1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Skkn tích hợp giáo dục về kiến thức biến đổi khí hậu trong dạy học địa lí 12 phần địa lí tự nhiên

25 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Skkn tích hợp giáo dục về kiến thức biến đổi khí hậu trong dạy học địa lí 12 phần địa lí tự nhiên
Tác giả Hà Thị Bái
Trường học Trường Trung Học Phổ Thông Chu Văn An
Chuyên ngành Địa lí
Thể loại Báo cáo sáng kiến
Năm xuất bản 2021
Thành phố Yên Bái
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 489,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập Tự do Hạnh phúc BÁO CÁO SÁNG KIẾN CẤP CƠ SỞ I THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 1 Tên sáng kiến Tích hợp kiến thức về biến đổi khí hậu vào chương trình Địa lí 1[.]

Trang 1

1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - _

BÁO CÁO SÁNG KIẾN CẤP CƠ SỞ

I THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1 Tên sáng kiến: Tích hợp kiến thức về biến đổi khí hậu vào chương trình

Địa lí 12 - Phần địa lí tự nhiên Việt Nam

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục và Đào tạo

3 Phạm vi áp dụng sáng kiến: Áp dụng vào giảng dạy cho học sinh khối lớp 12, Trường THPT Chu Văn An, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái

4 Thời gian áp dụng sáng kiến: Sáng kiến được thực hiện từ ngày 20

tháng 5 năm 2020 đến 31 tháng 12 năm 2022 (năm học 2020 - 2021 và học kỳ I năm học 2021 - 2022)

5 Tác giả:

- Họ và tên: Hà Thị Bái

- Năm sinh: 1977

- Trình độ chuyên môn: Cử nhân Địa lí

- Chức vụ công tác: Giáo viên

- Nơi làm việc: Trường THPT Chu Văn An, huyện Văn yên, tỉnh Yên Bái

- Địa chỉ liên hệ: Tổ dân phố số 2, thị trấn Mậu A, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái

- Điện thoại: 0386087778

II MÔ TẢ GIẢI PHÁP SÁNG KIẾN

1 Tình trạng giải pháp đã biết

Sáng kiến “Tích hợp kiến thức về biến đổi khí hậu vào chương trình Địa lí

12 - Phần địa lí tự nhiên Việt Nam” được tác giả thực hiện trong năm học 2020 -

2021 và học kỳ I năm học 2021 - 2022 với mục tiêu, nâng cao chất lượng theo hướng đổi mới của Bộ giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế

Biến đổi khí hậu đã và đang tác động trực tiếp đến mọi mặt đời sống kinh tế,

xã hội và môi trường toàn cầu Ở Việt Nam đã và đang phải chịu ảnh hưởng nặng

nề về nhiều mặt của biến đổi khí hậu, như nhiệt độ trái đất ngày càng tăng, số cơn bão có cường độ mạnh nhiều hơn, các dòng chảy giảm và dòng chảy lũ gia tăng đặc biệt là tình trạng mực nước biển dâng dẫn đến diện tích xâm nhập mặn tại các vùng đồng bằng ven biển ngày một nhiều Ngoài ra, biến đổi khí hậu cũng làm phạm vi thích nghi của cây nhiệt đới mở rộng và cây á nhiệt đới bị thu hẹp, tình trạng hạn hán, ngập lụt, lũ quét, sạt lở đất gia tăng, sản xuất lương thực giảm sút Mực nước biển trung bình trên toàn dải bờ biển Việt Nam có thể dâng lên 1m

vào năm 2100, trong đó đồng bằng sông Cửu Long là một trong ba đồng bằng dễ bị tổn

Trang 2

2

thương nhất do nước biển dâng Biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng lớn đến mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội và môi trường

Nhận thức rõ tác động của biến đổi khí hậu, Chính phủ Việt Nam đã xây dựng

và triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu Trong những năm gần đây, nước ta đã có nhiều chương trình, dự án nghiên cứu tình hình, diễn biến và tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên, môi trường cũng như

sự phát triển kinh tế - xã hội và bước đầu thực hiện các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu Tuy vậy, những cố gắng nói trên là chưa đủ để đảm bảo ứng phó hiệu quả với những tác động của biến đổi khí hậu trong thời gian tới

Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện quyết định số 158/2008/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ ngày 2/12/2008 về “Chương trình Môi trường quốc gia ứng phó với BĐKH” và soạn thảo dự án: “Xây dựng chương trình đào tạo và giáo dục về BĐKH trong chương trình giáo dục các cấp” Tất cả các bậc học sẽ được tích hợp nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu vào chương trình giảng dạy Tuy nhiên chương trình và nội dung tích hợp về kiến thức biến đổi khí hậu cho học sinh bậc THPT còn chưa có tính hệ thống, tài liệu giảng dạy bộ môn và phương pháp dạy học tích hợp chưa phổ biến Nhiều giáo viên còn lúng túng trong tích hợp vào môn dạy và hướng dẫn kĩ năng thích ứng với biến đổi khí hậu cho học sinh

