DANH MỤC BẢNG BIỂU 2.1 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu đất trong phòng thí nghiệm 35 2.2 Bố trí thí nghiệm loại thuốc kích thích và nồng độ thuốc trong thí nghiệm giâm hom 40 3.2 Kết
Sự cần thiết của đề tài
Nghiến (Burretidendron hsienmu Chun et How) là loài cây bản địa có phạm vi phân bố hẹp, chỉ xuất hiện tại Trung Quốc và Việt Nam Loài cây này thường mọc ở các khu vực rừng trên núi đá vôi với độ cao từ 700 - 900m, chủ yếu tại tỉnh Quảng Tây và Vân Nam của Trung Quốc, cũng như các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam như Bắc Kạn và Lạng Sơn.
Hà Giang, Sơn La, Hòa Bình, Điện Biên, v.v (Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên, 2002) [11]; Phạm Hoàng Hộ, 1999) [30]; Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2007 [3])
Nghiến là loài cây gỗ lớn, quý, có thể cao trên 30m và đường kính trên 100cm, với gỗ màu đỏ, nặng, rắn, không bị mối mọt và dễ gia công Phần gốc của cây thường xuất hiện các sùi, u lớn gọi là “nu”, có giá trị cao trong xây dựng và đồ thủ công mỹ nghệ Gỗ Nghiến còn được sử dụng để sản xuất thớt do tính dễ vận chuyển Gần đây, Nghiến cũng được nghiên cứu về giá trị dược liệu từ sản phẩm tầm gửi Tuy nhiên, do giá trị kinh tế cao, Nghiến đã bị khai thác quá mức, dẫn đến tình trạng nguy cấp, được xếp loại EN trong sách đỏ Việt Nam 2007 và thuộc cấp VU trong danh lục sách đỏ quốc tế IUCN.
Tại Việt Nam, cây Nghiến đã bị khai thác mạnh mẽ, dẫn đến việc số lượng cá thể trưởng thành giảm hơn 50% tính đến năm 2007 Hiện nay, Nghiến chỉ còn tập trung ở một số khu vực rừng bảo vệ nghiêm ngặt như Vườn quốc gia Ba Bể, Bắc Cạn và khu rừng đặc dụng Hữu Liên, Lạng Sơn, cùng một số khu vực núi đá khác.
Tại các tỉnh Sơn La, Hòa Bình, Điện Biên, Bắc Cạn, vôi thường xuất hiện ở những địa hình hiểm trở hoặc khu rừng thiêng Tuy nhiên, tình trạng chặt trộm cây Nghiến vẫn diễn ra, dẫn đến sự suy giảm số lượng cá thể Nghiến trưởng thành trong tự nhiên Mặc dù chưa có số liệu thống kê đầy đủ, nhưng có thể khẳng định rằng số lượng này đang tiếp tục giảm.
Sơn La và Điện Biên, hai tỉnh miền núi phía Tây Bắc Việt Nam, là nơi có địa hình núi đá vôi và tập trung nhiều cây Nghiến tại các huyện Thuận Châu, Quỳnh Nhai và Tuần Giáo Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hạ tầng giao thông, và tình trạng khai thác trái phép đã dẫn đến sự suy giảm nghiêm trọng số lượng loài Nghiến, ảnh hưởng đến khả năng tự phục hồi của chúng Nghiên cứu về loài Nghiến tại Việt Nam chủ yếu chỉ dừng lại ở việc mô tả hình thái và công dụng, thiếu các nghiên cứu sâu về đặc điểm lâm học và nhân giống Các chỉ thị và quyết định như chỉ thị số 19/2004/CT-TTg và Quyết định số 886/QĐ-TTg đã đề ra các giải pháp nhằm phát triển ngành chế biến gỗ và lâm nghiệp bền vững trong giai đoạn 2016 - 2020.
Đề án tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2013) và Luật lâm nghiệp (2017) đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn đa dạng sinh học và nguồn gen cây bản địa Một trong những mục tiêu chính là trồng rừng gỗ lớn bằng các loài cây bản địa, trong đó có loài Nghiến.
