1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức thông tin thị trường và phát triển thương mại điện tử của các doanh nghiệp việt nam

169 518 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp phát triển các dịch vụ hỗ trợ nhằm thuận lợi hoá thương mại tại các cửa khẩu biên giới phía Bắc Việt Nam (Báo cáo tổng hợp)
Trường học Viện Nghiên cứu Thương mại, Bộ Thương mại
Chuyên ngành Thương mại
Thể loại Báo cáo tổng hợp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 169
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những khó khăn đáng kể trong hoạt động thương mại của các doanh nghiệp và thương nhân của Việt Nam cũng như Trung Quốc đang hoạt động kinh doanh ở các vùng cửa khẩu biên giới phía Bắc nư

Trang 1

Bộ Thương mại Viện nghiên cứu thương mại

Mã số: 2004 – 78 – 018

đề tài khoa học cấp bộ

Giải pháp phát triển các dịch vụ hỗ trợ nhằm thuận lợi hoá thương mại tại các cửa khẩu biên giới phía Bắc Việt Nam

(Báo cáo tổng hợp)

6478

20/8/2007

Hà nội – 12/2005

Trang 2

Bộ Thương mại Viện nghiên cứu thương mại

Mã số: 2004 – 78 – 018

Giải pháp phát triển các dịch vụ hỗ trợ nhằm thuận lợi hoá thương mại tại các cửa khẩu biên giới phía Bắc Việt Nam

(Báo cáo tổng hợp)

Cơ quan quản lý đề tài : Bộ Thương mại

Cơ quan chủ trì thực hiện : Viện Nghiên cứu Thương mại

Chủ nhiệm đề tài : PGS TS Lê Trịnh Minh Châu – Viện NCTM

Các thành viên : - Ths Trịnh Thị Thanh Thuỷ – Viện NCTM

- CN Nguyễn Xuân Phương – Viện NCTM

- CN Nguyễn Văn Hội – Vụ TMMN & MDBG Cơ quan chủ trì thực hiên Chủ tịch hội đồng nghiệm thu

Cơ quan quản lý đề tài

Trang 3

Mục lục

Trang

Chương I: Một số vấn đề lý luận về phát triển dịch vụ hỗ trợ

thương mại tại các cửa khẩu biên giới phía bắc việt nam

5

1 Phân loại các dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới 5

1.1 Đặc điểm thị trường và hoạt động thương mại tại cửa khẩu

1.2.1 Dịch vụ công: kết cấu hạ tầng; cấp phép; chứng nhận;

kê khai hải quan, kiểm dịch…

11

1.2.2 Dịch vụ hỗ trợ nâng cao năng lực giao nhận – vận

chuyển hàng hoá, kho vận, kiểm tra…

12

1.2.3 Dịch vụ về tài chính, tiền tệ: Đổi tiền, gửi tiền, chuyển

khoản, thanh toán

12

1.2.4 Dịch vụ hỗ trợ nâng cao khả năng tiếp cận và thâm

nhập thị trường: Nghiên cứu thị trường; tư vấn; môi giới; đại l ý mua-

bán, uỷ thác xuất, nhập khẩu; tài chính; quảng cáo - hội chợ

13

1.2.5 Dịch vụ lao động: phiên dịch; bốc dỡ; vệ sinh; bảo vệ 15

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các dịch vụ

hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới

16

1.3.2 Quản lý của nhà nước ở Trung ương và địa phương 17

2 Vai trò của dịch vụ hỗ trợ đối với sự phát triển thương mại tại cửa

khẩu biên giới

20

2.1 Tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi cho các dòng

hàng hoá, người, vốn và phương tiện vận chuyển vào, ra qua cửa

khẩu biên giới

21

2.2 Nâng cao khả năng phát hiện và khai thác các cơ hội kinh

doanh cho doanh nghiệp

23

2.3 Nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp 24

2.4 Thu hút đầu tư nhằm mục đích thương mại vào khu vực 24

Trang 4

cửa khẩu

2.5 Giảm thiểu chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp 25

3 Những bài học kinh nghiệm của Trung Quốc về phát triển dịch vụ hỗ

trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới với các nước láng giềng

26

Chương II: Đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ hỗ trợ

thương mại tại cửa khẩu biên giới phía Bắc Việt Nam

1.2 Kết quả và trở ngại trong phát triển thương mại dịch vụ 46

2 Thực trạng phát triển các dịch vụ hỗ trợ thương mại tại các cửa

khẩu biên giới phía Bắc Việt Nam

56

2.1 Đánh giá thực trạng nhu cầu sử dụng các dịch vụ hỗ trợ

thương mại tại cửa khẩu biên giới phía Bắc nước ta

2.1.4 Cửa khẩu Thanh Thuỷ (VN) - Thiên Bảo (TQ) 63

2.2 Đánh giá thực trạng cung ứng các dịch vụ hỗ trợ thương

mại tại cửa khẩu biên giới phía Bắc nước ta

2.3 Thực trạng các chính sách và biện pháp của Chính phủ đối

với sự phát triển các dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên

giới phía Bắc Việt Nam

3.3 Những vấn đề đặt ra cho việc phát triển các dịch vụ hỗ trợ

thương mại tại cửa khẩu biên giới phía Bắc nước ta

83

Trang 5

Chương iii: Đề xuất các giải pháp phát triển dịch vụ hỗ trợ

thương mại tại cửa khẩu biên giới phía Bắc Việt Nam

86

1 Định hướng phát triển các dịch vụ hỗ trợ hoạt động thương mại tại

cửa khẩu biên giới phía Bắc Việt Nam

86

1.1 Dự báo những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển các

dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới phía Bắc nước ta

86

1.1.1 Nhu cầu sử dụng dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa

khẩu biên giới

1.2 Quan điểm phát triển các dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa

khẩu biên giới phía Bắc nước ta

88

1.2.1 Hoạt động dịch vụ hỗ trợ thương mại tại các cửa khẩu

biên giới lấy hiệu quả kinh tế – xã hội làm mục tiêu cơ bản để định

hướng phát triển

88

1.2.2 Phát triển dịch vụ hỗ trợ thương mại tại các cửa khẩu

biên giới với nhiều thành phần kinh tế tham gia, vận hành theo cơ chế

thị trường có sự quản lý của nhà nước

89

1.2.3 Phân cấp hợp lý về quản lý hoạt động kinh doanh dịch

vụ hỗ trợ thương mại cho các địa phương khu vực cửa khẩu biên giới

89

1.2.4 Thực hiện tự do hoá thương mại dịch vụ tại các cửa

khẩu biên giới, gắn phát triển dịch vụ hỗ trợ cửa khẩu với dịch vụ hỗ

trợ xuất khẩu và dịch vụ hỗ trợ thương mại nội địa, từng bước hội

nhập thương mại Việt Nam với khu vực và thế giới

90

1.2.5 Phát triển dịch vụ hỗ trợ thương mại cửa khẩu theo

hướng văn minh hiện đại, kết hợp với bảo vệ môi trường sinh thái

90

1.2.6 Phát triển dịch vụ hỗ trợ thương mại cửa khẩu biên

giới trên cơ sở coi trọng hợp tác, khai thác có hiệu quả những lợi thế

trong phân công lao động quốc tế

91

1.3 Định hướng phát triển các dịch vụ hỗ trợ thương mại tại

cửa khẩu biên giới phía Bắc nước ta

92

1.3.1 Cải thiện chất lượng kết cấu hạ tầng, góp phần nâng

cao sức cạnh tranh hoạt động dịch vụ hỗ trợ thương mại cửa khẩu

biên giới

92

1.3.2 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp

luật liên quan đến dịch vụ thương mại cửa khẩu

92 1.3.3 Nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ công 94

Trang 6

1.3.4 Phát triển nguồn nhân lực có khả năng đáp ứng nhu

cầu dịch vụ hỗ trợ thương mại cửa khẩu biên giới

95

1.3.6 Phát triển mạnh mẽ các loại hình dịch vụ tư vấn, dịch

vụ phục vụ đời sống, đáp ứng nhu cầu đa dạng của hoạt động xuất

nhập khẩu tại các cửa khẩu biên giới phía Bắc

2.1.1 Chính sách đầu tư nâng cấp kết cấu hạ tầng đối với

các khu kinh tế cửa khẩu

97

2.1.2 Xây dựng và thực hiện quy hoạch phát triển dịch vụ

hỗ trợ thương mại tại các cửa khẩu biên giới

99

2.1.3 Hoàn thiện tổ chức quản lý dịch vụ hỗ trợ thương mại

tại cửa khẩu biên giới

99

2.1.4 Mở rộng các khu kinh tế cửa khẩu để phát triển các

dịch vụ hỗ trợ thương mại

100

2.1.5 Đầu tư trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại cho các

lực lượng kiểm soát liên ngành tại cửa khẩu biên giới

2.2.5 Dịch vụ cung cấp thông tin của các cơ quan nhà nước 105

2.3 Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà

nước với các Ban Quản lý khu kinh tế cửa khẩu

106

3 Đề xuất những giải pháp phát triển các dịch vụ hỗ trợ các kỹ năng

chuyên môn cho doanh nghiệp tại các khu kinh tế cửa khẩu phía Bắc

3.1.2 Các giải pháp phát triển nhu cầu sử dụng dịch vụ 109

3.1.3 Các giải pháp phát triển khả năng cung ứng dịch vụ 111

3.2.1 Các giải pháp phát triển dịch vụ hỗ trợ năng lực tiếp

cận và thâm nhập thị trường cho các doanh nghiệp

113 3.2.2 Các giải pháp phát triển dịch vụ hỗ trợ khả năng cạnh 116

Trang 7

tranh của hàng hoá

3.2.3 Các giải pháp phát triển dịch vụ tài chính, tiền tệ 117 3.2.4 Các giải pháp phát triển dịch vụ lao động 121

4.5 Đối với UBND các tỉnh biên giới phía Bắc 126

4.6 Đối với Ban Chỉ đạo hoạt động buôn bán hàng hóa qua

Trang 8

Mở đầu

Xu thế cạnh tranh và hợp tác kinh tế dựa trên khả năng phát huy lợi thế so sánh giữa các quốc gia đang tạo nên trào lưu tự do hoá thương mại và hội nhập kinh tế sâu rộng vào khu vực và thế giới Hiệp định khung về hợp tác kinh tế Trung Quốc - ASEAN đã được ký kết, theo đó đã xác định được khung cơ bản của khu vực thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc Trong bối cảnh đó, triển vọng hợp tác và phát triển hoạt động thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày càng mở rộng nhờ vào sự nỗ lực chung của cả hai nước cũng như của các tỉnh có chung biên giới

Nhiều năm qua, Chính phủ Việt Nam đã xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, trong đó đã định hình chiến lược xây dựng và phát triển các khu kinh tế, thương mại cửa khẩu nhằm tạo nên các nhân tố hỗ trợ, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước thông qua các hoạt động thương mại quốc tế với các quốc gia có đường biên giới chung với Việt Nam Tại các vùng cửa khẩu biên giới Việt Nam - Trung Quốc, với sự hiện diện của nhiều cửa khẩu quốc tế, quốc gia và địa phương, đang và sẽ trở thành các cửa ngõ quan trọng để Việt Nam phát triển các quan hệ thương mại với các tỉnh phía Nam và Tây Nam của Trung Quốc, rộng hơn là với thị trường toàn Trung Hoa

Các khu kinh tế cửa khẩu khu vực biên giới phía Bắc Việt Nam nối liền với các tỉnh phía Nam và Tây Nam Trung Quốc giữ vai trò là những trung tâm thương mại của vùng, có ảnh hưởng lan tỏa không chỉ nội vùng, mà còn giữ vị trí thị trường trọng yếu của đất nước Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc

tế và khu vực của Việt Nam, các khu kinh tế cửa khẩu biên giới phía Bắc đã và

đang tận dụng mọi lợi thế so sánh để phát triển thương mại, góp phần thúc đẩy quan hệ kinh tế - thương mại giữa nước ta với Trung Quốc Tuy vậy, những bước phát triển thương mại đã đạt được còn thiếu vững chắc, chưa tương xứng với những tiềm năng vốn có để phát triển thương mại, đặc biệt là lợi thế của một thị trường trung chuyển và liền kề với thị trường Trung Quốc rộng lớn Hoạt động

