BỘ GIAO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN TIỂU LUẬN MÔN ĐỊA LÍ KINH TẾ Họ và tên Nguyễn Đức Mạnh Lớp MTKT1102(222) 01 Địa lý kinh tế Mã sinh viên 11224126 Giáo viên hướng dẫn Lê Huy Huấn[.]
Trang 1BỘ GIAO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
TIỂU LUẬN MÔN: ĐỊA LÍ KINH TẾ
Họ và tên: Nguyễn Đức Mạnh
Lớp: MTKT1102(222) _01-Địa lý kinh tế
Mã sinh viên: 11224126
Giáo viên hướng dẫn: Lê Huy Huấn
Đề tài:Kinh nghiệm phát triển các cụm liên kết ngành ở các quốc gia khác nhau trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho thúc đẩy phát triển cụm liên kết ngành ở Việt Nam
Trang 2Mục lục Lời mở đầu
Nội dung
I Khát quát về Địa lí kinh tế
1 Địa lí kinh tế là gì?
2 Chủ đề trong địa lí kinh tế
II Phát triển các cụm liên kết ngành ở các quốc gia
1 Kinh nghiệm ở các quốc gia khác nhau trên thế giới
1.1.Vai trò của cum liên kết ngành
2.1.Các mô hình phát triển của cụm liên kết ngành
2 Bài học kinh nghiệm cho thúc đẩy phát triển cụm liên kết ngành ở Việt Nam
Kết luận
Trang 3Mở đầu Hiện nay, việc phát triển không gian kinh tế, hình thành các cụm liên kết ngành là xu thế phát triển phổ biến được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng với mục đích nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng cường tham gia vào mạng lưới sản xuất khu vực và toàn cầu Phát triển các cụm liên kết ngành (CLKN) là rất cần thiết với nhiều quốc gia bởi vai trò quan trọng của CLKN trong việc định hướng phát triển công nghiệp của đất nước, đồng thời tạo ra những chuỗi giá trị sản xuất, kinh doanh hiệu quả thu hút được nhiều doanh nghiệp và nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia Kinh nghiệm phát triển CLKN của các quốc gia cho thấy vai trò quan trọng của Nhà nước trong việc định hướng và hỗ trợ bằng cơ chế, chính sách để phát triển CLKN, đồng thời nhận thức của các đối tượng liên quan về phát triển CLKN cũng là yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công hay thất bại trong quá trình phát triển đó Việt Nam rất quan tâm đến vấn đề hình thành nên những CLKN thực sự với đầy đủ những đặc trưng cơ bản, qua đó thúc đẩy các tiềm năng của CLKN trong phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương
Trang 4Nội dung
I Khát quát về Địa lí kinh tế
1 Địa lí kinh tế là gì?
Địa lí kinh tế là một chuyên ngành vừa thuộc kinh tế học ứng dụng vừa thuộc địa lý học nhân văn chuyên nghiên cứu về địa điểm, sự phân bố và
tổ chức không gian của các hoạt động kinh tế ở các vùng, lãnh thổ khác nhau
Bởi vì kinh tế học cũng là một chủ đề lớp nên nghiên cứu cũng là địa lí kinh tế Một số chủ đề được coi là địa lí kinh tế bao gồm động lực thúc đẩy phân bố không gian kinh tế; nguồn lực tài nguyên và môi trường; lao động, vốn con người và di cư; tiền tệ, tài chính và dịch chuyển vốn; tổ chức không gian kinh tế Cụm liên kết ngành cũng cực kì quan trọng đối với các nhà địa lí kinh tế ngày nay bởi vì đem lại lợi thế kinh tế theo quy mô nhờ