Đề tài luận án “Nghiên cứu đặc điểm lâm học và biện pháp kỹ thuật gây trồng loài Nghiến (Burretiodendron hsienmu Chun et How) tại hai tỉnh Sơn La và Điện Biên” là cần thiết và có ý nghĩa khoa học, thực tiễn Nghiên cứu này sẽ cung cấp luận cứ khoa học quan trọng cho công tác bảo tồn và phát triển loài Nghiến tại hai tỉnh Sơn La và Điện Biên, cũng như trong khu vực.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận án này cung cấp thông tin bổ sung về đặc điểm lâm học và đưa ra các luận cứ khoa học cho biện pháp kỹ thuật trồng trọt, nhằm hỗ trợ công tác bảo tồn và phát triển loài Nghiến tại địa phương nghiên cứu, cũng như trong khu vực Tây Bắc và các tỉnh khác ở Việt Nam nơi loài này phân bố.
Nghiên cứu trong luận án đã đưa ra các giải pháp kỹ thuật khả thi cho việc nhân giống Nghiến từ hạt và hom, áp dụng tại hai tỉnh Sơn La và Điện Biên.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Xác định được cơ sở khoa học nhằm góp phần bảo tồn, phục hồi và phát triển loài Nghiến tại 2 tỉnh Sơn La, Điện Biên
- Xác định được một số kỹ thuật nhân giống Nghiến từ hạt, hom
- Xác định được kỹ thuật trồng và làm giàu rừng Nghiến tại hai tỉnh Sơn La, Điện Biên.
Những đóng góp mới của luận án
(i) Bổ sung được một số đặc điểm lâm học loài Nghiến tại 2 tỉnh Sơn La và Điện Biên
(ii) Bước đầu xác định được các biện pháp kỹ thuật nhân giống và trồng rừng Nghiến ở 2 tỉnh Sơn La và Điện Biên.
Đối tượng, địa điểm và giới hạn nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là loài Nghiến (Burretiodendron hsienmu Chun et How) Loài này có nhiều tên đồng nghĩa:
Excentrodendron tonkinense (Gagnep.) Chang & Miau;
Excentrodendron hsienmu (Chun & F.C How) Hung T.Chang & R.H Miao;
Excentrodendron tonkinense (A.Chev.) H.T.Chang & R.H.Miau;
Vì vậy, để đảm bảo tính thống nhất trong luận án này, Nghiến sẽ sử dụng tên khoa học là (Burretiodendron hsienmu Chun et How)
Luận án chỉ nghiên cứu tại các khu vực rừng có Nghiến phân bố tự nhiên tập trung nhiều tại 2 tỉnh: Điện Biên và Sơn La
5.2.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm lâm học của loài Nghiến sẽ tập trung vào các yếu tố như hình thái, vật hậu, lập địa, khí hậu, độ cao, tầng thứ, các loài cây đi kèm, đặc điểm tái sinh, tổ thành và cấu trúc của tầng cây cao.
- Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống Nghiến chỉ tập trung nghiên cứu nhân giống từ hạt và từ hom với một số thử nghiệm ban đầu
Nghiên cứu về trồng rừng Nghiến đã được thực hiện để đánh giá ảnh hưởng của phân bón, tuổi cây giống khi trồng, và tỷ lệ hỗn giao với cây bạn Lát hoa đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây Nghiến.
5.2.2 Giới hạn về địa điểm nghiên cứu, thu thập mẫu
Nghiên cứu đặc điểm lâm học của loài Nghiến được tiến hành tại các khu rừng tự nhiên ở hai tỉnh Sơn La và Điện Biên, với sự khảo sát tại 5 điểm cụ thể.
Xã Mường Giàng và xã Chiềng Khoang thuộc huyện Quỳnh Nhai, Sơn La; xã Phỏng Lái, huyện Thuận Châu, Sơn La; cùng với xã Pú Nhung và xã Tỏa Tình, huyện Tuần Giáo, Điện Biên là những địa điểm được lựa chọn để thiết lập các ô tiêu chuẩn theo phương pháp điển hình.
Hạt giống và hom giâm được thu thập từ rừng tự nhiên tại 5 điểm nghiên cứu Bên cạnh đó, hom giống cũng được thử nghiệm ban đầu từ các cây mẹ 2 năm tuổi đã được trẻ hóa tại vườn ươm của Trường Đại học Tây Bắc, Sơn La.
- Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống Nghiến được tiến hành tại vườn ươm Trường Đại học Tây Bắc, thành phố Sơn La
Nghiên cứu xây dựng các mô hình trồng thử nghiệm đã được thực hiện tại xã Tỏa Tình, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên và xã Mường Giàng, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La.
