1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Skkn chuyên đề sông ngòi đại cương trong ôn thi hsg môn địa lí

34 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyên đề sông ngòi đại cương trong ôn thi học sinh giỏi môn Địa lí lớp 12 THPT
Tác giả Nguyễn Đức Hiền
Trường học Trường THPT Chuyên Nguyễn Tất Thành
Chuyên ngành Địa lý
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Yên Bái
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 822,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập Tự do Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi Sở GDĐT Yên Bái Tôi ghi tên dưới đây Số TT Họ và tên Ngày tháng năm sinh Nơi công tác (hoặc nơi th[.]

Trang 1

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN

Kính gửi: Sở GDĐT Yên Bái

Tôi ghi tên dưới đây:

Số

TT Họ và tên

Ngày tháng năm sinh

Nơi công tác (hoặc nơi thường trú)

Chức danh

Trình

độ chuyên môn

Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo

ra sáng

1 Nguyễn Đức

Hiền 15/01/1986

Trường THPT Chuyên Nguyễn Tất Thành

Giáo viên

Cử

Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: “Chuyên đề sông ngòi đại cương trong

ôn thi học sinh giỏi môn Địa lí lớp 12 THPT”

- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục đào tạo

- Mô tả nội dung sáng kiến:

+ Nội dung: Hướng vào việc hoàn thiện nội dung về sông ngòi đại cương, liên hệ với đặc điểm sông ngòi Việt Nam để phục vụ ôn thi học sinh giỏi môn địa lí các cấp, từ cấp tỉnh đến cấp quốc gia

+ Các bước thực hiện:

• Nghiên cứu các tài liệu cơ bản về sông ngòi đại cương, sông ngòi Việt Nam trong

các sách tham khảo, trong SGK và các đề thi đã công bố

• Xây dựng và hoàn thiện hệ thống kiến thức về sông ngòi đại cương phù hợp với nhận thức

của học sinh THPT

• Xây dựng và hoàn thiện hệ thống các câu hỏi, hướng trả lời của từng dạng câu hỏi

các kiến thức về sông ngòi

• Hoàn thiện sản phẩm, sử dụng và thường xuyên cập nhật, chỉnh sửa các nội dung

liên quan

+ Những nội dung đã cải tiến:

• Cách làm hiện tại, GV thường cóp nhặt, xây dựng các nội dung để dạy và hướng

dẫn HS ôn tập, chưa theo hệ thống hoàn chỉnh, từ nội dung kiến thức đến các câu hỏi liên quan

• Việc sử dụng sáng kiến có nhiều ưu điểm nổi bật:

Thứ nhất: Nội dung kiến thức cơ bản về sông ngòi được tập hợp, biên soạn đầy đủ;

phù hợp với nhận thức của HS THPT, không quá cao như các giáo trình Đại học, Cao đẳng nhưng cũng không quá sơ lược như SGK hiện hành; đảm bảo cho việc hướng đến những kiến thức chuyên sâu của HS

Thứ hai: Việc xây dựng hệ thống câu hỏi đảm bảo khoa học, chính xác và đầy đủ hơn

so với việc giáo viên sưu tầm, xây dựng mỗi khi cần kiểm tra, đánh giá hoặc xây dựng đề thi phục vụ cho việc ôn tập của học sinh

Trang 2

+ Khả năng áp dụng của biện pháp

Giải pháp áp dụng rộng rãi với tất cả các giáo viên dạy ôn HSG môn địa lí ở tất cả các trường THPT trên địa bàn tỉnh

- Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): Không

- Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Không

- Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả:

+ Đối với GV: Nâng cao chất lượng dạy học ôn HSG môn địa lí qua việc hoàn thiện các chuyên đề nói chung cũng như chuyên đề về sông ngòi nói riêng Ngoài ra, qua việc hoàn thiện chuyên đề cũng giúp cho bản thân GV nâng cao được trình độ chuyên môn, bồi dưỡng khả năng

tự học, tự nghiên cứu, tìm tòi và cập nhật những kiến thức mới

+ Đối với HS: Các em hứng thú hơn với môn học, với phần địa lí tự nhiên vốn khá khô khan và khó hiểu, thường phải đối mặt với các câu hỏi khó

Kết quả thi của HS qua các kỳ thi được nâng lên, cụ thể được thể hiện trong bảng sau:

TỔNG HỢP KẾT QUẢ KỲ THI HSG THPT NĂM 2019 -2020, 2020 - 2021 CỦA

TRƯỜNG THPT CHUYÊN NGUYỄN TẤT THÀNH

Stt Nội dung

Số thí sinh

(Nguồn số liệu: Sở GDĐT Yên Bái)

Từ bảng số liệu trên cho thấy: Từ bảng số liệu trên cho thấy; khi xây dựng các nội dung dạy học sinh giỏi theo các chuyên đề có sự đầu tư kỹ lưỡng, số lượng HS tham gia đội tuyển và chất lượng giải thưởng đã được nâng lên đáng kể, trong đó số HS dự thi tăng 02 em,

số giải tăng 2 giải

- Những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu:

Trang 3

Số

TT Họ và tên

Ngày tháng năm sinh

Nơi công tác (hoặc nơi thường trú) Chức danh

Trình độ chuyên môn

Nội dung công việc

hỗ trợ

1 Lương Thị Như Hoa 1983 THPT Chuyên NTT Giáo

viên Cử nhân sáng kiến Áp dụng

2 Nguyễn Mai Thương 1987 THPT Chuyên NTT Giáo

viên Th.s

Áp dụng sáng kiến Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật

Yên Bái, ngày 19 tháng 01 năm 2022

Người nộp đơn

Nguyễn Đức Hiền

Trang 4

BÁO CÁO SÁNG KIẾN CẤP CƠ SỞ

I THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1 Tên sáng kiến: “Chuyên đề sông ngòi đại cương trong ôn thi học sinh giỏi môn Địa lí lớp 12 THPT”

