1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sáng kiến kinh nghiệm vận dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực trong văn bản “chữ người tử tù” của nguyễn tuân

19 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực trong văn bản “Chữ Người Tử Tù” của Nguyễn Tuân
Tác giả Nguyễn Thị Nga
Trường học Trường THPT Lê Xoay, Sở Giáo Dục Và Đào Tạo Vĩnh Phúc
Chuyên ngành Giáo dục và Đào tạo
Thể loại Báo cáo kết quả nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Vĩnh Phúc
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 21,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỎ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC TRƯỜNG THPT LÊ XOAY *** BÁO CÁO KÉT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN Tên sáng kiến Vận dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực trong văn bản “Chữ người tử tù[.]

Trang 1

SỎ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC

TRƯỜNG THPT LÊ XOAY

***

BÁO CÁO KÉT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

Tên sáng kiến: Vận dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực trong văn bản “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân

Tác giả sáng kiến: Nguyễn Thị Nga

Mã sáng kiến: 21.51

Trang 2

SỎ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC

TRƯỜNG THPT LÊ XOAY

BÁO CÁO KÉT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIÉN

Tên sáng kiến: Vận dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực trong văn bản “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân

Tác giả sáng kiến: Nguyễn Thị Nga

Mã sáng kiến: 21.51

Trang 3

MỤC LỤC

1 Lời giói thiệu 1

2 Tên sáng kiến 3

3 Tác giả sáng kiến 3

4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến 4

5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến 4

6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử 4

7 Mô tả bân chất của sáng kiến 4

7.1 Cơ sở sảng kiến 4

7.1.1 Cơ sở lỉ luận 4

7.1.2 Cơ sở thực tiền 5

7.2 Nội dung 9

7.2.1 Phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực 9

7.2.2 Một số phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực tiêu biêu 13

7.2.2.1 Một số phương pháp dạy học tích cực .13

7.2.2.2 Một số kỹ thuật dạy học tích cực .17

7.2.3 Vận dụng một số phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực vào giáng dạy truyện ngắn “Chữ người tử tù ” cũa Nguyễn Tuân 25

7.2.3.1 Trò chơi ô chừ bí mật 25

7.2.3.2 Trò chơi tiếp sức .31

7.2.3.3 Đọc tích cực và khăn trài bàn .33

7.2.3.4 Họp tác nhóm 34

7.2.3.5 Sơ đồ tư duy 35

7.2.3.6 Đóng vai 36

7.2.3.7 Viết tích cực 37

7.2.3.8 Trình bày một phút 37

7.3 Giáo án thực nghiệm 37

Trang 4

7.4 Kết luận 56

7.5 Khả năng áp dụng cùa sáng kiến 58

8 Những thông tin cần được bảo mật 58

9 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến 58

10 Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến của cá nhân 58

10.1 Đánh gi ủ lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến của cá nhân 58

10.2 Đánh giá lợi ích thu được do díỉp dụng sáng kiến cùa tô chức, cả nhân 63 11 Danh sách những tô chức, cá nhân đã tham gia áp dụng thừ hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CHỪ CÁI MÉT TÁT

Trang 6

SKKN.vn

Trang 7

1 Lòi giói thiệu

Trong xà hội hiện đại, các ngành khoa học, kỳ thuật phát triển ngày càng mạnh mẽ, không ngừng nâng cao chat lượng cuộc sống, đòi hỏi con người, đặc biệt là các bạn trẻ cần

"Học đê biết, bọc đe làm, bọc đê chung sổng, bọc đê tự khẳng định mình ” đê có thê làm

chủ thời đại cùa mình Vì vậy, bên cạnh việc lĩnh hội tri thức cần thiết cho bân thân, con người cần hình thành những kỹ năng, năng lực phù họp với thời đại mới như: năng lực họp tác, giãi quyết van đề, thu thập thông tin, ngôn ngừ, Đe hình thành, phát triển được những năng lực đó đòi hỏi chúng ta phải tích cực, chủ động lĩnh hội, rèn luyện thường xuyên cả trong đời sống thực tiến lẫn nhận thức lý luận Thực tế, giáo dục phổ thông nước

ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, từ quan tâm đến việc HS học được cái gì đen quan tâm HS làm được cái gì qua việc học Đê thực hiện được, GV phải chuyên từ PPDH nặng về truyền thụ kiến thức sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời song, qua đó rèn luyện kỳ năng, hình thành năng lực và phẩm chat cần thiết cho HS như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đôi mới căn bân, toàn diện giáo dục và đào tạo đã nêu:

“Tiếp tục đoi mói mạnb mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chù động, sảng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng cũa người học; khắc phục Joi truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trưng dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đôi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chù yếu trên lóp sang tô chức hình thức học tập đa dạng, chú ỷ các hoạt động xà hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông tỉ'ong dạy và học

Đe đổi mới căn bân, toàn diện giáo dục, chúng ta cần tiến hành đổi mới đồng bộ từ nội dung, kiểm tra đánh giá và đặc biệt là về phương pháp, hình thức tổ chức dạy học Hiện nay, đê hình thành những năng lực, phàm chat cần thiết, đê phát huy được tính tích cực, chủ động cho HS nhà giáo cần tô chức các hoạt động học tập đê các em được trực tiếp tham gia tìm kiếm tri thức thức thông qua các phương pháp, kỳ thuật dạy học tích cực như: họp tác, giãi quyết van đề, công nào, vẽ sơ đồ tư duy

Dù vậy, chúng ta cũng không nên phù nhận hoàn toàn vai trò, ưu điểm của PPDH truyền thống hay không công nhận những hạn che của các phương pháp, kỳ thuật dạy học

Trang 8

hiện đại Nói cách khác, mồi PPDH đều có những ưu và nhược điếm riêng như câu nói: không có phương thuốc nào chữa bách bệnh, không có phương pháp dạy học nào là tối ưu,

là chìa khóa vạn năng Vì the, GV cần vận dụng các phương pháp, các kỹ thuật dạy học vào từng bài, từng tiết học cụ thê theo đặc trưng môn học và với từng đối tượng học sinh thì mới có thê nâng cao chat lượng dạy - học Với đặc trưng riêng của môn Ngừ văn, GV cần vận dụng linh hoạt giữa PPDH truyền thống (bình giảng) và phương pháp, kỳ thuật dạy học hiện đại như: nêu van đề, giãi quyết van đề, đóng vai, thào luận nhóm, động nào,

Trong chương trình Ngừ văn 11, “Chữ người từ tù” cùa Nguyễn Tuân là một tác

phẩm hay, độc đáo, gây ấn tượng sâu đậm VỚI người đọc Tuy nhiên, để hiểu hết cái hay, cái đẹp của tác phàm là một thử thách lớn với câ người dạy và người học Trước đây, GV thường dạy tác phàm theo cách truyền thống là GV giảng HS ghi chép, bởi vậy, thường gây ra tâm lý chán ở trò vì dung lượng kiến thức lớn, nội dung viết về một chuyện xưa cũ, không phù họp với lối sống hiện nay Đa sổ HS học theo kiêu thuộc lòng những gì GV đọc cho chép mà không câm thấy yêu thích, hứng thú với tác phẩm

Ý thức được thực tế đó, nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nhà giáo đã tìm kiếm giãi

pháp đôi mới việc giảng dạy tác phàm “Chữ người từ tù” nham khơi nguồn niềm yêu

thích của HS với thiên truyện đặc sắc này thông qua các luận văn Thạc sĩ thuộc chuyên ngành Phương pháp dạy học bộ môn Văn, tiêu biêu như:

- “Bồi dưỡng năng lực thẩm văn cho học sinh giỏi văn (trường Chuyên Vinh

Phúc) khi học truyện ngắn Nguyền Tuân ” (Luận văn Thạc sĩ cùa Phan Hồng Hiệp, Hà

Nội, 2003)

- “Những cách thức triển khai tình huống có vấn đề trong dạy học tác phẩm “Chữ

người tử tù” cùa Nguyền Tuân ” (Luận văn Thạc sĩ Phạm Thị Quy, 2007).

- “Tô chức đối thoại trong dạy học “Chữ người tử tù” cha Nguyễn Tuân” (Luận

văn Thạc sĩ của Trần Quốc Khả, 2010)

- “Biệnpháp khai thác chất trừ tình giàu kịch tình trong “Chừ người tử tù” cùa

Nguyền Tuân ” (Luận văn Thạc sĩ Trần Thị Hãi Vân, 2011).

Trang 9

- “Vận dụng dạy học họp tác hướng dẫn học sinh ỉóp 11 phân tích truyện ngắn

“Chừ người tử tù” cha Nguyền Tuân” (Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Till Nga, 2014).