Trang 9

thương mại của các doanh nghiệp trong các khu kinh tế cửa khẩu phía Bắc nước

ta phát triển còn chưa bền vững, bởi chưa định hướng được theo thị trường mục tiêu, chi phí còn cao và nhiều rủi ro Những khó khăn đáng kể trong hoạt động thương mại của các doanh nghiệp và thương nhân của Việt Nam cũng như Trung Quốc đang hoạt động kinh doanh ở các vùng cửa khẩu biên giới phía Bắc nước

ta được thể hiện tập trung ở những hạn chế trong việc tiếp cận và thâm nhập thị trường, từ việc hiểu rõ nhu cầu thị trường của cả hai bên, chính sách và cơ chế quản lý thương mại của mỗi bên để phát hiện và lựa chọn các cơ hội kinh doanh, cho đến khả năng sử dụng các dịch vụ hỗ trợ các kỹ năng chuyên môn và các dịch vụ công nhằm thuận lợi hoá hoạt động thương mại, giảm thiểu chi phí và rủi ro cho họ

Một trong những nguyên nhân cơ bản làm hạn chế sự phát triển thương mại ở các vùng cửa khẩu phía Bắc nước ta đã được thực tiễn chứng tỏ, đó chính

là sự thiếu vắng các dịch vụ hỗ trợ thương mại Sự sẵn có của các dịch vụ hỗ trợ

có chất lượng cao với giá cả hợp lý được xem là yếu tố cạnh tranh quan trọng,

đảm bảo thúc đẩy mọi mặt hoạt động của nền kinh tế nói chung và hoạt động thương mại của từng khu vực kinh tế nói riêng Nhờ các dịch vụ cung cấp những

kỹ năng chuyên môn và các dịch vụ công phát triển mà năng lực cạnh tranh thương mại của các doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh trong khu kinh tế cửa khẩu sẽ được nâng cao bởi một mặt, các hoạt động thương mại của họ được thuận lợi hoá, mặt khác do tăng cường chuyên môn hoá nên giảm thiểu được chi phí và rủi ro trong quá trình kinh doanh Vấn đề là ở chỗ chất lượng các dịch vụ công được cung ứng cũng có vai trò quyết định đến hiệu quả kinh doanh đối với hoạt động của các doanh nghiệp, tạo nên những đầu vào quan trọng cho quá trình chuyển dịch từ xuất khẩu có giá trị gia tăng thấp sang xuất khẩu có giá trị gia tăng cao, đồng thời cũng tạo nên những cầu nối gắn thị trường trong nước với thị trường ngoài nước

ở Việt Nam đã có sự phát triển các dịch vụ hỗ trợ thương mại, song những dịch vụ đó mới tập trung nhiều ở các đô thị Còn ở các vùng cửa khẩu nói chung và các khu kinh tế cửa khẩu phía Bắc nói riêng, nơi miền núi xa xôi với

Trang 10

các yếu tố thị trường kém phát triển, hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ tuy năng lực cạnh tranh còn yếu nhưng lại không có hoặc có rất ít cơ hội được sử dụng những dịch vụ hỗ trợ cần thiết này Hầu hết tại các cửa khẩu biên giới phía Bắc nước ta mới chỉ xuất hiện một số dịch vụ như kê khai hải quan, tài chính, tiền tệ, visa, vận chuyển, kho với quy mô nhỏ, tự phát, giá dịch vụ còn cao

Điều đó không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, mà còn hạn chế khả năng thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài vào những khu vực này, từ đó trực tiếp hay gián tiếp có thể gây nên những cản trở nhất định cho

Với những lý do nêu trên, đề tài: “Giải pháp phát triển các dịch vụ hỗ trợ nhằm thuận lợi hoá thương mại tại các cửa khẩu biên giới phía Bắc Việt Nam”

được lựa chọn nghiên cứu sẽ góp phần thiết thực tăng cường hiệu quả hoạt động thương mại của nước ta trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực ngày càng sâu sắc, đáp ứng yêu cầu thực tiễn cấp bách của Nhà nước nói chung, của

Bộ Thương mại nói riêng, cũng như của các doanh nghiệp ở Việt Nam

Mục tiêu nghiên cứu:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về phát triển các dịch vụ hỗ trợ thương mại ở cửa khẩu - vai trò, sự cần thiết của các dịch vụ hỗ trợ thương mại cửa khẩu cũng như những cơ sở để phát triển chúng

- Đánh giá thực trạng phát triển của các ngành dịch vụ hỗ trợ thương mại cửa khẩu giữa Việt Nam với các tỉnh phía Nam và Tây Nam Trung Quốc

Trang 11

- Đề xuất các giải pháp phát triển các loại hình dịch vụ hỗ trợ hoạt động thương mại cửa khẩu giữa Việt Nam với các tỉnh phía Nam và Tây Nam Trung Quốc

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là dịch vụ hỗ trợ thương mại hàng hoá, chính sách và giải pháp phát triển các dịch vụ này

2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

- Nghiên cứu các dịch vụ hỗ trợ thương mại hàng hoá và dịch vụ ở cửa khẩu biên giới phía Bắc giữa Việt Nam và các tỉnh phía Nam và Tây Nam Trung Quốc (tỉnh Quảng Tây và Vân Nam)

- Về không gian nghiên cứu: Tập trung ở các khu kinh tế cửa khẩu chính như: Đồng Đăng và Chi Ma - Lạng Sơn; Lào Cai; Móng Cái - Quảng Ninh; Tà Lùng - Cao Bằng; Thanh Thuỷ - Hà Giang Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển dịch vụ hỗ trợ thương mại của Trung Quốc trong một số khu kinh tế, thương mại cửa khẩu đối diện với phía Việt Nam

- Thời gian nghiên cứu:

Trang 12

Chương I

Một số vấn đề lý luận về phát triển dịch vụ

hỗ trợ thương mại tại các cửa khẩu biên giới

phía bắc việt nam

1 Phân loại các dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới

1.1 Đặc điểm thị trường và hoạt động thương mại tại cửa khẩu biên giới

1.1.1 Môi trường kinh doanh

Cửa khẩu biên giới của mỗi quốc gia là một khu vực lãnh thổ đặc biệt,

được áp dụng một số chính sách ưu đãi của Nhà nước nhằm khai thác những ưu thế về địa lý, kinh tế, xã hội của cửa khẩu vào việc giao lưu kinh tế với các nước láng giềng, tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ dưới mọi hình thức, thu hút đầu tư và du lịch v.v nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vùng biên cương Do đó, hoạt động kinh doanh tại các cửa khẩu biên giới cũng mang những nét đặc thù riêng Trước đây, khái niệm về “giao lưu kinh tế biên giới” thường được hiểu theo nghĩa hẹp là các hoạt động trao đổi thương mại qua biên giới giữa hai nước, chủ yếu là trao đổi về hàng hoá tiêu dùng của cư dân hai bên biên giới Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xu hướng mở cửa và hợp tác kinh tế khu vực, khái niệm này đã ngày càng được mở rộng, bao trùm lên nhiều dạng hoạt động mới mà trước kia chưa từng được thực hiện ở khu vực biên giới

Trong vòng hơn một thập kỷ qua, nội dung của trao đổi kinh tế qua biên giới đã có những thay đổi lớn và trở thành các hoạt động hợp tác kinh tế, kỹ thuật ngày càng đầy đủ, toàn diện hơn, trong đó các hoạt động giao lưu kinh tế không chỉ đơn thuần là việc buôn bán, trao đổi hàng hoá thông thường mà còn bao gồm cả các hoạt động hợp tác kỹ thuật, xuất và nhập khẩu dịch vụ, thực hiện các liên doanh xuyên biên giới, các xí nghiệp 100% vốn đầu tư phía đối tác bên kia biên giới, buôn bán các trang thiết bị kỹ thuật, liên doanh phát triển cơ sở hạ tầng, du lịch qua biên giới

Như vậy có thể thấy, kinh doanh tại các cửa khẩu biên giới đã phát triển

từ các hình thức trao đổi hàng hoá giản đơn thành các hoạt động hợp tác sản

Trang 13

xuất kinh doanh Xu hướng này ngày càng trở nên rõ ràng và trở thành hướng đi chính, dẫn tới việc thành lập các khu vực mậu dịch tự do biên giới hoặc thành lập các khu hợp tác kinh tế tiểu vùng, được coi là những bước chuẩn bị cho hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế

Môi trường kinh doanh ở khu vực cửa khẩu cũng dần được tạo lập để phục

vụ cho việc thúc đẩy và hỗ trợ các hoạt động buôn bán ở biên giới Môi trường

đó không chỉ bao gồm các chiến lược, định hướng và chính sách phát triển và cơ chế quản lý buôn bán hàng hoá qua biên giới của nhà nước, mà còn có kết cấu hạ tầng thương mại gồm cả phần cứng và phần mềm, trong đó sự sẵn có các dịch

vụ hỗ trợ thương mại cũng là một phần quan trọng của môi trường kinh doanh

Do vùng biên giới có đặc điểm xa xôi, hiểm trở, hẻo lánh, nghèo , nên kết cấu hạ tầng hầu như rất kém phát triển Để có nền tảng cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động buôn bán ở biên giới đòi hỏi phải có sự đầu tư của nhà nước đi trước, sau thu hút thêm các thành phần khác cùng tham gia Trong đó, các dịch

vụ mà nhà nước cung ứng đóng vai trò rất quan trọng để hình thành môi trường kinh doanh thuận lợi ở khu vực này Bên cạnh đó, phải có chính sách ưu đãi cao nhất để thu hút các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các loại hình dịch vụ, nhằm tạo nên một môi trường kinh doanh thuận lợi, với sự sẵn có của cơ sở hạ tầng và các dịch vụ, phục vụ và thúc đẩy sự phát triển thương mại ở cửa khẩu

1.1.2 Hàng hoá và dịch vụ

Trong hoạt động thương mại tại các cửa khẩu biên giới, cơ cấu hàng hoá trao đổi rất phong phú, đa dạng cả về chủng loại lẫn phẩm cấp, bao gồm nhiều chủng loại khác nhau, từ hàng nông, lâm, thuỷ sản tươi sống, đến các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp, từ hàng nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất đến các sản phẩm cao cấp như máy móc, thiết bị điện tử Sự đa dạng đó xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng đa dạng của nhiều tầng lớp cư dân dọc biên giới

và các tỉnh sâu trong nội địa của từng nước, đồng thời còn xuất phát từ nhu cầu sản xuất của nội địa hai nước Các loại hàng hoá này không phải chỉ được huy

động từ dân cư sống dọc biên giới mà được huy động và đầu tư sản xuất từ khắp các tỉnh, các vùng, miền của mỗi nước Vì vậy, chất lượng của các loại hàng hoá cũng rất khác nhau, có loại đạt tiêu chuẩn quốc gia và địa phương, nhưng cũng

có loại chưa được đánh giá về phẩm cấp, nhất là hàng hoá xuất nhập khẩu theo

Trang 14

đường tiểu ngạch và trao đổi ở chợ biên giới Đặc biệt, hoạt động xuất nhập khẩu tại các cửa khẩu biên giới có thể mua bán những mặt hàng có thời gian bảo quản ngắn, dễ hư hỏng hoặc suy giảm chất lượng như hàng rau quả và thực phẩm tươi sống

Xuất phát từ đặc điểm vị trí địa lý và cơ cấu dân cư khu vực biên giới, nên tại các cửa khẩu hầu như không có hoặc có rất ít các ngành sản xuất, mà chủ yếu tập trung vào việc phát triển các dịch vụ hỗ trợ xuất nhập khẩu và mua bán hàng hoá của cư dân hai bên biên giới như tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu, quá cảnh, kho ngoại quan bảo quản, đóng gói, bốc xếp vv, trong đó dịch vụ tạm nhập tái xuất phát triển tương đối nhanh chóng và mạnh mẽ

Để phù hợp với thông lệ quốc tế và đáp ứng yêu cầu thương mại giữa hai nước, Chính phủ Việt Nam đã ký kết các Hiệp định về quá cảnh hàng hoá, vận tải đường bộ, đường sắt, tạo khung pháp lý cho các dịch vụ quá cảnh, tạm nhập, tái xuất với một số quốc gia có chung đường biên Bộ Thương mại, Tổng cục Hải quan và Bộ giao thông vận tải đã ban hành các văn bản hướng dẫn việc làm thủ tục và tiến hành các công tác giám sát, quản lý các hoạt động kinh doanh, dịch vụ đối với hàng quá cảnh và tạm nhập tái xuất qua các cửa khẩu phía Bắc Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký ban hành Quy chế kho ngoại quan để bảo đảm cho các hoạt động trên Một hình thức dịch vụ khá phát triển nữa là hình thức chuyển khẩu Phía Việt Nam xếp trong loại hình tạm nhập tái xuất, song về phía thương nhân Trung Quốc chính là việc lợi dụng cơ chế hoàn thuế xuất khẩu của Trung Quốc để giảm giá cho hàng tiêu thụ tại nội địa (hàng xuất sang Việt Nam tại cửa khẩu quốc tế để lấy chứng nhận xuất khẩu nhằm hoàn thuế và nhập trở lại qua cửa khẩu địa phương với thuế suất thấp)