sự tập trung các nguồn lực; giảm chi phí giao dịch; thúc đẩy nghiên
cứu/đổi mới và chuyển giao công nghệ
2 Chủ đề trong Địa lý kinh tế
Địa lý kinh tế ngày nay được chia nhỏ năm ngành hoặc chủ đề nghiên cứu khác nhau Đây là địa lý lý thuyết, khu vực, lịch sử, hành vi và quan trọng về kinh tế Mỗi nhánh này khác với các nhánh khác vì các tiếp cận địa lý kinh tế trong các ngành sử dụng để nghiên cứu kinh tế thế giới
Địa lý kinh tế lý thuyết là rộng nhất của các chi nhánh và các nhà địa lý trong phân khu đó chủ yếu tập trung vào việc xây dựng các lý thuyết mới về cách sắp xếp nền kinh tế thế giới
Địa lý kinh tế khu vực nhìn vào nền kinh tế của các vùng cụ thể trên thế giới Những nhà địa lý này nhìn vào phát triển địa phương cũng như các mối quan
hệ mà các vùng cụ thể có với các khu vực khác Các nhà địa lý kinh tế lịch sử nhìn vào sự phát triển lịch sử của một khu vực để hiểu nền kinh tế của họ Các nhà địa lý kinh tế hành vi tập trung vào người dân trong khu vực và quyết định của họ để nghiên cứu nền kinh tế
Địa lý kinh tế quan trọng là chủ đề cuối cùng của nghiên cứu Nó phát triển từ địa lý và địa lý quan trọng trong lĩnh vực này cố gắng nghiên cứu địa lý kinh
tế mà không sử dụng các phương pháp truyền thống được liệt kê ở trên Ví dụ, các nhà địa lý kinh tế quan trọng thường xem xét sự bất bình đẳng kinh tế và
sự thống trị của một khu vực trên một vùng khác và sự thống trị đó tác động đến sự phát triển của nền kinh tế như thế nào
Trang 5Ngoài việc nghiên cứu các chủ đề khác nhau này, các nhà địa lý kinh tế cũng thường nghiên cứu các chủ đề rất cụ thể liên quan đến nền kinh tế Những chủ
đề này bao gồm địa lý nông nghiệp , giao thông vận tải , tài nguyên thiên nhiên và thương mại cũng như các chủ đề như địa lý kinh doanh
II Phát triển các cụm liên kết ngành ở các quốc gia
1 Kinh nghiệm ở các quốc gia khác nhau trên thế giới
1.1.Vai trò của cụm liên kết ngành
- Đem lại lợi thế kinh tế theo quy mô nhờ sự tập trung các nguồn lực; giảm chi phí giao dịch; thúc đẩy nghiên cứu/đổi mới và chuyển giao công nghệ;
- Tăng khả năng cạnh tranh/sáng tạo của DN trong lĩnh vực chuyên biệt; thúc đẩy các ngành công nghiệp hỗ trợ, các DN vừa và nhỏ phát triển;
- Mối liên kết chặt chẽ giữa các pdoanh nghiệp trong CLK góp phần hoàn thiện chuỗi sản xuất của ngành; thay đổi sự phân bố không gian của các hoạt động SX/KD;
- Các ngoại ứng tích cực sẽ hấp dẫn các hoạt động kinh tế khác thông qua “quả bóng tuyết” tạo nên hiệu ứng cụm (cluster effect)
2.1.Các mô hình phát triển của cụm liên kết ngành
a Cụm sản xuất thủ công thâm dụng lao động: Mức độ lao động (nhập cư) thường rất cao, ví dụ ở một số nước đang phát triển Băng-la-đét; Trung Quốc; Việt Nam; hoặc các khu/cụm sản xuất hàng may mặc của Los Angeles, New York và Paris