Các công trình nghiên cứu trên đã có những đề xuất tích cục để đổi mới việc dạy

-học tác phàm “Chữ người từ tù” của Nguyễn Tuân, tuy nhiên, các tác giã chủ yếu chỉ

khai thác một kliía cạnh, vận dụng một PPDH tích cục nào đó mà chua có sự vận dụng tông hợp các phương pháp, kỳ thuật cả truyền thống và hiện đại đê giúp HS lĩnh hội ý nghĩa sâu sắc của thiên truyện

Với mục đích giúp HS nhận ra cái hay, ý nghĩa của tác phàm VỚI đời sống hiện nay, từ đó hình thành những năng lực, phàm chat can thiết, thì các em phải được khám phá tác phàm dưới sự gợi mờ, hướng dẫn của GV qua việc vận dụng linh hoạt các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực như: nêu và giãi quyết van đề, đóng kích, thào luận nhóm,

vè sơ đồ tư duy, Từ thực tế giảng dạy truyện ngan “Chữ người từ tù ” của Nguyền Tuân

với những phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực đã góp phần phát huy được sự chù

động, sáng tạo của học sinh, tôi quyết đinh làm đề tài “ Vận dụng các phưongpháp, kỹ

thuật dạy học tích cực trong văn bân “Chữ người từ tù” cha Nguyền Tuân

2 Tên sáng kiến: Vận dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực trong

văn bản “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân.

3 Tác giả sáng kiến

- Họ và tên: Nguyễn Till Nga

- Địa chi: Trường THPT Lê Xoay - Huyện Vĩnh Tường - Tinh Vĩnh Phúc

- số điện thoại: 0973772454

- E_mail: nguyenthin.ga.c3lexoayffi vinhphuc■ edu.vn

4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến

Nguyễn Thị Nga - Trường THPT Lê Xoay - Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc

5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến

Giàng dạy văn bân “Chữ người từ tù” cùa Nguyễn Tuân trong môn Ngữ văn lớp

11 ban cơ bân tại lớp 11A2, 11A11 trường THPT Lê Xoay (Giáo án thực nghiệm xây

Trang 10

dựng ở tiết 42 “Chữ người tử tù” - Nguyễn Tuân).

6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Tháng 10 năm

2019

7 Mô tả bân chất của sáng kiến

7.1 Cơ sở sảng kiến

7.1.1 Cơ sở ỉỉ luận

Chương trình giáo dục phô thông theo đinh hướng năng lực nhan mạnh vai trò của người học VỚI tư cách là chủ thê cùa quá trình nhận thức Trong đó, PPDH chủ yếu là giáo viên trở thành người tô chức, hồ trợ, học sinh tự lực và tích cực tìm kiếm, hình thành tri thức Chương trình giáo dục này chú trọng sự phát triển khả năng giãi quyết van đề, giao tiếp, họp tác, ngôn ngừ ; chú trọng sử dụng các quan diêm, phương pháp và kỹ thuật

dạy học tích cực như điều 24.2 của Luật Giáo dục Việt Nam: “Phương pháp giảo dục phô

thông phái phát huy tính tích cực, tự giác, chù động, sáng tạo của học sinh phù họp với đặc diêm của từng lóp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khá năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ nâng vận dụng kiến thức vào thực tiền; tác động đến tình câm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.

Căn cứ vào mục tiêu trên cùng với việc dựa vào đặc diêm tâm sinh lý của lứa tuổi học sinh trung học phổ thông: Ham tìm hiểu, tiếp cận, thích cái mới lạ nên việc sử dụng các phương pháp, kỳ thuật dạy học tích cực trong quá trình dạy học là điều cần thiết bời:

+ Các phương pháp, kỳ thuật tích cực lấy người học làm trung tâm cùa quá trình dạy - học, nhờ vậy, các em được chủ động trãi nghiệm, tự tìm kiếm lĩnh hội tri thức thông qua các hoạt động cụ thê của bân thân

+ Tăng cường khả năng chú ý nam bắt nội dung bài học phát huy tính năng động của HS

+ Nâng cao hứng thú cho người học, góp phần làm giâm mệt mỏi, căng thăng trong học tập cùa HS Từ đó, HS phát triển tính độc lập ham hiểu biết và khả năng suy luận, sáng tạo

+ Tăng cường khâ năng thực hành, vận dụng các kiên thức đã học

+ Tăng cường khả năng giao tiếp giữa GV và HS, giữa HS với nhau, giúp các em

Trang 11

rèn luyện khả năng ứng xử, giao tiếp.

