1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng công tác chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật có kế hoạch tại bệnh viện răng hàm mặt trung ương hà nội năm 2022

39 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng công tác chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật có kế hoạch tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội năm 2022
Tác giả Lê Thị Liên
Người hướng dẫn TS. Trương Tuấn Anh
Trường học Trường Đại Học Điều Dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Ngoại người lớn
Thể loại Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Cơ sở lý luận (10)
  • 1.2. Cơ sở thực tiễn (15)
    • 1.2.1. Trên Thế giới (15)
    • 1.2.2 Tại Việt Nam (15)
    • 1.2.3. Các văn bản quy định về việc chuẩn bị người bệnh trước khi phẫu thuật (17)
  • CHƯƠNG 2: MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT (10)
    • 2.1. Giới thiệu sơ lược về bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội (18)
    • 2.2. Phương pháp thu thập số liệu (19)
    • 2.3. Thực trạng công tác chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật (20)
  • CHƯƠNG 3: BÀN LUẬN (18)
    • 3.1. Thực trạng chung của vấn đề khảo sát (26)
    • 3.2. Ưu điểm và nhược điểm, tồn tại hạn chế (29)
  • KẾT LUẬN (31)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (34)
  • PHỤ LỤC (36)

Nội dung

LÊ THỊ LIÊN THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHUẨN BỊ NGƯỜI BỆNH TRƯỚC PHẪU THUẬT CÓ KẾ HOẠCH TẠI BỆNH VIỆN RĂNG HÀM MẶT TRUNG ƯƠNG HÀ NỘI NĂM 2022 Chuyên ngành: Ngoại người lớn BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐ

Cơ sở lý luận

1.1.1 Vai trò của công tác chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật

Tai biến trong điều trị và phẫu thuật là những sự cố không mong muốn gây hại cho bệnh nhân, xảy ra trong quá trình chăm sóc và điều trị Những tai biến này, dù ở mức độ nào, đều có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần và thể chất của người bệnh Nhiều tai biến phát sinh do thiếu sót trong công tác chuẩn bị và kiểm soát bệnh nhân trước, trong và sau phẫu thuật Tuy nhiên, các tai biến này có thể được kiểm soát và giảm thiểu nếu công tác chuẩn bị trước phẫu thuật được thực hiện một cách nghiêm túc và cẩn trọng Do đó, việc chuẩn bị bệnh nhân trước phẫu thuật cần tuân theo quy trình nhất định để tránh sai sót.

Công tác chuẩn bị người bệnh phải được thực hiện xuyên suốt từ khi người bệnh có chỉ định phẫu thuật đến khi họ được phẫu thuật

1.1.2 Mục đích của công tác chuẩn bị trước phẫu thuật

Công tác chuẩn bị trước phẫu thuật nhằm:

Chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật là bước quan trọng đầu tiên cho các hoạt động gây mê hồi sức Quy trình này cần sự phối hợp của đội ngũ y tế, bao gồm bác sĩ phẫu thuật, bác sĩ gây mê, kỹ thuật viên và điều dưỡng, với người bệnh là trung tâm Mục tiêu của công tác chuẩn bị là đảm bảo an toàn tối đa cho người bệnh, tạo điều kiện thuận lợi cho phẫu thuật và nâng cao tỷ lệ thành công.

1.1.3 Nội dung của công tác chuẩn bị người bệnh

Chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật bao gồm những việc sau:

Chuẩn bị trước phẫu thuật cho người bệnh bao gồm các phần:

 Thăm khám trước gây mê

 Đánh giá nguy cơ bệnh nhân trước khi gây mê

 Chuẩn bị bệnh nhân trước khi gây mê

 Lập kế hoạch gây mê hồi sức[7]

Thăm khám người bệnh trước khi gây mê là bước quan trọng trong chuẩn bị phẫu thuật Việc thực hiện thăm khám lâm sàng hệ thống, kết hợp với các xét nghiệm cận lâm sàng và tìm hiểu tiền sử bệnh sẽ giúp bác sĩ gây mê đánh giá chính xác tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.