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Địa lí THPT

3 Phạm vi áp dụng sáng kiến: Ôn thi học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia môn địa lí

lớp 12 THPT

4 Thời gian áp dụng sáng kiến:

Từ ngày 05 tháng 6 năm 2020 đến nay

5 Tác giả:

Họ và tên: Nguyễn Đức Hiền

Năm sinh: 1986

Trình độ chuyên môn: Cử nhân

Chức vụ công tác: Giáo viên

Nơi làm việc: THPT chuyên Nguyễn Tất Thành

Địa chỉ liên hệ: Phường Yên Thịnh, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái

Điện thoại: 0975.152.206

II MÔ TẢ SÁNG KIẾN:

1 Tình trạng các giải pháp đã biết

Những nền văn minh cổ đại trên thế giới thường gắn liền với các lưu vực sông lớn như

Ai Cập cổ đại (nền văn minh sông Nin), văn minh Hoàng Hà (lưu vực sông Hòang Hà), văn minh Lưỡng Hà (lưu vực sông Tigris và Euphrates), văn minh Ấn Độ (lưu vực sông Ấn)

Sông ngòi có mối quan hệ chặt chẽ với đời sống và sản xuất của con người, vì vậy việc hiểu biết về sông có ý nghĩa thực tiễn đối với mỗi vùng, mỗi quốc gia Bảo vệ sông ngòi là bảo vệ mạch máu của sự sống

Sông ngòi chỉ chiếm khoảng 0,0003% của tổng lượng thủy quyển nhưng lại có vai trò rất quan trọng trong lớp vỏ địa lí Đây là một thành phần chủ yếu trong quá trình tuần hoàn

và trao đổi vật chất (nước, muối) & năng lượng Không chỉ là một nhân tố ngoại lực tác động đến địa hình bề mặt Trái Đất, sông ngòi còn ảnh hưởng đến nhiều thành phần tự nhiên khác Mạng lưới sông ngòi của một khu vực phản ánh những nét cơ bản về đặc điểm khí hậu, địa hình, sinh vật của khu vực đó Ví dụ mạng lưới sông ngòi dày đặc phản ánh khu vực đó khí hậu mưa nhiều; sông ngòi chảy về hướng nào thì biết ngay địa hình dốc về hướng đó, sông ngòi có nhiều thác nước là dầu hiệu của địa hình hiểm trở,

Đối với thi học sinh giỏi cấp tỉnh và quốc gia, phần địa lí tự nhiên đại cương trong đó

có nội dung sông ngòi được 3/20 điểm Đây là nội dung tương đối khó với các em học sinh

Các tài liệu sách giáo khoa Địa lí phổ thông có trình bày các nội dung liên quan đến sông ngòi nhưng mang tính lẻ tẻ trong khi đó các giáo trình đại học, cao đẳng lại quá nâng cao so với năng lực của các em học sinh

2 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến

2.1 Mục đích của giải pháp

Trang 5

- Cung cấp hệ thống kiến thức cơ bản về sông ngòi trên Trái Đất phục vụ cho

bồi dưỡng học sinh giỏi chính xác, đầy đủ, khoa học

- Hệ thống hóa các dạng câu hỏi, bài tập về sông ngòi trên Trái Đất và hướng giải quyết từng dạng câu hỏi và bài tập

- Liên hệ với vấn đề thực tiễn hiện nay: ô nhiễm sông ngòi để giáo dục ý thức

bảo vệ môi trường cho học sinh Bảo vệ sông ngòi là bảo vệ mạch máu của sự sống

- Cung cấp một số tư liệu trực quan sinh động liên quan đến sông ngòi phục vụ cho việc giảng dạy

- Hoàn thiện sản phẩm, sử dụng và thường xuyên cập nhật, chỉnh sửa các nội dung liên quan

2.3 Tính mới, sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ

- Những nội dung đã cải tiến:

+ Cách làm hiện tại, GV thường cóp nhặt, xây dựng các nội dung để dạy và hướng dẫn

HS ôn tập, chưa theo hệ thống hoàn chỉnh, từ nội dung kiến thức đến các câu hỏi liên quan

+ Việc sử dụng sáng kiến có nhiều ưu điểm nổi bật:

Thứ nhất: Nội dung kiến thức cơ bản về sông ngòi được tập hợp, biên soạn đầy đủ;

phù hợp với nhận thức của HS THPT, không quá cao như các giáo trình Đại học, Cao đẳng nhưng cũng không quá sơ lược như SGK hiện hành; đảm bảo cho việc hướng đến những kiến thức chuyên sâu của HS

Thứ hai: Việc xây dựng hệ thống câu hỏi đảm bảo khoa học, chính xác và đầy đủ hơn

so với việc giáo viên sưu tầm, xây dựng mỗi khi cần kiểm tra, đánh giá hoặc xây dựng đề thi phục vụ cho việc ôn tập của học sinh

3 Khả năng áp dụng của giải pháp

Giải pháp áp dụng rộng rãi với tất cả các giáo viên dạy ôn HSG môn địa lí ở tất cả các trường THPT trên địa bàn tỉnh

