BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH LÊ THỊ PHƯƠNG THẢO THỰC TRẠNG CHĂM SÓC TRẺ SƠ SINH SUY HÔ HẤP CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HẢI PHÒNG NĂM 2022 BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT N
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
LÊ THỊ PHƯƠNG THẢO
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC TRẺ SƠ SINH SUY HÔ HẤP CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HẢI PHÒNG
NĂM 2022
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
NAM ĐỊNH - 2022
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
LÊ THỊ PHƯƠNG THẢO
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC TRẺ SƠ SINH SUY HÔ HẤP CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HẢI PHÒNG
NĂM 2022 Chuyên ngành: Điều dưỡng sản phụ khoa
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆPGIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN PGS.TS Lê Thanh Tùng
NAM ĐỊNH - 2022
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành chuyên đề này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô, các anh chị, bạn bè, đồng nghiệp, những người thân trong gia đình và các cơ quan có liên quan
Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, Phòng quản lý đào tạo Sau đại học, các thầy cô là giảng viên của Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo tôi trong những hai năm học qua
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn PGS.TS Lê Thanh Tùng đã tận tình hướng dẫn, động viên, quan tâm và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học, thực hiện và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám đốc Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng cho tôi cơ hội được đi học chuyên sâu về lĩnh vực điều dưỡng Sản phụ khoa, tạo điều kiện, giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập, công tác và làm chuyên đề
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn đến những người thân yêu trong gia đình, các bạn bè đồng nghiệp gần xa, đặc biệt là các anh chị em cùng khóa đã động viên, giúp đỡ tôi về tinh thần để tôi hoàn thành chuyên đề này
Hải Phòng, ngày tháng năm 2022 Học viên
Lê Thị Phương Thảo
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là báo cáo chuyên đề của riêng tôi Nội dung trong bài báo cáo này hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa được áp dụng Báo cáo này
do bản thân tôi thực hiện dưới sự giúp đỡ của Giảng viên hướng dẫn Nếu có điều gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Người cam đoan
Lê Thị Phương Thảo
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC BIỂU ĐỒ v
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
1.1 Cơ sở lý luận 3
1.2 Cơ sở thực tiễn 15
CHƯƠNG 2: MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 24
2.1 Giới thiệu tổng quan Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng 24
Hình ảnh 1: Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng 24
2.2 Thực trạng chăm sóc trẻ sơ sinh suy hô hấp của điều dưỡng tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng 25
CHƯƠNG 3: BÀN LUẬN 33
3.1 Thực trạng của vấn đề 33
3.2 Kết quả chăm sóc sơ sinh suy hô hấp 34
KẾT LUẬN 38
ĐỀ XUẤT 39 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Một số nguyên nhân gây suy hô hấp thường gặp ở trẻ sơ sinh 7
Bảng 1.2 Bảng điểm Apgar 10
Bảng 1.3 Chỉ số Silverman 11
Bảng 1.3 Các điểm chính trong chăm sóc trẻ sơ sinh thở CPAP 19
Bảng 2.1 Phân bố trẻ bệnh theo cân nặng (n=212) 26
Bảng 2.3 Nguyên nhân gây suy hô hấp (n=212) 26
Bảng 2.4 Nguyên nhân gây suy hô hấp theo tuổi thai (n=212) 27
Bảng 2.5 Nguyên nhân gây suy hô hấp theo cân nặng (n=212) 27
Bảng 2.6 Đặc điểm lâm sàng khi nhập viện (n=212) 28
Bảng 2.7 Thực hiện các biện pháp chăm sóc sơ sinh (n=212) 28
Bảng 2.8 Phương pháp ủ ấm cho trẻ sơ sinh (n=212) 29
Bảng 2.9 Kết quả chăm sóc thân nhiệt (n=212) 29
Bảng 2.10 Tình trạng nuôi dưỡng của trẻ qua đường tiêu hóa (n=212) 30
Bảng 2.11 Kết quả thực hiện nuôi dưỡng qua đường tiêu hóa(n=212) 30
Bảng 2.12 Nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch (n=212) 30
Bảng 2.13 Kết quả nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch(n=212) 30
Bảng 2.14 Kết quả chăm sóc trẻ sơ sinh thở oxy (n=212) 31
Bảng 2.15 Kết quả vệ sinh thân thể và rốn(n=212) 31
Bảng 2.16 Kết quả chăm sóc chung (n=212) 31
Bảng 2.17 Kết quả điều trị và chăm sóc (n=212) 32
