1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng công nghiệp việt nam vào thị trường ấn độ

95 378 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng công nghiệp Việt Nam vào thị trường Ấn Độ
Tác giả Kỹ sư Nguyễn Thu Ngân
Trường học Hanoi University of Science and Technology
Chuyên ngành Kinh tế thương mại
Thể loại Báo cáo đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của đề tài: Nghiên cứu, phân tích tình hình kinh tế và những chính sách thương mại của Ấn Độ, thương mại Việt Nam-Ấn Độ giai đoạn 2001-2005 và năm 2006 và những yếu tố ảnh hưởn

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG

VỤ KẾ HOẠCH

Trang 2

BỘ CÔNG THƯƠNG

VỤ KẾ HOẠCH

BÁO CÁO ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

VÀO THỊ TRƯỜNG ẤN ĐỘ

CƠ QUAN CHỦ QUẢN

BỘ CÔNG NGHIỆP

54 HAI BÀ TRƯNG - HÀ NỘI

CƠ QUAN CHỦ TRÌ THỰC HIỆN

VỤ KẾ HOẠCH - BỘ CÔNG THƯƠNG

54 HAI BÀ TRƯNG - HÀ NỘI

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI

Kỹ sư Nguyễn Thu Ngân

Trang 3

DANH SÁCH CÁN BỘ THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

1 Những người tham gia chính:

1 Kỹ sư Nguyễn Thu Ngân Vụ Kế hoạch Chủ nhiệm đề tài

2 Kỹ sư Lê Văn Được Vụ Kế hoạch Thành viên

3 Thạc sỹ Nguyễn Thị Minh Nguyệt Vụ Kế hoạch Thành viên

4 Cử nhân Lê Trung Sơn Vụ Kế hoạch Thành viên

5 Cử nhân Nghiêm Xuân Toàn Vụ Kế hoạch Thành viên

7 Cử nhân Trần Thị Bạch Tuyết Vụ Kế hoạch Thành viên

2 Các đơn vị phối hợp:

- Vụ Hợp tác Quốc tế, Vụ Xuất nhập khẩu, Vụ Châu Phi-Tây Á-Nam Á,

Vụ Chính sách thương mại Đa biên - Bộ Công Thương

- Tổng Cục Hải Quan - Bộ Tài chính

- Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư

- Một số chuyên viên theo dõi sản xuất kinh doanh, thống kê Vụ Kế hoạch và chuyên viên theo dõi ngành thuộc Vụ Năng lượng, Vụ Công nghiệp nặng, Vụ Công nghiệp nhẹ - Bộ Công Thương

Mục tiêu của đề tài:

Nghiên cứu, phân tích tình hình kinh tế và những chính sách thương mại của Ấn Độ, thương mại Việt Nam-Ấn Độ giai đoạn 2001-2005 và năm

2006 và những yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng công nghiệp Việt Nam sang Ấn Độ giai đoạn 2007-2010, từ đó xác định các cơ hội, mặt hàng và khả năng cạnh tranh để đề xuất các định hướng chiến lược và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng công nghiệp Việt Nam sang thị trường Ấn Độ - Một thị trường nhiều tiềm năng nhưng còn khó thâm nhập

Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp thống kê, phân tích,

- Phương pháp chuyên gia,

- Phương pháp kế thừa

Trang 4

Nội dung nghiên cứu:

- Tổng quan tình hình kinh tế, thương mại của Ấn Độ những năm qua, nhu cầu nhập khẩu và cơ hội cho hàng hóa Việt Nam Những chính sách ngoại thương và tiền tệ của Ấn Độ có tác động đến hoạt động thương mại với các nước, trong đó có Việt Nam

- Đánh giá quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại Việt Nam - Ấn Độ những năm qua: những Hiệp định hợp tác kinh tế, thương mại; các dự án đầu tư; và những định hướng lớn hợp tác giữa hai nước Phân tích tình hình xuất nhập khẩu giữa hai nước giai đoạn 2001-2005 và năm 2006 và đánh giá những

cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu hàng công nghiệp Việt Nam vào thị trường Ấn Độ

- Trên cơ sở phân tích kinh nghiệm của một số nước thành công trong việc xuất khẩu sang Ấn Độ, vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đề xuất định hướng chiến lược để thâm nhập thị trường Ấn Độ, so sánh với thương mại Việt Nam - Hàn Quốc, Việt Nam - Trung Quốc, đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng công nghiệp Việt Nam sang thị trường Ấn Độ

Trang 5

MỤC LỤC

II PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ẤN ĐỘ GIAI ĐOẠN 2001 - 2005, NĂM 2006 VÀ

3 Chính sách ngoại thương và tiền tệ của Ấn Độ 16

4 Quan hệ hợp tác kinh tế thương mại Ấn Độ - ASEAN 20

5 Kinh nghiệm đẩy mạnh xuất khẩu sang Ấn Độ của Trung Quốc và một số

1 Tình hình thu hút FDI ở Việt Nam thời gian qua 30

3 Đánh giá tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam và Ấn Độ 49

IV SO SÁNH HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - ẤN ĐỘ VỚI VIỆT NAM -

1 Thương mại Việt Nam - Ấn Độ và Việt Nam - Hàn Quốc 52

2 Thương mại Việt Nam - Ấn Độ và Việt Nam - Trung Quốc 55

Trang 6

I ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ CÔNG NGHIỆP, THƯƠNG MẠI VIỆT

II ĐỊNH HƯỚNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM CÔNG NGHIỆP VÀO THỊ TRƯỜNG

Trang 7

Việt Nam và Ấn Độ chính thức thiết lập quan hệ từ năm 1954 Cho đến nay, hai nước đã ký kết nhiều hiệp định như: Hiệp định thương mại, Tránh đánh thuế hai lần, Khuyến khích và bảo hộ Đầu tư, Lãnh sự, Hợp tác văn hoá, Hàng không, Du lịch Hai nước cũng đã ký các Thoả thuận về Tham khảo chính trị giữa hai Bộ Ngoại giao, Hợp tác về Mỏ và Địa chất, Môi trường, Y học dân tộc và Nghị định thư về hợp tác quốc phòng Quan hệ kinh tế, thương mại hai nước cũng liên tục phát triển nhưng chưa thực sự tương xứng với tiềm năng Bình quân những năm gần đây Việt Nam chỉ xuất khoảng 80-100 triệu USD hàng hoá sang thị trường Ấn Độ, trong khi nhập khoảng 600-700 triệu USD Mặc dù kim ngạch 2 chiều còn hạn chế, nhưng nhiều đánh giá cho thấy tiềm năng thị trường Ấn Độ là rất lớn, do đó việc nghiên cứu đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường này là rất cần thiết, đặc biệt đối với hàng công nghiệp, mặt khác cần giảm thâm hụt thương mại tiến tới cân bằng trong thời gian tới