4 Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp

+ Đối với GV: Nâng cao chất lượng dạy học ôn HSG môn địa lí qua việc hoàn thiện các chuyên đề nói chung cũng như chuyên đề về sông ngòi nói riêng Ngoài ra, qua việc hoàn thiện chuyên đề cũng giúp cho bản thân GV nâng cao được trình độ chuyên môn, bồi dưỡng khả năng

tự học, tự nghiên cứu, tìm tòi và cập nhật những kiến thức mới

+ Đối với HS: Các em hứng thú hơn với môn học, với phần địa lí tự nhiên vốn khá khô khan và khó hiểu, thường phải đối mặt với các câu hỏi khó

Kết quả thi của HS qua các kỳ thi được nâng lên, cụ thể được thể hiện trong bảng sau:

Trang 6

TỔNG HỢP KẾT QUẢ KỲ THI HSG THPT NĂM 2019 -2020, 2020 - 2021 CỦA

TRƯỜNG THPT CHUYÊN NGUYỄN TẤT THÀNH

Stt Nội dung Số thí sinh

(Nguồn số liệu: Sở GDĐT Yên Bái)

Từ bảng số liệu trên cho thấy: Từ bảng số liệu trên cho thấy; khi xây dựng các nội dung dạy học sinh giỏi theo các chuyên đề có sự đầu tư kỹ lưỡng, số lượng HS tham gia đội tuyển và chất lượng giải thưởng đã được nâng lên đáng kể

5 Những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu có)

Số

TT Họ và tên

Ngày tháng năm sinh

Nơi công tác (hoặc nơi thường trú)

Chức danh

Trình độ chuyên môn

Nội dung công việc

hỗ trợ

1 Lương Thị Như

Giáo viên Cử nhân Áp dụng

sáng kiến

2 Nguyễn Mai

Thương 1987 THPT Chuyên NTT

Giáo viên Th.s

Áp dụng sáng kiến

6 Các thông tin cần được bảo mật: Không

7 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Không

8 Tài liệu gửi kèm: Không

III Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền

Tôi cam kết không sao chép sáng kiến đã có và vi phạm bản quyền của người khác Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

Yên Bái, ngày 19 tháng 01 năm 2022

Người viết báo cáo

Nguyễn Đức Hiền

Trang 7

XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG

VỀ VIỆC TRIỂN KHAI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN TẠI ĐƠN VỊ

(Nhận xét về việc triển khai sáng kiến tại đơn vị, số người đã áp dụng, hiệu quả, ký

tên, đóng dấu xác nhận)

Trang 8

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ SÔNG NGÒI TRÊN TRÁI ĐẤT

tự nhiên chảy theo chỗ trũng của địa hình, có lòng dẫn ổn định và có nguồn cung cấp nước mặt và nước ngầm gọi là sông

Một con sông phát triển đầy đủ thường được chia thành 5 đoạn có tính chất khác nhau: nguồn sông, thượng lưu, trung lưu, hạ lưu và cửa sông

- Nguồn là nơi bắt đầu của dòng sông Nguồn sông thường bao gồm một diện tích rất lớn, nhiều lúc khó xác định như ở vùng đá vôi có nhiều hang động, cũng có khi bắt nguồn từ một mạch nước ngầm hoặc một hồ chứa nước

- Thượng lưu là đoạn sông trực tiếp nối với nguồn sông Đặc điểm là lòng sông hẹp,

độ dốc lớn, nước chảy xiết, xói mòn chủ yếu theo chiều sâu, thường có thác ghềnh lớn, không thuận lợi cho giao thông vận tải

- Trung lưu là đoạn nối tiếp với thượng lưu, độ dốc lòng sông đã giảm nhiều, không

có những ghềnh thác lớn, nước chảy yếu hơn, xói lở phát triển sang 2 bên bờ mạnh làm cho lòng sông đã mở rộng dần, bãi sông xuất hiện, trên mặt bằng sông đã có dạng uốn khúc Nhìn chung đoạn này tương đối thuận lợi cho giao thông vận tải

- Hạ lưu là đoạn cuối cùng của sông trước khi đổ ra biển, hồ chứa hoặc con sông khác Đặc điểm ở đoạn này là độ dốc lòng sông rất bé, nước chảy chậm, bồi nhiều hơn xói, tạo nhiều bãi sông nằm ngang ở giữa lòng sông, hình dạng lòng sông quanh co uốn khúc rất nhiều, lòng sông mở rộng ra nhiều so với đoạn trên Hạ lưu thuận lợi cho phát triển giao thông vận tải thuỷ cũng như các ngành kinh tế khác

- Cửa sông là nơi sông tiếp giáp với biển hoặc hồ hoặc một con sông khác Ở cửa sông lòng sông mở rộng, lưu tốc bé dần, phù sa lắng đọng tạo thành những tam giác châu

Trong một số trường hợp đặc biệt, do điều kiện địa hình địa chất và khí hậu mà sông

có thể không có đầy đủ các phân đoạn như trên Ví dụ ở vùng sa mạc khô nóng hay khi chảy qua các vùng núi đá vôi có nhiều hang động ngầm, sông sẽ bị mất nước và không thể chảy ra đến biển, khi đó sông không có cửa, còn gọi là sông cụt

2 Hệ thống sông (lưới sông)

Dòng chảy lớn nhất trong mỗi hệ thống sông được gọi là dòng sông chính Sông chính trực tiếp đổ ra biển hoặc hồ chứa Các sông đổ nước vào một dòng sông chính được gọi là

phụ lưu Các sông làm nhiệm vụ thoát nước cho dòng sông chính được gọi là chi lưu Số

lượng chi lưu bao giờ cũng ít hơn số lượng phụ lưu

Dòng sông chính cùng với các phụ lưu, chi lưu hợp lại với nhau tạo thành một hệ thống sông (lưới sông) Trong hệ thống sông, người ta lấy tên sông chính gọi tên cho cả hệ thống sông