1.1.3 Phương thức buôn bán

Hoạt động thương mại tại các cửa khẩu biên giới giữa Việt Nam và các nước láng giềng thời gian qua chủ yếu thông qua một số phương thức sau:

Mậu dịch chính ngạch (buôn bán chính ngạch):

Trang 15

Mậu dịch chính ngạch là phương thức tiến hành hoạt động kinh doanh

xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới, mà trong đó hàng hoá phải lưu thông qua các cửa khẩu quốc tế và quốc gia, đồng thời phải chấp hành đầy đủ các thủ tục xuất nhập khẩu theo thông lệ và tập quán quốc tế

Mậu dịch tiểu ngạch (buôn bán tiểu ngạch):

Về phía Việt Nam không có định nghĩa chính thức về mậu dịch tiểu ngạch

mà trên thực tế coi buôn bán qua biên giới bao gồm các hoạt động sau:

- Hoạt động mua bán, trao đổi hàng hoá của dân cư biên giới là những hoạt động dành riêng cho cư dân biên giới phù hợp với các quy định của Quyết

định số 252/2003/QĐ-TTg ngày 24 tháng 11 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý buôn bán hàng hoá qua biên giới với các nước có chung biên giới

- Buôn bán tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu và chợ trong khu kinh tế cửa khẩu

- Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới được các chủ thể quy

định tiến hành theo phương thức không theo thông lệ buôn bán quốc tế (có thể

có hợp đồng hoặc không có hợp đồng, có thể theo nhiều hình thức thanh toán

khác nhau)

Tuy nhiên, trên thực tế sự phân biệt hàng hoá chính ngạch và tiểu ngạch chỉ mang tính chất tương đối Nhiều khi hàng chính ngạch lại được chuyển qua các cửa khẩu dành cho buôn bán tiểu ngạch, điều đó tuỳ thuộc vào biểu thuế, mức thuế của các loại hàng hoá trong những thời điểm khác nhau

Ngoài ra, quan niệm của Việt Nam và các nước láng giềng đối với hàng hoá xuất nhập khẩu qua biên giới cũng rất khác nhau nên trong một số trường hợp có những lô hàng qua biên giới Việt Nam coi là chính ngạch thì phía nước bạn lại quan niệm là biên mậu

Quan niệm của mỗi nước Việt Nam và Trung Quốc đối với hàng hoá xuất, nhập khẩu qua biên giới cũng có sự khác nhau Việt Nam có QĐ số 252/2003/QĐ-TTg ngày 24/11/2003 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư liên tịch 05/2004/TTLT-BTM-BTC-BGTVT-BNN-BYT-NHNN ngày 17.08.2004 của

Trang 16

Bộ Thương mại, Bộ Tài chính, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Nông nghiệp phát triển nông thôn, Bộ Y tế và Ngân hàng Nhà nước về việc hướng dẫn thực hiện Quyết

định về quản lý buôn bán hàng hoá qua biên giới với các nước có chung biên giới, coi đó là căn cứ để quản lý buôn bán hàng hoá ở khu vực cửa khẩu Đối với Trung Quốc, thương mại quốc tế hiện nay được phân thành hai loại: Mậu dịch quốc gia (gọi tắt là quốc mậu) và mậu dịch biên giới (gọi tắt là biên mậu) Theo văn bản "Biện pháp tạm thời quản lý ngoại tệ mậu dịch biên giới" do Cục quản

lý ngoại tệ Trung Quốc ban hành năm 1997, thì mậu dịch biên giới bao gồm: mậu dịch chợ cư dân biên giới, mậu dịch tiểu ngạch biên giới, hợp tác kinh tế -

kỹ thuật đối ngoại của khu vực biên giới Do quan niệm khác nhau, nên đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến những khác biệt trong con số thống kê hải quan giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc về hàng hoá xuất nhập khẩu qua biên giới hai nước Thật ra, sự khác nhau giữa số liệu thống kê về xuất nhập khẩu của hải quan mỗi nước còn có những nguyên nhân khác biệt cần

được nghiên cứu xử lý, chẳng hạn ảnh hưởng tác động của kinh tế ngầm, gian lận thương mại Giải quyết tốt vấn đề này thực sự có ý nghĩa thực tiễn rất lớn,

điều đó đòi hỏi những công trình nghiên cứu chuyên biệt

Một đặc điểm nổi bật nữa là, trong số các chủ thể tham gia hoạt động tại các cửa khẩu biên giới, kim ngạch xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Nhà nước chỉ chiếm từ 25 – 40 % tổng kim ngạch xuất nhập khẩu qua biên giới, còn lại là của các doanh nghiệp tư nhân và tư thương Tuy nhiên, có nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tham gia nhưng thiếu sự tổ chức và phối

Trang 17

hợp nên dễ bị rủi ro, làm giảm hiệu quả của mậu dịch biên giới đồng thời gây khó khăn cho công tác quản lý

Bên cạnh đó, tại thị trường cửa khẩu biên giới Việt - Trung còn có nhiều thương nhân ở các tỉnh nội địa Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan cùng tham gia hoạt động kinh doanh Như ở chợ Móng Cái huyện Hải Ninh tỉnh Quảng Ninh thường xuyên có hàng trăm thương nhân Trung Quốc sang đăng ký hoạt

động kinh doanh Ngoài ra, ở đây còn một số doanh nghiệp người Hồng Kông,

Đài Loan tham gia làm dịch vụ chuyển khẩu hàng hoá Việt Nam vào các tỉnh phía Nam Trung Quốc

1.2 Phân loại các dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới

Dịch vụ hỗ trợ nhằm thuận lợi hoá thương mại tại cửa khẩu biên giới là một bộ phận quan trọng thuộc dịch vụ phát triển kinh doanh được doanh nghiệp

sử dụng để hỗ trợ nhằm thuận lợi hoá hoạt động kinh doanh và được cung cấp một cách chính thức như các dịch vụ công do các cơ quan quản lý nhà nước cung ứng như cấp phép, chứng nhận, kê khai hải quan, kiểm dịch…., hoặc không chính thức do các tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp, cá nhân cung ứng như dịch vụ hỗ trợ nâng cao khả năng tiếp cận và thâm nhập thị trường: nghiên cứu thị trường; tư vấn; môi giới; đại lý mua - bán, uỷ thác xuất, nhập khẩu;

chuyển khẩu; quảng cáo - hội chợ ; dịch vụ hỗ trợ nâng cao năng lực giao nhận

- vận chuyển hàng hoá, kho vận, kiểm tra ; dịch vụ lao động: phiên dịch; bốc

dỡ; vệ sinh; bảo vệ ; dịch vụ về tài chính, tiền tệ: đổi tiền, gửi tiền, chuyển khoản, thanh toán

Trước đây, các dịch vụ hỗ trợ thương mại tại các cửa khẩu biên giới chưa

được coi trọng đúng với vai trò và vị trí của nó, các dịch vụ được cung cấp mới chủ yếu là các dịch vụ công và mang nặng tính hành chính Đây chính là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những hạn chế về chất lượng và nguồn cung của các dịch vụ hỗ trợ thương mại tại các cửa khẩu biên giới Do vậy, cùng với các hạn chế khác, việc các dịch vụ hỗ trợ thương mại tại các cửa khẩu biên giới hoạt động kém hiệu quả là một nhân tố ảnh hưởng lớn đến hiệu quả và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp, cản trở sự phát triển của mậu dịch biên giới

Trang 18

Để góp phần thúc đẩy mậu dịch biên giới phát triển hiệu quả hơn, việc xây dựng và phát triển các dịch vụ hỗ trợ nhằm thuận lợi hoá thương mại tại các cửa khẩu biên giới là hết sức cần thiết Tuy nhiên, việc đưa ra các dịch vụ được coi là các dịch vụ hỗ trợ nhằm thuận lợi hoá thương mại tại các cửa khẩu biên giới đòi hỏi phải được khái quát từ quá trình thực thi, kiểm định trong thực tiễn

Đề tài chủ yếu tập trung lựa chọn các dịch vụ hỗ trợ nhằm thuận lợi hoá thương mại trên cơ sở các tiêu chí dịch vụ góp phần giúp doanh nghiệp giảm chi phí, tăng hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu biên giới, tiếp cận thị trường, kích thích tăng trưởng bền vững, tăng doanh thu và quan trọng nhất là sẽ góp phần hạ thấp các rào cản thương mại trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay

Đây là các loại hình dịch vụ hỗ trợ nhằm thuận lợi hoá thương mại rất quan trọng đối với hoạt động xuất khẩu tại các cửa khẩu biên giới, đặc biệt trong tình hình mà các quốc gia có cửa khẩu biên giới buôn bán với Việt Nam đã gia nhập

Tổ chức Thương mại Thế giới, dịch vụ công càng cần được Nhà nước thực hiện

và kiểm soát chặt chẽ hơn nhằm góp phần đẩy nhanh sự phát triển của thương mại tại các cửa khẩu biên giới nước ta theo thông lệ quốc tế Điều quan trọng hơn nữa là, trong bối cảnh tự do hoá thương mại hiện nay, khi mà các hàng rào thuế quan đang ngày càng có xu hướng được hạ thấp xuống, thì sự phát triển của các dịch công sẽ góp phần hạ thấp các rào cản của các hàng rào kỹ thuật trong thương mại

Trang 19

1.2.2 Dịch vụ hỗ trợ nâng cao năng lực giao nhận - vận chuyển hàng hoá, kho vận, kiểm tra

Các dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới như dịch vụ vận chuyển, giao nhận hàng hoá và kho tàng, bến bãi là những hoạt động quan trọng nhằm liên kết giữa người sản xuất và các nhà xuất nhập khẩu Mức độ hiệu quả của những dịch vụ này tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu tại các cửa khẩu biên giới Những yếu kém trong kết cấu hạ tầng

đối với vận chuyển - giao nhận hàng hoá và kho tàng, bến bãi có thể dẫn đến làm tăng chi phí không cần thiết và không phát huy được tối đa các nguồn lực cho phát triển mậu dịch biên giới Vì vậy, việc phát triển các dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới như vận chuyển , giao nhận hàng hoá, kho tàng, bến bãi là hết sức cấp thiết, nhằm tạo lập các điều kiện cho hoạt động thương mại tại các khu vực cửa khẩu biên giới ngày càng đạt được hiệu quả cao,

đem lại lợi ích cho cả doanh nghiệp và thương nhân, đồng thời làm tăng thu ngân sách nhà nước

Bên cạnh những dịch vụ hỗ trợ thương mại truyền thống như vận chuyển, giao nhận hàng hoá, kho tàng, bến bãi, tại các cửa khẩu biên giới, còn cần có các loại hình dịch vụ hỗ trợ khác như bảo quản hàng tồn kho, quảng cáo, đóng gói

và gần đây là cả đảm bảo chất lượng và bảo quản hàng hoá

1.2.3 Dịch vụ về tài chính, tiền tệ: đổi tiền, gửi tiền, chuyển khoản, thanh toán

Các dịch vụ về tiền tệ, thanh toán như: dịch vụ đổi tiền, gửi tiền, chuyển khoản, thanh toán vv chiếm vị trí rất quan trọng trong hạ tầng cơ sở dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới

Ngày càng nhiều doanh nghiệp tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu với các nước qua các cửa khẩu biên giới, đặc biệt là tại các cửa khẩu biên giới phía Bắc có nhu cầu về dịch vụ thanh toán, đổi tiền, gửi tiền vv Trong điều kiện kinh doanh tại các cửa khẩu biên giới, việc thống nhất áp dụng hệ thống thanh toán, dịch vụ đổi tiền, gửi tiền nhằm tạo thuận lợi cho việc kinh doanh buôn bán nói chung và thanh toán tiền hàng nói riêng đòi hỏi những thông tin tài chính phải công khai chính xác, có độ tin cậy cao, kịp thời, cho phép nhanh chóng so