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biều đồ 3.1 Phân bố trẻ bệnh theo giới tính 25 Biểu đồ 3.2 Phân bố trẻ bệnh theo tuổi thai 26 Biểu đồ 3.3 Tình trạng thân nhiệt của trẻ khi nhập viện 29
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy hô hấp là tình trạng suy giảm đáng kể khả năng trao đổi khí của hệ hô hấp biểu hiện bằng sự giảm oxy máu (hypoxemin) và/hoặc tăng CO2 máu (hupercapnia) Suy hô hấp là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ sơ sinh Tại Mỹ (năm 2002), tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh do suy hô hấp trong tổng trẻ em dưới 01 tuổi là 943/28034 (33,6%) [29] Tại Việt Nam, tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh non tháng là trên 60%, trong đó tử vong do suy hô hấp chiếm 12-16,9% [1] Nguyên nhân gây SHH hàng đầu ở trẻ sơ sinh là bệnh màng trong, tiếp đến là hội chứng hít phân su, viêm phổi, bệnh lý tim bẩm sinh, tổn thương não…Trước đây, do những hạn chế trong việc điều trị, nên tỉ lệ tử vong sơ sinh do SHH rất cao, hoặc sẽ để lại những di chứng nặng nề cho trẻ như loạn sản phổi, xuất huyết phổi… Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật với nhiều phương pháp điều trị như hô hấp với áp lực dương liên tục (CPAP), liệu pháp Surfactant… đã giúp cải thiện tình trạng SHH của trẻ, làm giảm được tỉ lệ tử vong cũng như các biến chứng của SHH
Suy hô hấp ở trẻ sơ sinh là bệnh lý rất nặng nề, luôn đe dọa tính mạng của trẻ,
để điều trị SHH ở trẻ sơ sinh đạt hiệu quả, ngoài những kỹ thuật điều trị SHH nói chung như đảm bảo thông khí, chống toan hóa máu, trợ tim mạch…, khi điều trị SHH cho trẻ sơ sinh cần đặc biệt quan tâm đến chăm sóc thân nhiệt của trẻ, tình trạng dinh dưỡng (chống suy kiệt), vệ sinh vô khuẩn để tránh lây nhiễm chéo cũng như nhiễm trùng cơ hội
Tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh của SHH ở trẻ sơ sinh cũng như áp dụng các biện pháp dự phòng và các điều trị thích hợp giúp giảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong do tình trạng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu về chăm sóc sơ sinh nói chung cũng như sơ sinh bị SHH nói riêng Không những thế, tại các bệnh viện việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ đôi khi còn bị xem nhẹ, chưa được quan tâm đúng mức
Tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng hàng năm tiếp nhận điều trị hàng ngàn bệnh nhân sơ sinh tại tỉnh Hải Phòng và từ các tỉnh lân cận Từ năm 2015, Bệnh viện đã sử dụng Curosurf điều trị trẻ sơ sinh mắc bệnh màng trong, cùng với các phương pháp thở máy hỗ trợ, các biện pháp chăm sóc, tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh non tháng đã giảm đáng kể Chăm sóc trẻ sơ sinh bị suy hô hấp sơ sinh đòi hỏi được thực hiện theo một quy trình điều dưỡng nghiêm ngặt, được thực hiện bởi các điều dưỡng chuyên khoa mới nâng cao hiệu quả điều trị, hạn chế các tổn thương cơ quan
Trang 9và cải thiện tình hình tử vong Tuy nhiên, việc chăm sóc trẻ sơ sinh bị suy hô hấp cũng như ảnh hưởng của việc chăm sóc đến kết quả điều trị trẻ sơ sinh còn ít Vì vậy tôi tiến hành làm chuyên đề: “ Thực trạng chăm sóc trẻ sơ sinh suy hô hấp của điều dưỡng tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng năm 2022” với 2 mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng chăm sóc trẻ sơ sinh suy hô hấp của điều dưỡng tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng năm 2022
2 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc trẻ sơ sinh suy
hô hấp tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng
Trang 10CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1.Khái niệm suy hô hấp ở trẻ sơ sinh
Suy hô hấp (SHH) là tình trạng suy giảm đáng kể khả năng trao đổi khí của
hệ hô hấp, biểu hiện bằng sự giảm O2 máu (hypoxemin) và/hoặc tăng CO2 máu (hypercapnia Đây là một hội chứng do nhiều nguyên nhân gây ra, có thể do bệnh lý tại cơ quan hô hấp hoặc các cơ quan khác Trong đó, bệnh màng trong (BMT) là nguyên nhân hàng đầu, do thiếu tổng hợp Surfactant [4]
1.1.2 Dịch tễ học
Nguyên nhân hàng đầu dẫn đến SHH và tử vong ở trẻ sơ sinh, đặc biệt ở trẻ
đẻ non là BMT Tỉ lệ mắc bệnh thay đổi tuỳ từng nước Tại Mỹ có khoảng 10% trẻ
sơ sinh non tháng bị SHH, trong đó có tới 50% là trẻ có tuổi thai dưới 28 tuần [35] Trẻ càng non tháng, nguy cơ mắc SHH càng cao Trẻ sơ sinh có tuổi thai dưới 29 tuần có nguy cơ mắc SHH lên đến 60% và có liên quan đến BMT [4] Tại Ấn Độ, một số nghiên cứu cho thấy BMT chiếm 6,8 - 14,1% trẻ đẻ non sống, trong đó những trẻ có tuổi thai 29 - 30 tuần chiếm 32% [32] Các nguy cơ khác như gia đình