Với vai trò là một giáo viên giảng dạy môn địa lí ở trường THPT, với nhiệm

vụ đào tạo ra những công dân hữu ích cho đất nước, tôi thấy rằng việc lồng ghép, tích hợp nội dung biến đổi khí hậu vào chương trình giảng dạy ở một số môn học nhất là môn Địa lí ở trường THPT là hoàn toàn phù hợp và cần thiết nhằm trang bị cho các em những kiến thức tốt nhất về biến đổi khí hậu, đồng thời các em cũng chính là các cầu nối thông tin để tuyên truyền đến cộng đồng Chính vì vậy tôi lựa

chọn thực hiện sáng kiến khoa học với đề tài “Tích hợp nội dung kiến thức về biến

đổi khí hậu vào chương trình Địa lí 12 - Phần địa lí tự nhiên Việt Nam” Để góp phần bổ sung thêm tư liệu học tập cho giáo viên và học sinh khi tìm hiểu nội dung địa lí tự nhiên Việt Nam, đặc biệt là trong quá trình giảng dạy, ôn thi THPT quốc gia, ôn luyện đội tuyển Học sinh giỏi ở trường THPT Chu Văn An, huyện Văn Yên ngày càng tốt hơn

2 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến

2.1 Mục đích của giải pháp

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn, sáng kiến khoa học được thực hiện dựa trên các mục đích cơ bản sau:

- Tránh tình trạng lặp lại nội dung, khắc phục được tình trạng thiếu sự liên

hệ, giúp cho kiến thức học sinh được bao quát, đầy đủ hơn

- Tạo điều kiện đổi mới phương pháp dạy học, đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học Thông qua quá trình dạy - học, GV bồi dưỡng và phát triển cho học sinh những kĩ năng, năng lực cơ bản như năng lực tự học, tự nghiên cứu, năng lực hợp tác để giải quyết vấn đề; các kĩ năng quan sát, thu thập, xử lý thông tin; khuyến khích và động viên học sinh phát huy được tính tích cực, chủ động trong việc vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn Qua đó góp phần hình thành các năng lực, phẩm chất cho HS; đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy

Trang 3

3

học, tăng cường kĩ năng, nghiệp vụ sư phạm cho ggiaos viên và học sinh trong quá trình dạy học, kiểm tra, đánh giá theo tinh thần đổi mới hình thức dạy học tích hợp hiện nay

2.2 Nội dung giải pháp

2.2.1 Những điểm khác biệt, tính mới và bản chất của sáng kiến

- Lần đầu tiên, việc biên soạn hệ thống nội dung kiến thức về biến đổi khí hậu, các phương pháp dạy học đặc trưng của bộ môn, địa chỉ tích hợp và hình thức tích hợp phù hợp để áp dụng đối với các lớp thực nghiệm và đối chứng làm cơ sở đánh giá lợi ích thu được của sáng kiến

- Sáng kiến đề cập đến vấn đề mang tính cấp thiết, nhận được sự quan tâm của nhiều giáo viên và học sinh Những vấn đề mang tính vừa sức đối với học sinh THPT được lồng ghép vào môn Địa lí lớp 12 THPT được tiến hành nghiên cứu dưới dạng một sáng kiến và được áp dụng vào thực tiễn, có thực nghiệm và đối chứng kết quả thu được

- Xác định được những yêu cầu trong xây dựng sáng kiến; hệ thống hóa những kỹ năng cơ bản trong sáng kiến và xây dựng quy trình biên soạn bài giảng tích hợp kiến thức biến đổi khí hậu độ tin cậy cao sử dụng trong giảng dạy và học tập môn Địa lí lớp 12 - Phần địa lí tự nhiên Việt Nam theo chuẩn kiến thức, kĩ năng hiện nay

- Dạy học tích hợp có tính thực tiễn nên sinh động, hấp dẫn đối với học sinh,

có ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho học sinh Học sinh được tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn, ít phải ghi nhớ kiến thức máy móc Điều này giúp học sinh tự tin và sáng tạo hơn trong quá trình tiếp thu, hình thành tri thức mới và các năng lực cần thiết cho bản thân Đồng thời học sinh cũng được chủ động trình bày kiến thức, thể hiện được quan điểm cá nhân về các vấn đề giáo viên đặt ra, từ đó phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh

2.2.2 Nội dung, cách thức thực hiện và các bước thực hiện sáng kiến

2.2.2.1 Nghiên cứu những vấn đề chung về biến đổi khí hậu

b) Nguyên nhân, biểu hiện và tác động của biến đổi khí hậu:

* Nguyên nhân

Biến đổi khí hậu là kết quả của nhiều yếu tố bao gồm cả các quy trình động năng của bản thân Trái Đất, cả các lực bên ngoài bao gồm các biến đổi trong cường độ ánh sáng Mặt Trời, đặc biệt là những hoạt động của con người trong thời gian gần đây Theo báo cáo mới nhất của Liên Hợp Quốc ngyên nhân của biến đổi khí hậu 90% là do con người gây ra, 10% do tự nhiên sinh ra

Trang 4

4

- Sự biến đổi trong quỹ đạo Trái Đất: trong các yếu tố tác động đến khí hậu, sự thay đổi trong quỹ đạo của Trái Đất là yếu tố có ý nghĩa quan trọng làm thay đổi năng lượng Mặt Trời, bởi vì dù chỉ có sự thay đổi rất nhỏ trong quỹ đạo Trái Đất cũng đã dẫn tới những sự thay đổi trong sự phân phối của ánh sáng Mặt Trời khi tiến tới bề mặt Trái Đất

- Hoạt động núi lửa: sự phun trào núi lửa là sự giải phóng ở các mức độ khác nhau những vật liệu đặc biệt vào trong bầu khí quyển Núi lửa cũng là một phần làm gia tăng lượng khí Cacbon có trong khí quyển

- Ảnh hưởng của con người: các hoạt động của con người chính là nguyên nhân làm thay đổi môi trường Đó là sự tăng nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển dẫn đến tăng hiệu ứng nhà kính Đặc biệt quan trọng là khí điôxit cacbon (CO2) được tạo thành do sử dụng năng lượng từ nguyên liệu hóa thạch (dầu mỏ, than đá, khí tự nhiên ) Các yếu tố khác, bao gồm cả việc sử dụng đất, lỗ thủng tầng ô zôn, sản xuất nông nghiệp và nạn phá rừng cũng đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến khí hậu

- Hiệu ứng nhà kính Trái Đất nhận năng lượng từ Mặt trời dưới dạng các bức xạ sóng ngắn Khi xuống mặt đất, một phần của năng lượng này được phản xạ vào không khí, một phần bị các chất trên mặt đất hấp thu, làm cho bề mặt trái đất nóng lên Khi bề mặt Trái Đất nóng lên lại bức xạ năng lượng vào khí quyển dưới dạng các bức xạ bước sóng dài, chủ yếu là các bức xạ nhiệt Các bức xạ sóng dài không có khả năng xuyên qua “khí nhà kính”, gồm khí CO2, hơi nước, CH4, các hợp chất chloroflorocacbon (CFC’s) và NO2… Khí nhà kính có trong khí quyển sẽ hấp thụ những bước xạ sóng dài, được sưởi nóng và lại phản xạ ra mọi phía trong

đó có phía lên bề mặt của Trái Đất Kết quả là bề mặt Trái Đất bị ấm lên, nhiệt độ

bề mặt Trái Đất cũng bị nóng lên

* Biểu hiện

- Biến đổi khí hậu trên thế giới

Ảnh hưởng đầu tiên của biến đổi khí hậu là tác động lên hầu hết các thành phần môi trường mà trước hết là làm cho nhiệt độ Trái Đất tăng cao, mực nước biển dâng

Khí hậu biến đổi do Trái Đất bị hâm nóng vì hiệu ứng nhà kính tăng quá mức quân bình tự nhiên khiến các sông băng trên các núi cao và nhất là vùng quanh năm băng giá ở Bắc và Nam Cực tan dần, làm mặt biển dâng cao hơn Ngoài

ra, thời tiết cũng bị biến loạn, thiên tai xảy ra thường xuyên hơn và với cường độ cao hơn, lụt lội và hạn hán kéo dài hơn, như thực tế một số nước đã cho thấy Do Biến đổi khí hậu, đất đai còn bị huỷ hoại vì sa mạc hoá, mặn hoá, xói mòn, ngập chìm - tất cả những triệu chứng này đã bắt đầu hiện rõ Bên cạnh những nguy cơ của mưa gió trái mùa, thiên tai gây tác hại mùa màng, gây đói kém, mực biển dâng cao là một mối lo lớn, vì trong nhiều nước, những vùng ven biển bị đe doạ trực tiếp thường là nơi tập trung đông đảo dân chúng và là những vùng kinh

Sự thay đổi ranh giới của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của Trái Đất Dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và các hoạt động của con người

Trang 5

5

Sự thay đổi cường độ hoạt động của hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hóa khác