Thăm khám lâm sàng gồm những phần sau đây:

 Các bệnh nội khoa: tim mạch, hô hấp, thần kinh cơ, các bệnh nội tiết…

Khi thảo luận về các thuốc đang sử dụng, cần hỏi kỹ về liều lượng, thời gian sử dụng và đáp ứng với thuốc Đặc biệt chú ý đến các loại thuốc điều trị tăng huyết áp, bệnh mạch vành, loạn nhịp, thuốc điều trị đái tháo đường và thuốc chống đông.

 Các tiền sử khác: tiền sử gây mê hồi sức, tiền sử dị ứng phản ứng thuốc, tiền sử dị ứng với thức ăn, thời tiết, hóa chất…

 Các thói quen: hút thuốc lá, nghiện rượu bia, nghiện thuốc phiện…

 Khám lâm sàng: thăm khám một cách hệ thống như khám nội khoa thông thường, chú ý đánh giá đường hô hấp trên

Khám toàn trạng bao gồm đánh giá tinh thần, hô hấp, tuần hoàn, thần kinh, bụng và cột sống, cùng với việc kiểm tra các dấu hiệu lâm sàng của Mallampati để xác định nguy cơ khó khăn trong việc đặt nội khí quản.

Một số yếu tố tiên lượng có thể làm cho việc đặt nội khí quản trở nên khó khăn bao gồm: há miệng hạn chế, khoảng cách giữa cằm và giáp, hạn chế vận động của cột sống cổ, sự hiện diện của các khối u ở vùng cổ và hầu họng, tình trạng béo phì, và cổ ngắn.

Phát hiện và điều trị kịp thời mọi ổ nhiễm khuẩn, cả ở ngoài và tại vị trí phẫu thuật, là rất quan trọng trước khi tiến hành phẫu thuật có chuẩn bị Đồng thời, việc đánh giá các nguy cơ của bệnh nhân trước khi gây mê cũng cần được thực hiện để đảm bảo an toàn trong quá trình phẫu thuật.

Hệ thống phân loại tình trạng sức khỏe ASA, được Hội Gây mê Hồi sức Mỹ giới thiệu vào năm 1963, là công cụ quan trọng trong việc đánh giá bệnh nhân trước phẫu thuật và đã được áp dụng rộng rãi trên toàn cầu Hiện nay, phân loại này đã được cập nhật, cho phép đánh giá tình trạng sức khỏe của bệnh nhân theo 6 mức độ từ nhẹ đến nặng.

Thực hiện các xét nghiệm, cận lâm sàng

 Các xét nghiệm cơ bản;

 Công thức máu, nhóm máu

 Các xét nghiệm virút: HIV, HbsAg, HCV

 Các xét nghiệm khác tùy theo tình trạng người bệnh và cuộc phẫu thuật

 Sinh hóa: đường, điện giải, chức năng gan thận…

Xét nghiệm định lượng glucose máu là cần thiết trước mọi phẫu thuật, với mục tiêu duy trì mức glucose máu ở ngưỡng sinh lý 6 mmol/L trong suốt quá trình phẫu thuật và kéo dài đến 48 giờ sau phẫu thuật.

Xét nghiệm định lượng albumin huyết thanh là cần thiết cho tất cả bệnh nhân phẫu thuật phiên Đối với những bệnh nhân suy dinh dưỡng nặng, cần xem xét việc trì hoãn phẫu thuật và thực hiện bồi dưỡng để nâng cao thể trạng trước khi tiến hành phẫu thuật.

 Định lượng hormon tuyến giáp, tuyến thượng thận

 Điện tim với các bệnh nhân có tiền sử tim mạch hoặc trên 60 tuổi

 Chức năng hô hấp với các bệnh nhân có tiền sử bệnh phổi (hen phế quản, COPD) hoặc phẫu thuật phổi [4]

 Chuẩn bị người bệnh trước khi gây mê

Chuẩn bị người bệnh ngày trước phẫu thuật

Cởi bỏ tư trang của người bệnh là rất quan trọng; điều dưỡng nên gửi tư trang cho thân nhân và bàn giao cẩn thận, vì những vật này có thể gây trở ngại trong tư thế phẫu thuật và làm nhiễm khuẩn vùng phẫu thuật Tốt nhất là hướng dẫn người bệnh cởi bỏ tư trang và để lại nhà trước khi nhập viện.

Tháo răng giả là yêu cầu quan trọng để tránh những trở ngại trong việc hô hấp, như gãy hoặc sứt răng giả, và ngăn ngừa dị vật rơi vào khí quản.