có trẻ đã bị SHH, trẻ sinh mổ khi chưa có chuyển dạ, trẻ sinh ra từ các bà mẹ đái tháo đường, trẻ bị ngạt, viêm ối - màng ối [35]
Tại Việt Nam, tỉ lệ SHH cấp ở trẻ sơ sinh non tháng là khá cao và BMT cũng
là một trong những nguyên nhân hàng đầu Theo Nguyễn Thị Kiều Nhi và CS nghiên cứu tại Bệnh viện Trung ương Huế cho thấy tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh non tháng là 67,4%, trong đó tử vong do SHH cấp chiếm 12,5% [10] Theo nghiên cứu của Phạm Văn Dương và CS nghiên cứu tình hình trẻ em tử vong trước 24 giờ tại Hải Phòng cho thấy tỉ lệ tử vong do BMT là 8,24% [11]
1.1.3 Nguyên nhân gây suy hô hấp ở trẻ sơ sinh
Các nguyên nhân có thể riêng lẻ hoặc phối hợp, tuỳ theo nguyên nhân và mức độ nặng nhẹ của triệu chứng mà có những thể lâm sàng khác nhau [4]
1.1.3.1 Do nguyên nhân hô hấp
Đường hô hấp trên:
Chướng ngại vật (tắc mũi do đờm, nhày)
Hẹp lỗ mũi sau, phù niêm mạc mũi
Trang 11 Phì đại lưỡi bẩm sinh
Hội chứng Pierre Robin:
Thiểu sản xương hàm dưới
Lưỡi to, mất hãm lưỡi
Polyp họng
Đường hô hấp dưới:
Bệnh tại thanh quản:
Mềm sụn thanh quản, màng nắp thanh môn
- Bất sản phổi, thiểu sản phổi
- Phổi chưa trưởng thành: Thường gặp ở trẻ đẻ non do tế bào phế nang hình trụ, nhiều tổ chức liên kết quanh phế nang, các mao mạch phế nang còn thưa thớt, thành mạch dày làm giảm sự trao đổi khí giữa phế nang và màng mao mạch phế nang Cùng với đó, trung tâm hô hấp của trẻ chưa phát triển đầy đủ, các cơ hô hấp kém phát triển làm trẻ thở nông, thở yếu, không đều, càng gắng sức càng tím tái
Trang 12móng tay dính đầy nước ối lẫn phân su, có thể thấy cả trong dịch dạ dày do trẻ nuốt vào [40] Nghe phổi có nhiều ran ứ đọng, đôi khi không thấy có thông khí Trẻ sơ sinh dễ bị toan máu, nhịp tim nhanh, nhỏ…
- Bệnh màng trong: Bệnh màng trong (BMT) là một nguyên nhân tại phổi và
là một trong những nguyên nhân hàng đầu Bệnh màng trong chiếm 0,5 - 1% trẻ sơ sinh sống tại Pháp, tỉ lệ thay đổi theo tuổi thai, chiếm 80% ở trẻ dưới 28 tuần và 5%
ở trẻ trên 32 tuần [5] Còn ở các nước Châu Á như Ấn Độ, tỉ lệ BMT chiếm 6,8 14,1% trẻ sơ sinh non tháng, trong đó những trẻ có tuổi thai 29 - 30 tuần chiếm 32% [40], [43], [52] Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Phạm Văn Dương và CS nghiên cứu tình hình trẻ em tử vong trước 24 giờ tại Hải Phòng cho thấy tỉ lệ tử vong do BMT là 8,24% [11] Bệnh màng trong xảy ra do thiếu hụt chất hoạt động bề mặt surfactant ở phổi do phế bào type II tiết ra Hiện nay, sinh bệnh học BMT được các tác giả thống nhất có liên quan đến hai yếu tố là đẻ non và thai ngạt trong tử cung Bệnh màng trong thường gặp ở trẻ đẻ non và tỉ lệ bệnh tăng theo cân nặng và thời gian xuất hiện bệnh
Hội chứng chậm hấp thu dịch phổi: Hội chứng chậm tiêu dịch phổi (hội chứng SHH nhất thời/hội chứng phổi ướt hay TTNB = Transient tachypnea of the newborn/Transitory tachypnea of newborn) hay gặp ở những trẻ có tiền sử mổ đẻ trước khi có chuyển dạ (nhất là mổ do chảy máu cấp như vỡ tử cung, tai nạn,…), trẻ lọt quá nhanh, mẹ dùng thuốc ức chế β Bệnh chiếm 1-2% số trẻ sơ sinh đủ tháng, chiếm 9% ở trẻ có mẹ phải mổ lấy thai [34] Bệnh có thể tự khỏi và không để lại di chứng Theo nhiều nghiên cứu tại Mỹ, tỉ lệ mắc hội chứng chậm tiêu dịch phổi chiếm 33-50% số trẻ có biểu hiện SHH [40] Tương tự trong nghiên cứu của Saeed Zaman và CS, hội chứng chậm tiêu dịch phổi là nguyên nhân gặp nhiều nhất gây SHH (35,7%) [35] Ở bệnh nhân chậm tiêu dịch phổi, trong lòng phế nang còn dịch gây cản trở thông khí và trao đổi khí gây SHH
- Xuất huyết phổi
- Nhiễm trùng phổi: Trẻ có thể bị nhiễm khuẩn phổi trước, trong hoặc sau đẻ Thường do nhiễm trùng bào thai, bệnh rất nặng, thường kèm với nhiễm khuẩn máu, nhiễm khuẩn toàn thân Đây là tình trạng bệnh lý thường gặp, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây SHH Theo thống kê của Alok Kumar, tỉ lệ nhiễm khuẩn phổi đang giảm dần qua các năm, tuy nhiên vẫn chiếm tỉ lệ cao (17,0%)[40]
Trang 13Các vi khuẩn gây bệnh thường gặp: Liên cầu nhóm B, vi khuẩn Gram (-) có sẵn ở bộ phận sinh dục của người mẹ Hình ảnh Xquang phổi không thể chắc chắn
để phân biệt giữa viêm phổi sơ sinh và bệnh màng trong
- Xẹp phổi
- Tràn khí màng phổi, trung thất