Sự thay đổi năng xuất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành

phần thủy quyển, sinh quyển và các địa quyển khác

Sự thay đổi của mùa đông và mùa hè Mùa đông ngắn lại và mùa hè có các đợt

nóng tăng lên và kéo dài, hạn hán, mưa lũ thất thường không giống quy luật, cây trồng có

sự thay đổi về thu hoạch, dịch bệnh nhiều hơn, nhiều bệnh mới xuất hiện Đặc biệt là sự ngập úng của các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển và sự mở rộng của các sa mạc vùng cận nhiệt đới…

- Biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Biến đổi khí hậu ở Việt Nam có thể thấy rõ qua các biểu hiện sau:

+ Nhiệt độ:

- Trong khoảng 50 năm qua (1951-2000) nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam đã tăng lên 0,70C

- Dự báo nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng lên 30C vào năm 2100

+ Lượng mưa: Trên từng địa điểm thì xu thế biến đổi của lượng mưa trung

bình năm trong 9 thập kỷ qua (1911-2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và trên các vùng khác nhau, có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống

- Số ngày mưa phùn trung bình năm ở Hà Nội giảm dần trong thập kỷ

1981-1990 và chỉ còn gần một nửa (khoảng 15 ngày/năm) trong 10 năm gần đây

- Lượng mưa có xu thế biến đổi không đồng đều giữa các vùng, có thể tăng

từ 0 đến 10% vào mùa mưa và giảm từ 0 đến 5% vào mùa khô Tính biến động của mưa tăng lên

+ Mực nước biển: Theo số liệu quan trắc trong khoảng 50 năm qua ở các

trạm Cửa Ông và Hòn Dấu, mực nước biển trung bình đã tăng lên khoảng 20cm phù hợp với xu thế chung của toàn cầu

- Mực nước biển trung bình trên toàn dải bờ biển Việt Nam có thể dâng lên 1m vào năm 2100

+ Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến Việt Nam giảm đi rõ rệt trong hai

năm 1994 và năm 2007 chỉ có 15-16 đợt không khí lạnh bằng 56 % trung bình nhiều năm Một biểu hiện dị thường gần đây nhất về khí hậu trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu là đợt không khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm 2008 gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp

+ Bão: Trong những năm gần đây, số cơn bão có cường độ mạnh nhiều hơn,

quỹ đạo bão dịch chuyển dần về các vĩ độ phía nam và mùa bão kết thúc muộn hơn, nhiều cơn bão có quỹ đạo di chuyển dị thường hơn

Việt Nam đang đối mặt với nhiều tác động của biến đổi khí hậu bao gồm tác động đến cuộc sống, kinh tế, tài nguyên thiên nhiên, cấu trúc xã hội, hạ tầng kỹ thuật và nền kinh tế Việt Nam được đánh giá là một trong các quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của bến đổi khí hậu và mực nước biển dâng

Trang 6

6

* Tác động của biến đổi khí hậu

Theo kết quả đánh giá cho toàn cầu của Uỷ ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (2007) và những nghiên cứu sơ bộ ban đầu của các nhà khoa học Việt Nam, tác động của BĐKH đối với nước ta là nghiêm trọng và cần được nghiên cứu sâu Sự gia tăng của các hiện tượng khí hậu cực đoan và thiên tai, cả về tần số và cường độ do BĐKH là mối đe doạ thường xuyên, trước mắt và lâu dài đối với tất

cả các lĩnh vực, các vùng lãnh thổ Bão, ngập lụt, lũ quét, hạn hán, mưa đá, sương muối, tố lốc là thiên tai xảy ra hàng năm ở nhiều vùng trong cả nước, gây thiệt hại

cho sản xuất và đời sống Trong đó, lĩnh vực ảnh hưởng mạnh mẽ của BĐKH

- Ảnh hưởng đến sản xuất nông – lâm - ngư nghiệp: BĐKH ảnh hưởng đến

toàn bộ ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn: Sinh kế của hàng chục triệu người Việt Nam đang bị đe dọa với những ảnh hưởng của BĐKH Vấn đề này và những hệ quả của nó đang khiến cho cuộc sống người nghèo và những người cận nghèo Việt Nam ở vùng núi, vùng biển, vùng đồng bằng bị đe dọa

- Ảnh hưởng đến sức khoẻ con người: Theo IPCC (2007) thiệt hại do thiên

tai vì BĐKH trong 2 thập kỷ qua làm 3 triệu người chết, thiệt hại trung bình 40 tỉ USD/năm BĐKH đã và đang làm xuất hiện nhiều bệnh mới lạ đã làm biến đổi nhiều loại bệnh trước đây trên quy mô rộng lớn Kết quả là đã ghi nhận được 30 căn bệnh mới trong 3 thập kỷ qua Theo nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm BĐKH sẽ làm khoảng 150.000 người chết và 5 triệu người bệnh Trong bối cảnh đó, BĐKH sẽ làm cho hàng triệu người Việt Nam mất nhà cửa, đói nghèo dịch bệnh gia tăng