 Túc dài thắt bớm lại hay buộc túc gọn gàng Túc giả cần ủược lấy ra vỡ nú là nguyên nhân gây nhiễm trùng cho vùng phẫu thuật

 Móng tay sơn: chùi sạch móng tay, móng chân có sơn màu giúp quan sát, theo dõi màu sắc da niêm, móng chính xác

Trước khi phẫu thuật, người bệnh cần được vệ sinh sạch sẽ, đặc biệt là vùng phẫu thuật, bằng xà bông sát khuẩn Vào tối trước ngày phẫu thuật và/hoặc sáng ngày phẫu thuật, người bệnh nên tắm bằng dung dịch xà phòng khử khuẩn chứa iodine hoặc chlorhexidine Trong thời gian nằm viện trước phẫu thuật, có thể tắm khô bằng khăn tẩm dung dịch chlorhexidine 2% từ 1-2 lần/ngày, chú ý đến vùng da phẫu thuật Không nên loại bỏ lông trước phẫu thuật, trừ trường hợp phẫu thuật sọ não hoặc khi lông tại vị trí rạch da ảnh hưởng đến thao tác Nếu cần loại bỏ lông, nhân viên y tế sẽ thực hiện trong vòng 1 giờ trước phẫu thuật, sử dụng kéo cắt hoặc máy cạo râu, không dùng dao cạo.

Trước phẫu thuật, bệnh nhân cần ăn nhẹ loãng vào chiều hôm trước và hoàn toàn nhịn ăn vào tối hôm trước, thường là tối thiểu 8 giờ trước phẫu thuật Nên ngưng uống nước ít nhất 4 giờ trước khi phẫu thuật Vào sáng hôm sau, bệnh nhân sẽ được truyền dịch trước khi phẫu thuật Nếu bệnh nhân được gây tê, không cần nhịn ăn uống vào tối trước phẫu thuật, chỉ cần nhịn ăn vào sáng hôm phẫu thuật.

 Thụt tháo: cần làm sạch ruột tối hôm trước và sáng hôm phẫu thuật như uống thuốc xổ, bơm hậu môn bằng dung dịch tẩy xổ

Sử dụng kháng sinh dự phòng (KSDP) trong các phẫu thuật sạch và sạch – nhiễm là cần thiết KSDP nên được áp dụng với liều ngắn ngày ngay trước phẫu thuật để tiêu diệt các vi khuẩn xâm nhập vào vết phẫu thuật trong quá trình thực hiện.

Vào buổi sáng hôm phẫu thuật:

 Thụt tháo lại sáng trước phẫu thuật, cũng tuỳ vào từng loại phẫu thuật nhưng thường phẫu thuật đại tràng việc này là rất cần thiết

 Chuẩn bị người bệnh: người bệnh thay đồ phẫu thuật sau khi tắm sạch vào buổi sáng

Cơ sở thực tiễn

Trên Thế giới

Theo nghiên cứu đáng tin cậy từ Bồ Đào Nha của các tác giả Berendina Elsina Bouwman Christóforol và Denise Siqueira Carvalho, một số thủ tục trước phẫu thuật được thực hiện thường xuyên hơn so với các thủ tục khác Cụ thể, 41% bệnh nhân không được tắm rửa, 30% bệnh nhân sử dụng răng giả nhưng chỉ 73% trong số đó được yêu cầu tháo răng trước phẫu thuật Ngoài ra, 64% bệnh nhân mặc áo choàng phẫu thuật, 30% mặc đồ ngủ, và 6% mặc áo choàng thông thường.

Tại Việt Nam

Nghiên cứu của Đoàn Quốc Hưng (2011) và các cộng sự tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức cho thấy rằng nhận thức về tầm quan trọng của việc chuẩn bị người bệnh trước mổ tim hở chưa được đồng đều giữa các thầy thuốc và điều dưỡng Một tỷ lệ lớn bệnh nhân (84,6%) vẫn chưa được thông tin đầy đủ về các can thiệp sau phẫu thuật, trong khi 47,3% chưa biết nơi nằm điều trị sau phẫu thuật Hơn nữa, 36,3% bệnh nhân không nhận được sự giải thích trực tiếp từ bác sĩ gây mê trước phẫu thuật, và 46% điều dưỡng viên chưa chú trọng đến việc chăm sóc tinh thần cho bệnh nhân trước khi phẫu thuật.