Những cơ hội và thách thức trong hoạt động thương mại với Ấn Độ đòi hỏi Việt Nam phải xây dựng được định hướng chiến lược và các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp vào thị trường Ấn Độ trong giai đoạn tới, nhằm chuyển hướng tích cực cơ cấu hàng xuất khẩu, tăng kim ngạch

và giảm nhập siêu từ thị trường này

Để thực hiện định hướng chiến lược trong hoạt động thương mại với Ấn

Độ, Vụ Kế hoạch được lãnh đạo Bộ giao thực hiện Đề tài nghiên cứu năm

2008 với nội dung: “Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp thúc nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng công nghiệp Việt nam vào thị trường Ấn Độ”

Đề tài nghiên cứu về thị trường Ấn Độ năm 2008 gồm các phần chính sau đây:

Chương I: Tổng quan kinh tế, thương mại Ấn Độ giai đoạn 2001-2007

Chương II: Tình hình thương mại Việt Nam - Ấn Độ giai đoạn 2001- 2007 Chương III: Định hướng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng công nghiệp Việt Nam sang Ấn Độ

Trang 8

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH KINH TẾ THƯƠNG MẠI ẤN ĐỘ

I TỔNG QUAN PHÁT TRIỂN KINH TẾ ẤN ĐỘ

Ấn Độ - Quốc gia đông dân với tăng trưởng kinh tế và cải cách chính sách

Ấn Độ là một quốc gia đông dân thứ nhì trên thế giới, sau Trung Quốc

Ấn Độ cũng là nước có diện tích lớn thứ 7 trên thế giới, chung biên giới với Pakistan, Trung Quốc, Myanma, Bangladesh, Nepal, Bhutan và Afghanistan Những năm gần đây, kinh tế Ấn Độ tăng trưởng hết sức ngoạn mục, tạo

ra một hình ảnh mới và cục diện mới cho Ấn Độ trên trường quốc tế Mới đây,

Ấn Độ đã gia nhập các nền kinh tế có GDP trên 1.000 tỷ USD, trở thành nước

có nền kinh tế phát triển nhanh thứ hai thế giới với tốc độ tăng trưởng GDP đạt 6 - 8% trong giai đoạn 2001 - 2006 và dự trữ ngoại tệ đã vượt ngưỡng 200

tỷ USD Lực lượng lao động của Ấn Độ có khoảng 496,4 triệu người, trong

đó, nông nghiệp chiếm 60%, công nghiệp 17% và dịch vụ 23% Nông nghiệp

Ấn Độ sản xuất gạo, lúa mì, hạt dầu, cốttông, sợi đay, chè, mía, khoai tây; gia súc, trâu, cừu, dê, gia cầm và cá Các ngành công nghiệp chính gồm dệt may, hoá chất, chế biến thực phẩm, thép, thiết bị vận tải, xi măng, mỏ, dầu khí và

cơ khí Những năm gần đây, Ấn Độ đã thu hút được đông đảo dân số có trình

độ học vấn cao, thành thạo tiếng Anh để giữ những vị trí quan trọng trong dịch

vụ thuê làm bên ngoài (outsourcing), tư vấn khách hàng (customer service) và

hỗ trợ kỹ thuật cho các công ty toàn cầu Hơn nữa, Ấn Độ cũng là nước xuất

khẩu hàng đầu về nhân lực trình độ cao trong lĩnh vực dịch vụ phần mềm, tài chính và chế tạo phần mềm

Hiện nay, Ấn Độ có đội ngũ doanh nghiệp sức cạnh tranh cao, có một

thị trường chứng khoán bùng nổ và một khu vực tài chính minh bạch, rõ ràng Hơn 100 doanh nghiệp của Ấn Độ có vốn đầu tư thị trường hơn 1 tỷ USD Một số Công ty lớn như Bharat Forge, Technologies, Tata Motors… sớm trở thành những thương hiệu có khả năng cạnh tranh trên toàn cầu Trong danh sách 500 Công ty hàng đầu thế giới của Fortune có hàng chục doanh nghiệp có xuất xứ từ Ấn Độ Sự thành công lớn của khối doanh nghiệp sản xuất cũng là một nhân tố lớn đưa hoạt động của khu vực ngân hàng trở nên lành mạnh hơn

Ấn Độ lựa chọn con đường đi riêng

Tốc độ tăng trưởng của Ấn Độ chủ yếu được thúc đẩy bởi dịch vụ và tiêu dùng trong nước Mức độ tiêu dùng chiếm 64% GDP của Ấn Độ trong khi Nhật Bản là 55%, Châu Âu là 58% và Trung Quốc chỉ là 42% Với mức tiêu

Trang 9

dùng nội địa cao, nền kinh tế Ấn Độ ổn định và dễ kiểm soát hơn so với các nền kinh tế ở khu vực châu Á bị phụ thuộc cao vào xuất khẩu Hiện nay, khu vực dịch vụ chiếm hơn 50% GDP của Ấn Độ, khu vực nông nghiệp chiếm 22% và công nghiệp là 27% Sức mạnh ngành công nghiệp Ấn Độ là chế tạo sản xuất công nghệ cao do đó cần lao động có tay nghề cao Với 93% nguồn vốn đầu tư trong nước đã tạo thêm thế mạnh của nền kinh tế Ấn Độ

Ấn Độ gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới từ năm 1995, gần 15

năm qua, khi nền kinh tế Ấn Độ toàn cầu hoá Xuất khẩu phần mềm của Ấn

Độ phát triển với tốc độ 50% mỗi năm, với khoảng 2/3 sang thị trường Mỹ

Nghiên cứu sự tăng trưởng kinh tế của Ấn Độ thông qua việc thực thi chiến lược và các chính sách có thể thấy được sự khác biệt tương đối so với các nước Châu Á khác Thành công của Trung Quốc chủ yếu dựa vào hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp nhà nước hay các Công ty nước ngoài Thứ tự