Trang 20

sánh đối chiếu để làm cơ sở cho các doanh nghiệp xác định xu hướng phát triển

và mức độ biến động, để từ đó có thể ra quyết định cần thiết

Những rủi ro rất dễ gặp phải trong quá trình kinh doanh tại các cửa khẩu biên giới đã làm tăng kỳ vọng của các doanh nghiệp đối với dịch vụ này, họ mong muốn các nhà cung cấp dịch vụ sớm đáp ứng được nhu cầu Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các dịch vụ hỗ trợ thương mại tại các cửa khẩu biên giới liên quan đến tiền tệ cũng ngày càng phức tạp và sử dụng nhiều công nghệ, yêu cầu về đào tạo và phát triển theo hướng chuyên nghiệp cũng ngày một tăng Các nhà cung cấp dịch vụ đang cạnh tranh bằng tính ưu việt trong hoạt động (giá cả thích hợp nhất và dịch vụ hoàn hảo), dẫn đầu về phục vụ (phục vụ tốt nhất và liên tục đổi mới), gần gũi với khách hàng (giải pháp riêng

đối với từng khách hàng)

1.2.4 Dịch vụ hỗ trợ nâng cao khả năng tiếp cận và thâm nhập thị trường: nghiên cứu thị trường; tư vấn; môi giới; đại lý mua - bán, uỷ thác xuất, nhập khẩu; chuyển khẩu; quảng cáo - hội chợ

Khả năng tiếp cận và thâm nhập thị trường là một trong những thước đo quan trọng đánh giá tiềm năng, triển vọng và sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Để đạt được điều đó, các doanh nghiệp phải nghiên cứu và tổng hợp các thông tin chính xác của thị trường Đối với mỗi doanh nghiệp, thông tin chính xác có được từ nghiên cứu thị trường có thể coi là một trong những tài sản vô giá phục vụ thiết thực cho việc hoạch định những chiến lược cạnh tranh của mình Tuy nhiên, do kinh nghiệm kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam còn rất mỏng và trình độ còn nhiều hạn chế, việc thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường đã và đang gặp nhiều khó khăn, cản trở, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ khả năng để thực hiện được việc tổng hợp các thông tin, nhất là các thông tin nhằm nâng cao khả năng tiếp cận và thâm nhập thị trường quốc tế

Trước yêu cầu phát triển thương mại trong thời đại mới, sự hỗ trợ từ nhiều phía để giúp cho các doanh nghiệp nâng cao khả năng thâm nhập, giữ vững và

mở rộng thị phần đang là những nhu cầu, đòi hỏi cấp bách của các doanh nghiệp Đây cũng là một trong những điều kiện tiên quyết cho các ngành dịch

vụ hỗ trợ thương mại tại các cửa khẩu biên giới ra đời và phát triển với việc cung ứng các nhóm dịch vụ nâng cao khả năng tiếp cận và thâm nhập thị trường sau:

Trang 21

- Thiết kế mẫu chào hàng

- Thầu phụ và đặt gia công bên ngoài

+ T− vấn về các chính sách và nghiên cứu chính sách

+ Phân tích và trao đổi về các trở ngại hay các cơ hội của chính sách, t− vấn trực tiếp cho các doanh nghiệp

+ Hỗ trợ cho việc tổ chức hội nghị

Trang 22

- Tư vấn về trợ giúp kỹ thuật:

+ Nghiên cứu khả thi và lập kế hoạch kinh doanh

+ Tư vấn và đào tạo quản lý

+ Tư vấn và đào tạo kỹ thuật

+ Dịch vụ tư vấn pháp lý

- Tư vấn về nguồn nguyên liệu đầu vào:

+ Tư vấn và xúc tiến thành lập các nhóm mua nguyên liệu số lượng lớn

+ Tư vấn nâng cao khả năng của các nhà cung cấp để có được

nguyên liệu đảm bảo chất lượng ổn định

+ Tư vấn và môi giới doanh nghiệp với các nhà cung cấp nguyên liệu

1.2.5 Dịch vụ lao động: phiên dịch; bốc dỡ; vệ sinh; bảo vệ

Các dịch vụ về lao động như: dịch vụ phiên dịch, bốc dỡ, vệ sinh, bảo vệ vv là một phần thiết yếu trong các dịch vụ hỗ trợ thương mại tại các cửa khẩu biên giới Hoạt động thương mại tại các cửa khẩu biên giới có đặc điểm là gắn liền với công việc kinh doanh trực tiếp của cư dân khu vực biên giới hai nước, để khắc phục những trở ngại do ngôn ngữ bất đồng, do vậy cần phải có đội ngũ phiên dịch chuyên nghiệp và cơ động để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh

đạt hiệu quả cao nhất

Bên cạnh đó, do hàng hoá buôn bán qua các cửa khẩu biên giới thông thường là các mặt hàng nguyên liệu thô chưa qua chế biến, các mặt hàng phục

vụ cho tiêu dùng của nhân dân, lại thường phải chuyển đổi phương thức vận chuyển khi quá cảnh qua các cửa khẩu biên giới nên cần tổ chức các nghiệp

đoàn bốc xếp có tính chất chuyên nghiệp, đảm nhận công việc xếp dỡ hàng hoá Công tác vệ sinh môi trường và bảo vệ, an ninh cũng đòi hỏi phải được tổ chức một cách chặt chẽ hơn nhằm góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, sức khoẻ của

Trang 23

nhân dân cũng như an toàn cho người và hàng hoá trong các hoạt động giao thương tại các cửa khẩu biên giới

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới

Các nhân tố tác động đến cung và cầu của thị trường dịch vụ hỗ trợ kinh doanh rất đa dạng, đặc biệt là môi trường kinh doanh và nhận thức của các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân kinh doanh hàng hoá, về tham gia phân công chuyên môn hoá và hợp tác hoá để có năng suất cao, chi phí thấp, nhờ vậy mà tăng cường được sức cạnh tranh Điều quan trọng là doanh nghiệp phải biết mình làm cái gì tốt nhất và cái gì phải nhờ dịch vụ bên ngoài

1.3.1 Nhận thức về vai trò của dịch vụ hỗ trợ

Nhận thức đúng về vai trò và ý nghĩa của các dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển thị trường dịch vụ này, cũng như việc xây dựng và thực thi các chiến lược phát triển phù hợp trên từng khu vực cửa khẩu

Một trong những nguyên nhân làm cho kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam qua các cửa khẩu biên giới còn thấp là do hệ thống dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới của nước ta còn lạc hậu Dịch vụ nói chung và dịch vụ hỗ trợ thương mại nói riêng ở nước ta trong thời gian dài chưa được nhìn nhận đúng với vai trò của nó trong nền kinh tế quốc dân, và vì vậy cũng chưa có

được sự đầu tư thích đáng Do vậy, lĩnh vực dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới của Việt Nam cũng không được chú trọng phát triển hay trở thành mục tiêu của các chiến lược thu hút đầu tư tại các khu kinh tế cửa khẩu

Các doanh nghiệp của Việt Nam nói chung và các thương nhân hoạt động

ở cửa khẩu biên giới nói riêng còn chưa nhận thức đúng giá trị của dịch vụ hỗ trợ thương mại, bên cạnh đó thói quen "muốn tự làm tất cả" và lấy thông tin từ bạn

bè vẫn thống lĩnh thay vì sử dụng các dịch vụ từ các nhà cung ứng Vì vậy, để các dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới có ý nghĩa kinh tế đối với các doanh nghiệp, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cần phải nhận thức việc thuê, mua dịch vụ đó là một sự đầu tư, nó sẽ nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh tổng thể cho họ Chính phần doanh thu và lợi nhuận tăng thêm nhờ sử dụng các

Trang 24

dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới sẽ không chỉ bù đắp cho chi phí thuê, mua dịch vụ, mà còn tạo lợi nhuận cao hơn so với không sử dụng dịch vụ

Ngày nay, sau hai thập niên công cuộc đổi mới, nhận thức và quan điểm chung của các cấp chính quyền và doanh nghiệp đã dần dần có những thay đổi, lĩnh vực dịch vụ nói chung và dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới nói riêng ngày càng được công nhận là một nhân tố quan trọng đóng góp vào sự phát triển của thương mại và tăng trưởng chung của nền kinh tế Đặc biệt, trong những năm gần đây, do những tác động mạnh mẽ của quá trình hội nhập nền kinh tế nước ta với kinh tế thế giới và khu vực, hoạt động thương mại qua các cửa khẩu biên giới ngày càng trở nên sôi động, đóng góp một phần không nhỏ trong kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước Vấn đề phát triển các khu kinh tế cửa khẩu được chú trọng, nhận thức về vai trò của dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới ở tầm vĩ mô đã có nhiều chuyển biến rõ nét Những chuyển biến này đang góp phần tích cực vào sự phát triển thương mại của cả nước nói chung và của các cửa khẩu biên giới nói riêng

1.3.2 Quản lý của nhà nước ở Trung ương và địa phương

Trong nền kinh tế thị trường, các quy luật của thị trường được phát huy vai trò một cách tối đa theo trình độ phát triển của mỗi nền kinh tế Tuy nhiên, các quy luật của thị trường tự nó không thể đem lại những kết quả tối ưu nhất cho nền kinh tế, cũng như không thể đem lại cho thị trường sự phát triển lành mạnh và công bằng như mong muốn Điều này cho thấy rằng, vai trò quản lý nhà nước trong việc định hướng là hết sức quan trọng Các biện pháp hỗ trợ, chính sách và cơ chế quản lý của Nhà nước ở trung ương và các địa phương có

ảnh hưởng hoặc tích cực, hoặc tiêu cực đến sự phát triển kinh tế nói chung và của dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới nói riêng Các ảnh hưởng này tác động đến cả phía cung và phía cầu của các dịch vụ

Trước hết, có thể thấy, việc khuyến khích phát triển các khu kinh tế cửa khẩu trong chiến lược phát triển kinh tế của từng địa phương, từng khu vực và chiến lược phát triển kinh tế – xã hội chung của cả nước đã tạo điều kiện và cơ hội cho loại hình dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới hình thành và phát triển

Trang 25

Tuy nhiên, do trình độ phát triển kinh tế của nước ta hiện nay, rất nhiều lĩnh vực còn chịu sự quản lý chặt chẽ của nhà nước, nhất là những lĩnh vực còn sơ khai như thị trường dịch vụ hỗ trợ kinh doanh Bản thân các địa phương có cửa khẩu biên giới chưa có sự chuẩn bị kịp thời, công tác quy hoạch và phát triển các dịch vụ hỗ trợ thương mại phù hợp với các lợi thế của địa phương còn lúng túng, bị động Nguyên nhân của thực trạng này một phần là do kinh phí của

địa phương hạn hẹp, hơn thế vẫn còn thói quen trông chờ, ỷ lại vào đầu tư của trung ưong Mặt khác, các Bộ, ban, ngành chủ quản thuộc Chính phủ cũng chưa

có được sự gắn kết chặt chẽ trong triển khai hoạt động nghiệp vụ với chính quyền các địa phương, thậm chí là chưa có được những động thái mạnh mẽ nhằm định hướng cho các địa phương có cửa khẩu biên giới tập trung đầu tư phát triển lĩnh vực dịch vụ hỗ trợ nhằm thuận lợi hoá thương mại tại các cửa khẩu

Điều này đã làm hạn chế chất lượng của các dịch vụ, đồng thời cũng khiến cho dịch vụ hỗ trợ kinh doanh, nhất là dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới còn thiếu sự năng động, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển cần thiết Các doanh nghiệp nhà nước vẫn nhận được nhiều ưu đãi hơn so với các nhà cung cấp dịch vụ ở khu vực tư nhân Đó là nguyên nhân hạn chế sự đầu tư của tư nhân vào việc cung cấp dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới

Ngoài ra, các địa phương có cửa khẩu biên giới cũng chưa có sự kịp thời quy hoạch phát triển các dịch vụ hỗ trợ thương mại phù hợp với các lợi thế của

địa phương Chính những nhân tố bất cập này trong công tác quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương đã phần nào có những ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của các loại hình dịch vụ hỗ trợ nhằm thuận lợi hoá thương mại tại các cửa khẩu biên giới

Cuối cùng, một trong những nhân tố quan trọng nữa để phát triển chất lượng của dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới là sự hình thành các Hiệp hội có quyền tự chủ, phục vụ cho nhiều chức năng như giáo dục cộng đồng kinh doanh về giá trị của một dịch vụ, thẩm định khách quan về năng lực của người cung cấp dịch vụ (thông qua cấp phép hoặc chứng nhận), xây dựng và thực thi những quy tắc về hành vi, ứng xử (gắn kết với những thông lệ và quy tắc của quốc tế) Trong khi rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ còn thiếu sự tiếp xúc