Bệnh do bất thường của lồng ngực: Porak Durant (tạo xương bất toàn)
Do bất thường cơ hô hấp:
Thoát vị cơ hoành
Nhược cơ tiên phát hoặc thứ phát: do tổn thương thần kinh cơ, giảm tiết Acetylcholin
Hội chứng Werdnig - Hoffamn:
Bệnh có tính chất gia đình, di truyền
Thiểu năng tế bào vận động của não gây giảm trương lực cơ toàn bộ 1.1.3.2 Do nguyên nhân tim mạch
Nguyên nhân:
- Thông vách liên nhĩ, liên thất lớn
- Thiểu năng thất trái
- Chuyển hoặc lệch gốc các động mạch lớn
- Hẹp động mạch chủ
- Fallot 4, đặc biệt có thiểu năng thất trái
Đặc điểm:
- Trẻ luôn xanh tím kéo dài, tím môi và đầu chi
- Mức độ xanh tím tuỳ thuộc vào Shunt của tim và kiểu dị hình
- Khi nhịp thở ổn định, thở O2 100% không đỡ tím hoặc đỡ tím ít
- Có thể nghe tiếng tim, tiếng thổi bất thường, các dấu hiệu suy tim
Chẩn đoán: dựa vào X quang, điện tim, siêu âm tim
1.1.3.3 Do nguyên nhân thần kinh
Nguyên nhân:
- Do trẻ sơ sinh bị bệnh não bẩm sinh
- Xuất huyết não - màng não
- Viêm não, màng não
- Phù não
- Chấn thương não
- Ảnh hưởng thuốc gây mê, an thần dùng cho mẹ trước đẻ
Trang 14Đặc điểm:
- Tím tái, rối loạn nhịp thở kéo dài
- Có các triệu chứng về thần kinh kèm theo: co giật, thóp phồng, phản xạ thần kinh bất thường
- Tiền sử sản khoa bất thường: đẻ khó, đẻ ngạt, đẻ có can thiệp hoặc có sang chấn sản khoa
1.1.3.4 Do nguyên nhân chuyển hoá
Có thể là các rối loạn tiên phát hoặc thứ phát dẫn tới thiếu O2 nặng
Triệu chứng đặc hiệu tuỳ thuộc từng loại bệnh
1.1.3.5 Do bệnh về máu
Thiếu máu do huyết tán (bất đồng nhóm máu mẹ - con), xuất huyết
Đa hồng cầu
Rối loạn đông máu
Bảng 1.1 Một số nguyên nhân gây suy hô hấp thường gặp ở trẻ sơ sinh [2]
Bệnh lý Tuổi thai Lâm sàng/Cận lâm sàng Tiền sử sản khoa Xquang Bệnh màng
trong
Non tháng gặp nhiều hơn đủ tháng
Suy hô hấp sớm sau sinh
Sinh non +/- Ngạt
Lưới hạt, khí phế quản đồ
Hít phân su Già/ đủ tháng Lồng ngực căng,
nhuộm phân xu da, móng, cuống rốn
Nước ối xanh Ngạt
Xẹp xen kẽ ứ khí từng vùng
vàng da sớm Công thức máu: Bạch cầu /
Vỡ ối sớm
Nước ối hôi
Mẹ nhiễm trùng
Mờ dạng đốm/ Khí phế quản
đồ
Tràn khí
màng phổi
Đủ tháng gặp nhiều hơn non tháng
Lồng ngực căng 1 bên, bụng chướng
Transilumination (+)
Hít phân su
Có hồi sức
hô hấp tuần hoàn
Rất có giá trị chẩn đoán
Thở nhanh
thoáng qua
Đủ tháng gặp nhiều hơn non tháng
Thở nhanh, ít gây SHH nặng
Sinh mổ Kẹp rốn
Tăng đậm mạch máu phổi, rãnh liên
Trang 151.1.4 Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh [1], [4], [33], [45]
1.1.4.1 Triệu chứng lâm sàng:
Triệu chứng suy hô hấp:
- Màu sắc da tím tái: tím quanh môi, đầu chi hay toàn thân do PaO2 trong máu động mạch giảm dưới 60mmHg Theo nghiên cứu của Hứa Thu Hằng tại khoa Nhi bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên: tím là triệu chứng lâm sàng gặp ở 94,6% các trường hợp [8] Triệu chứng tím có thể đến muộn, do đó không nên chờ đến khi có dấu hiệu tím mới có chỉ định cho trẻ sơ sinh thở oxy Nên có chỉ định cho thở trẻ thở oxy sớm hơn vì nếu PaO2 giảm dưới 50mmHg sẽ dễ gây ra tình trạng nthiếu oxy tế bào não, về lâu dài để lại di chứng thần kinh và tinh thần, thậm chí dẫn đến tử vong
- Khó thở: bỏ bú, thở nhanh ≥ 60 lần/ phút hoặc khó thở chậm dưới 30 lần/ phút, có cơn ngừng thở dài do tắc nghẽn đường thở hoặc suy kiệt, đuối sức sau một thời gian khó thở nhanh; thở rên: chủ yếu thì thở ra, có thể nghe được bằng tai hoặc ống nghe Rối loạn nhịp thở cũng là một biểu hiện đặc hiệu của SHH Đặc biệt khi trẻ sơ sinh bị BMT các phế nang bị xẹp lại làm giảm diện tích trao đổi khí dẫn đến thiếu O2, tăng CO2 máu Điều này kích thích trung tâm hô hấp làm tăng nhịp thở Tuy nhiên ở trẻ đẻ non trung tâm hô hấp chưa hoàn chỉnh vì vậy khả năng điều hòa nhịp thở của trẻ còn kém, đáp ứng với tình trạng thiếu oxy bằng cách tăng nhịp thở chỉ trong một thời gian ngắn và sau đó nhanh chóng dẫn đến cơn ngừng thở Trong nghiên cứu của Phạm Thị Ngọc nhận thấy: có 49,9% trẻ thở nhanh, và 29,4% trẻ
Trào ngược
dạ dày thực
quản
Non tháng gặp nhiều hơn đủ tháng
Tím từng cơn sau bú,
ọc sữa
Siêu âm bụng:
3 lần trào ngược/5 phút Tim bẩm
sinh
gặp dưới 4 giờ sau sinh, không có rút lõm lồng ngực hoặc thở rít thì thở ra
Bóng tim to Thay đổi tuần hoàn phổi
Trang 16thở chậm và có cơn ngừng thở, thở rên gặp ở 87,9% các trường hợp [9]
- Rút lõm lồng ngực mạnh Đây là triệu chứng thường gặp trong SHH, theo nghiên cứu của Phạm Thị Ngọc, rút lõm lồng ngực mạnh gặp ở 80,4% bệnh nhân [9] Một số trường hợp trẻ thở rất nhanh và nông nên không dễ dàng nhận thấy dấu hiệu này trên lâm sàng