ưu tiên thể hiện rất rõ trong việc phân bổ các nguồn vốn tín dụng Chỉ có 10% tín dụng đến được khu vực tư nhân ở Trung Quốc, mặc dù khu vực này đã

tuyển dụng tới 40% lực lượng lao động Trong khi đó, ở Ấn Độ, các doanh

nghiệp tư nhân nhận được hơn 80% các khoản cho vay Một điểm khác

biệt nữa của hai nền kinh tế láng giềng này là ở Ấn Độ, tỷ lệ tăng trưởng cao

đã không đi kèm với một cuộc cách mạng công nghiệp cần nhiều lao động

trong khi Trung Quốc dường như đang tạo ra một dòng vô tận công ăn việc làm trình độ thấp trong khu vực sản xuất công nghiệp bằng việc xuất khẩu

hàng hoá giá rẻ ra thế giới Có thể thấy rằng Ấn Độ đang bỏ qua một cuộc

cách mạng công nghiệp, tiến thẳng từ nền kinh tế nông nghiệp lên nền kinh tế dịch vụ

Ấn Độ đã tìm thấy yếu tố có thể làm biến đổi nền kinh tế là cung cấp các dịch vụ lao động trí óc được các Công ty ở phần còn lại của thế giới thuê gia công Ấn Độ là một trong những nước tiên phong trong các ngành công nghiệp mũi nhọn của thế giới và giành được nhiều thành công Cách đây gần nửa thế kỷ, Ấn Độ đã là nước mở đường cho cuộc “Cách mạng xanh” và hiện nay trở thành trung tâm thế giới trong những ngành “thời thượng” như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học,… Chính phủ Ấn Độ đã coi công nghệ thông tin là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước, là một công cụ để cải thiện đời sống nhân dân

Theo số liệu của Bộ Thông tin và Công nghệ thông tin Ấn Độ, kể từ năm 1991 đến nay, xuất khẩu phần mềm của nước này đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hơn 50%/năm - con số nằm ngoài kỳ vọng của bất cứ quốc gia nào trên thế giới Báo cáo mới đây của Hãng NASSCOM-McKinsey đưa ra dự báo, doanh thu của ngành công nghệ thông tin Ấn Độ sẽ đạt 87 tỷ USD và xuất khẩu khoảng 35 tỷ USD trong năm 2008 Một ngành công nghiệp mũi nhọn khác của Ấn Độ là công nghệ sinh học Trong năm 2006-2007, doanh thu của ngành công nghệ sinh học Ấn Độ đạt 2 tỷ USD, tăng mạnh so với 1,5

Trang 10

tỷ USD của năm 2005-2006 và gấp đôi so với mức 1 tỷ USD trong năm

2004-2005 Tính chung, ngành công nghệ sinh học của Ấn Độ đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 35%/năm, cao hơn gấp đôi so với tốc độ tăng trưởng chung của ngành này trên toàn cầu Ngành công nghệ sinh học Ấn Độ đặt mục tiêu đạt doanh thu 5 tỷ USD trong năm tài chính 2010-2011 Nhiều khả năng doanh thu ngành công nghệ sinh học của nước này có thể đạt 25 tỷ USD vào năm 2015

Hiện nay, Ấn Độ có lực lượng lao động kỹ thuật hùng hậu bậc nhất thế giới đủ để đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế tri thức Ấn Độ

là nước có đội ngũ chuyên gia khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh lớn thứ hai thế giới, chỉ đứng sau Mỹ Ấn Độ còn nổi lên với thị trường dịch vụ giải trí và truyền thông tăng trưởng nhanh nhất thế giới Theo dự báo của Hãng PricewaterhouseCoopers, Ấn Độ sẽ là động lực chính thúc đẩy ngành giải trí

và truyền thông toàn cầu phát triển trong 5 năm tới Trong khi ngành giải trí

và truyền thông toàn cầu trong giai đoạn từ nay đến năm 2010 dự báo chỉ tăng trưởng bình quân 6,4%/năm để đạt tổng doanh thu 2.000 tỷ USD vào năm

2011, thì tốc độ tăng trưởng của ngành này tại Ấn Độ dự báo đạt 18,5%/năm - mức tăng cao nhất trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương

Một kỳ tích nữa của Ấn Độ là vị trí dẫn đầu thế giới về khả năng tạo

việc làm mới Theo Báo cáo Triển vọng việc làm năm 2007 (Employment

Outlook 2007) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), trong giai đoạn 2000-2005, mỗi năm, Ấn Độ tạo ra bình quân 11,3 triệu việc làm mới, so với 7 triệu việc làm mới tại Trung Quốc, 2,7 triệu việc làm mới tại Brazil, 0,7 triệu việc mới làm tại Nga và 3,7 triệu việc làm mới trong cả khối OECD

II PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ẤN ĐỘ GIAI ĐOẠN 2001 - 2005, NĂM 2006 VÀ NĂM 2007

1 Tình hình xuất khẩu của Ấn Độ giai đoạn 2001 - 2005, năm 2006

và năm 2007

Trong những năm qua, với một áp lực dân số nặng nề, Ấn Độ đã phải từng bước tháo gỡ những khó khăn nội tại của một nền kinh tế lạc hậu, cải tiến những phương thức quản lý sản xuất, quản lý xuất nhập khẩu để gia tăng sản lượng và chất lượng những mặt hàng sản xuất trong nước, đồng thời tạo điều kiện cho hàng hóa Ấn Độ thâm nhập vào thị trường khu vực cũng như thị trường phương Tây

Mặc dù là quốc gia lấy tiêu dùng và phục vụ thị trường trong nước làm động lực cho tăng trưởng kinh tế, ngành dịch vụ chiếm trên 50% GDP, tiêu dùng chiếm trên 60% GDP nhưng với một chiến lược phát triển có hiệu quả, phát huy được các lợi thế cạnh tranh, hàng hoá của Ấn Độ đã từng bước thâm nhập vào thị trường thế giới và kim ngạch xuất khẩu đạt được mức tăng

Trang 11

trưởng nhanh chóng Kim ngạch xuất khẩu của Ấn Độ trong năm tài chính

2000 - 2001 mới đạt 43,3 tỷ USD đã nhanh chóng tăng lên gần gấp đôi trong năm 2003 - 2004 (75,6 tỷ USD) và đạt 126,2 tỷ USD trong năm tài khoá 2006-