Trang 26

trực tiếp với áp lực cạnh tranh toàn cầu, vì vậy cũng làm hạn chế nhu cầu sử dụng các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh

1.3.3 Nhu cầu sử dụng dịch vụ

Nhu cầu là một yếu tố hết sức quan trọng để đánh giá khả năng thành công và hiệu quả của dịch vụ, đặc biệt là đối với dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới Không có cầu, hay nhu cầu, mọi nỗ lực chỉ là hình thức, và

do đó hoạt động kinh doanh không thể đi đến những kết quả tối ưu như mong muốn

Nhu cầu đối với dịch vụ phát triển kinh doanh nói chung và dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới nói riêng, trước hết được xác lập và phát triển phụ thuộc vào số lượng doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá trên thị trường Ngoài ra, sự tăng trưởng chung của nền kinh tế, mức độ hội nhập của nền kinh tế vào kinh tế thế giới và khu vực cũng là những nhân tố quan trọng khiến nhu cầu

đối với dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới gia tăng mạnh mẽ

Tuy nhiên, văn hoá kinh doanh của mỗi dân tộc ở mỗi thời đại lại ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu sử dụng dịch vụ hỗ trợ phát triển kinh doanh Nhu cầu

sử dụng dịch vụ hỗ trợ kinh doanh nói chung và dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới nói riêng chưa phát triển tương xứng là do văn hoá kinh doanh ở Việt Nam còn khuyến khích các chủ doanh nghiệp tự giải quyết khó khăn trong nội bộ của tổ chức và không khuyến khích việc thuê ngoài đối với một số chức năng cần thiết cho quá trình vận hành của doanh nghiệp Bởi vậy, nhiều doanh nghiệp không coi dịch vụ kinh doanh là cần thiết để tăng cường khả năng cạnh tranh của họ và tỏ ra miễn cưỡng khi thử sử dụng một dịch vụ mới

Đặc biệt là trong khu vực tư nhân, những cản trở tìm thuê dịch vụ từ bên ngoài xuất phát từ nếp nghĩ phổ biến là “tôi sẽ tự làm” và đánh giá cao về năng lực của mình khi tự thực hiện dịch vụ Hệ quả là, hiệu quả hoạt động kinh doanh tại các cửa khẩu biên giới của ta còn chưa cao, chưa tạo ra được sức mạnh tổng hợp tạo

đà cho sự tăng trưởng vững chắc về sau

1.3.4 Khả năng cung ứng dịch vụ

Khả năng cung ứng dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới cũng

là một trong những yếu tố dẫn đến tăng hay giảm nhu cầu sử dụng dịch vụ, từ đó

Trang 27

ảnh hưởng đến sự phát triển của toàn bộ hệ thống dịch vụ hỗ trợ tại cửa khẩu biên giới

Nếu thông qua việc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới, các nhà cung cấp dịch vụ có thể chuyển tải một cách hiệu quả những lợi ích tiềm năng mà các dịch vụ hỗ trợ có thể mang lại cho doanh nghiệp, thì rõ ràng nhu cầu sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp sẽ ngày càng tăng và do đó

ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của các dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới

Ngược lại, nếu khả năng cung ứng dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới có chất lượng chưa cao và chưa phù hợp với nhu cầu của các doanh nghiệp, trong khi các doanh nghiệp lại muốn sử dụng các dịch vụ có thể mang lại lợi ích kinh tế rõ ràng và nhanh chóng, đặc biệt là về phương diện giảm chi phí, tăng tính hiệu quả, tiết kiệm thời gian, tăng khả năng cạnh tranh và thu hút

được nhiều khách hàng, các doanh nghiệp sẽ phải thông qua các kênh khác như thông qua bạn bè, đồng nghiệp vv để thoả mãn nhu cầu của mình Đây sẽ là một hạn chế rất lớn đối với sự phát triển của các dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới

Khả năng cung cấp dịch vụ đòi hỏi phải có những kỹ năng nhất định ở nhiều nước, Chính phủ đóng vai trò then chốt trong việc khuyến khích nâng cao chất lượng của dịch vụ hỗ trợ kinh doanh nói chung và dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới nói riêng thông qua việc đặt hàng cho khu vực tư nhân để giải quyết những yêu cầu của Chính phủ Một trong những lý do của việc ký hợp đồng thuê dịch vụ là để sử dụng hiệu quả hơn các nguồn vốn của Nhà nước Khi những chức năng của Chính phủ được chuyển sang thành dạng kinh doanh và có nhu cầu tạo ra lợi nhuận ròng, thì ngày càng thấy cần phải tìm thuê dịch vụ bên ngoài nhằm giảm những chi phí cố định và cải thiện năng lực cạnh tranh chung

2 Vai trò của dịch vụ hỗ trợ đối với sự phát triển thương mại tại cửa khẩu biên giới

Trong thời đại ngày nay, sẽ không thể có bất kỳ một quốc gia nào được coi là quốc gia thịnh vượng hoặc được xem như có một nền thương mại phát

Trang 28

triển nhưng lại được đặt dưới gánh nặng của cơ sở hạ tầng dịch vụ kém hiệu quả.Lợi ích của tự do hoá dịch vụ đã lan toả và ảnh hưởng một cách thực sự tới tất cả các hoạt động kinh tế khác Các nhà sản xuất, xuất khẩu không thể có được kết quả tối ưu mà không cần tính tới hiệu quả của hệ thống dịch vụ hỗ trợ như dịch

vụ giao thông, viến thông, bảo hiểm và ngân hàng vv

Việc phát triển các dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới như bất kỳ một hoạt động kinh tế nào khác để thoả mãn nhu cầu của các doanh nghiệp và các cá nhân đã, đang và sẽ đóng vai trò không nhỏ vào sự phát triển của thương mại tại cửa khẩu biên giới Những vai trò chủ yếu cho thấy bao gồm:

2.1 Tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi cho các dòng hàng hoá, người, vốn và phương tiện vận chuyển vào, ra qua cửa khẩu biên giới

Ngành dịch vụ nói chung đóng góp một tỷ lệ lớn trong tổng sản phẩm quốc nội ở hầu hết các quốc gia Ngay cả ở những nước kém phát triển, các ngành dịch vụ cũng đóng góp không dưới 35% GDP và trung bình trên 50% ở hầu hết các nước Đối với nhiều nền kinh tế, ngành dịch vụ đóng vai trò chủ đạo bởi giá trị của nó tạo ra chiếm tới hơn một nửa GDP, như ở Đức giá trị dịch vụ chiếm 72% GDP, Hồng Kông 89%, Singapore 72% và Mỹ 76% Hơn thế nữa,

kể cả trong sản xuất hàng hoá, các đầu vào là dịch vụ cũng chiếm phần lớn trong giá trị gia tăng (tới 70%)

Để có thể so sánh và rút ra kết luận cần thiết về lĩnh vực dịch vụ, xin dẫn

ra đây mấy số liệu, tình hình:

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam, tỷ trọng của các ngành dịch vụ nói chung ngày càng tăng trong GDP của Việt Nam (tính theo giá hiện hành) ở mức ổn định trên dưới 40% Năm 1995: 42-43%; năm 2000: 38,73%; năm 2003: 37,99%; năm 2004: 38,15% Tỷ trọng đó thấp hơn so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Ma-lay-xia, Phi-lip-pin vv , hiệu quả kinh doanh dịch vụ chưa cao Tỷ trọng dịch vụ trong GDP của Trung Quốc tương đối thấp, năm 2002 ở mức 33,2% Nhịp độ tăng trưởng dịch vụ không tương xứng với tăng trưởng GDP Từ năm 1995 tỷ trọng dịch vụ trong GDP của Trung Quốc ít tăng, hầu như ổn định ở mức trên dưới 33% (theo giá hiện hành) năm 2002, hoặc 28% (tính theo giá so sánh năm 1990) Tỷ trọng dịch vụ của Trung Quốc thấp hơn nhiều so với Phi-lip-pin, In-đô-nê-xia, ấn Độ Tuy nhiên Trung Quốc đã và

Trang 29

đang thực hiện tự do hóa thương mại dịch vụ (Nguồn: China Statistics Yearbook (2002) and China Statistics Abstract (2003)) Tự do hóa thương mại dịch vụ góp phần làm giảm tình trạng chảy máu chất xám và tăng hiệu quả của nền kinh tế Xét từ mối quan hệ với môi trường, dịch vụ được coi là ngành công nghiệp sạch

Vốn đầu tư ban đầu và vốn hoạt động của nhiều doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ không cần quá lớn, vì thế kể cả cá nhân với số vốn không nhiều cũng có thể thành lập doanh nghiệp cung ứng dịch vụ Bên cạnh đó các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ phát triển sẽ tạo thêm công ăn việc làm, ngăn chặn tình trạng chảy máu chất xám

Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh hàng hoá là một lĩnh vực mới mẻ, nhưng thực

sự đây là một mảng hữu ích đối với các doanh nghiệp, nó tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động dễ dàng và đạt được hiệu quả cao Hiện nay, dịch vụ hỗ trợ kinh doanh hàng hoá ở nước ta chủ yếu tập trung ở những địa bàn có các yếu

tố của thị trường đã định hình và phát triển, ở địa bàn cửa khẩu biên giới còn thiếu vắng các dịch vụ này và chủ yếu chỉ có các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh của Nhà nước được cung cấp với chất lượng chưa cao

Việc phát triển dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới, đặc biệt

là ở các cửa khẩu biên giới trọng điểm là hết sức quan trọng, vừa có ý nghĩa lớn

về kinh tế, vừa có ý nghĩa sâu sắc về mặt chính trị Một mặt, thông qua phát triển những dịch vụ này tạo thêm những cơ hội việc làm, sử dụng lực lượng lao

động tại địa bàn, đóng góp vào thu nhập quốc dân của tỉnh, nhưng mặt khác, quan trọng hơn đó là nhờ phát triển các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh sẽ tạo điều kiện cho các nhân tố của thị trường hoạt động và phát triển, từ đó dần dần hình thành nên những mảng thị trường ở các vùng địa lý khác nhau, thích ứng được với cơ chế hoạt động và quá trình hội nhập chung của thị trường khu vực

Các khu kinh tế cửa khẩu chiếm vị trí rất quan trọng ở nước ta, đây là kênh trao đổi hàng hoá quan trọng, có lực lượng thương nhân đông đảo, đa dạng tham gia vào hoạt động kinh doanh Về dung lượng, các cửa khẩu biên giới bao hàm phần lớn hàng hoá phục vụ cho nhu cầu của cư dân các tỉnh biên giới và các vùng lân cận Phát triển dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới có ý nghĩa quan trọng không những đối với quá trình phát triển kinh tế và thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội cửa khẩu, mà còn giải quyết tốt mối quan hệ cung - cầu về

Trang 30

hàng hoá và dịch vụ của người tiêu dùng giữa hai quốc gia, góp phần đảm bảo quá trình tăng trưởng bền vững của nền kinh tế quốc dân

Bằng cách phát triển dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới sẽ góp phần thúc đẩy nhanh sự phát triển thương mại tại các cửa khẩu biên giới nước ta Đặc biệt là hỗ trợ các cá nhân, tổ chức kinh tế thông qua tăng khả năng

sử dụng các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh cho họ sẽ còn là quá trình hình thành những nhà kinh doanh chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển thị trường

Do đặc điểm của hoạt động buôn bán qua biên giới không chỉ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của những thay đổi nhanh chóng của nhu cầu thị trường hai nước, mà còn dễ gặp những rủi ro bởi những thay đổi về chính sách của mỗi bên, làm cản trở những dòng lưu chuyển qua biên giới Sự hỗ trợ của các dịch

vụ chuyên nghiệp sẽ góp phần làm thuận lợi cho các dòng lưu chuyển hàng hoá, tiền tệ, người và phương tiện vận chuyển về cả thời gian và chi phí vật chất

2.2 Nâng cao khả năng phát hiện và khai thác các cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp

Thông qua phát triển dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới, có thể phát huy được các lợi thế so sánh, sử dụng triệt để nguồn lực quốc gia, tạo