ấy Ví dụ: Trong hệ thống sông Hồng thì sông Hồng là dòng chính, các phụ lưu là sông Đà, sông Lô, sông Chảy, sông Gâm, còn chi lưu là các sông Đáy, sông Trà Lí, sông Ninh Cơ

Trang 9

Các hệ thống sông thường tách biệt nhau nhưng cũng có khi kết hợp với nhau nhất là

ở phía hạ lưu để tạo thành một mạng lưới sông ngòi Ví dụ các hệ thống sông Hồng và Thái

Bình ở nước ta tạo thành mạng lưới sông ngòi Bắc Bộ

Để đánh giá sự phát triển của mạng lưới sông ngòi, nhất là chiều dài dòng chảy người

ta thường biểu thị bằng mật độ lưới sông (tổng độ dài các sông trong lưới sông chia cho diện tích lưu vực sông – Đơn vị: km/km2)

3 Hình dạng lưới sông

Hình dạng lưới sông là sự kết hợp của dòng chính, các phụ lưu và các chi lưu Hình

dạng lưới sông có ảnh hưởng không nhỏ đến việc tập trung nước & đặc điểm chế độ lũ Có thể phân thành các dạng lưới sông chính như sau:

Các dạng lưới sông (các dạng phân bố phụ lưu trong một lưu vực sông)

- Lưới sông hình lông chim: dạng lưới sông này có một dòng sông chính tương đối dài, các phụ và chi lưu phân bố đều ở cả hai phía tả ngạn và hữu ngạn của dòng chính, vì vậy ít sinh ra lũ đồng thời và lũ ở hạ lưu không lớn Ví dụ hệ thống sông Mê Công

- Lưới sông hình nan quạt: sông chính không dài lắm, các phụ lưu nhiều và đổ vào sông chính ở những vị trí gần nhau, vì vậy có khả năng sinh ra lũ đồng thời và lũ ở hạ lưu khá lớn Hệ thống sông Hồng và Thái Bình ở Việt Nam là tiêu biểu cho lưới sông hình nan quạt

Trang 10

- Lưới sông song song: dòng sông chính và phụ lưu chảy gần như song song nhau Loại này sinh ra lũ đồng thời và lũ ở hạ lưu tương đối lớn và nhanh Ở Việt Nam dạng lưới sông song song như sông Mã - sông Chu, sông Đại - sông Kiến

- Lưới sông hỗn hợp: dạng lưới sông này là tổng hợp của các dạng lưới sông trên

4 Lưu vực sông

Lưu vực sông là diện tích đất đai cung cấp nước thường xuyên cho sông Nói cách

khác, lưu vực của một con sông là khu vực tập trung nước của con sông đó, là diện tích mặt đất trên đó nước trực tiếp chảy từ các sườn dốc và dồn vào lòng sông, hoặc theo các phụ lưu chảy vào sông chính

Sơ đồ hệ thống sông Hồng

Ranh giới của các lưu vực sông khác nhau là đường phân thủy (đường chia nước) Đây

là đường ranh giới mà từ đó nước chảy về 2 phía đối diện nhau của 2 lưu vực cạnh nhau Như vậy có thể thấy đường phân thủy là đường nối liền các điểm cao nhất phân cách lưu vực con sông này với lưu vực con sông khác

Đường phân thủy không cố định mà có thể biến đổi do hiện tượng cướp dòng (bắt dòng) - hiện tượng một dòng sông bắt một bộ phận (thường là khúc thượng lưu) của một dòng sông thuộc lưu vực khác chảy vào dòng của mình Nguyên nhân của hiện tượng này là tác dụng xâm thực giật lùi (đào sâu lòng, làm cho nguồn sông lùi dần lên phía trên) của sông về phía thượng nguồn Khi hiện tượng cướp dòng xảy ra thì diện tích lưu vực sẽ thay đổi theo

Lưu vực sông có tác dụng quan trọng tới dòng chảy sông ngòi Lưu vực sông càng lớn thì lưu lượng nước sẽ lớn theo Diện tích lưu vực lớn thì tác dụng điều hòa dòng chảy sẽ lớn hơn Hình dạng lưu vực cũng có tác dụng nhất định đến quá trình tập trung nước và đặc điểm

lũ, ví dụ lưu vực dạng tròn thường gây lũ kép toàn phần, nhưng lưu vực dạng dài thường sản sinh lũ bộ phận (lũ đơn)

II CÁC DÒNG CHẢY SÔNG NGÒI

Trong các đặc trưng của sông ngòi thì đặc trưng dòng chảy là quan trọng nhất (vì sông

là dòng chảy thường xuyên và tương đối ổn định trên bề mặt các lục địa) Dòng chảy đó bao

gồm dòng chảy nước, dòng chảy rắn (cát bùn - phù sa), nhưng dòng chảy nước là quan

trọng nhất

Trang 11

1 Dòng chảy nước

Lượng nước chảy qua mặt cắt ngang lòng sông ở một địa điểm nào đó trong một giây

đồng hồ gọi là lưu lượng nước sông (được biểu hiện bằng m3/s)