2007 Như vậy, trong vòng 7 năm từ 2000 đến 2007, xuất khẩu của Ấn Độ đạt mức tăng trưởng bình quân 19,5%, kim ngạch năm 2007 gấp 3 lần năm 2000

Về cơ cấu sản phẩm sản xuất cũng như xuất khẩu của Ấn Độ cũng có

những đặc trưng riêng Các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm công

nghiệp đã qua quá trình chế biến chế tác, đặc biệt một số sản phẩm là kết

quả của quá trình đầu tư phát triển khoa học công nghệ như những sản phẩm phần mềm, các sản phẩm hoá chất, sản phẩm từ công nghệ sinh học, máy móc, thiết bị, phụ tùng…

Một số nhóm sản phẩm xuất khẩu hàng đầu của Ấn Độ là: nhiên

liệu khoáng, dầu khoáng và các sản phẩm chưng cất, các chất chứa bitum, các loại sáp khoáng chất; Ngọc trai tự nhiên hoặc ngọc trai cấy; Đá quý hoặc bán

đá quý, kim loại quý, kim loại được dát phủ kim loại quý và các sản phẩm của chúng, nữ trang, tiền xu; Hoá chất hữu cơ; Sắt thép; Phụ tùng may mặc; Lò phản ứng hạt nhân, nồi cất, máy móc và thiết bị cơ khí, phụ tùng; Quặng, xỉ và tro; Máy móc, thiết bị điện và phụ tùng; máy thu và phát thanh, máy thu và phát thanh, hình ảnh truyền hình, và phụ tùng; Bông; Phương tiện ngoài đường sắt và đầu máy tàu điện, phụ tùng và sản phẩm liên quan… Những sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của Ấn Độ và kim ngạch xuất khẩu từ năm 2000 -

2007 (xem Bảng số 1 và Phụ lục 1)

Bảng số 1: Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Ấn Độ

Đơn vị: Triệu USD

nhiên hoặc ngọc trai cấy,

kim loại quý, kim loại

được dát phủ kim loại

chưng cất liên quan, các

chất chứa bitum, các loại

sáp khoáng chất

2.157 5,0 6.111 17.999 18.889 15,0 43,6

Trang 12

3 Quần áo dệt kim 3.238 7,5 3.746 5.423 5.279 4,2 8,5

9 Máy móc, thiết bị điện và phụ tùng; máy thu và

phát thanh, phát hình…

(Nguồn: - Bộ Công nghiệp và Thương mại Ấn Độ;

- Global Trade Information Services)

Thực hiện cải cách kinh tế và thương mại từ những năm 1990, Ấn Độ

đã mở cửa nền kinh tế và tăng cường giao dịch thương mại với các nước trên

thế giới Những cải cách đó là hạ thấp thuế quan và các rào cản thương mại,

xoá bỏ việc cấp phép ngành công nghiệp, giảm thuế suất, giảm giá đồng rupee,

mở cửa cho đầu tư nước ngoài và giảm bớt những sự kiểm soát về tiền tệ…

Điều đó tạo ra sự tăng trưởng về kim ngạch xuất khẩu cũng đồng nghĩa với đối

tác thương mại được mở rộng Tính đến nay, Ấn Độ đã xuất khẩu sang 232

quốc gia và khu vực thị trường Đứng đầu vẫn là các nước đã có quan hệ

thương mại lâu dài với Ấn Độ như Hoa Kỳ, Trung Quốc, các nước Tây Âu và

các nước thuộc khối Ả Rập,… Kim ngạch xuất khẩu của Ấn Độ sang Hoa Kỳ

và các nước Châu Âu như Anh, Đức, Hà Lan, Bỉ, Pháp, Tây Ban Nha… luôn

đạt mức cao Những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu sang các nước

này có xu hướng chậm lại nhưng bù lại, xuất khẩu sang Trung Quốc và một số

nước châu Á, các nước khu vực Ả Rập tăng nhanh

Xuất khẩu của Ấn Độ sang Hoa Kỳ trong năm tài khoá 2000-2001 đạt

8,3 tỷ USD, chiếm 19,2% tổng kim ngạch xuất khẩu của Ấn Độ, đã tăng lên

gấp đôi vào năm tài khoá 2004-2005 (16,5 tỷ USD) và đạt 18,8 tỷ USD trong

năm tài khoá 2006-2007, chiếm tỷ trọng 14,9% Mặc dù kim ngạch sang thị

trường này luôn dẫn đầu trong các đối tác thương mại và khu vực thị trường

của Ấn Độ nhưng tỷ trọng có xu hướng giảm Tăng trưởng cả giai đoạn 2001-

2007 chỉ đạt 14,6%, thấp hơn so với mức tăng bình quân là 19,5% Ngược lại,

xuất khẩu của Ấn Độ sang Trung Quốc chỉ đạt 915 triệu USD vào năm

2000-2001 đã tăng hơn 6 lần vào năm 2004-2005 (6,6 tỷ USD) và đạt 8,3 tỷ USD

vào năm 2006-2007, chiếm tỷ trọng 6,6% tổng xuất khẩu của Ấn Độ Nếu tính

cả Hồng Kông thì xuất khẩu của Ấn Độ sang thị trường này đạt trên 13 tỷ

USD (Hồng Kông là 4,6 tỷ USD) Trong giai đoạn 2001-2007, xuất khẩu của

Ấn Độ sang Trung Quốc tăng bình quân 44,4%, mức tăng cao nhất trong số

Trang 13

các quốc gia và khu vực thị trường chính Xuất khẩu của Ấn Độ tăng nhanh sang một số thị trường Đông Nam Á như Singapore, Indonesia, Malaysia,… Trong giai đoạn 2001-2007, xuất khẩu sang Singapore tăng 37,2%, đạt kim ngạch 6,0 tỷ USD vào năm 2006-2007; xuất khẩu sang Indonesia tăng 27,6%, đạt kim ngạch 2,0 tỷ USD năm tài khoá 2006-2007 Thị trường xuất khẩu của

Ấn Độ (xem Bảng số 2 và Phụ lục 2)

Bảng số 2: Xuất khẩu của Ấn Độ sang một số thị trường chính

Đơn vị: Triệu USD

2000 - 2001 2006 - 2007

TT Thị trường Trị

giá

Tỷ trọng

2007 Thế giới 43.314 100,0 75.630 121.259 126.262 100,0 19,5

(Nguồn: - Bộ Công nghiệp và Thương mại Ấn Độ;