- Trung Quốc là một nước đang phát triển có tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhanh Thành conng này một phần là nhờ nước này đã phát triển mạnh các cụm liên kết ngành.Chính quyền trung ương và địa phương Trung Quốc đã rất quan tâm phát triển các cụm liên kết ngành do nhận thức được vai trò của chúng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và sản phẩm Trung Quốc Chính sách phát triển cụm liên kết ngành ở Trung Quốc: Hiện tượng
tụ tập kinh doanh, sản xuất hang hóa theo chuyên ngành đã xuất hiện ở Trung Quốc từ rất lâu Ngày này, ở Trung Quốc đưuọc cho là
có hang tram cụm liên kết ngành, phân bố rộng khắp các tỉnh, thành
và khu tự trị, nhưng với mật độ cao hơn ở khu vực đồng bằng song Chu (miền Đông Nam), đồng bằng song Trường Giang (miền Đông)
Trang 6và vùng vành đai vịnh Bột Hải (miền Đông Bắc), với những đặc trưng khác nhau Trong thực tế, hiện tượng cụm liên kết ngành ở Trung Quốc rất đa dạng về hình thức và có nhiều tên gọi khác Tuy nhiên, các cụm liên kết ngành này đại thể có thể phân làm năm kiểu:
o Cụm liên kết ngành Chiết Giang
o Cụm liên kết ngành Giang Tô
o Cụm liên kết chuyên ngành Quảng Đông
o Cụm liên kết ngành Trùng Khánh
o Cụm liên kết ngành kiểu khu kinh tế
b Cụm sản xuất thủ công chuyên sâu: các công ty vừa và nhỏ chuyên sản xuất chất lượng cao của một hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể
c Cụm công nghiệp công nghệ cao: Có xu hướng tập trung đông đảo các doanh nghiệp vừa và nhỏ sáng tạo và thị trường lao động linh hoạt, có kỹ năng cao Sự tập trung của các hình thức chuyên môn cụ thể tạo thành cơ sở của cụm, phân bố ở những khu vực ít có lịch sử công nghiệp hóa
- Thập niên 1950-1960, Hàn Quốc bị đánh giá là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, nghèo tài nguyên thiên nhiên và lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, nhưng chỉ trong vòng hơn 30 năm thực hiện công nghiệp hóa, Hàn Quốc đã trở thành một nước công nghiệp mới
và hiện nay Hàn Quốc đã trở thành nước công nghiệp phát triển thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Các ngành công nghiệp chủ chốt, đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong quá trình phát triển kinh tế của Hàn Quốc như điện tử, ô tô, đóng tàu, hóa dầu, dệt may, da - giày… Một trong những nguyên nhân tạo nên
sự thành công của các ngành này là sự phát triển các CLKN và quá trình hình thành, phát triển CLKN ở Hàn Quốc gắn liền với sự thay đổi trọng tâm trong chiến lược phát triển công nghiệp và các vùng lãnh thổ.Với chính sách chuyển đổi trọng tâm phát triển công
nghiệp từ các ngành công nghiệp nhẹ (trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa) sang phát triển một số ngành công nghiệp nặng (hóa chất - hóa dầu, điện tử, đóng tàu, thiết bị máy móc, luyện kim) luôn gắn với sự hình thành các CLKN Chính vì vậy, ở thập niên 1970 một số CLKN được hình thành ở các khu vực khác nhau: Gumi (điện tử); Changwon (sản xuất máy móc thiết bị); Pohang (luyện kim đen); Ulsan (hóa chất – hóa dầu); Geoje (đóng tàu) Cũng trong thập niên này, Hàn Quốc còn hình thành cụm liên kết tập