5.2.3 Giới hạn về thời gian nghiên cứu
- Nghiên cứu về nhân giống Nghiến từ hạt trong vườn ươm được theo dõi đến khi cây được 12 tháng tuổi
- Các thí nghiệm về giâm hom Nghiến được theo dõi trong 30 tuần/mỗi lần thí nghiệm
- Thí nghiệm trồng Nghiến được tiến hành tháng 8/2014 và nghiên cứu sinh trưởng trong hơn 4 năm (đến tháng 8/2018)
- Nghiên cứu vật hậu được tiến hành từ tháng 01/2014 đến tháng 8/2016.
Bố cục luận án
Luận án bao gồm các phần chính như lời cam đoan, lời cảm ơn, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng biểu, hình ảnh, tài liệu tham khảo và các phụ lục.
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu 25 trang
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu 23 trang
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 71 trang
Kết luận, tồn tại và kiến nghị 3 trang
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trên thế giới
1.1.1 Đặc điểm lâm học loài Nghiến
1.1.1.1.Đặc điểm phân bố tự nhiên, sinh lý, sinh thái của cây Nghiến
Nghiến (Burretiodendron hsienmu Chun et How) thuộc họ Đay (Tiliaceae), theo tiếng Trung Quốc gọi là Xianmu (Wang Xianpu, jin Xiaobai, Sun Chengyong
In addition to its primary name, Nghiến is also known by several scientific synonyms, including Burretiodendron tonkinense (Gagnep.) Kosterm., Burretiodendron tonkinensis Kosterm., Excentrodendron hsienmu (Chun et How) Chang et Mian, and Pentace tonkinensis A.Chev For more information, refer to the online plant database TPL.
Nghiến, được phát hiện lần đầu vào năm 1956 tại Trung Quốc bởi Chun Woon-young và How Foon-chew, mang tên khoa học là Burretiodendron hsienmu Tên gọi này đã được sử dụng rộng rãi cho đến nay Vào năm 1978, Chiang Hong Ta và Mian Ru Huai đã mô tả lại loài này, chỉ ra những điểm khác biệt so với mô tả của Chun và How, và đề xuất thành lập một chi riêng.
Tên khoa học đồng nghĩa Excentrodendron hsienmu (Chun et How) Chang et Mian đã được đề xuất vào năm 1978, nhưng cho đến nay vẫn chưa được sử dụng phổ biến (Wang Xianpu, Jin Xiaobai, Sun Chengyong, 1986) [82].
Nghiên cứu của Li và Wang (1964) cho thấy loài Nghiến phân bố tại Trung Quốc, chủ yếu ở phía Tây Nam Khu tự trị Quảng Tây, mở rộng về phía Tây tới Tây Nam tỉnh Vân Nam Phạm vi phân bố của loài này nằm trong khoảng vĩ độ 22°05' đến 24°16' Bắc và 105°00' đến 108°06' Đông, thuộc khu vực cận nhiệt đới và nhiệt đới phía Bắc.
Nghiến là loài cây có vùng phân bố hẹp, chỉ xuất hiện trong các khu rừng lá rộng thường xanh trên núi đá vôi, trải dài từ phía Nam Trung Quốc (Quảng Tây, Vân Nam) đến các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam (Ban N.T., 1998).
Nghiến là loài cây đặc hữu của các tỉnh biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam, thuộc khu hệ thực vật Indo - Malaysia, và có giá trị kinh tế quan trọng đối với Trung Quốc.
Nghiên cứu của Li Shiying và cộng sự (1956) cùng Hu Shunshi và cộng sự (1980) cho thấy Nghiến phát triển tốt trên núi đá vôi tinh khiết, thường ở các sườn dốc, trên đá trần hoặc trong đất nông Loài cây này không thể tồn tại ở các khu vực đồi núi với bề mặt từ đá có tính axit như sa thạch hoặc đá phiến sét, ngay cả khi độ dốc nhẹ và tầng đất sâu Ở phía Bắc khu vực nhiệt đới, Nghiến thường chiếm lĩnh các tầng trên của rừng nhiệt đới trên núi đá vôi Dưới 700m so với mực nước biển, Nghiến mọc rải rác và hỗn giao với các loài cây nhiệt đới như Garcinia paucinervis và Drypetes perreticulata Từ 700 - 900m, Nghiến phân bố tập trung thành quần thể ưu thế, sinh trưởng tốt và hỗn giao với các loài cây cận nhiệt đới như Cinnamomum calcarea Ở phía Bắc, Nghiến không phân bố liên tục mà nằm rải rác kéo dài đến 24°16' vĩ độ Bắc.