- Global Trade Information Services)

2 Tình hình nhập khẩu của Ấn Độ giai đoạn 2001-2005, năm 2006

và năm 2007

Thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, cùng với việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá trong nước, Ấn Độ cũng tăng cường nhập khẩu các sản phẩm của thế giới, nhập những hàng hoá mà trong nước chưa sản xuất được, những hàng hoá phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước Tốc độ nhập khẩu của Ấn Độ đặc biệt tăng nhanh trong giai đoạn gần đây Năm 2000-2001, kim ngạch nhập khẩu của Ấn Độ mới ở mức 50,1 tỷ USD, đến năm tài khoá 2003-2004 đã tăng gần gấp đôi (97,3 tỷ USD) và đạt 185,6 tỷ USD vào năm tài khoá 2006-2007 Trong giai đoạn 2001-2007, nhập khẩu của Ấn Độ tăng 24,4%, cao hơn mức tăng của xuất khẩu trong cùng thời kỳ

Trang 14

Các sản phẩm nhập khẩu chính của Ấn Độ là nhiên liệu khoáng, dầu

khoáng và các sản phẩm chưng cất; ngọc trai, nữ trang và kim loại quý; lò

phản ứng hạt nhân, nồi hơi, thiết bị cơ khí; máy móc, thiết bị điện và phụ tùng,

máy thu và phát thanh, thiết bị ghi hình; sắt thép các loại; thiết bị quang học, y

học; máy bay, tàu vũ trụ và các phương tiện liên quan; phân bón; tàu thuỷ; dầu

mỡ động thực vật và các sản phẩm liên quan… Những sản phẩm nhập khẩu

chủ yếu của Ấn Độ và kim ngạch xuất khẩu từ năm 2001-2007 (xem Bảng số

3 và Phụ lục 3)

Bảng số 3: Một số mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Ấn Độ

Đơn vị: Triệu USD

2000 - 2001 2006 - 2007 T

Máy móc, thiết bị điện

tử (ti vi, thiết bị âm

thanh, thiết bị ghi

(Nguồn: - Bộ Công nghiệp và Thương mại Ấn Độ;

- Global Trade Information Services)

Trang 15

Cũng như xuất khẩu, các đối tác nhập khẩu chính của Ấn Độ là Hoa Kỳ, các nước châu Âu, các nước Đông Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc

và một số các nước ASEAN như Malaysia, Singapore, Indonesia,…)

Nhập khẩu của Ấn Độ từ Hoa Kỳ luôn chiếm tỷ trọng cao trong nhiều năm Năm 2000, Ấn Độ nhập khẩu 3 tỷ USD từ thị trường này, chiếm tỷ trọng 6,1% tổng kim ngạch nhập khẩu Đến năm tài khoá 2006-2007, Ấn Độ nhập hơn 11,7 tỷ USD, chiếm 6,3% Tăng trưởng bình quân trong cả giai đoạn là 25,1% Tuy nhiên, đến năm 2006-2007 thì Trung Quốc mới là đối tác nhập khẩu lớn nhất của Ấn Độ Với tốc độ tăng nhập khẩu 45,9% trong giai đoạn 2000-2007, nhập khẩu từ Trung Quốc đã tăng từ 1,8 tỷ USD năm 2000-2001 lên 17,4 tỷ USD năm tài khoá 2006-2007, chiếm 9,4% Những sản phẩm nhập khẩu từ Hoa Kỳ cũng như các nước châu Âu như Anh, Đức, Thụy Sỹ, Pháp, Ý…chủ yếu là các loại máy móc, thiết bị dùng cho sản xuất, đặc biệt là các loại máy có hàm lượng khoa học, kỹ thuật cao mà Ấn Độ chưa sản xuất được Nhập khẩu từ Trung Quốc và các nước đang phát triển khác những sản phẩm

bổ sung Trong nhóm các nước ASEAN, Ấn Độ nhập khẩu lớn nhất từ Malaysia, Indonesia và Singapore Nhập khẩu từ các nước này năm tài khoá 2006-2007 lần lượt là: 5,2 tỷ USD; 4,1 tỷ USD; 5,4 tỷ USD Tốc độ tăng trong giai đoạn 2001-2007 lần lượt là: 29,4%, 27,9% và 26,6% (cao hơn mức tăng nhập khẩu chung là 24,4%) Các thị trường nhập khẩu chính của Ấn Độ và

kim ngạch nhập khẩu từ năm 2000-2007 (xem Bảng số 4 và Phụ lục 4)

Bảng số 4: Nhập khẩu của Ấn Độ từ một số thị trường chính

Đơn vị: triệu USD

2007 Thế giới 50.143 100,0 97.312 172.876 185.604 100,0 24,4

Trang 16

2000 - 2001 2006 - 2007

TT Thị trường Trị

giá

Tỷ trọng

2003-2004 2005-2006

Trị giá trọng Tỷ

Tăng

BQ 2001-

2007

(Nguồn: - Bộ Công nghiệp và Thương mại Ấn Độ;

- Global Trade Information Services).

Trong hoạt động ngoại thương của mình, mặc dù đã có những thành

công đáng kể trong việc đẩy mạnh xuất khẩu ra thị trường thế giới nhưng Ấn

Độ vẫn luôn là nước nhập siêu, mức nhập siêu tăng nhanh trong thời gian gần đây Trong năm tài khoá 2000-2001, mức nhập siêu của Ấn Độ là 6,8 tỷ

USD, chiếm 15,7% tổng kim ngạch xuất khẩu, đến năm tài khoá 2006-2007 nhập siêu đã tăng lên 59,3 tỷ USD, chiếm 46,9% tổng kim ngạch xuất khẩu Trong cả giai đoạn 2000-2007, thâm hụt thương mại của Ấn Độ đã tăng 43,4%, cao hơn rất nhiều so với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu là 19,5% Cán

cân thương mại của Ấn Độ qua một số năm (xem Bảng số 5)

Bảng số 5: Cán cân thương mại của Ấn Độ từ năm 2000 đến năm 2007

Đơn vị: Triệu USD

TT 2000-2001 2003-2004 2005-2006 2006-2007

Tăng

BQ 2001-

2007

Cán cân thương mại (thâm hụt -; thặng dư +) -6.829 -21.682 -51.617 -59.342 43,4

(Nguồn: - Bộ Công nghiệp và Thương mại Ấn Độ;

- Global Trade Information Services)