Trong một nghiên cứu, 63,7% bác sĩ đã giải thích thông tin về phẫu thuật cho cả người bệnh và người nhà, trong khi 36,3% chỉ cung cấp thông tin cho người nhà Đáng chú ý, tỷ lệ bệnh nhân không được hướng dẫn tháo răng giả lên tới 77%, với 67% bệnh nhân không nhận được sự căn dặn cần thiết.

Theo đánh giá của tác giả Bùi Thị Huyền (2015), thực trạng chuẩn bị và bàn giao người bệnh (NB) trước phẫu thuật tại khoa Phẫu thuật cho thấy nhiều thiếu sót Cụ thể, có 1,3 - 2% phiếu khám trước phẫu thuật còn thiếu thông tin Tỷ lệ vệ sinh toàn thân và tại chỗ chưa đạt yêu cầu, với 58% chưa thực hiện, 66,7% chưa thụt tháo, và 84,7% chưa băng vô trùng để xác định vùng mổ Về quy trình bàn giao, điều dưỡng chỉ kiểm tra lại thông tin người bệnh trong 3,3% trường hợp, và 48% chưa thực hiện ký nhận giữa người đưa và người nhận NB Kiểm tra thực tế cho thấy tỷ lệ vệ sinh toàn thân và tại chỗ thấp hơn so với kết quả trong phiếu chuẩn bị NB trước phẫu thuật, chỉ đạt 28% so với 42%.

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Mai Phương (2016) chỉ ra rằng công tác chuẩn bị tiền phẫu và bàn giao bệnh nhân trước mổ tại bệnh viện Mắt thành phố Hồ Chí Minh còn nhiều thiếu sót Cụ thể, hồ sơ bệnh án chưa đầy đủ, với 16,7% biên bản hội chẩn phẫu thuật thiếu chữ ký của chủ tọa, 20,5% không khai thác tiền sử dị ứng, và 2,4% không có cam kết phẫu thuật Ngoài ra, 43,3% phiếu chăm sóc không ghi đúng quy định, và hầu hết bệnh nhân không được thông báo về các biến chứng có thể xảy ra sau phẫu thuật cũng như cách tự chăm sóc và phát hiện các biến chứng này.

Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Thảo (2016) và cộng sự đã khảo sát thực trạng chuẩn bị cho người bệnh trước khi phẫu thuật tại Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí.

Năm 2016, chỉ có 68% bệnh nhân được bác sĩ gây mê khám trước phẫu thuật, trong khi 89,5% bệnh nhân ký cam kết đầy đủ Đáng chú ý, 89,9% bệnh nhân được đánh dấu vị trí phẫu thuật và thực hiện sát khuẩn băng kín Tất cả bệnh nhân đều được thụt tháo và đo DHST trước khi chuyển mổ.

Tác giả Nguyễn Văn Hiếu (2021) đã khảo sát 330 bệnh nhân trước phẫu thuật tại khoa Phẫu thuật tiêu hóa, Bệnh viện Việt Đức Kết quả cho thấy còn tồn tại một số vấn đề, bao gồm thiếu sót trong thủ tục hồ sơ bệnh án, cần chú trọng hơn đến hỗ trợ giải quyết bảo hiểm y tế Việc định danh bệnh nhân cần được thực hiện đầy đủ và chính xác, với các bệnh nhân vô danh được xác định bằng mã bệnh nhân Ngoài ra, bệnh nhân cần được vệ sinh vùng mổ tốt, và tỷ lệ tắm trước mổ cần đạt yêu cầu.

Nhân viên y tế cần cung cấp hướng dẫn chi tiết cho bệnh nhân về cách sử dụng thuốc nhuận tràng và vệ sinh vùng hậu môn Đối với những bệnh nhân cần thụt tháo, việc động viên và hỗ trợ tâm lý là rất quan trọng để tránh gây hoang mang trước phẫu thuật.

MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT

Giới thiệu sơ lược về bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội

Bệnh viện có 10 khoa điều trị ngoại trú và 3 khoa điều trị nội trú, trong đó các bệnh nhân phẫu thuật theo kế hoạch chủ yếu đến từ hai khoa nội trú: khoa Phẫu thuật hàm mặt và khoa Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ.