+ Thu hút HS theo dõi, tham gia các hoạt động học tập từ đó các em dễ dàng lĩnh hội tri thức

+ Góp phần hình thành, rèn luyện các năng lực cần thiết cho người học: Năng lực giãi quyết van đề, năng lực hợp tác, năng lực thu thập và xừ lý thông tin, năng lực ngôn ngữ,

Có thể thấy việc sừ dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực không chi giúp HS tự tìm kiếm, lĩnh hội tri thức, rèn luyện được kỹ năng cơ bàn mà quan trọng hơn

câ là các em hình thành, phát triển được những phẩm chất đạo đức, những năng lực cần thiết trong cuộc sống hiện đại Thiết nghĩ, đây mới là mục tiêu cao nhất của chương trình giáo dục phô thông mới mà chúng ta đang hướng tới

7.1.2 Cơ sở thực tiền

Những năm gần đây, các phương pháp, kỳ thuật dạy học tích cực đã được giáo viên thực hiện ờ nhiều trường phổ thông khắp câ nước Thực tế, đổi mới PPDH đem lại hứng thú học tập cho HS trong việc học tập, đem lại làn gió mới cho câ GV và

5 HS: Học sinh tích cực, chủ động, hứng thú trong lĩnh hội tri thức và vận dụng kiến thức

đã học đê giâi quyết các tình huống thực tiễn đặt ra; GV cũng năng động, đầu tư nghiên cứu để có nhiều sáng tạo trong mồi tiết dạy

Tuy nhiên, hoạt động đổi mới PPDH ờ trường THPT chưa thực sự mang lại hiệu quả khi còn nặng về lý thuyết, chủ yếu là tập huấn nghiệp vụ, hoặc thể hiện ở một số tiết thao giảng, dự giờ còn mang tính hình thức, trình diễn, số GV thường xuyên chủ động, sáng tạo trong đôi PPDH, sử dụng các kỳ thuật dạy học tích cực còn chưa nhiều Việc đôi mới PPDH chưa được tiến hành đồng bộ mạnh mẽ, HS chưa được tiếp cận nhiều với các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích từ các cap học dưới nên den cap THPT các em khá bờ ngỡ, thụ động Đây cũng là một khó khăn cho giáo viên khi sử dụng các phương pháp, kỳ thuật dạy học tích cực

Ngừ văn là bộ môn quan trọng trong chương trình giáo dục mọi thời đại, không chỉ cung cấp kiến thức mà còn dạy cách làm người, cách sống đúng như nhà văn M.Gorki

từng nói: “Pứ/7 học ỉ à nhân học Với mục tiêu giúp HS vươn tới những giá tri Chân

-Thiện - Mĩ, văn học giúp cho đời sống tinh thần của con người ngày càng giàu có, tinh tế

Trang 12

hơn; tâm hồn trở nên bớt chai sạn, vô câm trước những cảnh đời diễn ra xung quanh mình, trước thiên nhiên và tạo vật Điều này càng quan trọng hơn khi chúng ta đang sống trong guồng quay hối hả của cuộc sống hiện đại Cùng VỚI đó, môn Ngữ văn bồi đắp cho HS lòng yêu nước, thái độ trân trọng giá tri truyền thống và ngôn ngừ mẹ đẻ - tiếng Việt Không chỉ vậy, môn Ngữ văn có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện khả năng sử dụng ngôn ngừ, diễn đạt, cách thức tạo lập các loại văn bân phục vụ cho quá trình giao tiếp trên mọi lĩnh vực của mỗi người trong cuộc sổng Dù có VỊ trí, chức năng quan trọng đặc biệt như vậy, tuy nhiên, trong thời gian gần đây, HS có cái nhìn không đúng, không “thiện cảm”, không hứng thú với môn Ngữ Văn vì mồi giờ lên lớp chỉ là ghi ghi chép chép những kiến thức nặng nề nhàm chán

Theo kết quà khảo sát (ngày 7/09/2019) học sinh hai lớp (11A2, 11A11 - Trường

THPT Lê Xoay) mà tôi tiạrc tiếp giảng dạy với câu hỏi: “Em cỏ cảm thay hứng thú với

các giờ học môn Văn không? ”, kết quà thu được như sau:

Tông số học sinh khảo sát Hứng thú với giờ học

Không hứng thú với giờ học

Kết quà cho thấy, số HS câm thấy hứng thú với các giờ Ngừ Văn chỉ đạt 34,88% Đây là một con số đáng báo động với cả các cap quân lý và trực tiếp là giáo viên giảng dạy bộ môn Văn

Xuất phát từ đó, tôi có câu hòi thứ 2 dành cho HS: “Tại sao em không thích các

giò’ học Văn?”, các em đưa ra rất nhiều nguyên nhàn như: môn Văn phâi ghi chép rat dài,

nhàm chán, giáo viên lên lóp chỉ đọc, học sinh thì chép lại, bố mẹ muốn em đầu tư học các môn xét tuyên đại học của mình (Toán, Lý, Hóa, Anh) không cần học Văn,

Tông hợp các câu trả lời của HS, tôi chia thành các nhóm nguyên nhân chính khiến các em không hứng thú VÓI môn Văn là:

- Do môn học: Kiến thức nhiều, không có các hình ảnh video minh họa hap dần như các môn Lý, Hóa nên không thu hút được các em

Trang 13

- Do bân thân và gia đình người học: Không nhận thức đúng vai trò, chức năng của môn Ngữ văn trong việc bồi dường tâm hồn, hình thành phẩm chất, năng lực cần thiết trong cuộc sống; cũng như do áp lực từ thành tích, việc thi cữ nên có cái nhìn lệch lạc thực dụng với bộ môn Nhiều người cho rang không cần học Văn, chỉ cần tập trung vào các môn xét tuyên Đại học của mình - nên ngoại trừ HS theo khối c, D thì không em nào học Văn, thậm chí nhiều em học khối c, D học Văn không xuất phát từ sự yêu thích, chẳng qua đó là do môn mình buộc phải học để phục vụ cho kì thi THPT Quốc gia

- Do giáo viên: Nhiều GV lên lớp chỉ đọc cho HS chép từ đầu đến cuối giờ nên các

em thay chán, mệt mỏi với môn học

Trong ba nhóm nguyên nhàn trên, tôi đặc biệt quan tâm tới nguyên nhân thứ ba - do giáo viên Thực tế, một số GV giảng dạy Ngữ văn còn bộc lộ nhiều hạn chế trong việc vận dụng linh hoạt các phương pháp, kỹ thuật trong giảng dạy: không biết ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy; còn sa vào “độc thoại”, “độc diễn” trên bục giảng do nội dung kiến thức nhiều nên họ cố gang làm sao đê truyền đạt đủ và kip thời gian cho HS, và lúc này phương thức đọc cho các em ghi trở thành hợp lý nhất, Nguyên nhân cùa tình trạng, ngoại trừ một số GV “lười” đổi mới tư duy, ngại thay đôi, còn do hoàn cành gây ra: một GV phải dạy một lớp học đông (trung bình 42 HS/lớp), giống nhau về lứa tuôi, trình

độ cơ bân tương đương nhau, trong thời gian quy đinh cụ thê một tiết học (45 phút), rat khó đê quan tâm đến từng HS nên hình thức “thông báo đồng loạt” đã được lựa chọn Điều

đó khiến cho nhiều tiết Văn trờ nên đơn điệu, mệt mỏi với HS Đây là điều đáng đê mọi

GV nói chung và nhất là GV bộ môn Ngữ văn nói riêng cần suy ngầm một cách nghiêm túc bởi trách nhiệm, nghĩa vụ của một nhà giáo khi đứng trên bục giảng không chỉ giúp HS lĩnh hội được tri thức mà còn phải khơi gợi niềm yêu thích, hứng thú, từ đó giúp các em hoàn thiện nhân cách, hình thành phát triên các năng lực cần thiết đê thích ứng, tồn tại được trong cuộc sống hiện đại đúng như nhà giáo dục người Mĩ - William Arthur Ward đã

từng nói: "Người thầy trung bình chi bier nói, người thầy giói biết giải thích, người thầy

xuất chúng biết minh họa, người thầy vì đại biết truyền câm hứng".

Đê nâng cao chat lượng việc dạy và học môn Văn có nhiều yếu tố chi phối như: Chương trình, sách giáo khoa, môi trường học tập, phương pháp giảng dạy cùa giáo viên,

ý thức, thái độ học tập của học trò Trong phạm vi khả năng của mình, GV dạy Văn cần

Ngày đăng: 19/04/2023, 09:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w