3 Chính sách ngoại thương và tiền tệ của Ấn Độ

3.1 Chính sách ngoại thương:

3.1.1 Chủ trương và chính sách quản lý ngoại thương:

Chính phủ Ấn Độ đã áp dụng những chính sách ngoại thương có tính đặc trưng và phù hợp với điều kiện tình hình của quốc gia Một thời gian dài trong quá khứ, Ấn Độ đã từng áp dụng chính sách ngoại thương đóng cửa, hạn chế giao dịch thương mại với bên ngoài Tuy nhiên, sau đó, đặc biệt là trong 2

Trang 17

thập kỷ gần đây, Ấn Độ đã thực hiện mở cửa và tự do hoá thương mại nền

kinh tế Việc nghiên cứu chính sách ngoại thương của Ấn Độ có một ý

nghĩa rất lớn đối với Việt Nam trong quá trình xác định mối quan hệ lâu dài

và tìm hướng đẩy mạnh giao dịch thương mại nói chung và xuất khẩu nói riêng giữa hai nước

Trong kế hoạch 5 năm, từ năm 2002 đến năm 2007, Ấn Độ áp dụng một chính sách ngoại thương mềm dẻo, có nhiều cải tiến để thu hút thêm khách hàng và nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường thế giới Chính sách này dựa trên những nét cơ bản sau:

- Xuất nhập khẩu được tự do, ngoại trừ một số trường hợp được qui định rõ trong các luật lệ hay qui định sẽ được ban hành trong thời gian thi hành chính sách

- Tất cả những nhà xuất khẩu và nhập khẩu phải tuân thủ những điều khoản của đạo luật về ngoại thương năm 1992 và những sắc lệnh, nghị định ban hành tiếp theo đó cùng các điều khoản của chính sách ngoại thương Tất

cả hàng hóa nhập khẩu bị chi phối bởi các đạo luật, sắc lệnh, nghị định, các qui định, đặc tính kỹ thuật, các tiêu chuẩn về môi sinh và an toàn đã được áp dụng cho các hàng hóa sản xuất trong nước

- Những hạn chế về ngoại thương được đặt ra nhằm các mục tiêu: bảo

vệ đạo đức cộng đồng; Bảo vệ đời sống hay sức khỏe con người, động vật hay thực vật; bảo vệ quyền sở hữu, nhãn hiệu, bản quyền, ngăn ngừa những hành

vi gian dối; ngăn ngừa lao dịch trong trại giam; bảo vệ những tài sản quốc gia

có giá trị về mặt nghệ thuật, lịch sử hay khảo cổ học; bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên đang cạn kiệt; ngăn ngừa việc mua bán bất hợp pháp các loại vũ khí, đạn dược hay vật dụng sử dụng trong chiến tranh

- Nhà nước Ấn Độ áp dụng các biện pháp khuyến khích xuất nhập khẩu sau đây:

+ Chính quyền Trung ương khuyến khích chính quyền các Bang thực hiện việc hỗ trợ các hoạt động xuất khẩu trong phạm vi của mình Hàng năm,

Bộ Thương mại đưa ra một kế hoạch nhằm tài trợ cho các Bang trong công tác phát triển xuất khẩu Các Bang toàn quyền sử dụng ngân khoản này để phát triển cơ cấu hạ tầng như đường xá nối liền các trung tâm sản xuất với các cảng, thiết lập các trạm chứa hàng bằng container, xây dựng các công viên công nghệ, các khu công nghệ mới có tác dụng khuyến khích xuất khẩu, tăng cường phương tiện cho các khu kinh tế đang hoạt động

+ Một số thành phố, thị trấn nằm trong những khu vực địa lý đặc biệt được nâng lên thành những khu công nghiệp năng động, tham gia vào hoạt động xuất khẩu chung của cả nước Những “trung tâm công nghiệp” đó bắt

Trang 18

nguồn từ lịch sử Ấn Độ, tượng trưng cho tinh thần cởi mở của thị trường tự do

và đáp ứng được yêu cầu cạnh tranh trong một nền kinh tế thị trường

+ Trong chính sách xuất khẩu đổi mới, Ấn Độ chú trọng đặc biệt đến công nghệ gia đình và khu vực thủ công Các hình thái sản xuất này đóng góp hơn 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Lợi ích của hình thái sản xuất và xuất khẩu này là thu hút được nhiều thợ thủ công và nông dân vào guồng máy sản xuất, hạ giảm được áp lực của nạn thất nghiệp tại nông thôn

+ Chính phủ Ấn Độ cũng thiết lập các Khu xuất khẩu nông nghiệp (Agri Export Zones-AEZ) nhằm xuất khẩu những sản phẩm đặc biệt qua các khu vực tiếp giáp về mặt địa lý AEZ được xác định bởi chính quyền Bang với sự hợp tác của các cơ quan trực thuộc, các trường Đại học nông nghiệp cùng nhiều định chế khác

3.1.2 Một số thủ tục liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu:

Hoạt động ngoại thương giữa các đơn vị kinh tế của Ấn Độ và các nước khác còn nhiều trở ngại khi tham gia xuất khẩu vào thị trường Ấn Độ Đây là quốc gia chuyên kiện tụng các nước (trong đó có Việt Nam) trong việc bán phá giá Có thể cụ thể hoá những rào cản khi xuất khẩu vào thị trường này được thông qua những thủ tục bắt buộc như sau:

- Các loại giấy phép xuất nhập khẩu: Có giá trị theo thời hạn qui định

trong giấy phép và bao gồm các điều khoản do cơ quan cấp giấy phép qui định

- Lệ phí xuất nhập hàng: Tất cả đơn xin xuất nhập hàng đều phải trả phí,

mức độ và thể thức thanh toán phí được ngành ngoại thương và thuế vụ qui

định cụ thể

- Mã số xuất nhập khẩu (IEC): Các đơn vị thực hiện việc giao dịch

ngoại thương đều phải xin cấp một IEC

- Hiệu lực của giấy phép nhập khẩu: Tùy theo mặt hàng nhập khẩu và

thể thức nhập khẩu mà thời hạn hiệu lực của giấy phép nhập khẩu thay đổi từ

12 tháng đến 24 tháng

- Thẻ căn cước: Để tạo thuận lợi cho việc nhận giấy phép xuất nhập

hàng và các tài liệu khác, các chủ nhân, giám đốc hay nhân viên được ủy nhiệm của các nhà xuất nhập khẩu, được cấp thẻ căn cước

