần chuồng, theo thói quen cho bê ăn thức ăn tinh
- Bê 3 - 6 tháng: Cho ăn 5 – 10 kg cỏ tươi và 0,2 kg thức ăn hỗn hợp Tập cho bê ăn cỏ khô, nên để bê cai sữa khoảng 6 tháng tuổi
- Bê từ 6 - 24 tháng tuổi: Chăn thả là chính, hàng ngày cho bê ăn khoảng 10 - 20 kg cỏ tươi, ngọn mía, cây ngô non… Vào thời điểm thiếu cỏ
có thể cho ăn thêm 2 - 4 kg cỏ khô một ngày
Nhu cầu dinh dưỡng: Giai đoạn này cũng rất quan trọng, nếu không đảm bảo mức độ dinh dưỡng sẽ kìm hãm sự sinh trưởng và phát triển của các
cơ quan, nhất là cơ quan sinh sản
Bảng 2.1 Công thức phối trộn thức ăn tinh (tính cho 200 kg)
Trang 16Chú ý:
- Nguyên liệu dùng để phối trộn không cần nghiền kỹ, trừ ngô hạt
- Cân lượng urê chính xác (3%) vì nếu urê vượt quá giới hạn này có thể
gây độc cho bò
2.2 Cơ sở khoa học của chuyên đề
2.2.1 Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh dục ở bò
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [2] thì, cơ quan sinh dục cái của gia súc được chia làm hai phần, bộ phận sinh dục bên ngoài và bộ phận sinh dục
luôn bảo vệ những bộ phận bên trong
* Âm vật
Được cấu tạo như dương vật con đực, có khả năng cương cứng, trên âm vật có một nếp da gấp xuống dưới tạo thành mũ âm vật Đây là nơi tập trung nhiều dây thần kinh nhất
* Tiền đình
Tiền đình là ranh giới giữa âm môn và âm đạo Trong tiền đình có màng trinh Phía trước của màng trinh là âm đạo, phía sau màng trinh có lỗ niệu đạo thông với bàng quang
2.2.1.2 Bộ phận sinh dục bên trong
Gồm (âm đạo, tử cung, ống dẫn trứng, buồng trứng)
* Âm đạo
Âm đạo là một ống tròn, là nơi chứa dương vật khi được giao phối trực tiếp, cũng là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ và là đường dẫn ống tinh quản đến lỗ tử cung khi phối nhân tạo
Trang 17Chiều dài của âm đạo từ 25 - 30 cm, thành âm đạo gồm 3 lớp cơ: Cơ liên kết ngoài, lớp cơ trơn và cuối cùng là lớp cơ niêm mạc bên trong, có nhiệm vụ tiết ra một lượng lớn chất nhờn để tạo độ trơn thành âm đạo, nhất là trong thời kỳ động dục của con cái Ở phần cuối của âm đạo, thành âm đạo bao quanh lỗ cổ tử cung phình ra thành hốc cụt
Lỗ cổ tử cung nhô vào âm đạo và luôn đóng kín nên khó nhận biết lỗ cổ
tử cung để thông ống dẫn tinh và thường bị nhầm lẫn với xương cụt Cổ tử cung tiết ra một lượng lớn chất nhờn để giữ vệ sinh, làm trơn lớp niêm mạc tử cung và bảo vệ tử cung, là nơi rất thích hợp cho tinh trùng sinh sống và tồn tại
Nếu sờ cổ tử cung qua trực tràng khi cầm cổ tử cung có cảm giác hơi
cứng, giống như có một đoạn sụn ở đó
+ Thân tử cung
Nó là sự tiếp nối của cổ tử cung và tiếp giáp với sự kết hợp của hai sừng của tử cung.Thân tử cung bò rất ngắn, nó là một ống dài 2 – 4 cm, khi khám qua trực tràng cảm thấy mềm hơn so với cổ tử cung Đây là địa điểm phân chia tinh trùng vào 2 sừng tử cung
+ Sừng tử cung