Trong một năm lưu lượng nước của sông có thể thay đổi tùy theo tháng, theo mùa

Nhịp điệu thay đổi lưu lượng nước của con sông trong một năm làm thành chế độ dòng chảy

hay thủy chế của sông

Mùa lũ gồm các tháng liên tục trong năm, từng tháng đều có lưu lượng dòng chảy lớn

hơn hoặc bằng 8,33% (100% = 12 tháng) lưu lượng dòng chảy cả năm Ngược lại, mùa cạn

gồm các tháng liên tục trong năm, từng tháng đều có lưu lượng dòng chảy nhỏ hơn 8,33% lưu

lượng dòng chảy cả năm

Trên Trái Đất có những con sông thủy chế đơn giản chỉ bao gồm 1 mùa lũ và 1 mùa

cạn kế tiếp Tuy nhiên, cũng có những sông chế độ nước phức tạp: tồn tại hai (hoặc hơn nữa)

mùa lũ, hai (hay hơn) mùa cạn xen kẽ nhau là Ngoài ra cũng có một số loại khác khá phức

tạp như chế độ nước đơn giản mà trong mùa cạn có thêm một mùa lũ Tiểu mãn

Biến trình năm của lưu lượng nước

2 Dòng chảy cát bùn

Dòng chảy cát bùn là dòng chảy bao gồm các vật chất rắn như sỏi, cuội nhất là cát

bùn (phù sa) nên cũng được gọi là dòng chảy rắn

Nguồn gốc của phù sa là do năng lượng của dòng nước thường xuyên xâm thực bề mặt

đất dốc trong lưu vực và trong lòng sông

Các phù sa có kích thước nhỏ chuyển động lơ lửng trong dòng nước Các hạt phù sa

có kích thước lớn hơn do chịu tác động của trọng lực nên lăn ở dưới đáy sông

Trang 12

Nghiên cứu dòng chảy cát bùn có ý nghĩa thực tiễn lớn như chống bồi lắng hồ chứa và các cảng đường thủy, chống xói mòn, chống lũ bùn

III CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MẠNG LƯỚI, TỐC ĐỘ DÒNG CHẢY

VÀ CHẾ ĐỘ NƯỚC CỦA SÔNG NGÒI

1 Các nhân tố ảnh hưởng đến mạng lưới sông ngòi

Mạng lưới sông ngòi của Việt Nam rất phát triển với mật độ lưới sông lên đến 1 km/km2 nhưng cũng có những vùng lãnh thổ mật độ lưới sông rất thấp, thậm chí có những khu vực không có dòng chảy Vì sao vậy? Mạng lưới sông ngòi phát triển phụ thuộc vào nhiều nhân tố như địa chất, địa hình, khí hậu, nguồn cung cấp nước, con người

Một nhà khí hậu học lỗi lạc đã nói ”Sông ngòi là hàm số của khí hậu” Nơi mưa nhiều thì mạng lưới sông ngòi chi chít và phát triển hơn những nơi mưa ít Nếu lượng mưa phân bố không đều theo lãnh thổ thì mật độ sông ngòi cũng phân bố không đều Nhiệt độ ảnh hưởng đến lượng bốc hơi, làm giảm lượng nước trong sông và từ đó cũng có ảnh hưởng đến sự phát triển của mạng lưới sông ngòi

Một con sông chảy trong vùng khí hậu khô hạn ít mưa nhưng mạng lưới sông ngòi vẫn

có thể phát triển nếu có nguồn cung cấp nước ổn định

Tùy độ thấm nước của nham thạch khác nhau mà ở mỗi khu vực sông ngòi có mật độ khác nhau Ví dụ: do tính ít thấm nước của phiến thạch nhất là phiến thạch sét cho nên mật

độ ở những miền này rất dày, nhưng những nham thạch dễ thấm nước hay có nhiều kẽ nứt thì mật độ ở nơi ấy thưa hẳn

Thường thì ở đồng bằng mật độ sông cao hơn do sông chảy uốn khúc quanh co trong khi đó ở miền núi sông thường chảy thẳng

Thông qua các hoạt động sản xuất con người có thể làm tăng nhưng cũng có thể làm giảm mật độ sông ngòi Ví dụ ở nhiều vùng con người đã đào các sông nhân tạo và làm tăng mật độ sông cho các vùng đó

2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tốc độ dòng chảy sông ngòi

a, Độ dốc lòng sông

Nước sông chảy nhanh hay chậm là tùy thuộc vào độ dốc của lòng sông, nghĩa là tùy theo

độ chênh của mặt nước Độ chênh của mặt nước càng nhiều thì tốc độ dòng chảy càng lớn

b, Chiều rộng lòng sông

Nước sông chảy nhanh hay chậm là tùy thuộc vào bề ngang của lòng sông là hẹp hay rộng Ở khúc sông rộng nước chảy chậm, đến khúc sông hẹp nước chảy nhanh hơn

3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chế độ nước sông

a, Nguồn cung cấp nước

Ở vùng khí hậu nóng hoặc những nơi địa hình thấp của khí hậu ôn đới, nguồn cung cấp nước chủ yếu là nước mưa nên chế độ nước sông của từng nơi phụ thuộc vào chế độ mưa của nơi đó Ví dụ ở vùng nhiệt đới gió mùa, chế độ mưa theo mùa dẫn đến chế độ nước sông cũng phân hóa theo mùa nhưng ở Xích đạo chế độ mưa quanh năm nên sông cũng đầy nước quanh năm, sự phân hóa của thủy chế không rõ nét

Ở nhưng nơi đất đá thấm nước nhiều, nước ngầm có vai trò đáng kể trong việc điều hòa chế độ nước sông

Ở miền ôn đới lạnh và miền núi cao, nước sông chủ yếu do băng tuyết tan cung cấp Mùa xuân đến, khi nhiệt độ lên cao, băng tuyết tan, sông được tiếp nước nên mùa xuân là mùa lũ