Theo thống kê của phòng Kế hoạch tổng hợp, năm 2021, bệnh viện đã thực hiện trung bình hơn 53.000 ca phẫu thuật Trong số đó, có 1.083 ca phẫu thuật loại đặc biệt, 9.053 ca phẫu thuật loại 1, 10.498 ca phẫu thuật loại 2 và 32.810 ca phẫu thuật loại 3.

Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội đã thiết lập quy trình chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật đồng nhất trên toàn bệnh viện Quy trình này bắt đầu từ khi người bệnh nhập viện và được tiếp đón tại khoa điều trị, cho đến khi họ được đưa vào phòng phẫu thuật.

Phương pháp thu thập số liệu

Người bệnh và hồ sơ bệnh án của họ được chỉ định phẫu thuật theo kế hoạch tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội trong thời gian khảo sát.

Người bệnh phẫu thuật cần có kế hoạch trong giờ hành chính từ 8h đến 16h30, phải tỉnh táo, đến phòng mổ trước 30 phút và có khả năng trả lời các câu hỏi.

+ Đối với trẻ em dưới 15 tuổi, phỏng vấn người nhà chăm sóc chính đi kèm

+ Người bệnh chỉ định phẫu thuật cấp cứu

+ Người bệnh phẫu thuật ngoài giờ hành chính

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu

Thu thập số liệu trong hồ sơ bệnh án và đánh giá việc chuẩn bị phẫu thuật theo bảng kiểm: đánh giá việc chuẩn bị hồ sơ bệnh án,

Phỏng vấn người bệnh 30 phút trước khi phẫu thuật tại phòng chờ nhằm đánh giá công tác chuẩn bị tinh thần và các bước chuẩn bị trước ngày mổ Đồng thời, khảo sát sự hài lòng của người bệnh về quy trình chuẩn bị trong ngày mổ cũng được thực hiện để cải thiện chất lượng dịch vụ.

Quy trình thu thập số liệu

Bước 1: Trước ngày phẫu thuật: thu thập danh sách người bệnh phẫu thuật từ phòng KHTH

Bước 2: Tiếp cận người bệnh, giải thích về nghiên cứu và lấy phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu

Trong ngày phẫu thuật, 30 phút trước khi tiến hành, NCV sẽ phỏng vấn người bệnh để chuẩn bị tinh thần, đánh giá sự hài lòng và tình trạng lo âu của họ, cũng như công tác chuẩn bị trước ngày mổ.

Bước 4: Thu thập số liệu trong hồ sơ bệnh án điện tử.

BÀN LUẬN

Thực trạng chung của vấn đề khảo sát

Việc khai thác tiền sử dị ứng, tiền sử bệnh nội khoa, tiền sử dùng thuốc và chất kích thích là rất quan trọng để đảm bảo an toàn cho người bệnh trong công tác gây mê và điều trị sau phẫu thuật Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ người bệnh được hỏi đầy đủ về tiền sử đạt 99%-100%, cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai Phương (79,5%) và tương đương với nghiên cứu của Bùi Thị Huyền (100%) và Đoàn Quốc Hưng (97,8%) Kết quả này đạt được nhờ bệnh viện triển khai đồng bộ bệnh án điện tử, trong đó việc nhập thông tin về tiền sử và bệnh sử là bắt buộc, giúp tỷ lệ thực hiện đạt 100%.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ người bệnh được thực hiện đầy đủ khám lâm sàng trước phẫu thuật đạt 100% Khám lâm sàng bao gồm việc đánh giá toàn trạng và khó khăn trong việc đặt nội khí quản, cũng như phân loại người bệnh theo ASA, được thực hiện rất tốt bởi các bác sĩ tại bệnh viện Tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Trần Thị Thảo, chỉ đạt 68%.

Khám lâm sàng trước phẫu thuật là một bước quan trọng và bắt buộc, đảm bảo rằng tất cả các nội dung liên quan được phẫu thuật viên hoàn thiện đầy đủ trước ngày phẫu thuật Kết quả của Nguyễn Thị Mai Phương đạt 100%, cho thấy sự cần thiết của việc thực hiện khám lâm sàng một cách nghiêm túc.

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng trước phẫu thuật cho thấy chiều cao, cân nặng và BMI đạt 100% Tuy nhiên, chỉ có 75,6% bệnh nhân thực hiện đánh giá tình trạng dinh dưỡng một cách tốt và đầy đủ Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Mai.

Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh được đánh giá bởi bác sĩ điều trị và điều dưỡng, nhưng tỷ lệ thực hiện chỉ đạt 64,3%, thấp hơn so với tác giả Đoàn Quốc Hưng (100%) Nguyên nhân có thể do sự phối hợp giữa bác sĩ và điều dưỡng chưa hiệu quả, cùng với việc thiếu sự kiểm tra từ khoa dinh dưỡng, dẫn đến một tỷ lệ chưa thực hiện đầy đủ phiếu đánh giá tình trạng dinh dưỡng.

Tỷ lệ hồ sơ bệnh án được chuẩn bị đầy đủ đạt 100%, bao gồm các nội dung như kết quả xét nghiệm, phiếu cam kết phẫu thuật, biên bản hội chẩn, phiếu theo dõi chức năng sống, phiếu chăm sóc, phiếu truyền dịch, và các giấy tờ liên quan đến bảo hiểm và viện phí Kết quả này vượt trội hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai Phương với tỷ lệ ghi chép phiếu chăm sóc và theo dõi lần lượt là 87,6% và 86,7%, cũng như cao hơn so với Nguyễn Thị Ngọc Dung (77,1%) Việc chuẩn bị hồ sơ bệnh án là thủ tục bắt buộc trước phẫu thuật, đảm bảo tính pháp lý cho nhân viên y tế và là dữ liệu cần thiết trong bệnh án điện tử Do đó, tỷ lệ thực hiện hồ sơ bệnh án đạt 100%.

Tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương, thông tin về ngày phẫu thuật được công khai, nhưng giờ phẫu thuật lại chưa được thông báo cụ thể, dẫn đến tỷ lệ người bệnh được thông báo đầy đủ chỉ đạt 23,33% Kết quả này thấp hơn so với các nghiên cứu trước đó của Nguyễn Thị Mai Phương (71,9%) và Nguyễn Thị Ngọc Dung (89,3%) Chỉ có 42,22% người bệnh được giải thích về thời gian dự kiến của cuộc phẫu thuật, cũng thấp hơn so với tác giả Mai Phương Việc thông báo rõ ràng về ngày và giờ phẫu thuật rất quan trọng, giúp người bệnh và gia đình chuẩn bị tâm lý và thể chất, từ đó góp phần vào thành công của phẫu thuật Tuy nhiên, do là bệnh viện công lập với số lượng bệnh nhân đông và tình trạng bệnh lý phức tạp, phẫu thuật viên gặp khó khăn trong việc dự đoán chính xác thời gian phẫu thuật, ảnh hưởng đến khả năng thông báo đầy đủ cho người bệnh.

Việc thông báo tên phẫu thuật viên cho người bệnh là rất quan trọng, giúp tạo dựng niềm tin và tâm lý thoải mái cho họ Tuy nhiên, tỷ lệ thông báo tên phẫu thuật viên chỉ đạt 62.22%, thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai Phương (100%) Nguyên nhân chủ yếu là do phẫu thuật viên chưa chủ động giới thiệu và tình trạng quá tải bệnh nhân ở tuyến cuối, dẫn đến thiếu thời gian để tiếp xúc và giải thích cho người bệnh.

Theo một khảo sát, có tới 62,22% người bệnh không nhận được hướng dẫn đầy đủ về vận động và phục hồi sau phẫu thuật Tỷ lệ thực hiện các hướng dẫn này còn thấp, có thể do khảo sát được thực hiện trước khi phẫu thuật, trong khi việc hướng dẫn sẽ được bác sĩ và điều dưỡng thực hiện sau khi phẫu thuật cho người bệnh.

Hướng dẫn chăm sóc thường quy và dinh dưỡng sau phẫu thuật có tỉ lệ thực hiện lần lượt là 78,89% và 71,11%, cao hơn so với kết quả của tác giả Mai Phương với 0% và 89,1%.

Các nội dung được thực hiện tốt bao gồm giải thích nguy cơ và biến chứng sau phẫu thuật, mức độ thành công của cuộc phẫu thuật, và thông báo về chi phí điều trị, với tỷ lệ người bệnh được giải thích đầy đủ lần lượt là 93,33%, 97,78% và 99% Kết quả này tương đương với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Hiếu (97%) [10].