Bò gồm có hai sừng tử cung là 2 ống hình tròn, cong theo dạng hình sừng cừu Bộ phận đầu của sừng tử cung giáp với thân tử cung tạo thành rãnh
Trang 18giữa Rãnh giữa tử cung dài từ 2 - 5 cm giúp phân biệt tử cung bình thường,
có thai hay tử cung bị bệnh… Sừng tử cung bình thường dài 20 – 40 cm, đường kính từ 2 cm trở lên Tử cung có thành dày, nhiều mạch máu, có tính đàn hồi Đây cũng là nơi phôi thai làm tổ và sau đó phôi thai sẽ phát triển thành thai Khi ống dẫn tinh đi qua thân tử cung trong quá trình giao phối, nó đi vào sừng của tử cung, ruột có thể gây chảy máu hoặc thủng và viêm màng nhầy
* Ống dẫn trứng (vòi fallop)
Tiếp theo mỗi sừng tử cung là ống dẫn trứng Ống dẫn trứng là ống rất nhỏ và ngoằn ngoèo dài 20 – 30 cm đường kính 1 – 2 mm Tiếp giáp với buồng trứng, nó nhô ra và nép khít vào buồng trứng Bộ phận này đón trứng
đã phóng ra trong ống dẫn trứng Khi gặp tinh trùng ở vòi trứng, nó sẽ được thụ tinh ở 1/3 trên gần vòi trứng để tạo thành hợp tử và phôi thai, sau đó di chuyển để làm tổ trong sừng tử cung
Buồng trứng
Buồng trứng có hình bầu dục, trong xoang chậu, gần sừng tử cung, cạnh trước xương ngồi, dài từ 1,5 – 3,5cm, rộng 1,5 – 2,5cm, cao 2cm, khối lượng khoảng 10 – 30g Trọng lượng và kích thước của buồng trứng thay đổi phụ thuộc vào tuổi, kích thước, điều kiện nuôi, mùa và tình trạng sinh lý của bò Khối lượng và kích thước sẽ đạt mức cao nhất ở trong giai đoạn động dục Buồng trứng
có thể dễ dàng sờ thấy được theo phía bên cạnh của sừng tử cung
Buồng trứng có 2 chức năng chính: Là nơi sinh sản ra trứng và tiết ra các nội tiết tố tham gia và kiểm soát chu kỳ sinh sản của bò
2.2.2 Đại cương về sinh lý sinh sản của bò cái
2.2.2.1 Sự thành thục về tính
Theo Nguyễn Xuân Trạch (2003) [9] cho biết thành thục về tính là thời điểm bò bắt đầu có biểu hiện sinh dục, động dục và rụng trứng Thành thục sớm hay muộn phụ thuộc vào đặc tính của từng loài, từng cá thể, điều kiện
Trang 19môi trường, đặc biệt là sự chăm sóc của con người đối với bò Mọi điều kiện
mà đều thuận lợi thì bò đực khoảng từ 32 - 36 tuần tuổi, ống sinh tinh đã bắt đầu có tinh trùng Đến 39 tuần tuổi, có "tính hăng" của con đực giống, có thể xuất tinh lần đầu vào khoảng 9 - 10 tháng tuổi Bò cái khoảng 10 cho đến 12 tháng tuổi đã có trứng chín và rụng Nếu cho phối bò có thể có chửa Sự thành thục về tính thường đến trước sự thành thục về thể chất Vì vậy bò đực chỉ cho phối giống hoặc lấy tinh khi đã đủ 18 tháng tuổi trở lên
2.2.2.2 Tính chu kỳ và thời điểm điểm phối giống
- Chu kỳ tính
Theo Nguyễn Xuân Trạch (2003) [9], thời gian trung bình của một chu
kỳ động dục ở bò là 21 ngày, dao động từ 18 đến 24 ngày, chia làm 4 giai đoạn: Giai đoạn trước động dục, giai đoạn động dục, giai đoạn động dục sau
và nghỉ ngơi
+ Giai đoạn trước động dục:
Là giai đoạn đầu của chu kỳ động dục, thường kéo dài từ 6 -10 giờ với những biểu hiện ở bò như sau: Bò cái tỏ ra ngơ ngác, hay đi lại, dựng đuôi, tách rời đàn, kêu rống lên, hung tính hay húc nhau, có biểu hiện muốn nhảy lên con khác, nhưng chưa đứng lại để cho con khác nhảy lên lưng nó Bò thường ít ăn, đái rắt, đái liên tục, bò đang sản xuất sữa có thể giảm tiết sữa Mép âm môn có hiện tượng tiết ra dịch nhầy, hơi sưng tấy và Đường sinh dục
có niêm dịch trong suốt, loãng, chưa kéo dài thành sợi được
+ Giai đoạn động dục:
Giai đoạn này bò hưng phấn rất cao, thời gian chịu đực của bò dao động khoảng 6 đến 30 giờ, giai đoạn này bò cái chịu đực, thường có các biểu hiện chính như: Kém ăn hoặc bỏ ăn, thích gần những con khác đặc biệt là con đực, hai chân sau luôn đứng thẳng, đuôi để lệch sang một bên, lưng cong lên
Trang 20ở tư thế chờ phối và chịu đực Đây là thời điểm phối giống thích hợp nhất và
có tỷ lệ thụ thai cao nhất
+ Thời kỳ sau động dục:
Giai đoạn này bắt đầu quay lại ăn gần như bình thường Cơ quan sinh dục bên ngoài dần teo đi, không sưng, không còn hưng phấn, niêm dịch đặc, hơi đục, không kéo dài như giai động dục Tuy đây là giai đoạn rụng trứng, nhưng phối vào lúc này là quá muộn, tỷ lệ thụ thai thấp
Chú ý: Khi phát hiện bò cái động dục ở giai đoạn đầu thì cần phải theo dõi thật kỹ thì mới xác định được thời điểm phối giống thích hợp
Như vậy, từ khi bò cái ngừng chịu đực đến khi bộ phận sinh dục trở lại bình thường (khoảng 5 ngày)
+ Giai đoạn nghỉ :
Đây là thời gian dài nhất của chu kỳ giữa các lần động dục và là đặc trưng bởi sự hiện diện của thể vàng, nếu noãn không được thụ tinh thì thể
vàng tồn tại khoảng 8 ngày sau khi rụng trứng và sau đó biến mất Sau đó lại
tiếp tục chu kỳ sinh dục mới Nếu trứng được thụ tinh thì giai đoạn này được thay thế bằng thời kỳ mang thai
Theo Nguyễn Văn Thưởng (1995) [8]cho biết: Bò phải phối tinh vào 2/3 thời gian sau khi chịu đực hoặc vài giờ sau thời kỳ động dục sẽ đạt tỷ lệ thụ thai cao nhất Bò sữa phối giống 1 lần trong ngày tốt hơn phối theo nguyên tắc sáng - chiều (phối hai lần), từ đó ta có thể xác định được thời điểm thụ tinh thích hợp nhất
Trang 21Bảng 2.2 Biểu hiện của bò cái ở trong giai đoạn động dục
Các biểu
hiện
Trước chịu đưc Chịu đực Sau chịu đực Cân bằng
Tìm đực hoặc đến gần con khác, chịu cho nhảy, mê ì
Còn chịu cho nhảy và phối giống ( một thời gian ngắn)
Bình thường
Ăn uống Kém ăn Ăn ít hoặc không ăn Ăn ít bình thường Ăn uống
Âm hộ
Sưng, sung huyết, đỏ, hơi phù, bóng ướt, mép âm hộ hé mở
Bớt sưng, hơi thâm, se, dính
Nang trứng nhỏ, căng,
Rụng trứng quãng 12 - 24 giờ sau kết thúc chịu đực
Có thể vàng nhô lên
Tử cung Có màng nhầy,
tụ huyết
màng nhầy tử cung dầy, trương lực tử cung tối đa
Trương lực bớt căng Bình thường
Cổ tử
cung
Niêm dịch lỏng, hé mở,
đỏ hồng, bớt ướt, nhiều, trong suốt,