- Ảnh hưởng đến đa dạng sinh học: BĐKH ảnh hưởng lớn tới đa dạng sinh

học như là vùng phân bố của nhiều loài cây, côn trùng, chim, cá… chuyển dịch lên phía bắc và lên vùng cao hơn Nhiều loài thực vật nở hoa sớm hơn, nhiều loài côn trùng đã xuất hiện sớm hơn ở bắc bán cầu, san hô bị chết trắng ngày càng nhiều BĐKH gây biến dị hoặc đột biến gen của một số loài động thực vật làm xuất hiện nhiều sinh vật ngoại lai nguy hiểm cho hệ sinh thái nông nghiệp và sức khoẻ con người

- Ảnh hưởng tới tài nguyên nước: BĐKH làm thay đổi chế độ mưa gây lũ lụt

vào mùa mưa và hạn hán vào mùa khô Gia tăng cường độ và tần suất các cơn bão, giông tố, gây trượt đất và xói mòn làm cho nhu cầu về nước thiếu trầm trọng Do thiên tai, nhiệt độ, ô nhiễm đều tăng nên dịch bệnh phát triển nhanh chóng đặc biệt

là ở các nước kém phát triển

- Ảnh hưởng đến du lịch: Do BĐKH gây ra các hiện tượng thời tiết cực

đoan, sự bùng phát các dịch bệnh nhiệt đới và khủng hoảng của thảm thực vật làm ảnh hưởng tới khả năng thu hút và phát triển ngành du lịch

- Ảnh hưởng đến năng lượng và giao thông: BĐKH tác động nghiêm trọng tới

năng lượng như các giàn khoan dầu khí bị ảnh hưởng bởi bão, lốc, sóng thần… giảm sản lượng điện do hạn hán, chế độ thuỷ văn không ổn định, tiêu thụ nhiều năng lượng hơn do nhiệt độ và độ ẩm tăng Đối với giao thông, các hiện tượng thời tiết cực đoan gây khó khăn trong việc đi lại và vận chuyển hàng hoá…

Trang 7

- Xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của học sinh (cần chú

ý đến đặc điểm nhận thức của học sinh) để xác định mục tiêu, đảm bảo tính vừa sức và phù hợp với đặc thù địa phương Dự kiến những khó khăn, những tình huống có thể nảy sinh và các phương án giải quyết

- Lựa chọn phương pháp dạy học và phương tiện, thiết bị dạy học, hình thức

tổ chức dạy học và cách thức đánh giá thích hợp nhằm giúp HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, phát triển năng lực tự học tích hợp Chú trọng việc lấy người học làm trung tâm, định hướng, phân hóa năng lực người học, dạy và học các năng lực thực tiễn để giúp HS trở thành người học tích cực, có năng lực giải quyết tốt các tình huống có vấn đề mang tính thực tiễn cuộc sống GV lúc này có vai trò là người tổ chức và định hướng cho HS

2.2.2.3 Phương pháp dạy học

Để phù hợp với xu thế đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực

“lấy học sinh làm trung tâm” như hiện nay thì người giáo viên nên có sự kết hợp với một số phương pháp dạy học mới, phù hợp với nội dung bài dạy và mục tiêu giáo dục mới

* Phương pháp dạy học nêu vấn đề

Mục tiêu cơ bản của phương pháp này nhằm rèn luyện năng lực nhận biết, phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề Vì thế, khi sử dụng phương pháp này học sinh sẽ đóng vai trò chủ đạo, là chủ thể sáng tạo ra hoạt động học, tích cực và chủ động tìm hiểu, phân tích vấn đề mà giáo viên đưa ra chứ không thụ động tiếp thu tri thức Còn GV chỉ giữ vai trò cố vấn, hướng dẫn và tạo điều kiện cho học sinh lĩnh hội tri thức một cách tích cực và có suy nghĩ

Điều này có giá trị rất lớn trong việc giáo dục kiến thức về BĐKH cho học sinh, bởi vì khi học sinh tự mình tìm tòi, phát hiện và phân tích các vấn đề môi trường thì sẽ tạo điều kiện cho kiến thức được khắc sâu hơn và không chỉ dừng lại

ở đó nó còn hình thành những kĩ năng, hành vi bảo vệ môi trường

Đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học nêu vấn đề là “tình huống có vấn đề” Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy kiến thức về BĐKH không phải tình huống nào cũng là tình huống có vấn đề Vì vậy, trong quá trình giảng dạy giáo viên phải hướng học sinh vào những tình huống có vấn đề