Tỷ lệ bệnh nhân thực hiện tắm và vệ sinh cơ thể bằng dung dịch sát khuẩn chỉ đạt 35,56%, thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Trần Thị Thảo (97,3%) và Nguyễn Văn Hiếu (84,8%) Nguyên nhân chính là do điều dưỡng viên đã nhắc nhở bệnh nhân về việc vệ sinh cơ thể trước phẫu thuật, nhưng chưa cung cấp hướng dẫn đầy đủ về cách sử dụng dung dịch sát khuẩn.

Tỷ lệ thực hiện vệ sinh vùng phẫu thuật bằng dung dịch sát khuẩn chỉ đạt 33,33%, thấp hơn so với Bùi Thị Huyền (58%) và Nguyễn Văn Hiếu (84,8%) Nguyên nhân chủ yếu là do đặc thù của phẫu thuật vùng hàm mặt, khiến việc vệ sinh này thường do điều dưỡng phòng mổ thực hiện, dẫn đến việc sát khuẩn tại khoa điều trị chưa tuân thủ đúng quy định.

Trong quá trình chuẩn bị cho phẫu thuật, việc sử dụng kháng sinh dự phòng không được thực hiện với tỷ lệ 100% Nguyên nhân chính là do phẫu thuật viên không chỉ định kháng sinh dự phòng cho bệnh nhân.

Tỷ lệ người bệnh sử dụng thuốc an thần trước phẫu thuật chỉ đạt 4,44%, cho thấy sự thiếu hụt trong việc đánh giá lo âu Nguyên nhân chính là bác sĩ điều trị chưa chú trọng đến việc giảm lo âu cho bệnh nhân trước khi phẫu thuật.

Các nội dung chuẩn bị người bệnh vào sáng hôm phẫu thuật đều được thực hiện tốt, tỷ lệ thực hiện đầy đủ giao động từ 96,67% đến 100%.

Ưu điểm và nhược điểm, tồn tại hạn chế

Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội là bệnh viện đầu tiên thuộc Bộ Y tế triển khai bệnh án điện tử trên toàn quốc, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quản trị bệnh viện và nâng cao chất lượng phẫu thuật Toàn bộ quy trình khám chữa bệnh tại bệnh viện không còn sử dụng giấy tờ, với thông tin bệnh nhân được lưu trữ trên hệ thống điện tử, dễ dàng truy cập Hệ thống bệnh án điện tử cũng hiển thị cảnh báo về các thiếu sót thủ tục hành chính, giúp giảm thiểu sai sót và tiết kiệm thời gian cho nhân viên y tế trong việc hoàn thiện hồ sơ bệnh án.

Bệnh viện trung ương tuyến cuối chuyên về phẫu thuật vùng hàm mặt chú trọng công tác chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật Đội ngũ bác sĩ và điều dưỡng có kinh nghiệm luôn tuân thủ các hướng dẫn và quy trình của bộ y tế, đảm bảo sự phối hợp tốt và thực hiện nghiêm túc trong việc chuẩn bị cho người bệnh.

Bệnh viện công lập là tuyến cuối trong việc điều trị các trường hợp bệnh nhân nặng và có bệnh lý phức tạp, do đó thời gian dành cho việc giải thích và tư vấn của phẫu thuật viên và điều dưỡng cho người bệnh thường bị hạn chế.

Việc chuẩn bị tinh thần cho bệnh nhân trước phẫu thuật chưa được chú trọng đúng mức, dẫn đến việc đánh giá tình trạng lo âu của họ không thường xuyên Hơn nữa, vấn đề an thần cho bệnh nhân trước phẫu thuật cũng chưa được đảm bảo đầy đủ.

Một số điều dưỡng chưa nhận thức đúng vai trò của việc chuẩn bị bệnh nhân trước phẫu thuật, dẫn đến tỷ lệ thực hiện các nội dung liên quan đến công tác chuẩn bị còn thấp.