Mở rộng, niêm dịch đặc, dính, có màu nửa trong nửa đục
Hẹp dần, niêm dịch đặc, giảm
độ keo dính, màu đục bã đậu
dễ đứt
Khép kín trung bình, không có niêm dịch
Âm đạo Đỏ Đỡ đỏ hơn Dần dần trở về
bình thường Bình thường
Thực tế trong chăn nuôi bò ở nước ta rất khó xác định chính xác thời điểm động dục, để kiểm tra bò chịu đực người ta thường dựa vào kinh nghiệm theo quy luật: Sáng - chiều và ngược lại Động dục vào buổi sáng thì phối chiều còn động dục buổi chiều thì phải phối sáng ngày hôm sau
Trang 22Bảng 2.3 Thời điểm thích hợp để phối giống cho bò cái
Trước 8 giờ sáng Buổi chiều cùng ngày Sáng hôm sau
Từ 8 - 12 giờ trưa
Cùng ngày vào lúc rất muộn hoặc sáng hôm sau vào lúc rất sớm
8 giờ sáng hôm sau trở đi
Chiều và tối Sáng và trưa ngày hôm sau Chiều hôm sau
2.2.3 Sinh lý quá trình mang thai và đẻ
Theo Nguyễn Xuân Trạch (2003) [9], Toàn bộ quá trình phát triển của bào thai ở bò kéo dài khoảng 280 ngày và được chia thành 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn phôi bào (từ 1 - 34 ngày): Giai đoạn này phôi thai phát triển mạnh, trọng lượng tăng gấp khoảng 600 lần Đó là một quá trình phức
tạp biệt hóa mô và hình thành các hệ thống cơ quan quan trọng của bào thai
+ Giai đoạn tiền thai (từ 35 - 60 ngày): Trong thời kỳ này tất cả các cơ quan nội tạng, mô, cấu trúc thần kinh, sụn, tuyến vú, cơ quan sinh dục và đặc điểm của giống đều được hình thành và phát triển
+ Giai đoạn bào thai (từ ngày 61 - khi đẻ): Trong 2 đến 2,5 tháng cuối, cân nặng của thai ở bò khoảng 13 - 14 kg, tức là khoảng 2/3 đến 3/4 khối lượng sơ sinh
Mỗi giai đoạn này đòi hỏi kỹ thuật chăm sóc khác nhau, đặc biệt lưu ý trong 2 tuần cuối cần có chế độ dinh dưỡng và chăm sóc phù hợp
2.2.4 Một số bệnh sinh sản thường gặp ở bò cái
2.2.4.1 Nguyên nhân
Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2000) [6] nguyên nhân
Trang 23viêm nhiễm, qua giao phối, thụ tinh nhân tạo mà dụng cụ không đảm bảo vô trùng, có thể do mắc một số bệnh truyền nhiễm như sẩy thai truyền nhiễm
Bệnh do trichomonas hoặc streptococcus…
Theo Nguyễn Văn Thanh và cs, 2016) [7] ngoài ra nguyên nhân gây nên viêm tử cung là do trong quá trình chuyển dạ, đặc biệt là trong trường hợp đẻ khó cần can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ gây sây sát niêm mạc đường sinh dục ở bò cái
Do một số bệnh lý như sát nhau, không can thiệp kịp thời, nhau phân hủy và đóng cặn trong tử cung, gây nhiễm trùng tử cung, do vệ sinh trước, trong và sau khi sinh con kém, chẳng hạn như nền chuồng, dụng cụ đẻ không sạch sẽ… Tất cả những nguyên nhân trên tạo điều kiện cho các nhóm vi khuẩn xâm nhập vào tử cung từ bên ngoài rồi xâm nhập qua các vết xước của niêm mạc tử cung, vi khuẩn tăng số lượng và độc lực gây viêm Các vi khuẩn
thường gặp trong bệnh viêm tử cung là streptococcus, staphylococcus,