Trang 13

b, Độ dốc của dòng sông, thực vật, hồ đầm

Độ dốc của dòng sông (độ chênh của mặt nước giữa nguồn và cửa sông) càng lớn thì nước càng lên nhanh và rút cũng nhanh Một trong những lí do chính khiến lũ ở sông ngòi miền Trung nước ta lên nhanh rút nhanh là do các sông ở đây ngắn và rất dốc

Thực vật ở lưu vực sông cũng góp phần điều hòa chế độ nước của sông Khi nước mưa rơi xuống, một phần lượng nước khá lớn được giữ lại ở tán cây, phần còn lại khi xuống tới bề mặt đất một phần được lớp thảm mục giữ lại, một phần len lỏi qua các rễ cây thấm dần xuống đất tạo nên các mạch nước ngầm, điều hòa dòng chảy cho sông ngòi, giảm lũ lụt

Hồ, đầm nối với sông cũng có tác dụng điều hòa chế độ nước sông Khi nước sông lên một phần chảy vào hồ, đầm Khi nước xuống thì nước ở hồ, đầm lại chảy ra làm cho nước sông đỡ cạn Ví dụ sông Cửu Long ở nước ta khá điều hòa, một phần nhờ bể chứa nước thiên nhiên khổng lồ là hồ Tôn-lê-sáp ở Campuchia

c, Đất đá

Đất đá khác nhau cũng là nguyên nhân khiến cho dòng chảy khác nhau Dòng sông chảy qua miền đất đá khó thấm nước như đá kết tinh, đất sét do khó thấm nước nên mạch ngầm ít Sau mỗi trận mưa nước dồn xuống lòng sông, độ thấm nước chậm khiến nước dâng cao nhanh, chế độ nước sông ở vùng đất đá ít thấm nước thường có tính chất cực đoan

Dòng sông chảy qua miền đất đá dễ thấm nước như vùng đất bazan, vùng này thường

có lớp vỏ phông hóa dày, khả năng thấm nước lớn vad có nhiều mạch nước ngầm, nước ngấm sâu và tỏa ra những vùng đất xung quanh, vì thế khi mưa nước sông lên chậm hơn, hết mưa cũng rút nước chậm hơn do đó chế độ nước sông cũng điều hòa hơn

d, Lưu vực sông

Lưu vực sông lớn hay nhỏ cũng ảnh hưởng đến chế độ nước sông Những con sông có lưu vực nhỏ lại nằm ở trong khu vực gió mùa hoặc khu vực khí hậu Địa Trung Hải thường có lũ dữ dội (lũ lên rất nhanh), vì các phụ lưu đều nhận được nước vào thời gian như nhau (cùng một thời gian), do đó lũ lên dữ dội vào các tháng mưa nhiều và xuống rất thấp vào các tháng mưa ít

Ví dụ lưu vực sông Hồng có diện tích lưu vực khoảng 120 000 km2 tương đối hẹp và đều có chế độ mưa mùa hạ từ tháng 5-10, lượng mưa thường cao nhất vào tháng 7, 8 nên khi

có mưa thường mưa toàn bộ lưu vực, nước các phụ lưu sông đều lên cùng một lúc khiến lòng sông ở hạ lưu phải chứa một lượng nước khá lớn do các sông ở miền núi đều chảy xuống nhanh, gây nên những cơn lũ đột ngột rất lớn

Những sông chày trong lưu vực dài và rộng, hạ lưu nhận được nước của nhiều phụ lưu cung cấp nước đặc biệt là những con sông chảy dài theo vĩ độ như sông Nin, Mê Công thì các phụ lưu cung cấp nước cho sông có thời gian lũ cao nhất khác nhau (vì các tháng mưa cao nhất ở từng khu vực của các phụ lưu khác nhau) nên chế độ nước sông thường điều hòa hơn

Trang 14

Ví dụ ở nước ta hồ Hòa Bình trên sông Đà có thể làm giảm mực nước lũ lớn nhất từ 14,1 m (năm 1945) xuống còn 12 m; đồng thời làm tăng mực nước mùa cạn từ 1,7 m lên tới 4,5 m cho Hà Nội ở phía hạ lưu Hoặc việc đào sông nhân tạo - sông Đuống và sông Luộc chia nước của sông Hồng cho sông Thái Bình cũng góp phần làm hạ lưu sông Hồng giảm bớt tình trạng ngập lụt

Không những vậy, việc sử dụng nước của con người vào các hoạt động sản xuất và sinh hoạt ở thượng và trung lưu của các con sông cũng làm giảm bớt lưu lượng nước ở phần

hạ lưu sông

V ẢNH HƯỞNG CỦA SÔNG NGÒI ĐẾN CÁC THÀNH PHẦN TỰ NHIÊN

Sông ngòi là một trong các thành phần của tự nhiên, theo qui luật thống nhất và hoàn chỉnh của lớp vỏ địa lí thì sông ngòi có mối quan hệ mật thiết với các thành phần tự nhiên còn lại

Các bộ phận chính của thung lũng sông gồm: lòng sông, bãi bồi, thềm sông Lòng sông

là bộ phận sâu nhất của thung lũng sông, thường xuyên có nước chảy Bãi bồi là bề mặt tích

tụ tương đối bằng phẳng được phân bố ven sông, bị ngập nước vào mùa lũ Bãi bồi có thể không bị ngập nước ngay cả vào mùa lũ lớn, lúc ấy người ta gọi là thềm sông

Xâm thực theo chiều sâu của sông ngòi ở miền núi - nơi có độ dốc đáy sông lớn hình

thành các thác ghềnh ví dụ như thác nước Angel trên con sông Churun (Venezuela)

b, Quá trình bồi tụ

Ở hạ lưu sông, phù sa lắng đọng trong những điều kiện thuận lợi nhất định hình thành đồng bằng châu thổ như Đồng bằng châu thổ sông Hoàng Hà, sông Nin Những điều kiện