Biểu hiện ở các cơ quan khác:
- Tim mạch: Rối loạn nhịp tim, có thể nhanh trên 160 chu kỳ/phút hoặc chậm dưới 100 chu kỳ/ phút Trẻ có thể bị ngừng tim nếu PaO2 giảm dưới 30mmHg
- Thần kinh: Trẻ có dấu hiệu thiếu oxy não như vật vã, bỏ bú, thở rên, giảm trương lực cơ, mất hết các phản xạ, li bì, co giật, hôn mê…
- Thận: Các biểu hiện của suy thận cấp, thiểu niệu hoặc vô niệu
Triệu chứng của các nguyên nhân gây SHH:
- Lồng ngực mất cân đối trong tràn khí màng phổi một bên, thoát vị cơ hoành
- Rung thanh tăng trong tràn khí màng phổi
nề như xuất huyết não, viêm ruột hoại tử rất dễ gây tử vong
Đặc biệt sự cải thiện PaCO2 và PaO2 phản ánh rõ ràng hơn quá trình cải thiện trao đổi khí ở phổi Các chỉ số pH, HCO3-, BE có thể được điều chỉnh nhanh hơn bằng bù các chất kiềm
Trong nhiều trường hợp trẻ có biểu hiện SHH nặng trước và ngay khi vào viện đã được thở oxy, sau đó mới làm xét nghiệm khí máu Mặc dù nồng độ oxy của khí thở vào cao nhưng PaO2 cũng không cải thiện được nhiều Đó là do quá trình trao đổi khí thực sự khó cải thiện ở những trẻ bị ARDS Bởi vì xẹp phế nang làm
Trang 17giảm diện tích trao đổi khí, và xẹp phổi và viêm còn làm khoảng cách khí và mao mạch tăng lên, sự trao đổi khí càng giảm
Lúc đầu toan hô hấp sau thành toan hỗn hợp, lúc đầu toan còn bù sau đó toan mất bù
Nếu tổng số điểm: <4: Ngạt nặng; 4-6: Ngạt nhẹ; >7: Bình thường
Trang 18Bảng 1.3 Chỉ số Silverman Điểm
Điều trị cấp cứu trẻ sơ sinh suy hô hấp
- Tư thế của trẻ sơ sinh: Nằm đầu thấp hơn ngực, nghiêng về một bên để đờm dãi dễ thoát ra ngoài và cổ không bị gập, đường thở thẳng Tư thế được thay đổi để tránh xẹp phổi và ứ đọng đờm
- Hút thông đường thở: Trước khi cho thở oxy cần hút đờm dãi ở mũi, họng
để đảm bảo thông đường thở
- Thở oxy: tiến hành theo chỉ định của bác sĩ Chỉ định khi trẻ bị tím tái hoặc khi PaO2 < 70 mmHg Mục tiêu của hỗ trợ hô hấp là duy trì PaO2 > 70mmHg, PaCO2< 60mmHg và pH > 7.25 điều chỉnh thăng bằng kiềm toan
- Thông khí hỗ trợ
Điều trị toan máu
Tiến hành thực hiện theo y lệnh
Đảm bảo thông khí tốt là phương pháp giúp giải quyết một phần tình trạng nhiễm toan cho trẻ sơ sinh
Bù dung dịch kiềm: Natribicacbonat 14‰
Nếu không có xét nghiệm gì, cho 1-2 mEq/kg tiêm tĩnh mạch rốn
Nếu có kết quả xét nghiệm: PaO2 giảm, PaCO2 tăng và pH máu giảm dưới 7,2 Cho theo công thức:
Số mEq cần bù = BE x P x 0,3 Trong đó, P là cân nặng trẻ (kg)
BE: lượng kiềm dư (dựa vào khí máu) Toan máu là hậu quả của SHH, lúc đầu là toan hô hấp sau đó toan chuyển
Trang 19hoá rồi toan hỗn hợp mất bù nếu không được điều trị tốt
Cung cấp năng lượng
- Đảm bảo thân nhiệt cho trẻ sơ sinh Giữ ấm đúng cách là giữ đủ ấm cho trẻ, nhất là những vùng dễ bị nhiễm lạnh như lòng bàn chân, bàn tay, thóp và ngực
Đầu trẻ sơ sinh là nơi tạo ra khoảng 40% thân nhiệt, nhưng đồng thời lại là nơi giải phóng đến 85% nhiệt độ cơ thể Chính vì vậy, việc đội mũ và dùng băng quấn thóp là cần thiết với trẻ sơ sinh (đặc biệt là trẻ đẻ non) Không quấn quá nhiều
tã hoặc đắp quá nhiều chăn cho trẻ
- Bơm sữa qua sonde dạ dày: số lượng tùy theo ngày tuổi và sự chấp nhận của trẻ sơ sinh
- Có thể cung cấp qua nuôi dưỡng tĩnh mạch nếu cần Tổng lượng dịch được tính toán theo cân nặng và ngày tuổi của trẻ để tránh quá tải dịch Đảm bảo đường huyết trong giới hạn bình thường Lượng dịch trung bình cần truyền là: Glucose 10% 80ml/kg/ngày, sau đó tăng dần lên và có thể tới 150ml/kg/ngày ở vào ngày thứ
5 Tuy vậy cần phải điều chỉnh liều lượng phù hợp với từng trường hợp cụ thể để tránh quá tải gây suy tim Bù điện giải theo kết quả điện giải đồ
Các điều trị khác
Vitamin K để dự phòng xuất huyết não – màng não, truyền máu nếu có thiếu máu, viêm ruột hoại tử, chú ý phát hiện còn ống động mạch sớm để điều trị đóng ống bằng thuốc: Ibuprofen hay Indomethacin hay Acetaminophen
Chăm sóc và theo dõi phát hiện các biến chứng ở bệnh nhi cho đến khi trẻ sơ sinh tự thở được (hoặc tử vong)
1.1.5.2 Điều trị nguyên nhân
Tùy thuộc vào nguyên nhân mà có các phương pháp khác nhau để điều trị Một số phương pháp thường được sử dụng trong điều trị nguyên nhân SHH ở trẻ sơ sinh đặc biệt ở trẻ sơ sinh đẻ non bao gồm:
Thở áp lực dương liên tục (CPAP)
Thở áp lực dương liên tục (CPAP) là một phương pháp hỗ trợ cho trẻ sơ sinh
bị suy hô hấp còn khả năng tự thở bằng cách duy trì một áp lực dương liên tục trong suốt chu kỳ thở