Ví dụ: Bài 9 Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa: GV có thể đưa ra tình

huống: “Sự phân bố mùa thay đổi trong những năm gần đây như thế nào? Tại sao?” Khi giải quyết vấn đề xong giáo viên chỉ ra cho học sinh thấy được các vấn đề liên quan đến BĐKH như: mùa đông ngày càng ngắn, mùa hè ngày càng dài nhưng tính chất mỗi mùa ngày càng gay gắt Tình trạng BĐKH ngày càng nghiêm trọng, lượng

Trang 8

8

khí thải nhà kính ngày càng nhiều, hiện tượng hiệu ứng nhà kính ngày càng mạnh, nhiệt độ Trái Đất tăng lên dẫn đến sự thay đổi trong phân bố mùa

Bài 14 Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên: Giáo viên có thể đưa ra

tình huống: “Tại sao trong những thập kỷ gần đây nhà nước có nhiều chính sách bảo vệ sự đa dạng sinh học mà sự đa dạng sinh học ngày càng giảm?” Khi học sinh giải quyết vấn đề GV giải thích để lồng ghép kiến thức BĐKH giáo dục cho học sinh: Sự đa dạng sinh học vẫn tiếp tục giảm một phần do một bộ phận người dân đã vì lợi ích cá nhân mà không bảo vệ đa dạng sinh học Mặt khác đó là do BĐKH đã làm thay đổi ranh giới của các đới tự nhiên, thay đổi giới hạn sinh thái của các loài sinh vật, tạo ra các cơn mưa axit huỷ diệt các loại sinh vật… tất cả điều đó làm cho sự đa dạng sinh học ngày càng suy giảm

Bài 15 Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai: GV có thể đưa ra các

tình huống:

- “Tại sao ở nước ta đã đưa ra nhiều chiến lược quốc gia về bảo vệ môi trường

mà vấn đề môi trường vẫn ngày càng trở nên nghiêm trọng?” Sau khi cho học sinh giải thích giáo viên phải cho học sinh thấy được vấn đề bảo vệ môi trường và chống BĐKH không phải là vấn đề riêng của bất cứ ai mà là vấn đề chung của mọi người dân, mọi quốc gia trên thế giới Vì vậy, nó đòi hỏi tất cả chúng ta phải chung tay góp sức cùng nhau giải quyết vấn đề chung mang tính chất toàn cầu này

- “Tại sao khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển, thiết bị vệ tinh khí tượng ngày càng hiện đại, các dự báo về quá trình hình thành và hướng di chuyển của bão ngày càng chính xác mà các thiệt hại do bão gây ra ngày càng lớn?” Với vấn đề này giáo viên lồng ghép kiến thức BĐKH cho học sinh như sau: quá trình BĐKH toàn cầu làm cho các cơn bão gia tăng cường độ hoạt động, mức độ phá huỷ, cũng như hướng di chuyển của nó ngày càng trở nên phức tạp và thay đổi đột ngột Chính vì vậy mà thiệt hại do bão gây ra ngày càng lớn

* Phương pháp giải thích - minh họa

Phương pháp giải thích - minh hoạ là một phương pháp tiêu biểu, thông dụng nhất trong việc dạy học lấy giáo viên làm trung tâm, trong đó giáo viên sử dụng lời nói để giải thích các sự kiện, hiện tượng địa lí kết hợp với các phương tiện trực quan để minh hoạ hay chứng minh cho lời giải thích đó Nó là sự kết hợp của phương pháp giảng giải với phương pháp trực quan

Ví dụ: Bài 14: Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên GV khẳng định tài

nguyên rừng của nước ta đang bị suy giảm cả về số lượng và chất lượng Sau đó,

GV sẽ cụ thể hoá sự suy giảm về số lượng và chất lượng được thể hiện như thế nào

và sử dụng các số liệu để minh hoạ Cụ thể:

- Số lượng:

+ Diện tích rừng giảm nhiều so với ban đầu: năm 1943 còn 1/2 diện tích lãnh thổ còn rừng che phủ, năm 1973 còn 1/3 diện tích lãnh thổ có rừng, trung bình mỗi năm mất 150 nghìn ha Năm 1983 độ che phủ của rừng chỉ còn chưa tới 1/4 diện tích, trung bình mỗi năm mất đi 220 nghìn ha

Trang 9

9

+ Tỉ lệ che phủ rừng thấp: từ 43,8% (1943) xuống còn 33% (2000) và tới 39,1% (2009)