đó là: lượng phù sa sông lớn, khu vực gần cửa sông nông, sóng biển nhỏ và thủy triều yếu

Trong trường hợp không thuận lợi cho việc hình thành đồng bằng châu thổ như sông

ít phù sa, nước triều lớn, sẽ hình thành nên các cửa sông hình phễu Một số cửa sông hình phễu như cửa sông Tiền Đường ở Trung Quốc (thủy triều lớn), hoặc cửa sông Cấm ở Việt Nam (ít phù sa sông)

Quá trình tích tụ của các vật liệu phá hủy do dòng nước mang theo ở chân núi (trước núi) tạo thành một bề mặt rộng và nghiêng nằm chuyển tiếp từ miền núi xuống đồng bằng hình thành nên các đồng bằng trước núi Ví dụ như dải đồng bằng dạng đồi thoải cao 20-50m

ở phía Đông núi Ba Vì (Việt Nam)

2 Khí quyển

Nước từ sông ngòi bốc hơi cung cấp độ ẩm cho khí quyển nhất là sâu trong lục địa, ít chịu ảnh hưởng của biển và đại dương Lượng hơi ẩm đó có ý nghĩa rất lớn với các hiện tượng thời tiết như gây mưa,

3 Thủy quyển

Sông ngòi là một khâu quan trọng trong tuần hoàn nước trên Trái Đất, vận chuyển

Trang 15

chảy sông ngòi còn rửa trôi thổ nhưỡng, hòa tan các chất khoáng, muối mang ra biển và đại dương (là một trong các giả thuyết giải thích độ mặn của nước biển và đại dương) Dưới tác dụng của bức xạ Mặt Trời, nước từ các sông ngòi cũng bốc hơi và tham gia vào vòng tuần hoàn nhỏ trên Trái Đất

Ven các lục địa và nhất là các cửa sông, độ mặn của biển và đại dương giảm (do nước sông hòa vào nước biển) Ví dụ độ mặn ở Hòn Dấu (trong vịnh Bắc Bộ) chỉ 15‰ do nước của sông Thái Bình đổ ra

Do quá trình uốn khúc của dòng chảy sông ngòi (nhiều nguyên nhân khác nhau) nên

độ cong các khúc uốn ngày càng lớn Khi khoảng cách giữa hai khúc uốn kề nhau ngày càng nhỏ (cổ khúc uốn), cổ khúc uốn thu hẹp, dòng nước có thể phá vỡ cổ khúc uốn và tạo thành dòng chảy thẳng nối liền hai khúc uốn Đoạn sông cũ do lưu lượng dòng chảy giảm, quá trình bồi tích tăng mạnh hình thành hồ sót (hồ móng ngựa) Ta có thể lấy ví dụ về hồ móng ngựa như Hồ Tây (Việt Nam) hình thành do sự uốn khúc của sông Hồng

3000 loài cá, chỉ ít hơn 25% tổng số loài thú trên toàn Trái Đất

Tại các khu vực cửa sông, sự tương tác pha trộn giữa nước sông và nước biển đã hình thành môi trường nước lợ Quần xã thuỷ sinh vật ở đây mang tính hỗn hợp giữa các nhóm sinh thái nước ngọt, nước lợ và nước mặn Đây vừa là nơi cư trú, vừa là nơi nuôi dưỡng, vừa

là bãi đẻ trứng của nhiều loài cá biển và nhiều nhóm động vật không xương sống Cửa sông

là một trong những môi trường sinh thái đông đảo nhất trên thế giới Nó chiếm tới khoảng 60% các sinh vật trên toàn thế giới

Sông ngòi mang ra biển rất nhiều phù du sinh vật làm thức ăn cho các loại tôm cá và

do vậy vùng biển ven bờ thường có các bãi tôm, bãi cá lớn, nhỏ khác nhau

Trang 16

VI TÁC ĐỘNG CỦA DÒNG CHẢY SÔNG NGÒI ĐẾN SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI

Ưu điểm của thủy điện là giá thành trên 1 đơn vị điện năng thấp vì nhiều lí do Thứ nhất là hạn chế được sự tăng giá của nhiên liệu hóa thạch như dầu mỏ, khí thiên nhiên hay than đá, và không cần phải nhập nhiên liệu Thứ hai, các nhà máy thủy điện cũng có tuổi thọ lớn hơn các nhà máy nhiệt điện, một số nhà máy thủy điện đang hoạt động hiện nay đã được xây dựng từ 50 đến 100 năm trước Thứ ba, chi phí nhân công cũng thấp bởi vì các nhà máy này được tự động hoá cao và có ít người làm việc tại chỗ khi vận hành thông thường

Các nhà máy thủy điện hồ chứa bằng bơm hiện là công cụ đáng chú ý nhất để tích trữ năng lượng về tính hữu dụng, cho phép phát điện ở mức thấp vào giờ thấp điểm (trong khi các nhà máy nhiệt điện không thể dừng lại hoàn toàn hàng ngày) để tích nước sau đó cho chảy

ra để phát điện vào giờ cao điểm hàng ngày

Tuy nhiên các nhà máy thủy điện lớn có thể phá vỡ sự cân bằng của hệ sinh thái xung quanh nên cần thận trọng khi xây dựng