Trang 7trung vào hoạt động nghiên cứu dưới hình thức Công viên Khoa học với các trung tâm R&D bên cạnh các CLKN, do Chính phủ tài trợ nhằm tạo nên hạt nhân khoa học và công nghệ cho phát triển kinh tế Đến thập niên 1980, Chính phủ Hàn Quốc đã chú trọng hơn đến việc phát triển các CLKN với quy mô nhỏ hơn và được phân bố rộng rãi trong nhiều vùng đất nước nhằm phòng ngừa việc hình thành và phát triển các CLKN với quy mô lớn có thể dẫn tới sự mất cân bằng trong phát triển kinh tế, tổ chức đời sống dân cư và nguy cơ ô nhiễm môi trường sinh thái, đồng thời tạo điều kiện hỗ trợ sản xuất nông nghiệp phát triển Giai đoạn những năm 1990, cùng với việc thoàn thiện các CLKN, các loại cụm liên kết lấy hoạt động R&D làm trung tâm này tiếp tục được phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp thông tin trong khuôn khổ phát triển nền kinh tế tri thức Bắt đầu từ thập niên 2000 trở lại đây, các CLKN được tiếp tục phát triển một cách hoàn chỉnh hơn theo những chương trình và dự
án do Chính phủ thiết lập và chỉ đạo thực hiện Theo Phạm Thị Huyền (2011), thì đến cuối năm 2009, hoạt động của các doanh nghiệp trong các CLKN đã đóng góp hơn 70% kim ngạch xuất khẩu, 62% sản lượng và hơn 42% việc làm trong các ngành sản xuất công nghiệp của Hàn Quốc
d Cụm trục - nan hoa và sản xuất linh hoạt:Gồm một công ty lớn/nhóm các công ty lớn, mua các thành phần từ nhiều nhà cung cấp địa
phương để tạo ra sản phẩm cho các thị trường bên ngoài cụm.Ví dụ: các nhà cung cấp chính và các công ty hậu cần cho các nhà máy của Toyota tại Toyota, Nhật Bản; Boeing ở Seattle, Hoa Kỳ; các công ty ở Đức, chẳng hạn như Ludwigshafen (tập đoàn hóa chất khổng lồ BASF cung cấp 1/3 tổng số việc làm), Ingolstadt (Audi; 1/2) và Wolfsburg (Volkswagen; 80%)
- Nhật Bản là một trong những quốc gia áp dụng chính sách phát triển cụm công nghiệp thành công nhưng phải đến những năm 2000, Nhật Bản mới xây dựng và triển khai chính sách cụm ngành công nghiệp một cách hệ thống với hơn 60 CLKN tập trung vào các ngành công nghiệp mũi nhọn với nhiều ngành công nghiệp hỗ trợ xung quanh
Để hình thành một cụm ngành công nghiệp, Bộ Kinh tế Thương mại
và Công nghiệp Nhật Bản tiến hành bốn bước: phân tích đặc điểm của địa phương; xác định mạng lưới có thể thiết lập trong phạm vi địa phương; mở rộng phạm vi mạng lưới, và thúc đẩy tập trung công
Trang 8nghiệp và đổi mới Theo Kuchiki (2007), ba nhóm chính sách mà Bộ Kinh tế Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản đã thực hiện hiệu quả là: (i) xây dựng mạng lưới, (ii) hỗ trợ doanh nghiệp về R&D, phát triển thị trường, quản lý, đào tạo và (iii) thúc đẩy liên kết giữa các doanh nghiệp với nhau, giữa các doanh nghiệp với các tổ chức tài chính, các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu Nhật Bản là quốc gia
đi đầu trong xây dựng hệ thống liên kết thầu phụ và hợp đồng giữa các doanh nghiệp lớn với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