+ Diện tích rừng bình quân đầu người thấp là ,14 ha/người chỉ bằng 1/10 chỉ

số trung bình của thế giới là 1,6 ha/người

+ Độ đa dạng sinh học giảm, nhiều loại động thực vật quý hiếm đang có nguy cơ bị tuyệt chủng Diện tích rừng thu hẹp đã làm biến mất nhiều loại động, thực vật Trong đó đã xác định được 500 loài thực vật, 85 loài thú, 63 loài chim, 40 loài bò sát lưỡng cư đang bị mất dần Số loài thực vật, động vật quý hiếm có nguy

cơ bị tiêu diệt khá lớn: 100 loài thực vật, 54 loài thú và 60 loài chim

Khi đã chứng minh và giải thích được suy giảm cả về số lượng và chất lượng tài nguyên rừng giáo viên lồng ghép giáo dục kiến thức BĐKH cho học sinh: Rừng bị tàn phá không những gây thiệt hại to lớn về kinh tế mà nó còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường và khí hậu như: gây xói mòn, rửa trôi đất đai, hạ mực nước ngầm, tăng tốc độ dòng chảy trên mặt về mùa lũ, BĐKH… Từ đó giáo dục

cho học sinh ý thức trồng và bảo vệ rừng để bảo vệ môi trường và khí hậu

* Phương pháp thảo luận nhóm

Phương pháp dạy học theo nhóm là phương pháp đặt HS vào môi trường học tập (nghiên cứu, thảo luận ) theo các nhóm HS Một trong những lí do chính để sử dụng phương pháp này nhằm khuyến kích HS trao đổi và biết cách làm hợp tác với người khác để học hỏi lẫn nhau, cùng chia sẻ kinh nghiệm trong học tập Phương pháp này giúp các em có khả năng tương tác với người học khác, là một cách để học tập cách định hướng bài làm, sử dụng phương tiện để giải quyết vấn đề Tuy nhiên nó đòi hỏi thời gian nhất định để các nhóm làm việc, thảo luận và trình bày

Ví dụ: Bài 15: Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai

Sau khi cho HS thảo luận về một số thiên thai chủ yếu và biện pháp phòng chống, GV tổng kết lại nội dung thảo luận như sau:

Các thiên tai chủ yếu ở Việt Nam Nội

- Từ tháng 6 đến tháng 10 ở vùng núi phía Bắc

- Từ tháng 10 đến tháng 12 ở các vùng núi từ Hà Tĩnh đến Nam

Vào mùa khô ở nước

ta

Trang 10

với tần suất thấp hơn

Riêng Nam Bộ rất ít khi

chịu ảnh hưởng

Châu thổ các hệ thống sông, nhất

là sông Hồng

Xảy ra ở những lưu vực sông suối miền núi có địa hình chia cắt mạnh, độ dốc lớn, mất lớp phủ thực vật, bề mặt đất

dễ bị bóc mòn khi

có mưa lớn

- Các thung lũng khuất gió ở miền Bắc như Yên Châu, sông Mã, Lục Ngạn…

- Ở miền Nam là đồng bằng Nam Bộ, vùng thấp Tây Nguyên, ven biển cực Nam Trung

Thiệt hại về người

và tài sản: phá hại nhà cửa và các công trình xây dựng khác, làm mất đất sản xuất…

Gây thiệt hại cho hàng vạn ha cây trồng hoa màu và thiêu huỷ hàng nghìn ha rừng ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt và đời sống nhân dân

bão trên biển, có các

biện pháp sơ tán dân cư

nếu cần thiết…

Xây dựng các công trình thoát

lũ, nạo vét dòng chảy…

- Quy hoạch các điểm dân cư tránh

- Thực thi các biện pháp kĩ thuật thuỷ lợi, trồng rừng, hạn chế dòng chảy mặt và chống xói mòn đất

Xây dựng các công trình thuỷ lợi

GV nhấn mạnh: Với tình trạng BĐKH như hiện nay thì các thiên tai này ngày càng tăng về cường độ, tần suất và độ phức tạp gây thiệt hại rất lớn cho đời sống và sản xuất Vì vậy, để giảm thiểu thiên tai và bảo vệ cuộc sống con người chúng ta cần tích cực phòng chống BĐKH ngay từ bây giờ

* Phương pháp sơ đồ tư duy

Là một phương pháp, lưu trữ, sắp xếp thông tin và xác định thông tin theo thứ tự ưu tiên bằng cách sử dụng Từ khoá, hình ảnh chủ đạo Mỗi từ khoá hoặc hình ảnh chủ đạo trong sơ đồ tư duy sẽ kích hoạt những ký ức cụ thể và làm nảy sinh những suy nghĩ, ý tưởng mới

So với các cách thức ghi chép truyền thống thì phương pháp sử dụng sơ đồ

tư duy có những điểm vượt trội như sau:

- Ý chính sẽ ở trung tâm và được xác định rõ ràng

- Quan hệ giữa mỗi ý được chỉ ra tường tận Ý càng quan trọng thì sẽ nằm vị trí càng gần với ý chính