Nhiều ngành công nghiệp khác cũng được phân bố gần nguồn nước sông ngòi như công nghiệp luyện kim, dệt, giấy, hóa chất, thực phẩm

d, Dịch vụ

Giao thông vận tải đường sông nói chung tuy tốc độ chậm nhưng có ưu điểm là rẻ, thích hợp với việc chuyên chở các hàng hóa nặng, cồng kềnh, không cần nhanh Nếu lấy cước vận tải đường sông là 1 thì cước đường sắt là 2, đường bộ là 30 và đường hàng không là 300

Vận tải đường sông có từ rất sớm Mạng lưới vận tải đường sông được phân chia theo các lưu vực sông, gọi là các lưu vực vận tải Nhiều lưu vực vận tải là những tuyến giao thông quan trọng như tuyến sông Rai-nơ và Đa-nuýp ở châu Âu Ở nhiều nước trên thế giới phổ biến hoạt động thương mại trên sông (chợ nổi)

Cửa sông hình phễu là nơi có khả năng để xây dựng các cảng biển phục vu cho giao thông vận tải đường biển Ví dụ như cảng Hải Phòng ở cửa sông Cấm hay cảng Sài Gòn

ở cửa sông Sài Gòn (Việt Nam)

Sông ngòi cũng là tài nguyên du lịch tự nhiên có giá trị du lịch lớn Tại châu Âu, du

Trang 17

Saint-Petersbourg, khai thác với những công trình kiến trúc, những cảnh quan đô thị ven sông và những cây cầu tuyệt đẹp gắn với lịch sử hình thành và phát triển những đô thị lâu đới hình thành nên những sản phẩm du lịch văn hóa sinh thái có tính chủ lực của mỗi thành phố

e, Phân bố dân cư

Thoạt đầu sự phân bố dân cư mang tính tự phát, con người thường tập trung ở dọc theo lưu vực các con sông lớn – nơi có nguồn nước dồi dào, thuận lợi cho cư trú và các hoạt động sản xuất

Những nền văn minh cổ đại trên thế giới thường gắn liền với các lưu vực sông lớn như

Ai Cập cổ đại (nền văn minh sông Nin), văn minh Hoàng Hà (lưu vực sông Hòang Hà), văn minh Lưỡng Hà (lưu vực sông Tigris và Euphrates), văn minh Ấn Độ (lưu vực sông Ấn)

2 Tiêu cực

Bên cạnh những lợi ích thì sông ngòi cũng gây ra nhiều khó khăn cho sản xuất và đời sống con người như ngập lụt, lũ quét, phù sa sông làm bồi lắng các hồ chứa nước, tốn kém chi phí nạo vét sông, cảng cửa sông, sạt lở bờ sông

Ví dụ ngập lụt của sông Hoàng Hà đã gây ra sự chết chóc khủng khiếp trong lịch sử như năm 1887 Hoàng Hà đã giết chết khoảng 900 000 - 2000 000 người và năm 1931 nó đã giết chết khoảng 1000 000 - 3700 000 người Hay ví dụ ở Việt Nam: Bộ giao thông vận tải

đã ứng trước 200 tỷ đồng từ nguồn kinh phí nạo vét, duy tu luồng hàng hải được giao năm

2012 để thực hiện nạo vét, duy tu tuyến luồng Hải Phòng từ cuối năm 2011

VI VẤN ĐỀ Ô NHIỄM SÔNG NGÒI

Các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người hiện nay đang làm sông ngòi trên

thế giới bị ô nhiễm nghiêm trọng, gây nhiều hệ quả tiêu cực Bảo vệ sông ngòi là bảo vệ mạch máu của sự sống Vì vậy chúng ta cần phải có các biện pháp cụ thể để bảo vệ sự trong sạch của sông ngòi

1 Khái niệm

Sông ngòi bị ô nhiễm được hiểu là sự có mặt của một hay nhiều chất lạ trong nước sông, dù chất đó có hại hay không, khi vượt quá ngưỡng chịu đựng của cơ thể sinh vật thì chất đó trở nên độc hại

2 Nguyên nhân

Sông ngòi bị ô nhiễm có thể do nguyên nhân tự nhiên: do mưa, tuyết tan, lũ lụt Nước mưa rơi xuống mặt đất, mái nhà, đường phố kéo theo các chất bẩn hoặc các sản phẩm của sự hoạt động phát triển của sinh vật, vi sinh vật xuống sông ngòi Ô nhiễm sông ngòi do các yếu tố tự nhiên có thể rất nghiêm trọng, nhưng không thường xuyên, và không phải là nguyên nhân chính gây suy thoái chất lượng nước toàn cầu

Ô nhiễm chủ yếu có nguồn gốc nhân tạo: quá trình thải các chất độc hại chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông không qua xử lí hoặc với khối lượng quá lớn vượt quá khả năng tự điều chỉnh và tự làm sạch của sông ngòi

3 Các dạng ô nhiễm nước sông

Tùy theo tác nhân gây ô nhiễm có thể phân biệt thành các dạng sau:

- Ô nhiễm hóa học: là dạng ô nhiễm gây nên do các chất có protein, chất béo, các chất hữu cơ khác có trong chất thải từ các khu công nghiệp và dân cư (xà phòng, thuốc nhuộm, các chất giặt tổng hợp ) Ngoài ra các chất vô cơ như axit, kiềm, muối các kim loại nặng, các muối vô cơ hòa tan, không hòa tan, các loại phân bón cũng gây ra ô nhiễm hóa học

- Ô nhiễm vật lí: do nhiều loại chất thải công nghiệp có màu và các chất lơ lửng, nước thải từ quá trình làm nguội có nhiệt độ cao Các loại chất thải này làm nước thay đổi màu sắc,

Ngày đăng: 19/04/2023, 14:29

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w