điều kiện phát triển kinh tế đất nước, kinh tế địa phương nhờ nâng cao khả năng phát hiện và khai thác các cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp, từ đó kết hợp hài hoà tăng trưởng kinh tế giữa các khu vực và các địa phương, tạo ra những biến chuyển tốt đẹp trong kim ngạch xuất nhập khẩu thông qua các cửa khẩu biên giới giữa hai quốc gia

Phát triển dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới còn gián tiếp hoặc trực tiếp đẩy mạnh việc mở rộng buôn bán của các doanh nghiệp giữa các quốc gia có chung đường biên giới, từ đó có thể mở rộng buôn bán với các doanh nghiệp của các quốc gia trong khu vực và thế giới

Hiện tại, các khu kinh tế cửa khẩu của nước ta đã bước đầu thu hút được

sự tham gia của nhiều chủ thể kinh doanh của địa phương cũng như trên toàn quốc đến tham gia kinh doanh và làm ăn buôn bán Các thương nhân và các tổ chức kinh doanh hàng hoá đông đảo và đa dạng về quy mô, ngành nghề thuộc nhiều thành phần kinh tế vừa cạnh tranh, vừa liên kết với nhau tạo nên một thị

Trang 31

trường ngày càng sôi động Kênh lưu thông hàng hoá qua các cửa khẩu biên giới cũng bước đầu được định hình với sự tham gia đông đảo các loại hình thương nhân, góp phần đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và người sản xuất; thúc

đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, gắn sản xuất với thị trường, gắn thị trường nông thôn, miền núi với thị trường thành thị, gắn nông nghiệp với công nghiệp Tuy nhiên, sự thiếu vắng các dịch vụ hỗ trợ chuyên nghiệp đang làm hạn chế khả năng nhận biết và khai thác các cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp ở đây

2.3 Nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Hợp tác trao đổi hàng hoá với các quốc gia trên thế giới là một yêu cầu tất yếu khách quan trên con đường phát triển nền kinh tế đất nước, trong đó hợp tác kinh tế và trao đổi hàng hoá với các quốc gia có chung đường biên giới là bước

đầu tiên, bước tập duyệt quan trọng cho các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh trong lộ trình hội nhập với các quốc gia khác trong khu vực và toàn thế giới

Nhờ sự phát triển dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới, phân công chuyên môn hoá và hợp tác hoá trong dây chuyền tạo giá trị gia tăng của từng ngành được thúc đẩy, nhờ vậy mà mỗi cá nhân, tổ chức kinh doanh sẽ tập trung được sức lực của mình vào những chức năng chủ yếu, và bởi vậy sẽ tạo lập

và nâng cao được sức cạnh tranh của của các doanh nghiệp

Dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới giúp doanh nghiệp, nhạy bén hơn, thích nghi nhanh hơn với thị trường ngày càng yêu cầu cao hơn và đòi hỏi khắt khe hơn trong hoạt động xuất khẩu hàng hoá, chuyển dịch từ xuất khẩu

có giá trị gia tăng thấp sang xuất khẩu có giá trị gia tăng cao Nhờ vậy, sẽ nâng cao sức cạnh tranh xuất khẩu cho các doanh nghiệp

Khi các thương nhân thích ứng và hoạt động có hiệu quả nhờ nâng cao

được năng lực cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế, thì đến lượt nó, đội ngũ thương nhân này cũng sẽ tạo ra được một môi trường kinh doanh cạnh tranh

và làm thuận lợi cho sự phát triển thị trường nội địa

2.4 Thu hút đầu tư nhằm mục đích thương mại vào khu vực cửa khẩu

Môi trường kinh doanh tại các cửa khẩu biên giới thuận lợi không chỉ tạo những điều kiện, yếu tố làm thuận lợi hoá quá trình kinh doanh của doanh

Trang 32

nghiệp, mà còn là một trong những sức hút quan trọng đối với đầu tư nước ngoài

Môi trường kinh doanh được xem là thuận lợi khi có các thị trường đồng

bộ, trong đó thị trường dịch vụ đóng vai trò tích cực, thúc đẩy và hỗ trợ cho hoạt

động kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá

Với những loại hình dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới như

đã xác định ở phần trên, các dịch vụ về thông tin, tư vấn, pháp lý, đào tạo nhân lực cho doanh nghiệp, cung cấp các dịch vụ cơ sở hạ tầng cho hoạt động thương mại, cũng như cung cấp những thông tin, chỉ dẫn và những ưu đãi về đầu tư ở các cửa khẩu biên giới, cùng với hàng loạt các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh hàng hoá khác sẽ tạo lập được môi trường kinh doanh thuận lợi để thu hút các nhà đầu

tư trong nước và nước ngoài

2.5 Giảm thiểu chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp

Các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới sẽ tiết kiệm được chi phí do khai thác được hàng hoá từ các nhà cung cấp

đầu nguồn, giảm được việc mua bán qua nhiều khâu trung gian và nhờ sử dụng

hệ thống hạ tầng cơ sở thương mại thuận lợi

Nhờ những yếu tố này, sẽ tạo thuận lợi cho việc định hướng hoạt động của các doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu thị trường, và khai thác được các lợi thế

so sánh để phát triển, đồng thời giảm thiểu được các chi phí trong quá trình kinh

doanh của doanh nghiệp, từ đầu tư đến sản xuất và tiêu thụ

Hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá ở các cửa khẩu biên giới hiện nay còn rất nhiều hạn chế, số lượng tuy đã đạt tới số đông và tăng nhanh nhưng không mạnh, sức cạnh tranh còn yếu ớt Sự liên kết giữa các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá trên địa bàn còn yếu và mang nặng tính tự phát, chưa thực sự thiết lập được những mối quan hệ ổn định, bền vững và lâu dài Khả năng mở rộng thị trường, giữ vững thị phần của các tổ chức kinh doanh hàng hoá còn rất hạn chế, hoạt động kinh doanh không có định hướng chiến lược, chỉ tự phát theo tín hiệu giá cả của thị trường, vì vậy hiệu quả kinh doanh không ổn định và thấp Tình trạng đó do nhiều nguyên nhân, nhưng từ phía các doanh nghiệp là những nguyên nhân nội tại như tiềm lực tài chính còn yếu, cơ sở

Trang 33

vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn, rất thiếu thông tin, trình độ, kỹ năng quản lý kinh doanh chưa theo kịp với sự phát triển của kinh tế thị trường Do đó, phát triển các loại hình dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới sẽ giúp cho các tổ chức kinh doanh hàng hoá giảm thiểu được các rủi ro tại những nơi mà các nhân tố của thị trường chưa phát triển như ở cửa khẩu biên giới nước ta

3 Những bài học kinh nghiệm của Trung Quốc về phát triển dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới với các nước láng giềng

Trung Quốc có đường biên giới trên bộ với nhiều quốc gia khác, với một

hệ thống nhiều cửa khẩu giao thương hàng hoá ngày càng tăng nhanh cả về khối lượng lẫn chất lượng Bởi vậy, phát triển dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới là một bộ phận quan trọng cấu thành trong chiến lược phát triển mậu dịch biên giới của Trung Quốc Chiến lược này được thúc đẩy từ những chuyển biến trong nhận thức của chính phủ Trung Quốc: mậu dịch biên giới phải là một trong những biện pháp quan trọng góp phần đưa Trung Quốc vươn lên thành một cường quốc có ảnh hưởng lớn đến đời sống chính trị, kinh tế thế giới trong thế

kỷ 21 Do vậy, hệ thống chính sách biên mậu nói chung và hệ thống chính sách phát triển dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới nói riêng của Trung Quốc được nghiên cứu, thử nghiệm kỹ lưỡng trên cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới của Trung Quốc Mậu dịch biên giới được nâng lên thành lý luận, được đưa thành một nội dung quản lý Nhà nước mang tính đặc thù Chính cách nhìn nhận như vậy về tầm quan trọng của hoạt động biên mậu đã tạo ra một hệ thống chính sách mang tính đồng bộ, kịp thời, vừa tạo ra một môi trường phát triển thuận lợi, vừa quản lý hiệu quả đối với các dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới

Chiến lược xây dựng “Kinh tế tuyến biên giới” lấy các cửa khẩu biên giới

đất liền với các nước xung quanh làm trọng điểm, từ đó hình thành vành đai chấn hưng kinh tế biên giới Trung Quốc có các tỉnh như Vân Nam và các khu tự trị như khu tự trị Cam Túc, Tân Cương, Quảng Tây và Tây Tạng tiếp giáp với 14 quốc gia láng giềng, gồm Nga, Mông Cổ, Kadacxtan, Pakixtan, ấn Độ, Nêpan, Mianma, Lào và Việt Nam.v.v Đây là một vành đai có nhiều tiềm năng thuận lợi cho phát triển mậu dịch biên giới, mậu dịch quốc tế, thu hút du lịch, đầu tư nước ngoài Vì vậy, việc phát triển các dịch vụ hỗ trợ thương mại tại các cửa

Trang 34

khẩu biên giới góp phần biến các cửa khẩu biên giới thành cầu nối, nối liền thị trường Trung Quốc với nhiều thị trường lớn trong khu vực

Một số kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc phát triển các dịch vụ hỗ trợ thương mại tại các cửa khẩu biên giới sẽ là những bài học hữu ích, gợi mở cho việc áp dụng phù hợp vào điều kiện thực tế ở các cửa khẩu biên giới của Việt Nam

- Thực hiện thống nhất quản lý các hoạt động dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới bên cạnh việc mở rộng quyền tự chủ cho các địa phương

Trước đây hoạt động dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới của Trung Quốc được quản lý chặt chẽ và có hệ thống từ Chính phủ Trung ương cho tới các địa phương, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan hữu quan ủy ban buôn bán ở các vùng biên giới thuộc Quốc vụ viện, và các Uỷ ban buôn bán ở các vùng biên giới thuộc cấp tỉnh, thành phố, huyện, thị trấn giáp biên trực tiếp phụ trách công tác quản lý nhà nước về dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới, thành phần của các ủy ban này gồm đại diện chính quyền các cấp, Bộ thương mại, các ngành kinh tế liên quan, hợp tác đầu tư, bao gồm cả cơ quan an ninh, thuế vụ để trực tiếp chỉ đạo xuống tận các địa phương nhằm quản lý chặt chẽ hoạt động dịch vụ hỗ trợ thương mại tại các cửa khẩu biên giới

Cục biên mậu được chỉ định là cơ quan đại diện cho chính quyền địa phương trong việc quản lý thống nhất hoạt động biên mậu, có trách nhiệm tổ chức điều hành các cơ quan liên quan như: tài chính, thuế, công thương của địa phương và các cơ quan Trung ương như: hải quan, kiểm dịch, ngoại vụ để quản lý thống nhất, đồng bộ hoạt động biên mậu, phù hợp với điều kiện và khả năng khai thác các lợi thế của địa phương Cục biên mậu làm chủ đầu tư các hạng mục công trình cơ sở hạ tầng đối với hoạt động biên mậu Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đều phải thông qua Cục biên mậu

Bộ Thương mại phê chuẩn một số công ty có quyền kinh doanh mậu dịch tiểu ngạch Các công ty này vừa là đầu mối xuất nhập khẩu vừa thực hiện xuất nhập khẩu trực tiếp, vừa làm dịch vụ uỷ thác cho tư nhân theo lệ phí thống nhất, vì vậy hạn chế được rủi ro như bị ép giá, có khả năng liên kết dễ dàng để tạo sức mạnh cạnh tranh trong buôn bán quốc tế và nhanh chóng thực hiện được ý đồ chỉ đạo của Cục biên mậu và chính quyền địa phương

Trang 35

Hệ thống chính sách liên quan đến các hoạt động dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới của Trung Quốc có đặc điểm là theo qui trình “từ trên xuống” Văn bản Nhà nước Trung ương đưa ra các khung pháp lý chung nhất Trên cơ sở chấp hành các quy định liên quan đã được Quốc Vụ viện phê chuẩn, Chính quyền nhân dân các tỉnh khu tự trị biên giới đã trao quyền hạn nhất định cho Chính quyền nhân dân các thị xã, thị trấn về quản lý hoạt động dịch vụ hỗ trợ thương mại và hợp tác kinh tế tại các cửa khẩu biên giới Đồng thời định ra biện pháp quản lý đồng bộ, tích cực, cũng như tăng cường sự lãnh đạo và điều chỉnh, qui phạm hoá các biện pháp quản lý đối với các dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới, thúc đẩy dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới phát triển lành mạnh theo hướng thể chế hoá kinh tế thị trường XHCN