Nghiên cứu của A.J.G.H Kostermans (1961) về chi Burretiodendron đã mô tả đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của loài Nghiến Loài Nghiến là cây gỗ lớn với vỏ màu xám dày tới 1cm, bong mảng lớn Hoa của cây có màu trắng và là hoa đơn tính, trong khi quả nang có hình elip, dài 5,5cm và rộng 3,5cm, với hạt dài 1cm.
Wang Xianpu và cộng sự (1986) đã khẳng định trong báo cáo “Burretiodendron hsienmu Chun & How: Đặc điểm sinh thái học và bảo vệ loài” rằng Nghiến là một loài cây gỗ lớn, có thể cao tới 40 m với thân tròn, thẳng và gốc có bạnh vè Cuống lá dài từ 3,5 đến 6,5 cm, trong khi mặt lá có màu xanh và có hình cầu, hình trứng hoặc elip với kích thước đa dạng.
Cây có kích thước lá khoảng 14) × (5-8) cm, bề mặt nhẵn và bóng, khi trưởng thành sẽ chuyển sang màu vàng - nâu Nách gân lá có tuyến và túm lông, với 3 gân gốc, đỉnh lá nhọn và đuôi lá hình tim.
Nghiến lâu năm thường có bạnh vè, đường kính ngang ngực có thể phát triển đạt 1 -
Cây Nghiến có hệ rễ dày, nổi lên bề mặt đá vôi và có khả năng vươn rộng hơn đường kính tán lá Các chồi và lá non của cây có nhựa dính, trong khi lá trưởng thành dày, cứng và phát triển cấu trúc xeromorphic giúp cây thích nghi với môi trường khô và biên độ nhiệt lớn Tán lá dày và cành nhánh phát triển mở rộng tạo thành bức khảm tối ưu hóa việc tận dụng ánh sáng mặt trời Theo nghiên cứu của Wang Xianpu và cộng sự (1986), Burretiodendron hsienmu ở Trung Quốc xuất hiện tại những nơi có nhiệt độ trung bình hàng năm từ 19,1 o C đến 22,0 o C, với nhiệt độ tháng lạnh nhất từ 10,9 o C đến 13,9 o C và tháng nóng nhất từ 25,1 o C đến 28,4 o C Nhiệt độ tối thiểu trong năm dao động từ -0,8 o C đến -1,9 o C, với nhiệt độ tích lũy hàng năm từ 6.269,2 o C đến 7.812 o C Lượng mưa hàng năm cao từ 1.100 mm đến 1.500 mm, nhưng phân bố không đều, với 80% lượng mưa tập trung từ tháng tư đến tháng chín, trong khi mùa đông chỉ chiếm 5 - 7% tổng lượng mưa Độ ẩm không khí trung bình khoảng 70%, và khí hậu hai mùa mưa khô rõ rệt là nguyên nhân hình thành các u bướu trên thân hoặc gốc cây Nghiến.
1.1.1.2 Nghiên cứu về vật hậu
Theo nghiên cứu của Wang Xianpu, Jin Xiaobai, Sun Chengyong (1986), cây Nghiến ra hoa vào tháng 3 - 4 và quả nang chín trong khoảng tháng 6 - 7, nhưng quá trình ra hoa và chín không diễn ra đồng loạt Hạt của cây có thể rơi xuống đất và nảy mầm nhanh chóng hoặc thối rữa, do đó, việc thu hoạch hạt giống cần được thực hiện kịp thời khi chúng vẫn còn trên cây Chu kỳ sai quả của cây thường kéo dài từ hai đến ba năm hoặc lâu hơn, tùy thuộc vào điều kiện khí hậu.
1.1.1.3 Giá trị sử dụng và mức độ nguy cấp của Nghiến
Gỗ Nghiến có nhiều tác dụng và giá trị kinh tế cao, dẫn đến việc bị khai thác mạnh mẽ, gây nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên Theo nghiên cứu của Wang Xianpu và cộng sự (1986), gỗ Nghiến rất chắc chắn.