ecoli… (Trần Tiến Dũng và cs, 2002) [2]
Tác giả Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2000) [6] cho biết, ở gia súc, nhau thai tự bong ra từ 4 đến 6 giờ sau khi sinh, nếu nhau thai không
ra sau 12 giờ được cho là sát nhau
Cũng theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2000) [6] Nguyên nhân gây bệnh là do thức ăn của bò ít chất xơ nhưng quá nhiều đạm, can xi, bột hoặc lười vận động trong thời kỳ mang thai, bệnh truyền nhiễm, viêm âm đạo, bệnh do sẩy thai hoặc đẻ khó
Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) [7], bệnh sát nhau do nhiều nguyên nhân gây ra nhưng chủ yếu do 2 nguyên nhân sau:
Sau khi sổ thai, tử cung co bóp yếu dần, sức rặn của bò mẹ giảm dần do
bò mẹ lười vận động khi mang thai, nhất là giai đoạn cuối thai kỳ Trong thời gian mang thai chế độ ăn uống thiếu khoáng chất đặc biệt là can xi hoặc do bò
Trang 24mẹ quá gầy hoặc quá béo cũng là yếu dẫn đến bò bị sát nhau Gia súc đẻ song thai (ở gia súc đơn thai) hoặc đẻ quá nhiều con (ở gia súc đa thai) cũng là yếu
tố dẫn đến sát nhau Ngoài ra còn do thai quá lớn, dịch thai quá nhiều làm cho thành tử cung bị giãn quá mức giảm sự co bóp của tử cung dẫn đến nhau thai con không tách ra khỏi niêm mạc tử cung của bò mẹ
Ở trâu, bò do cấu tạo nhau con và các núm nhau của bò mẹ liên kết với nhau theo hình thức cài răng lược, khá chắc chắn cho nên nếu sau khi gia súc đẩy bào thai ra ngoài mà tử cung co bóp yếu, nhau thai sẽ không được đẩy ra ngoai, dẫn đến tình trạng sát nhau
Ở đây chia ra hai loại sát nhau: Đó là sát nhau toàn phần và sát nhau một phần Nếu bị sát nhau phải can thiệp ngay nếu không nhau thai của bò sẽ
bị thối gây trúng độc toàn thân, chết hoặc mất sữa
Theo Nguyễn Xuân Trạch và cs (2003) [9], trong thời kỳ mang thai bò
có thể bị liệt nhẹ sau đẻ, nhất là giai đoạn cuối, bò không được cung cấp đầy đủ canxi và photpho Trong khi đó bào thai rất cần canxi và photpho để phát triển
bộ xương của bào thai do đó canxi và photpho được lấy từ trong xương của bò
mẹ đặc biệt là khung xương chậu và hai chân sau làm cho bò mẹ bị bại liệt
Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) [7], nguyên nhân chính của bệnh liệt nhẹ sau đẻ chưa rõ ràng và khó xác định Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, nguyên nhân của bệnh là do giảm canxi huyết, xảy ra khi lượng máu tập trung rất nhiều ở bầu vú sau khi đẻ, sữa có nhiều canxi Có ý kiến cho rằng hiện tượng giảm canxi huyết là kết quả của rối loạn chức năng hoạt động của tuyến phó giáp trạng, do tuyến này bị sung huyết trong thời gian sinh đẻ
Theo Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1996) [4] Nguyên nhân gây
viêm tử cung và viêm vú là hai nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng giảm
và mất sữa ở bò đang cho con bú