Hiện nay đây là một phương pháp được sử dụng ngày càng rộng rãi và góp phần đáng kể trong lĩnh vực điều trị suy hô hấp sơ sinh Theo nghiên cứu của tác giả Colin J Morley và cộng sự tại Pháp trên đối tượng 307 trẻ đẻ non có tuổi thai 25 –
Trang 2028 tuần được thở CPAP ngay sau sinh, tỉ lệ thành công là 58,1%, tỉ lệ trẻ tử vong là 33,9% và có 9% trẻ sơ sinh có biến chứng tràn khí màng phổi [32]
Nguyên lý hoạt động: Khi tự thở, áp suất đường thở sẽ âm hơn so với áp suất khí quyển trong thì hít vào, dương hơn trong thì thở ra và trở về bằng 0 ở cuối thì thở ra Đường biểu diễn áp suất là đường nằm ngang ở mức 0
Khi thở CPAP ở mức áp lực dương là 5 cmH2O, hệ thống CPAP sẽ tạo ra một áp lực dương liên tục trên đường thở, kể cả thời gian hít vào và thở ra Khi đó
áp lực cuối thì thở ra là dương 5 cmH2O Đường biểu diễn áp suất đường thở được nâng lên hơn so với trục hoành là 5 cmH2O
Cấu tạo hệ thống CPAP: Hệ thống CPAP bao gồm một hệ thống tạo ra một dòng khí (được làm ấm và ẩm) cung cấp liên tục cho bệnh nhân trong suốt chu kỳ thở và một dụng cụ tạo PEEP được đặt ở cuối đường thở để tạo ra áp lực dương trên đường thở Hệ thống trên được nối với bệnh nhân bằng nội khí quản, sonde mũi, canulla mũi hoặc mask tuỳ từng loại hình CPAP
Cần có các biện pháp tiến hành và cái CPAP phù hợp Việc cai CPAP rất có vai trò quan trọng nhưng thường ít được chú ý, qua đó ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng Cai bằng cách giảm dần áp lực của CPAP đã cho thấy ưu việt hơn cai thở từng lúc, thường được gọi là “tập” cho trẻ ngưng CPAP [36] Về lý luận, cai máy từng lúc có thể gây hậu quả là căng phổi quá mức xen kẽ với xẹp phế nang (sang chấn xẹp phổi), được biết có liên quan đến sự hình thành của bệnh võng mạc ở trẻ
đẻ non
Liệu pháp surfactant
Bệnh màng trong là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây suy hô hấp
ở trẻ sơ sinh, đặc biệt là trẻ sơ sinh đẻ non Surfactant là chìa khóa vàng của bệnh Liệu pháp thay thế surfactant được sử dụng để điều trị BMT, hiệu quả làm giảm tỉ lệ
tử vong do hội chứng SHH xuống khoảng một nửa [33] Nó thường được dùng ngay sau khi sinh [18] Tuy nhiên, loại surfactant lý tưởng có lợi nhất cho những bệnh nhân này vẫn chưa được xác định chắc chắn [37], [41-42], [44]
Quy trình phụ bác sĩ bơm surfactant:
- Phụ bác sĩ đặt nội khí quản: điều dưỡng xác định đúng mốc cố định ống nội khí quản bằng cách xác định số trên ống nội khí quản qua công thức: P (cân nặng trẻ) + 6 cm
Trang 21- Phụ bác sĩ bơm thuốc:
+ Chuẩn bị dụng cụ: mũ, khẩu trang, găng vô khuẩn 2 đôi, bơm tiêm 5ml 1 cái, 1 ống thông số 5, 1 kim lấy thuốc, bóng bóp, trụ để pank, kéo, khay có săng vô khuẩn
+ Bác sĩ và 2 điều dưỡng đội mũ, đeo khẩu trang và vệ sinh tay trước khi làm thủ thuật
+ Điều dưỡng lấy thuốc khỏi tủ lạnh, thực hiện đối chiếu sau đó làm ấm thuốc bằng tay
+ Điều dưỡng 2 xé găng vô trùng cho bác sĩ và điều dưỡng 1
+ Điều dưỡng 2 xé bơm tiêm, kim lấy thuốc cho bác sĩ tự lấy thuốc, sau đó điều chỉnh tư thế của trẻ tùy từng loại surfactant
+ Điều dưỡng 1 chờ sau mỗi lần bác sĩ bơm thuốc vào nội khí quản sẽ bóp bóng ambu cho thuốc vào phổi
+ Điều chỉnh lại cho trẻ nằm tư thế ban đầu
Một số biến chứng thường gặp khi bơm surfactant: xẹp phổi (do thuốc surfactant không tan hoàn toàn), tắc ống nội khí quản (do thuốc không tan kết hợp với dịch nhầy trong khí quản của trẻ gây tắc ống nội khí quản), chảy máu phổi, chảy máu não, tràn khí màng phổi, …
* Theo dõi bệnh nhân suy hô hấp (trước và sau khi bơm surfactant):
Theo dõi toàn trạng, hô hấp, tuần hoàn, thần kinh
Theo dõi và ghi lại dấu hiệu tím, nhịp thở, dấu gắng sức (chỉ số Silverman), cơn ngưng thở của trẻ, SpO2, nhịp tim 1h/lần cho đến khi trẻ không cần thở oxy và tiếp tục theo dõi thêm 24 giờ
Theo dõi đáp ứng của trẻ với oxy và với liệu pháp surfactant
Theo dõi các biến chứng
Báo bác sĩ khi trẻ không cải thiện, nặng lên hoặc tím trung tâm
Giải thích cho bố mẹ biết tình trạng của bệnh
Trang 22Hướng dẫn cho bố mẹ biết về triệu chứng và các biến chứng của bệnh
Nghiên cứu của Alok Kumar và cộng sự năm 1996 trên đối tượng 4050 trẻ
sơ sinh, tỉ lệ SHH vào viện là 6,7%, trong đó SHH ở trẻ đẻ non chiếm tỉ lệ cao nhất (30,0%), ở trẻ già tháng là 20,9% Về phương diện tuổi thai, 100% các trẻ dưới 26 tuần có SHH, trong nhóm 32 tuần tuổi thai, tỉ lệ SHH là 57,14%, và ở nhóm 36 tuần tuổi chỉ chiếm 3,70% Tỉ lệ tử vong do SHH là 43,61% [40]