Dịch vụ hỗ trợ thương mại tại các cửa khẩu biên giới của Trung Quốc đã

được thiết lập và hoạt động rất hiệu quả nhờ những vận dụng chính sách mềm dẻo của trung ương và các địa phương Một loạt chính sách và biện pháp nâng

đỡ, khuyến khích dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới, phát triển hợp tác kinh tế đối ngoại khu vực đã được các tỉnh ban hành và nhanh chóng phát huy tác dụng, tạo ra sự mở cửa phát triển nhanh chóng ở vùng biên giới

- Chính sách xuất nhập cảnh:

Trước đây, nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công tác xuất nhập cảnh, Công an các tỉnh, thị xã của Trung Quốc được Bộ Công an uỷ quyền cấp giấy phép đi đường cho cư dân đi du lịch tại các tỉnh thành Trung Quốc Hiện tại, phía Trung Quốc quy định cư dân Trung Quốc sang các nước giáp biên như Việt Nam du lịch hoặc kinh doanh phải có hộ chiếu, nhưng thời hạn cấp hộ chiếu không quá 7 ngày làm việc Còn phía Việt Nam, cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép cho người Trung Quốc đi du lịch các tỉnh thành Việt Nam vẫn là Cục quản lý xuất nhập cảnh (Bộ Công An) trực tiếp xét cấp tại khu kinh tế cửa khẩu Tuy thủ tục và thời gian như nhau, song xét về yếu tố phân cấp quản lý thì phía Trung Quốc sẽ dễ quản lý hơn

Phát huy lợi thế của biên giới, quản lý cấp giấy chứng minh thư cư trú tạm thời cho những người ngoài khu vực biên giới tạm trú và cấp giấy phép thông hành cho họ sử dụng khi xuất cảnh

Có chính sách tạm trú cho người Việt Nam sang kinh doanh buôn bán tại chợ biên giới thời hạn 3 tháng

Trang 36

Những người Trung Quốc tạm trú tại khu vực cửa khẩu biên giới được cấp giấy chứng minh tạm thời và được cấp giấy thông hành khi họ muốn xuất nhập cảnh ra nước ngoài

Người nước ngoài muốn sang buôn bán, kinh doanh tại các chợ biên giới Trung Quốc được quyền tạm trú dài hạn (đến 3 tháng)

- Khuyến khích thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước vào kinh doanh dịch vụ tại cửa khẩu biên giới để thúc đẩy kinh tế phát triển

Trên cơ sở thống nhất nhận thức phát triển các dịch vụ hỗ trợ tại cửa khẩu biên giới là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, Chính phủ Trung Quốc khuyến khích và phân quyền cho các địa phương có các biện pháp thu hút đầu tư phát triển Tại nhiều cửa khẩu biên giới của Trung Quốc hiện đang thực thi một số chính sách khá ưu đãi nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước tiến hành các hoạt động đầu tư, kinh doanh ổn định, lâu dài,

từ đó đẩy mạnh giao lưu hàng hoá qua biên giới, đồng thời tăng nguồn thu cho ngân sách địa phương thông qua thuế và phí hàng hoá xuất nhập khẩu, bao gồm:

- Trung Quốc đã tạo cho các khu vực cửa khẩu biên giới những điều kiện hết sức thuận lợi nhằm thu hút các nhà đầu tư vào kinh doanh dịch vụ hỗ trợ thương mại, đặc biệt với hệ thống trao đổi đa phương thức được kết nối và phát triển đa dạng từ điểm thành tuyến tới dải, vùng mậu dịch, đúng với phương châm mở cửa nhất quán của họ

- Tạo môi trường đầu tư thông thoáng nhằm thu hút thương nhân để tranh thủ cơ hội phát triển nguồn thu từ dịch vụ Tạo lập một khu vực mậu dịch có sức hấp dẫn đặc biệt nhờ các chính sách ưu đãi rộng rãi làm cửa mở cho hàng hoá Trung Quốc xâm nhập vào thị trường Việt Nam và ASEAN

- Các địa phương được quyền phê chuẩn các dự án hợp tác sản xuất và gia công hàng xuất khẩu trong phạm vi lãnh thổ của mình

- Ngoài ra, các dự án đầu tư tại địa phương biên giới được hưởng các ưu

đãi về thuế: Với các dự án đầu tư vào dịch vụ hỗ trợ thương mại, hai năm đầu

được miễn thuế, năm thứ 3, 4, 5 giảm 50% Các dự án đầu tư nước ngoài được miễn thuế nhập khẩu đối với toàn bộ máy móc, thiết bị văn phòng, thiết bị phục

vụ sinh hoạt Lợi nhuận thu được ở một số dự án có thể được miễn thuế khi chuyển ra nước ngoài

Trang 37

Đầu tư trực tiếp nước ngoài được giảm thuế thu nhập xuống 24%, thuế thu nhập doanh nghiệp giảm 1/2 trong vòng 5 năm kể từ khi bắt đầu có lợi nhuận

Đối với một số lĩnh vực đặc biệt hoặc đối với các vùng lãnh thổ có điều kiện khó khăn, đầu tư nước ngoài được miễn thuế 3 năm đầu và giảm thuế 50% trong 2 năm tiếp theo

Việc áp dụng các chính sách khuyến khích cho các khu vực biên mậu cũng đã góp phần thu hút đầu tư, đa dạng hoá ngành nghề, tăng cường buôn bán

đối ngoại, phát triển hợp tác quốc tế

Bên cạnh tạo cơ chế đầu tư tại chỗ, Trung Quốc cũng khuyến khích các doanh nghiệp có năng lực kinh doanh và vốn sang các khu kinh tế cửa khẩu biên giới của các nước có chung cửa khẩu đầu tư 100% vốn hoặc liên doanh với các doanh nghiệp đối tác nước sở tại để kinh doanh dịch vụ hỗ trợ thương mại tại các cửa khẩu biên giới nhằm từng bước mở rộng thị trường khu vực và quốc tế Tuy vậy tốc độ đầu tư của Trung Quốc vào các nước tại khu vực cửa khẩu biên giới còn chậm, lượng vốn đầu tư ít, các hạng mục đầu tư của Trung Quốc thường nhỏ, quy mô đầu tư của một dự án ở mức rất thấp, thời gian hoạt động của các dự án không dài

Xét về hiệu quả đầu tư, các dự án đem lại nhiều lợi ích cho các nhà đầu tư Trung Quốc, góp phần đắc lực mở đường cho hàng hoá Trung Quốc tràn sang thị trường của các nước có chung cửa khẩu với Trung Quốc

- Khuyến khích phát triển khu hợp tác kinh tế biên giới và xí nghiệp gia công hàng xuất khẩu

Chính sách tổng thể của Trung Quốc là thực hiện mở cửa kinh tế, đối ngoại toàn diện, nhiều tầng, nhiều lớp, trên nhiều lĩnh vực, trong đó ưu tiên phát triển các khu thương mại, du lịch và các dịch vụ hỗ trợ thương mại tại cửa khẩu biên giới được đặc biệt quan tâm Chính sách này giữ vai trò chủ đạo để làm sống động khu vực cửa khẩu biên giới, được thực thi song song với chính sách thương mại, được coi là bước đi đầu tiên để mở cửa sang các nước láng giềng và tiếp theo là mở cửa vào khu vực

Các địa phương vùng biên giới có thể lập khu hợp tác kinh doanh dịch vụ

hỗ trợ thương mại tại các cửa khẩu biên giới, xây dựng xí nghiệp gia công xuất khẩu Các doanh nghiệp trong khu vực này được tự do mở các dịch vụ hỗ trợ

Trang 38

xuất nhập khẩu và được trao quyền chủ động kinh doanh với các quốc gia láng giềng và hưởng ưu đãi về thuế Trong quá trình xây dựng cơ sở vật chất trong khu hợp tác kinh tế biên giới, nếu cần nhập thiết bị và vật tư có số lượng hợp lý thì được miễn thuế nhập khẩu

- Ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng ở cửa khẩu biên giới

Ngay khi Quốc vụ viện Trung Quốc phê chuẩn xây dựng các cửa khẩu dọc tuyến biên giới thành khu kinh tế mở nhằm thực hiện các chính sách nêu trên, Chính phủ Trung Quốc đã tiến hành một loạt các biện pháp Trong đó quan trọng nhất là việc chú trọng đầu tư cho cơ sở hạ tầng để cung cấp các dịch vụ hỗ trợ thương mại tại các cửa khẩu biên giới Các chính sách chủ yếu bao gồm:

+ Mở rộng quyền tự chủ cho các địa phương biên giới tự quyết định các hạng mục đầu tư xây dựng cơ sở vật chất phát triển dịch vụ hỗ trợ thương mại tại các cửa khẩu biên giới

+ Nhà nước hỗ trợ vốn để xây dựng cơ sở vật chất dịch vụ hỗ trợ thương mại tại các cửa khẩu Số tiền cụ thể và biện pháp hỗ trợ do Bộ Tài chính quyết

định

+ Chính phủ cho phép chính quyền các địa phương thu lệ phí quản lý cửa khẩu để sử dụng vào việc xây dựng, sửa chữa, nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng dịch vụ hỗ trợ thương mại tại chỗ Trung ương để lại cho địa phương 100% số thuế về xuất nhập khẩu tiểu ngạch để xây dựng cơ sở hạ tầng

+ Hệ thống đường giao thông, điện, thông tin tại các cửa khẩu biên giới

được nâng cấp, hiện đại hoá Nhiều khu kinh tế cửa khẩu được đầu tư xây dựng

ga xe lửa và khu tập kết trung chuyển hàng hoá quá cảnh hiện đại đáp ứng nhu cầu kinh doanh buôn bán của cư dân hai bên biên giới

+ Đối với Việt Nam, Trung Quốc coi đây là thị trường có tiềm năng lớn tiêu thụ các hàng hoá do Trung Quốc sản xuất Do vậy, Trung Quốc đã tăng nhanh các chợ đường biên, phát triển mạnh mẽ các hình thức buôn bán đa dạng

ở vùng biên giới, chủ yếu là ở các tỉnh Quảng Tây và Vân Nam tiếp giáp với Việt Nam

+ Ngoài ra, Trung Quốc cũng đã xây dựng xong chiến lược khai thác vịnh Bắc Bộ với phương án hình thành vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ kết nối Dương

Trang 39

Phố - Khâm Châu (Quảng Tây) với Hải Phòng (Việt Nam) Phía Trung Quốc tập trung xây dựng 21 cảng với năng lực bốc dỡ gần 100 triệu T/năm trong đó 3 cảng lớn: Bắc Hải, Phòng Thành, Dương Phố có năng lực xếp dỡ 70 triệu T/năm; xây dựng mạng giao thông đường sắt, đường bộ kết nối toàn khu vực, tăng cường thăm dò, khai thác vịnh Bắc Bộ.