- Liên hệ giữa các khái niệm then chốt sẽ được tiếp nhận lập tức bằng thị giác

Trang 11

11

- Ôn tập và ghi nhớ sẽ hiệu quả và nhanh hơn

Lập sơ đồ tư duy theo nguyên tắc từ tổng thể đến chi tiết, từ khái quát đến cụ thể Đó là cách ghi nhớ mà không cần thiết phải cầm cả cuốn SGK để học, vừa

không gây cảm giác nặng nề mà còn giúp nhớ nhanh và nắm chắc bài học

Ví dụ: Bài 10 Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa: Giáo viên có thể khái quát

nội dung phần Các thành phần tự nhiên khác bằng sơ đồ tư duy

* Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác tri thức từ bản đồ

Nội dung giáo dục kiến thức về BĐKH qua môn địa lí lớp 12, nếu phương pháp này được GV sử dụng một cách linh hoạt và có hiệu quả sẽ giúp HS nắm được tổng quan tình hình khí hậu trên thế giới cũng như đặc điểm của từng khu vực riêng lẻ Thấy được các vấn đề mang tính toàn cầu ở phạm vi lớn Từ đó, có ý thức và hành vi đúng đắn với môi trường chung của thế giới

Ví dụ: Bài 9 Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa: có thể sử dụng “bản đồ khí

hậu Việt Nam” để chỉ rõ hướng gió, lượng mưa, nhiệt độ, hướng bão và tần suất hoạt động của bão Cụ thể:

- Chế độ gió được thể hiện tại các biểu đồ nhiệt độ, lượng mưa thông qua hoa gió Dựa vào hoa gió ta có thể xác định được loại gió và hướng gió thịnh hành

ở mỗi trạm khí hậu Ngoài ra phạm vi tác động và hướng của các loại gió chính ở nước ta cũng được thể hiện qua mũi tên:

+ Gió mùa mùa đông tác động trong phạm vi từ khu vực Khánh Hoà trở ra phía bắc, hướng gió đông bắc là chính

+ Gió Tây khô nóng tác động chủ yếu ở Bắc Trung Bộ, ngoài ra còn có ở Tây Bắc, duyên hải Nam Trung Bộ, hướng gió chính là tây nam

Sau khi phân tích bản đồ GV chỉ cho HS thấy rõ tần suất hoạt động của các cơn bão, sự thay đổi bất thường của hướng bão, sự thay đổi của lượng mưa, nhiệt độ… có liên quan đến những thay đổi của môi trường hiện nay, đặc biệt là sự BĐKH

* Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác tri thức địa lí qua các số liệu thống kê và các biểu đồ

Phương pháp hướng dẫn HS khai thác tri thức địa lí qua các số liệu thống kê

và biểu đồ cũng là một trong nhóm các phương pháp hướng dẫn HS tích cực chủ động khai thác tri thức địa lí với các phương tiện trực quan Đây là phương pháp dạy học mà GV giới thiệu các số liệu thống kê, các biểu đồ chủ yếu là để cùng với

Trang 12

12

HS giải thích, làm sáng tỏ nội dung bài học hoặc cho HS phân tích để khai thác các

tri thức địa lí mới

Ví dụ: Bài 9 Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa

Bảng số liệu: Nhiệt độ trung bình tại một số điểm

Địa điểm Nhiệt độ trung

bình tháng I ( 0 C)

Nhiệt độ trung bình tháng VII ( 0 C)

Nhiệt độ trung bình năm ( 0

- Nhiệt độ trung bình tháng I tăng dần từ Bắc vào Nam

- Nhiệt độ trung bình tháng VII gần như đồng nhất từ Bắc vào Nam

- Nhiệt độ trung bình năm tăng dần từ Bắc vào Nam

Giải thích cho tính chất nhiệt đới ẩm, tính chất gió mùa và chịu tác động mạnh mẽ của địa hình của khí hậu nước ta

Từ việc làm rõ tính chất trên của khí hậu, giáo viên nhấn mạnh cho học sinh thấy được tác động của nó tới đời sống sinh hoạt và lao động sản xuất của con người Đồng thời nói thêm cho học sinh thấy sự thay đổi của khí hậu nước ta hiện nay như mùa đông ngày càng lạnh và ngắn còn mùa hè ngày càng nóng và dài hoặc

sự thay đổi ranh giới khí hậu từ Bắc vào Nam… mà nguyên nhân là do sự BĐKH

Bài 14: Sử dụng và bảo vệ tài nguyên nhiên thiên

Sự đa dạng thành phần loài và sự suy giảm số lượng loài thực vật, động vật

Số lượng loài Thực vật Thú Chim

Bò sát lương

Cá Nước ngọt

Nước mặn

Số lượng loài đã biết 14500 300 830 400 550 2000

Trong đó, số lượng loài có

Có thể chứng minh:

- Sự đa dạng về thành phần loài động, thực vật của nước ta

- Sự suy giảm về số lượng loài thực vật, động vật của nước ta

Ngày đăng: 19/04/2023, 14:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w