Nghiên cứu của Saeed Zaman và cộng sự năm 2008, trên đối tượng 659 trẻ
sơ sinh được chuyển đến bệnh viện Bệnh viện Quân đội Hoàng gia Sharurah - Saudi Arabia trong 12 tháng có tình trạng SHH Tỉ lệ SHH tổng thể là 4,24% Tỉ lệ hiện mắc là 19,7% ở trẻ non tháng [46]
Nghiên cứu của Ghafoor và cộng sự năm 2003 trên đối tượng 94 trẻ sơ sinh
có SHH, tỉ lệ trẻ đẻ non chiếm 93,61% (trích dẫn từ [46])
Năm 2015, Maryam Saboute và cộng sự công bố nghiên cứu tại khoa Hồi sức tích cực của Bệnh viện Akbarabadi (Tehran-Iran) vào mùa xuân năm 2011 trên đối tượng 74 trẻ non tháng có tuổi thai <34 tuần nhập viện ở Khoa hồi sức tích cực Tất cả đối tượng nghiên cứu được chia thành 3 nhóm: cực kỳ non tháng (<28 tuần), rất non tháng (28 đến <32 tuần) và non tháng vừa phải (32 đến 34 tuần) Kết quả cho thấy tỉ lệ mắc ARDS chiếm 65,6% số trẻ; tuy nhiên tỉ lệ mắc ARDS không khác nhau giữa ba nhóm Tuổi thai và tỉ lệ tử vong tỉ lệ nghịch với nhau (p = 0,05) Thời gian dùng Betamethasone trước khi sinh ở nhóm trẻ sống dài hơn ở nhóm tử vong (p<0,05) [47]
1.2.1.2 Tại Việt Nam
Phạm Văn Dương và cộng sự nghiên cứu tình hình trẻ sơ sinh tử vong trước
Trang 2324 giờ tại Hải Phòng cho thấy tỉ lệ tử vong do BMT là 8,24% Năm 2005, tác giả Đinh Phương Hòa công bố nghiên cứu cho thấy tỉ lệ tử vong do BMT chiếm 5,8% [11]
Năm 2015, nghiên cứu của Trần Văn Sơn và cộng sự tại Bệnh viện Sản Nhi Cà Mau trên đối tượng 308 trẻ sơ sinh non tháng cho thấy tỉ lệ trẻ mắc BMT là 44,81%, tuổi thai càng non tháng có tỉ lệ BMT càng cao, mỗi phân nhóm tuổi thai tăng lên một bậc có thể tăng nguy cơ bệnh lên 2,5 lần; trẻ càng nhẹ cân có tỉ lệ mắc BMT càng cao, trẻ rất nhẹ cân có tỉ lệ mắc BMT lên tới 87,18% Mẹ vỡ ối sớm có tỉ lệ bệnh là 61,36%,
mẹ dùng corticoid trước sinh có thể làm giảm nguy cơ BMT 2,32 lần so với nhóm không dùng corticoid [14]
Nghiên cứu của Trần Thị Yến Linh năm 2010 tại Khoa Nhi sơ sinh – Bệnh viện Trung ương Huế nhận thấy nguyên nhân thường gặp là nhiễm khuẩn sơ sinh, ngạt, tim bẩm sinh, kết quả chăm sóc điều trị với tỉ lệ khỏi không bị di chứng là 91,7%, tỷ lệ tử vong là 6,4% và di chứng não thiếu khí là 1,9% [12]
Một nghiên cứu khác cũng của tác giả Trần Thị Yến Linh năm 2012 tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Huế về đánh giá hiệu quả công tác chăm sóc ở trẻ sơ sinh được sử dụng surfactant đã đi đến kết luận: chăm sóc điều dưỡng tốt giúp phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường và rút ngắn thời gian nằm viện [13]
1.2.2 Chăm sóc của điều dưỡng đối với trẻ sơ sinh suy hô hấp
Học thuyết Henderson chỉ ra có 14 nhu cầu cơ bản cho người bệnh bao gồm các nhu cầu về: Hô hấp bình thường, ăn uống đầy đủ, chăm sóc bài tiết, ngủ và nghỉ ngơi, vận động và tư thế đúng, mặc quần áo thích hợp, duy trì nhiệt độ cơ thể, vệ sinh cơ thể, tránh nguy hiểm, an toàn; được giao tiếp tốt, tôn trọng tự do tín ngưỡng, được tự chăm sóc, làm việc, vui chơi và giải trí, học tập có kiến thức cần thiết
Đối với trẻ sơ sinh nhu cầu cơ bản gồm: Hô hấp bình thường, ăn uống đầy
đủ, duy trì thân nhiệt, vệ sinh cơ thể, tránh nguy hiểm vì vậy khi chăm sóc trẻ sơ sinh nói chung và sơ sinh huy hô hấp nói riêng cần đảm bảo nhu cầu cơ bản này
Theo học thuyết Betty Newmans (1995) xác định việc chăm sóc toàn diện cho con người Người điều dưỡng nhận định, quản lí và đánh giá hệ thống khách hàng Hành động điều dưỡng bao gồm 3 mức độ: phòng ngừa cấp I, II, và III:
Phòng ngừa cấp I (ban đầu): ngay khi con người phát hiện có vấn đề liên quan nguy cơ bệnh tật họ có thể có và cần được can thiệp ngay để không xảy ra,
Phòng ngừa cấp II: khi người bệnh có những triệu chứng, dấu chứng được
Trang 24phát hiện có bệnh, cần có kế họach điều trị sớm, không để bệnh nặng thêm
Phòng ngừa cấp III: bệnh rõ ràng cần tích cực điều trị không để bệnh tái phát
và không để lại di chứng thông qua giáo dục người bệnh và hỗ trợ họ phòng ngừa
Chính vì vậy khi chăm sóc và theo dõi trẻ cần theo sát sát sớm phát hiện diễn biến và xử trí kịp thời
Theo học Học thuyết về Orem’s: Dorothea Orem’s (1971) xác định việc chăm sóc điều dưỡng cần nhấn mạnh về việc người bệnh tự chăm sóc Orem khẳng định việc tự chăm sóc người bệnh cần được hướng dẫn, chỉ dẫn họ cách thức để tự