- Công tác kiểm tra vệ sinh, kiểm dịch động thực vật và quản lý chất lượng hàng hoá xuất nhập khẩu

Để quản lý tốt chất lượng hàng hoá xuất nhập khẩu qua biên giới, Chính phủ Trung Quốc rất coi trọng công tác kiểm nghiệm, kiểm dịch hàng hoá ra, vào các cửa khẩu biên giới

Việc kiểm dịch đối với hàng hoá xuất nhập khẩu nêu trên được thực hiện trên cơ sở Luật vệ sinh an toàn thực phẩm, Luật kiểm dịch động, thực vật xuất nhập khẩu nhằm phòng trừ bệnh truyền nhiễm động thực vật, bệnh ký sinh

trùng đối với động vật xuất, nhập khẩu và các sản phẩm khác

Tại các cửa khẩu biên giới, mọi thủ tục liên quan đến việc kiểm tra vệ sinh, kiểm dịch động, thực vật và quản lý chất lượng hàng hoá xuất nhập khẩu

đều được tiến hành một cách nhanh chóng và do Cục biên mậu, nay là Cục thương mại quản lý

Việc kiểm hoá hàng hóa xuất khẩu được thực hiện tại bãi kiểm hoá liên hợp, cách biên giới một khoảng nằm trên tuyến đường chính đến cửa khẩu Tại

đây tập trung toàn bộ các cơ quan quản lý: biên mậu, hải quan, công thương, thuế vụ cùng các cơ sở kho tàng, bến bãi, nhà nghỉ Hàng hoá xuất nhập khẩu qua biên giới đều trên cơ sở hoá đơn chuyển hoá tại đây

Tiêu chuẩn chất lượng, kỹ thuật của hàng tiểu ngạch cũng được nới lỏng hơn so với quy định của Trung ương Việc nới lỏng hàng rào thuế quan đã tạo

điều kiện thu hút mạnh mẽ hàng hóa qua biên giới, tăng thu cho ngân sách địa phương

- Công tác của Hải quan:

Các địa phương biên giới Trung Quốc đã tận dụng cơ hội để tạo ra những chuyển biến cơ bản về sản xuất, hạ tầng cơ sở, vị thế thương mại Những cải cách đối với các hoạt động liên quan đến dịch vụ hỗ trợ thương mại cửa khẩu

Trang 40

bao gồm cả sự chính qui hoá trong quản lý các hoạt động kinh tế đối ngoại biên giới, nâng lên trình độ quản lý cao hơn

Những cải cách tập trung vào những mặt sau:

- Cải cách bộ máy hải quan :

+ Nâng cấp từ Tổng cục thành cơ quan cấp Bộ

+ Giải tán văn phòng quản lý biên mậu, chuyển toàn bộ việc này cho Hải quan quản lý thực hiện

+ Hoạt động chống buôn lậu trước đây do các văn phòng hỗn hợp chống buôn lậu ở biên giới thực hiện, nay giao cho Hải quan

+ Thành lập cảnh sát chống buôn lậu trực thuộc Hải quan

+ Sáp nhập kiểm định, kiểm dịch, dịch tễ vào Hải quan

- Cơ quan hải quan uỷ nhiệm cho chính quyền địa phương trong công tác quản lý biên mậu Chính quyền địa phương chế định quy tắc thực thi và thi hành sau khi được cơ quan hải quan đồng ý Cơ quan hải quan chỉ thực hiện việc giám sát

- Về công tác quản lý tại các khu thương mại

Quản lý hoạt động thương mại tại các khu kinh tế cửa khẩu thông thường

là Ban quản lý thuộc chính quyền các thành phố, huyện, thị xã có cửa khẩu biên giới Trưởng Ban là Bí thư thị ủy hoặc huyện ủy, còn phó trưởng ban là chủ tịch thành phố hoặc huyện, thị

Qua khảo sát tại một số cửa khẩu biên giới của Trung Quốc, công tác quản lý dịch vụ hỗ trợ thương mại của các Ban quản lý tại các cửa khẩu biên giới

được thực hiện một cách khá chặt chẽ và mang tính hệ thống Ban quản lý có trách nhiệm cung ứng các dịch vụ trong khu vực như: xây dựng cơ sở hạ tầng, giữ gìn an ninh trật tự, cấp phép tạm trú, cho thuê địa điểm, lao động,

- Người đến kinh doanh buôn bán tại các khu kinh tế cửa khẩu biên giới

được đăng ký tạm trú và kinh doanh buôn bán và chỉ cần làm thủ tục thuê địa

điểm, không phải nộp thuế doanh thu, lợi tức

- Hàng hoá được nhập vào khu vực cửa khẩu chưa phải làm thủ tục nhập khẩu Khi hàng đi vào nội địa mới làm thủ tục nhập khẩu, nộp thuế, phí tại trạm kiểm hóa Hàng chính ngạch nộp thuế ở hải quan, hàng tiểu ngạch giảm 50% thuế do địa phương thu và hóa đơn có giá trị lưu thông trong nội địa

Việc quản lý ra vào các khu thương mại cửa khẩu được thực hiện đơn giản thuận tiện Cư dân các nước có biên giới với Trung Quốc chỉ cần mua vé vào

Ngày đăng: 14/05/2014, 22:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Các bài tham luận đọc tại hội thảo " Phát huy −u thế cửa khẩu Việt – Trung, thúc đẩy sự hợp tác Trung Quốc - ASEAN" tổ chức tại Bằng T−ờng ngày 26 – 27/09/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy −u thế cửa khẩu Việt – Trung, thúc đẩy sự hợp tác Trung Quốc - ASEAN
5. Các bài phát biểu tham luận tại Hội thảo quốc tế về " Hợp tác kinh tế th−ơng mại giữa Việt Nam và Vân Nam – Trung Quốc", ngày 16 – 17/10/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác kinh tế th−ơng mại giữa Việt Nam và Vân Nam – Trung Quốc
6. Đề án " Xây dựng và phát triển thành phố Lạng Sơn cùng với thị trấn Đồng Đăng và các khu kinh tế cửa khẩu trở thành trung tâm th−ơng mại , dịch vụ và du lịch ". Dự thảo Báo cáo tóm tắt, Lạng Sơn tháng 3 năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và phát triển thành phố Lạng Sơn cùng với thị trấn Đồng Đăng và các khu kinh tế cửa khẩu trở thành trung tâm th−ơng mại , dịch vụ và du lịch
15. Một số lựa chọn và kiến nghị cho chiến l−ợc tổng thể phát triển khu vực dịch vụ của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Báo cáo sơ bộ dự án VIE/02/09 do UNDP tài trợ – th−ơng mại dịch vụ chiến l−ợc phát triển toàn diện khu vực dịch vụ của Việt Nam. Viện Kinh tế và chính trị thế giới, Hà Néi, 28/01/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số lựa chọn và kiến nghị cho chiến l−ợc tổng thể phát triển khu vực dịch vụ của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Nhà XB: Viện Kinh tế và chính trị thế giới
Năm: 2005
17. Một Số giải pháp kinh tế – tổ chức và quản lý nhằm thúc đẩy giao lưu hàng hoá và phá triển thị tr−ờng các tỉnh biên giới Việt – Trung. Bộ Th−ơng mại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một Số giải pháp kinh tế – tổ chức và quản lý nhằm thúc đẩy giao lưu hàng hoá và phá triển thị tr−ờng các tỉnh biên giới Việt – Trung
Tác giả: Bộ Th−ơng mại
18. Nghiên cứu cơ chế, chính sách kinh tế – tài chính nhằm thúc đẩy buôn bán với Trung Quốc. Bộ Kế hoạch và Đầu t− Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ chế, chính sách kinh tế – tài chính nhằm thúc đẩy buôn bán với Trung Quốc
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
21. Nhóm chuyên gia ASEAN - Trung Quốc về hợp tác kinh tế (ASEAN – China Expert Group on Economic Cooperation), “Xây dựng quan hệ kinh tế ASEAN - Trung Quốc chặt chẽ hơn trong thế kỷ 21” (bản tiếng Anh – Forging closer ASEAN – China economic relations in the twenty first century), Ban th− ký ASEAN (www.aseansec.org), tháng 10/ 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng quan hệ kinh tế ASEAN - Trung Quốc chặt chẽ hơn trong thế kỷ 21
Tác giả: Nhóm chuyên gia ASEAN - Trung Quốc về hợp tác kinh tế
Nhà XB: Ban th− ký ASEAN
Năm: 2001
22. Phát triển dịch vụ hỗ trợ kinh doanh hàng hoá trên địa bàn miền núi nhất là ở vùng sâu vùng sa n−ớc ta. Đề tài khoa học cấp Bộ, mã số 2002 – 78 - 033, Bộ Th−ơng mại – 2003, chủ nhiệm: TS. Lê Trịnh Minh Châu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển dịch vụ hỗ trợ kinh doanh hàng hoá trên địa bàn miền núi nhất là ở vùng sâu vùng sa n−ớc ta
Tác giả: TS. Lê Trịnh Minh Châu
Nhà XB: Bộ Th−ơng mại
Năm: 2003
26. Viện Nghiên cứu th−ơng mại. Nghiên cứu phát triển th−ơng mại khu vực hành lang kinh tế Hải Phòng – Lào Cai – Côn Minh trong bối cảnh hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc. Đề tài khoa học cấp Bộ, mã số 2003 – 78 – 021, Bộ Th−ơng mại, tháng 10/2004, chủ nhiệm: TS Nguyễn Văn Lịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phát triển th−ơng mại khu vực hành lang kinh tế Hải Phòng – Lào Cai – Côn Minh trong bối cảnh hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc
Tác giả: TS Nguyễn Văn Lịch
Nhà XB: Bộ Th−ơng mại
Năm: 2004
1. Báo cáo về tình hình hoạt động thương mại tại các cửa khẩu của các Sở Th−ơng mại của 7 tỉnh phía Bắc có biên giới với Trung Quốc: Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang, Quảng Ninh, Lai Châu, Điện Biên Khác
3. Báo cáo tóm tắt dự án quy hoạch th−ơng mại tại các vùng cửa khẩu biên giới phía Bắc Việt Nam đến năm 2010, Bộ Thương mại. Hà Nội, tháng 10 – 2001 Khác
7. Hiệp định mua bán hàng hoá ở vùng biên giới giữa Chính phủ nước Cộnghoá xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ n−ớc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa Khác
8. Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện giữa Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á - N−ớc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, ngày 4 tháng 11 năm 2002 Khác
9. Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế quan hệ ASEAN – Trung Quốc với phát triển thị tr−ờng và th−ơng mại Việt Nam. Tr−ờng Đại học Th−ơng mại, Hà Nội, tháng 10 – 2005 Khác
11. Kết quả khảo sát về dịch vụ hỗ trợ th−ơng mại tại các cửa khẩu biên giới thuộc hai tỉnh Lạng Sơn và Lào Cai Khác
12. Kết quả khảo sát về dịch vụ hỗ trợ th−ơng mại tại các cửa khẩu Bằng T−ờng Quảng Tây và Hà Khẩu Vân Nam (Trung Quốc ) Khác
13. Lạng Sơn – Quảng Tây cơ hội kinh doanh và đầu t−. UBND tỉnh Lạng Sơn - Phòng Th−ơng mại và Công nghiệp Việt Nam, 2004 Khác
14. Một số giải pháp phát triển dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu chủ yếu đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam. Đề tài khoa học cấp Bộ, mã số 2002- 78- 010, Bộ Th−ơng mại, tháng 07/2003 Khác
16. Một số chính sách và giải pháp chủ yếu cấp bách nhằm phát triển quan hệ th−ơng mại khu vực biên giới Việt – Trung. Bộ Th−ơng mại Khác
19. Những vấn đề môi trường có liên quan đến thương mại Việt Nam – Trung Quốc và các biện pháp xử lý những vấn đề đặt ra đối với hàng hoá xuất nhập khẩu qua biên giới Việt – Trung. Bộ Th−ơng mại Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Danh mục các cửa khẩu quốc tế và cửa khẩu chính  trên tuyến biên giới phía Bắc - Tổ chức thông tin thị trường và phát triển thương mại điện tử của các doanh nghiệp việt nam
Bảng 1 Danh mục các cửa khẩu quốc tế và cửa khẩu chính trên tuyến biên giới phía Bắc (Trang 48)
Bảng 3. KN XNK qua cửa khẩu các tỉnh BG phía Bắc Việt Nam - Tổ chức thông tin thị trường và phát triển thương mại điện tử của các doanh nghiệp việt nam
Bảng 3. KN XNK qua cửa khẩu các tỉnh BG phía Bắc Việt Nam (Trang 50)
Bảng 4: Kim ngạch XNK hàng hóa qua cửa khẩu Móng Cái  từ năm 2000- 2004 - Tổ chức thông tin thị trường và phát triển thương mại điện tử của các doanh nghiệp việt nam
Bảng 4 Kim ngạch XNK hàng hóa qua cửa khẩu Móng Cái từ năm 2000- 2004 (Trang 64)
Bảng 5: Kim ngạch Xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu tỉnh Lạng Sơn từ  năm 2001 -  6 tháng đầu năm 2005 - Tổ chức thông tin thị trường và phát triển thương mại điện tử của các doanh nghiệp việt nam
Bảng 5 Kim ngạch Xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu tỉnh Lạng Sơn từ năm 2001 - 6 tháng đầu năm 2005 (Trang 67)
Bảng 6: Trao đổi hàng hóa qua cửa khẩu Tà Lùng - Tổ chức thông tin thị trường và phát triển thương mại điện tử của các doanh nghiệp việt nam
Bảng 6 Trao đổi hàng hóa qua cửa khẩu Tà Lùng (Trang 69)
Bảng 9: Chi nhánh và phòng giao dịch của các ngân hàng đảm nhiệm  thanh toán đối với hàng hóa xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu biên giới - Tổ chức thông tin thị trường và phát triển thương mại điện tử của các doanh nghiệp việt nam
Bảng 9 Chi nhánh và phòng giao dịch của các ngân hàng đảm nhiệm thanh toán đối với hàng hóa xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu biên giới (Trang 80)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w