e Cụm công nghiệp vệ tinh:Gồm các hoạt động lắp ráp với 'công nghệ thấp' cho đến các nhà máy tiên tiến hơn với năng lực nghiên cứu, nhưng tất cả đều tương đối 'độc lập’.Các doanh nghiệp chủ yếu để tiếp cận thị trường lao động giống nhau hoặc các ưu đãi tài chính trong các lãnh thổ cụ thể.Phổ biến ở khắp các khu chế xuất (KCX) của các nước đang phát triển.Ví dụ: ngành công nghiệp điện tử trên đảo Penang của Malaysia; các tổng đài đại diện cho một hình thức giao dịch giữa công ty - khách hàng (ví dụ như Bangalore và Mumbai của Ấn Độ) và (thành phố Manila và Cebu - Philippines)
- Ở Malaysia phát triển các CLKN được biết đến với tên gọi là
Iskandar Malaysia Mục đích của Iskanda Malaysia là nhằm để phát triển một vùng lãnh thổ trở nên có sức cạnh tranh mạnh, năng động
và có tính toàn cầu Theo Sở Quy hoạch đô thị và quốc gia thuộc Bộ Nhà ở và chính quyền địa phương Malaysia (2012) thì quá trình phát triển các CLKN được bắt đầu từ Kế hoạch phát triển Malaysia lần thứ 9 Chính phủ Malaysia đã tiến hành tổng kết và xây dựng Báo cáo kết quả 5 năm thực hiện Với những kết quả tích cực đạt được, Chính phủ Malaysia đã có kế hoạch giai đoạn 2 tiếp tục phát triển Iskandar Malaysia trong Kế hoạch tổng thể lần thứ 10 Theo đuổi nền kinh tế thị trường, nhưng Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế Malaysia Trong quản lý kinh tế, công tác kế hoạch rất được chú trọng với một hệ thống bao gồm: Tầm nhìn 30 năm; Kế hoạch triển vọng khung lập cho 10 năm; Kế hoạch quốc gia 5 năm; Kế hoạch cụ thể hàng năm Quy hoạch phát triển vùng lãnh thổ là một trong những nội dung quan trọng của các
kế hoạch triển vọng khung 10 năm và kế hoạch quốc gia 5 năm Quy hoạch này hướng vào việc phát triển liên vùng một cách cân đối hơn
và các kế hoạch này xác định địa bàn phát triển Iskandar Malaysia ở Bang Johor Vùng này gồm phần phía Nam của bang Johor - từ
Trang 9Mukim thuộc Serkat về phía Tây, đến Pasir Gudang về phía Đông,
từ Bắc Kulai đến Nam Johor Bahru
f Các cụm dịch vụ kinh doanh :Gồm các hoạt động dịch vụ kinh doanh như tài chính, quảng cáo, luật và kế toán.Phân bố ở các quận trung tâm của các thành phố lớn hoặc 'toàn cầu’: New York, London và Tokyo
g Các theo mô hình chính phủ làm chủ đạo:Ví như trường đại học, cơ
sở nghiên cứu công nghiệp quốc phòng, nhà tù hoặc văn phòng chính phủ; các trung tâm nghiên cứu của chính phủ (Colorado Springs, Hoa Kỳ; Taejon, Hàn Quốc; Hành lang M4, Vương quốc Anh; và Biopolis của Singapore ) và các trường đại học (Madison, Wisconsin, Hoa Kỳ; Oxford / Cambridge, Hoa Kỳ Kingdom; và Bắc Kinh, Trung Quốc)
h Cụm tiêu thụ/tiêu dùng:Ở các khu vực đô thị trung tâm với nhiều hoạt động dịch vụ tiêu dùng khác nhau: các nhà bán lẻ, quán bar và nhà hang, các cơ sở văn hóa và giải trí.Ví dụ: Các khu rạp hát ở West End của London và Broadway của New York; các khu bán lẻ và giải trí của Tokyo (Shibuya) và Thượng Hải (Xin Tian Di)
2 Bài học kinh nghiệm cho thúc đẩy phát triển cụm liên kết ngành
ở Việt Nam.