họ làm, người bệnh sẽ thích thú vì thấy đời sống của họ vẫn còn có ý nghĩa, sức khỏe được dần dần từng bước được nâng cao Mục tiêu của học thuyết Orem là giúp người bệnh có năng lực tự chăm sóc Khi họ có khả năng về tâm sinh lý và nhu cầu
xã hội, việc nâng cao này được phát triển đến khi người bệnh tự làm lấy tất cả (Orem, 2001)
Bà đã đưa ra 3 mức độ có thể tự chăm sóc:
Phụ thuộc hoàn toàn: người bệnh không có khả năng tự chăm sóc, theo dõi
và kiểm soát các hoạt động hàng ngày của mình phải nhờ vào điều dưỡng hoặc người chăm sóc trực tiếp cho họ
Phụ thuộc một phần: chăm sóc hỗ trợ khi người bệnh bị hạn chế về việc tự chăm sóc, điều dưỡng cung cấp, giúp đỡ việc chăm sóc một phần cho họ
Không cần phụ thuộc: người bệnh tự mình hoàn toàn chăm sóc, điều dưỡng hướng dẫn, tư vấn cho họ tự làm
Theo học thuyết này khi chăm sóc sóc trẻ sơ sinh, người điều dưỡng cần chú
ý mốt số điểm như cần ghép mẹ sớm nhất khi có thể, đồng thời đối với trẻ suy hô hấp cần cho trẻ bú sớm ngay khi có thể để mẹ có thể tự chăm sóc trẻ góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc trẻ về nhiều mặt như thân nhiệt, dinh dưỡng
Từ một số học thuyết cũng như theo quy trình chăm sóc trẻ sơ sinh suy hô hấp, khi chăm sóc trẻ sơ sinh suy hô hấp chúng ta cần thực hiện các nguyên tắc và quy trình chăm sóc phù hợp và chính xác
1.2.3 Nguyên tắc chăm sóc
- Dự phòng hạ thân nhiệt
- Đảm bảo thông khí
- Đảm bảo dinh dưỡng
- Đảm bảo công tác kiểm soát nhiễm khuẩn
Trang 25- Đảm bảo vệ sinh
1.2.4 Chăm sóc cụ thể
Chăm sóc dự phòng hạ thân nhiệt
- Nằm lồng ấp với nhiệt độ thích hợp
- Giường sưởi, đèn sưởi, túi chườm, phương pháp kangaroo muộn
- Cung cấp đủ năng lượng: sữa, dịch truyền
- Thay tã, áo khi uớt
- Mục tiêu duy trì thân nhiệt ở mức 36,5 – 37,5oC
+Một tay giữ đầu, tay kia đưa hai bàn chân trẻ ra khỏi phần dưới áo kangaroo, rồi kéo phần trên của áo đến ngang tai trẻ
+Đổi tay giữ đầu, kéo áo cho hoàn chỉnh Sau cùng kéo phần dưới áo phủ xuống hai bàn chân trẻ Trẻ cần đội thêm nón, đi tất và lót tã Người mẹ cần mặc một cái áo địu bằng vải chun giãn để giữ trẻ luôn ở vị trí kangaroo và tránh di động đầu và cổ bé
Quy trình chăm sóc và theo dõi thở oxy
- Giữ thông thoáng đường thở:
+ Tư thế làm thẳng đường thở: kê gối dưới vai
+ Thay đổi tư thế, vỗ rung phổi để tránh ứ đọng đờm dãi, xẹp phổi
+ Hút đờm dãi đều đặn, ống hút phải đảm bảo vô trùng
+ Kiểm tra nguồn oxy, lưu lượng oxy, bình làm ẩm
- Để đánh giá hiệu quả của liệu pháp O2, cần theo dõi:
+ Màu sắc da, di động ngực lồng ngực
+ Cơn ngưng thở giảm dần về tần số, độ dài
+ Mắc monitoring theo dõi trẻ Nhịp tim, huyết áp, nhịp thở, SpO2 + Vách mũi hồng hào, không loét
Trang 26+ Đo PaO2, PaCO2, pH trong máu
+ Đảm bảo độ bão hoà O2 trong khoảng 85-95% để tránh biến chứng ngộ độc O2
- Nếu sau 30 phút thở O2, trẻ hết tím tái, hồng trở lại chứng tỏ PaO2 đã trở về bình thường tiến hành giảm dần nồng độ O2 trong khí thở vào
- Nếu sau thời gian đó, trẻ vẫn tím tái, mạch vẫn nhanh nhỏ, chứng tỏ liệu pháp O2 không có tác dụng, cần tìm và giải quyết các nguyên nhân gây cản trở, thường là suy tim, toan máu hoặc tổn thương phổi quá nặng
- Nếu thở O2 kéo dài > 24h phải theo dõi nồng độ O2 trong khí thở vào và PaO2 vì có thể gây ngộ độc O2 nếu PaO2> 150 mmHg kéo dài trên 24 giờ: Xơ teo võng mạc ở trẻ đẻ non
Chăm sóc trẻ sơ sinh thở CPAP
Chăm sóc chất lượng tốt khi thở CPAP giữ vai trò cực kỳ quan trọng Sự thành công của việc điều trị dựa trên tư thế nằm tối ưu của trẻ sơ sinh, giữ thông đường hô hấp trên và tránh mất áp lực dương của đường thở Sự tránh mất áp lực dương của đường thở đặc biệt quan trọng khi đặt thở CPAP qua ống thông mũi, vì việc há miệng ra thường gây mất áp lực trong đường thở Các điểm mấu chốt trong việc chăm sóc trẻ thở CPAP được trình bày trong bảng 1.3
Bảng 1.3 Các điểm chính trong chăm sóc trẻ thở CPAP
- Trẻ sơ sinh thở CPAP hoàn toàn tùy thuộc vào sự thông đường mũi
- Tìm tư thế nằm tối ưu cho trẻ sơ sinh
- Dùng núm vú cho ngậm để giới hạn sự mất áp suất qua miệng mở
- Tránh hút qua mũi, dùng nước muối sinh lý cho nhỏ mũi sau đó hút qua hầu họng
- Dùng khí ẩm vừa phải
- Tránh dùng lực quá mức khi cố định ống thông mũi
- Miếng che mũi không nên được kéo áp chặt vào mũi, tốt hơn nên đặt ở dưới mũi
- Nên dùng ống thông mũi lớn nhất, vừa vị trí mà không cần đỡ ở mũi
- Xem lại cách cố định khi thấy miếng che mũi áp quá chặt vào mũi hoặc khó giữ được áp lực CPAP
- Thay thông mũi lớn hơn khi bé lớn lên
Chăm sóc trẻ sơ sinh có đường truyền tĩnh mạch