Ngày đăng: 19/04/2023, 09:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y tế (2014). Tài liệu đào tạo liên tục về An toàn người bệnh ban hành kèm theo Quyết định số 556/BYT-K2ĐT ngày 16/5/2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu đào tạo liên tục về An toàn người bệnh
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2014
2. Bộ Y tế (2018). Quyết định số 7482/QĐ-BYT ngày 18 tháng 12 năm 2018 “Ban hành bộ tiêu chí chất lượng đánh giá mức độ an oàn phẫu thuật.” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 7482/QĐ-BYT ngày 18 tháng 12 năm 2018 “Ban hành bộ tiêu chí chất lượng đánh giá mức độ an oàn phẫu thuật.”
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2018
4. Bộ Y tế (2012). Thông tư số 13/2012/TTBYT Hướng dẫn công tác gây mê - hồi sức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 13/2012/TTBYT Hướng dẫn công tác gây mê - hồi sức
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2012
5. Bùi Thị Huyền (2015). Đánh giá thực trạng chuẩn bị và bàn giao người bệnh trước phẫu thuật tại khoa Phẫu thuật- Gây mê hồi sức Bệnh viện Quân y 354 năm 2015.Hội Nghị Khoa Học Điều Dưỡng - Bệnh Viện 103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng chuẩn bị và bàn giao người bệnh trước phẫu thuật tại khoa Phẫu thuật- Gây mê hồi sức Bệnh viện Quân y 354 năm 2015
Tác giả: Bùi Thị Huyền
Nhà XB: Hội Nghị Khoa Học Điều Dưỡng - Bệnh Viện 103
Năm: 2015
6. Đoàn Quốc Hưng (2011). Nhận xét quy trình chuẩn bị bệnh nhân trước mổ tim hở có chuẩn bị ở người trưởng thành tại khoa Phẫu thuật tim mạch - lồng ngực Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức. Tạp Chí Tim Mạch Học Việt Nam. Số số 63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét quy trình chuẩn bị bệnh nhân trước mổ tim hở có chuẩn bị ở người trưởng thành tại khoa Phẫu thuật tim mạch - lồng ngực Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức
Tác giả: Đoàn Quốc Hưng
Nhà XB: Tạp Chí Tim Mạch Học Việt Nam
Năm: 2011
7. Nguyễn Hữu Tú (2014). Gây mê hồi sức (giáo trình dùng cho đào tạo sau đại học). Nhà xuất bản y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gây mê hồi sức (giáo trình dùng cho đào tạo sau đại học)
Tác giả: Nguyễn Hữu Tú
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2014
8. Nguyễn Thị Mai Phương (2018). Đánh giá thực trạng công tác chuẩn bị tiền phẫu và bàn giao bệnh nhân trước mổ tại bệnh viện Mắt thành phố Hồ Chí Minh năm 2016. Học Thành Phố Hồ Chí Minh. Số Sô 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng công tác chuẩn bị tiền phẫu và bàn giao bệnh nhân trước mổ tại bệnh viện Mắt thành phố Hồ Chí Minh năm 2016
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Phương
Nhà XB: Học Thành Phố Hồ Chí Minh
Năm: 2018
9. Nguyễn Thị Ngọc Dung (2018). Thực trạng điều dưỡng chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật theo kế hoạch và các yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện đa khoa Đức Giang năm 2018, Luận văn thạc sỹ. Trường Đại học y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng điều dưỡng chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật theo kế hoạch và các yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện đa khoa Đức Giang năm 2018
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Dung
Nhà XB: Trường Đại học y tế công cộng
Năm: 2018
10. Nguyễn Văn Hiếu. Chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật có kế hoạch tại khoa phẫu thuật tiêu hóa - bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Chuyên đề tốt nghiệp chuyên khoa I. Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật có kế hoạch tại khoa phẫu thuật tiêu hóa - bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
Tác giả: Nguyễn Văn Hiếu
Nhà XB: Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
11. Trần Thị Thảo (2018). Thực trạng chuẩn bị người bệnh trước mổ có kế hoạch tại bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí năm 2016. Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Việt Nam - Thụ Điển Uông Bí. Số Số đặc biệt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng chuẩn bị người bệnh trước mổ có kế hoạch tại bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí năm 2016
Tác giả: Trần Thị Thảo
Nhà XB: Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Việt Nam - Thụ Điển Uông Bí
Năm: 2018
12. Panesar SS, Cleary K, Sheikh A, Donaldson L (2009). The WHO checklist: a global tool to prevent errors in surgery. Patient Saf Surg. Số 3.(1), Tr.9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The WHO checklist: a global tool to prevent errors in surgery
Tác giả: Panesar SS, Cleary K, Sheikh A, Donaldson L
Nhà XB: Patient Saf Surg
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w