Có thể khẳng định, hiện tại, ở Việt Nam chưa có CLKN theo đúng nghĩa Trên thực tế, ở Việt Nam, một số ngành, lĩnh vực đã thực hiện liên kết ngành và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu nhưng chủ yếu do nhu cầu bắt buộc của thị trường Chẳng hạn, ngành dệt may, da giày tham gia phần gia công, chế biến nguyên vật liệu được thực hiện trong nước đạt được 20-30 %, phần thực hiện
ở nước ngoài tới 70 - 80% do nhập khẩu nguyên vật liệu Tương tự, ngành ôtô, lắp ráp trong nước đạt khoảng 5 – 10%, trong khi phần thực hiện nước ngoài tới 90 – 95% do phải nhập linh kiện, máy móc Hay như, ở ngành điện – điện tử, phần gia công, lắp ráp, chế tạo trong nước chiếm khoảng 20 – 40%, phần còn lại là nhập khẩu nguyên liệu chiếm 60 – 80% Việc Nhà nước đang dành sự quan tâm và tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp với lõi là
“Chính phủ kiến tạo” đã thu hút được các nhà đầu tư trong và ngoài nước ở mọi lĩnh vực khác nhau và nếu công tác định hướng và quy hoạch CLKN được thực hiện tốt hơn, thì trong tương lai không xa, Việt Nam sẽ có các CLKN ở những ngành nghề có thế mạnh Tuy nhiên, việc tìm được một mô hình phát triển CLKN phù hợp và khả thi cho Việt Nam là khó khăn Một số ý tưởng về mô hình CLKN cho Việt Nam dựa trên những gì thu nhận được từ lý luận, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn đang xảy ra
Trang 10a Không nên “thiết kế” một mô hình CLKN chung cho cả nền kinh tế
Đa dạng là bản chất của mọi nền kinh tế thị trường: đa dạng sở hữu; đa dạng mục tiêu; đa dạng ngành nghề; đa dạng địa hình; …Trong quá trình toàn cầu hóa về kinh tế, một doanh nghiệp có nhiều sự lựa chọn vị trí cho mình Doanh nghiệp có thể đứng riêng lẻ, độc lập tương đối, tự thân vận động; có thể tham gia chuỗi giá trị trong nước, hay có thể tham gia chuỗi giá trị toàn cầu tùy thuộc vào mục tiêu phát triển của mình
Như vậy, sự đa dạng trên, một cách tự nhiên, sẽ dẫn đến sự đa dạng về liên kết Đối với các doanh nghiệp trong các ngành hướng xuất khẩu thì hợp tác quốc tế CLKN là yếu tố hàng đầu, trong khi những doanh nghiệp trong các ngành đáp ứng nhu cầu trong nước hay định hướng nội địa hóa để thay thế nhập khẩu thì CLKN trong nước có thể là lựa chọn tối ưu trong một giai đoạn nhất định
b Phát triển và hình thành mô hình theo định hướng sản phẩm
Ở Việt Nam, đối với các ngành công nghệ cao, từ hơn 10 năm nay, chúng ta
đã và đang xây dựng (mang tính thử nghiệm) các khu công nghệ cao tại TP
Hồ Chí Minh và Hà Nội Loại hình này, có thể củng cố và phát triển thành mô hình CLKN công nghệ cao
CLKN sản xuất ô tô là một hướng mà người Nhật đang theo đuổi mạnh mẽ ở các quốc gia đối tác, trong đó có Việt Nam Họ đã thành công ở Thái Lan, còn
ở Việt Nam thì chưa Trong nước, tại Khu kinh tế mở Chu Lai, chúng ta có Khu liên hợp sản xuất và lắp ráp ô tô Chu Lai-Trường Hải mang dáng dấp của một CLKN Còn đối với các sản phẩm điện tử, người Nhật đã thiết lập được CLKN khá thành công cho chính các doanh nghiệp 100% vốn của họ Các doanh nghiệp Việt Nam hầu như chưa tham gia vào những liên kết này Mô hình kiểu tích hợp này cần được củng cố và có chính sách khuyến khích, mở rộng để thu hút các doanh nghiệp bản địa
Những ngành “truyền thống” (theo cách gọi của người Trung Quốc) như dệt may, da giày có định hướng xuất khẩu rất cao, thì liên kết quốc tế, hay nói cách khác, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu có ý nghĩa sống còn cho các doanh nghiệp Việt Nam CLKN cho các doanh nghiệp ngành này nên theo Mô hình Marshal, theo đó hạt nhân là các doanh nghiệp may mặc hoặc da giày xuất khẩu và các doanh nghiệp Việt Nam (chủ yếu là các doanh nghiệp Việt Nam) sản xuất các linh kiện, phụ kiện, chi tiết,… hỗ trợ cho doanh nghiệp
“mỏ neo” Tỉnh Hưng Yên hiện có KCN (KCN) chuyên doanh dệt may Phố Nối Đây có thể là một hình mẫu cần nhân rộng Ngày 24/2/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 12/2001/QĐ-TTg Về chính sách phát