Cây Nghiến có đặc tính cơ học tốt, thích hợp cho sản xuất dụng cụ lao động, thớt, đồ nội thất và trong xây dựng Thân cây Nghiến được sử dụng để làm bánh xe Là một cây calciphilous, Nghiến chứa ít lưu huỳnh và mangan nhưng giàu canxi và nitơ, có thể cải tạo đất hiệu quả Tại các khu rừng có Nghiến, lá cây rụng hàng năm tạo thành lớp vật rơi dày đến 15 cm, trong khi đất có 5 - 10% chất hữu cơ, lớp đất phân hủy lá và cành cây có thể chứa tới 23,02% chất hữu cơ.
Nghiến là một loài cây đang trong tình trạng bị tổn thương và khai thác kiệt, đòi hỏi biện pháp bảo vệ khẩn cấp để thúc đẩy tái sinh Nếu không có hành động kịp thời, loài cây này có nguy cơ tuyệt chủng hoàn toàn trong tự nhiên.
Ở Việt Nam
1.2.1 Đặc điểm lâm học loài Nghiến
1.2.1.1 Đặc điểm phân bố tự nhiên, sinh lý, sinh thái của cây Nghiến
Nghiến, còn được biết đến với các tên gọi như Kiên quang, Nghiến đỏ, Nghiến trứng, Kiêng mật và Kiêng đỏ, có tên khoa học là Burretiodendron hsienmu Chun et How, thuộc họ Đay (Tiliaceae) Ngoài ra, loài cây này còn có nhiều tên khoa học đồng nghĩa khác như Excentrodendron hsienmu (Chun et How) Chiang et Miau và Pentace tonkinensis A.Chev.
Theo nghiên cứu của Nam (2007) và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2000), cũng như các tác giả Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên (2002), Nghiến được biết đến với tên gọi Pá tông trong tiếng của người dân tộc H’Mông tại Sơn La.
Nghiến là cây gỗ lớn, có chiều cao trên 30m và đường kính có thể đạt tới 100cm Loài cây này ưa sáng nhưng trong 1-2 năm đầu cần được che bóng nhẹ Nghiến phát triển tốt trên đất có chất lượng cao, thường mọc tập trung thành quần thể ở độ cao từ 800m trên vùng núi đá vôi.
Thân cây Nghiến tròn thẳng, có vỏ màu xám hoặc xám nâu và bong mảng Lá đơn mọc cách, hình trứng tròn với đầu nhọn dần và mũi lồi dài, có đuôi hình tim hoặc gần tròn, kích thước từ 8 - 12 cm Phiến lá dày, cứng, nhẵn bóng, mép nguyên và có 3 gân gốc Nách gân lá có tuyến và túm lông, trong khi cuống lá dài từ 3,5 - 5 cm và hơi đỏ Lá non có đặc điểm hơi dính.
Hoàng Kim Ngũ và cộng sự (2000) đã tiến hành nghiên cứu đánh giá sự tái sinh của loài Nghiến tại các vùng núi đá vôi ở Cao Bằng và Bắc Kạn, trong đó cung cấp những mô tả chi tiết về đặc điểm hình thái của Nghiến tái sinh, đặc biệt là những cây dưới 3 tuổi.
- Cây mầm (cây dưới 6 tháng tuổi) lá có dạng hình tai, thân mềm, dài 3,89 - 4,5cm, rộng 2,4cm, rễ dài trung bình 4,6cm
- Ở tầng thảm mục, rễ mầm dài tới 10cm, đây là những đặc điểm cơ bản để xác định cây mầm;
Cây con, với độ tuổi trên 6 tháng, có thân thẳng, tròn và chưa phân cành, đường kính trung bình đạt 0,45cm và chiều cao tối đa lên tới 45cm Vỏ ngoài của cây có màu xanh xám, trong khi phần non mang màu xanh tươi.
Cây một tuổi có lá đơn mọc cách vòng, thường có 6 - 8 lá tập trung ở đỉnh sinh trưởng, với 2 lá kèm hình tam giác rụng sớm Phiến lá gần tròn, đuôi lá nhọn, gốc lá hình tim, màu xanh thẫm, trong khi lá non có màu đỏ Gân lá nổi rõ với hệ gân chân chim (3 gân gốc) và các gân thứ cấp hợp mép, lá dài từ 6 - 8cm, khi rụng để lại vết sẹo hình đế ngược Rễ cấp I có thể dài 35cm, phát triển mạnh mẽ và đâm sâu, giúp cây đứng vững Rễ cấp II phát triển nhiều ở tầng đất mặt, với chiều dài bình quân đạt 18cm.
Tán rễ của cây lớn hơn tán lá, giúp cây đứng vững trên núi đá và thu hút chất dinh dưỡng từ tầng mùn, đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng trong giai đoạn đầu phát triển.
Nghiên cứu của Phàng Thị Thơm (2009) về đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của cây Nghiến tại khu vực Thuận Châu, Sơn La cho thấy rằng hiện nay, những cây Nghiến cổ thụ đã bị khai thác kiệt quệ Hiện tại, chỉ còn lại những cây có đường kính rất nhỏ, dao động từ 19 đến 24,7 cm, và chiều cao từ 15,4 đến 18,5 cm.
Cây trưởng thành có chiều cao dưới cành thấp và chiều dài cuống lá đạt 5,1 cm Tác giả đã nghiên cứu một số đặc điểm hình thái của lá và rễ, cho thấy những đặc điểm này có sự liên quan chặt chẽ đến sự phát triển của cây.
Cây tái sinh có chiều dài lá từ 8,8 đến 11,9 cm và chiều rộng lá từ 7,2 đến 7,7 cm Vỏ cây gần gốc có màu xám, trong khi phần ngọn có màu xanh Lá non của cây hơi dính, và cây Nghiến sở hữu hệ rễ cọc phát triển mạnh, giúp cây đứng vững và ăn sâu xuống đất.
Nghiến là loài cây mọc tự nhiên trên các vùng núi đá vôi tại Việt Nam và Trung Quốc Ở Việt Nam, Nghiến phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Cao Bằng, Tuyên Quang, Hòa Bình, Lạng Sơn, Sơn La, Điện Biên, Thái Nguyên và Bắc Kạn, thường xuất hiện trên các núi đá vôi có pH từ 6,2 đến 7,2 Loài cây này thường mọc thành quần thể ưu thế ở độ cao dưới 800m.
Phạm Quốc Hùng và các cộng sự (2010) đã phát hiện Nghiến phân bố tự nhiên ở nhiều tỉnh miền núi phía Bắc, bao gồm Khu Bảo tồn Sốp Cộp (Sơn La), Vườn Quốc gia Ba Bể (Bắc Kạn), Vườn Quốc gia Xuân Sơn (Phú Thọ), Khu Bảo tồn Thần Sa - Phượng Hoàng (Thái Nguyên), Khu Bảo tồn Tây Côn Lĩnh (Hà Giang), Khu Bảo tồn Na Hang (Tuyên Quang), Khu Bảo tồn Hữu Liên (Lạng Sơn), Khu Bảo tồn Ngọc Sơn – Ngổ Luông (Hòa Bình), và Khu bảo tồn Hang Kia - Pà Cò (Hòa Bình).
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Ngọc (2009) [42], Phàng Thị Thơm
Nghiến thường phân bố cùng với các loài cây khác như Lát hoa, Xương cá, Nhãn rừng, Mạy tèo và Cà muối tại khu vực Sơn La, theo nghiên cứu năm 2009.
1.2.1.2 Nghiên cứu về vật hậu
Nghiến có hoa đơn tính, với hoa đực có đường kính 1,5cm và đài hình chuông, xẻ 5 thùy sâu, dài 1,5cm Cánh hoa dài 1,3cm, nhị khoảng 25, xếp thành 5 bó, chỉ nhị dài 1 – 1,3cm, bao phấn hình bầu dục, dài 3mm Quả khô có 5 cạnh, giống quả khế, tự mở, đường kính 1,8cm Cây ra hoa vào tháng 3 – 4 và quả chín từ tháng 8 – 10 Nghiến ưa sáng, thường mọc trong các khu rừng thường xanh mưa mùa ẩm ở vùng núi đá vôi có độ cao dưới 800m.
Tái sinh bằng hạt, cây mạ và cây con gặp khá phổ biến dưới tán rừng
1.2.1.3 Giá trị sử dụng và mức độ nguy cấp của Nghiến