- Kho hải quan: Nhà xuất nhập khẩu có thể thiết lập các kho hải quan

nhằm chứa hàng trong thời gian làm các thủ tục thuế quan Thời gian lưu hàng trong loại kho này có thể kéo dài trong một năm mà không phải trả thêm một khoản thuế nào

- Vấn đề bảo lãnh ngân hàng: Trước khi thanh toán hàng hóa thông qua

thuế quan, nhà nhập khẩu phải có sự cam kết bảo lãnh của ngân hàng đối với

cơ quan thuế

Trang 19

- Xuất khẩu bằng đường bưu chính: Trong trường hợp xuất hàng qua

đường bưu chính, nhà xuất khẩu phải hội đủ các chứng từ sau: chứng chỉ ngân hàng về xuất khẩu và bán hàng; biên nhận của cơ quan bưu chính; hóa đơn

hợp lệ có sự xác nhận của thuế quan

- Nhập hàng tiêu dùng đã qua sử dụng: Những hàng tiêu dùng đã qua sử

dụng và không lâu quá 10 năm được nhập khẩu tự do Tuy nhiên, những hàng này không được chuyển nhượng, buôn bán trong thời hạn 2 năm kể từ ngày nhập khẩu, ngoại trừ trường hợp có sự cho phép của Tổng Giám đốc ngoại

thương

- Nhập khẩu những mặt hàng hạn chế: Giấy phép nhập những mặt hàng

hạn chế được cấp bởi Tổng Giám đốc Ngoại thương hoặc một giới chức được

ủy quyền Trong công tác này, vị Tổng Giám đốc được sự tư vấn của một Ủy

ban gồm đại diện các cơ quan kỹ thuật, các Bộ và Cục liên hệ

- Nhập hàng theo thỏa hiệp giữa hai Chính phủ: Không cần giấp phép nhập khẩu hay giấy giấy phép của ngành thuế quan

- Nhập khẩu nguyên mẫu: Việc nhập khẩu các nguyên mẫu hàng còn

mới hay đã qua sử dụng hoặc hàng mẫu đã qua sử dụng không vượt quá 10

đơn vị mỗi năm và có trả thuế được miễn giấy phép nhập khẩu

- Xuất nhập khẩu hàng hóa để thay thế: Đơn xin xuất khẩu quà biếu,

phụ tùng hay hàng thay thế thuộc thẩm quyền cứu xét của Tổng Giám đốc Ngoại thương Các hình thức xuất khẩu phi vật chất như đường truyền dữ liệu tốc độ cao, internet, điện thoại đường dài,… thuộc thẩm quyền Hội đồng xúc

tiến xuất khẩu hàng điện tử và phần mềm

3.2 Chính sách tiền tệ:

Ấn Độ đã sử dụng chính sách tài chính, tiền tệ như một công cụ ổn

định nền kinh tế và đẩy mạnh xuất khẩu Ấn Độ đã áp dụng một cách linh

hoạt các công cụ như tỷ giá hối đoái, lãi suất tiền gửi, điều tiết cung cầu tiền

để đảm bảo có lợi cho hoạt động xuất khẩu, đồng thời kiểm soát được vấn đề lạm phát trong nước

Trên thực tế, Ấn Độ luôn duy trì một chính sách tiền tệ thấp một

cách giả tạo để có lợi cho hoạt động xuất khẩu Có những thời điểm nền

kinh tế Ấn Độ phát triển quá nóng, do đó Ấn Độ đã áp dụng chính sách tiền tệ một cách cẩn trọng và điều chỉnh một cách linh hoạt cho phù hợp với tình hình trong nước và trên thế giới, sử dụng các biện pháp tăng tỷ lệ dự trữ và tăng lãi suất cơ bản để rút bớt tiền trong lưu thông

Các tổ chức ngân hàng và tài chính của nước này luôn tích cực thu hút khách hàng Cho đến nay, người Ấn Độ sở hữu hơn 12 triệu thẻ tín dụng và

Trang 20

cung cấp tài chính cho 80% các cuộc mua bán tự động của mình thông qua các ngân hàng, thể hiện về sự tin tưởng ngày càng tăng vào hệ thống tài chính là

cơ sở vững chắc để thực hiện các chính sách tiền tệ

Chính sách tài chính nói chung và chính sách tiền tệ nói riêng của Ấn

Độ đã gặp những thách thức lớn trong năm 2007 và những tháng đầu năm

2008 Với những biến động của kinh tế thế giới, đặc biệt là sự tăng giá dầu thô

đã ảnh hưởng đến một nền kinh tế có quy mô lớn như Ấn Độ Chỉ số giá tiêu

dùng tăng nhanh chóng và đạt mức cao kỷ lục trong vòng 3 năm qua Hiện

tại, Ấn Độ vẫn đang điều hành theo chính sách thắt chặt tiền tệ và việc chống lạm phát là mục tiêu số một của Ấn Độ vào thời điểm này

Tuy nhiên, lạm phát ở Ấn Độ so với cùng kỳ năm ngoái là 11,4%, ngân sách chính phủ thâm hụt nặng và lãi suất cũng đang tăng cao

Tóm lại, chính sách tiền tệ của Ấn Độ cũng như các nước luôn được

điều chỉnh theo những diễn biến của nền kinh tế Với tình hình lạm phát cũng như những khó khăn trên thị trường thế giới và nội tại nền kinh tế, trong ngắn hạn, chắc chắn Ấn Độ sẽ tiếp tục áp dụng một chính sách tiền tệ thắt chặt, điều này sẽ tác động đến hoạt động ngoại thương cũng như các hoạt động khác của nền kinh tế Đây sẽ là điểm cần lưu ý cho Việt Nam trong quá trình phân tích

và đề xuất các định hướng phát triển thương mại giữa hai quốc gia

4 Quan hệ hợp tác kinh tế thương mại Ấn Độ - ASEAN

Với tầm quan trọng về chiến lược kinh tế - xã hội tại khu vực cũng như tiềm năng trở thành đối tác chủ chốt trong thương mại, đầu tư trên thế giới, ASEAN luôn là nhân tố chính trong chính sách hướng Đông của Ấn Độ

Vào đầu những năm 1990 của thế kỷ XX, chính sách hướng Đông của

Ấn Độ đã ra đời Việc xây dựng chính sách hướng Đông xuất phát từ nhiều nguyên nhân:

- Thứ nhất, sự sụp đổ của Liên xô và các nước Đông Âu, đây là những

bạn hàng, đối tác chính của Ấn Độ trong một thời gian dài Vì vậy, Ấn Độ phải có những động thái tìm kiếm những đối tác mới;

- Thứ hai, tác động của cuộc chiến tranh vùng Vịnh, sự mất ổn định về

nguồn cung cấp dầu cùng giá dầu tăng cao là nguyên nhân trực tiếp khiến Ấn

Độ phải tìm kiếm nguồn cung cấp dầu mới và Đông Nam Á là khu vực mà Ấn

Độ hướng tới;

- Thứ ba, tình hình chính trị bất ổn định của khu vực Nam Á;

- Thứ tư, những khó khăn từ chính bản thân Ấn Độ;

Trang 21

- Thứ năm, cách nhìn mới của Ấn Độ về khu vực Châu Á-Thái Bình

Dương nói chung và các nước Đông Nam Á nói riêng;

- Thứ sáu, ASEAN hướng tới Ấn Độ với những tính toán chiến lược

Về Hiệp Định Thương mại tự do giữa các nước ASEAN và Ấn Độ:

Với ảnh hưởng mạnh mẽ của Trung Quốc ở khu vực Đông Nam Á vào

cuối những năm 1980, các nhà hoạch định chính sách Ấn Độ cho rằng, chỉ khi

Ấn Độ hạn chế được sự ảnh hưởng của Trung Quốc ở khu vực này thì vai trò của Ấn Độ ở khu vực Nam Á mới được bảo đảm Hơn nữa, an ninh cũng như

thương mại trên biển của Ấn Độ lại gắn trực tiếp với những eo biển nằm ở khu vực Đông Nam Á như Sun-đa, Lom-bo, đặc biệt là eo biển Ma-la-xca, nơi có lượng tàu thuyền qua lại mỗi năm gần gấp đôi lượng tàu thuyền qua kênh đào Xuy-ê và gần gấp ba lần kênh đào Pa-na-ma Ấn Độ tìm kiếm khả năng bảo vệ các hoạt động thương mại trên biển chống lại nạn cướp biển, buôn lậu ma túy tại khu vực Tam giác vàng Không những thế, sự phát triển kinh tế của các nước Đông Nam Á đặc biệt là các nền kinh tế mới nổi của ASEAN thực sự gây ấn tượng mạnh mẽ đối với Ấn Độ

Năm 1992, Ấn Độ là thành viên đối thoại từng phần của ASEAN và trở thành thành viên đối thoại đầy đủ của tổ chức này vào năm 1995 Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Ấn Độ lần đầu tiên được tổ chức ở Phnôm Pênh (Cam-pu-chia) Ý tưởng thành lập một Hiệp định Thương mại tự do giữa các nước ASEAN và Ấn Độ được nêu ra tại Hội nghị thượng đỉnh hàng năm

tổ chức tại Bali-Inđônêxia từ tháng 10/2003 Theo đó, các thành viên ASEAN

và Ấn Độ đã ký Hiệp định khung về Hợp tác Kinh tế toàn diện, trong đó hai bên cam kết tiến tới xây dựng một khu vực thương mại tự do vào năm 2011 Theo hiệp định khung này, thời hạn đàm phán về thương mại giữa ASEAN-

Ấn Độ diễn ra từ tháng 1/2004 đến tháng 6/2005; về dịch vụ và đầu tư từ năm

2005 đến năm 2007 Vào đầu năm 2004, Uỷ ban đàm phán thương mại (TNC) hai bên được thiết lập với nhiệm vụ soạn thảo các quy định cơ bản (ROO), các phương thức giảm thuế và FTA

Hai bên đã nhất trí các mức giảm thuế ban đầu thuộc FTA bắt đầu từ ngày 1/1/2006 Theo đó, các mức thuế chính thức về hàng hoá phi nông nghiệp sẽ được áp dụng cho các nước ASEAN phát triển hơn (trừ Phi-líp-pin) vào năm 2011 và bốn nước ASEAN còn lại (Cam-pu-chia, Lào, Mi-an-ma, Việt Nam) vào năm 2016 Ấn Độ cũng nhất trí mở rộng các bước giảm thuế cho từng nước thuộc nhóm trên đối với 111 mặt hàng dựa vào tốc độ phát triển của mỗi nước Ấn Độ và Phi-líp-pin cũng đã nhất trí giảm thuế vào năm 2016

Tuy nhiên, tiến trình đàm phán giữa hai bên hiện đang gặp sự chưa thống nhất giữa hai bên Đó là các quốc gia thành viên ASEAN yêu cầu phía

Ấn Độ cắt giảm danh mục loại trừ hoàn toàn hiện nay bao gồm khoảng 991

Trang 22

khi đó Ấn Độ muốn áp dụng hạn ngạch thuế quan (TRQ) đối với một số mặt hàng như: dầu cọ, chè, cà phê và hạt tiêu Ấn Độ chưa muốn cắt giảm thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng này vì họ cho rằng đây là các mặt hàng rất nhạy cảm và có ảnh hưởng đến sản xuất trong nước

Tin cuối cùng vào ngày 4 tháng 11 năm 2008, Tổng thư ký ASEAN Surin Pitsuwan cho biết cuộc thương lượng khó khăn về hiệp định tự do thương mại (FTA) giữa ASEAN và Ấn Độ đã kết thúc và hai bên đã vượt qua

các trở ngại cuối cùng Phát biểu tại Bangkok, ông Surin nói: "Hai bên đã hoàn tất việc thương lượng, song chưa ký kết FTA"

Về Thương mại hai chiều giữa Ấn Độ và ASEAN: từ đầu những năm

90 đến những năm đầu thế kỷ XXI có những bước phát triển đáng kể Nếu năm 1993, thương mại hàng hoá hai bên đạt 2,9136 tỷ USD thì đến năm 1997, con số đó lên tới 8,8 tỷ USD Do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính-tiền

tệ Châu Á (1997-1998), thương mại hàng hoá hai chiều trong năm 1998 giảm xuống còn 6,9 tỷ USD Tuy nhiên, đến năm 2004, thương mại Ấn Độ-ASEAN đạt 17,6 tỷ USD (tăng bình quân 36% mỗi năm kể từ năm 1998) Đến năm tài khoá 2006-2007, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Ấn Độ với ASEAN đạt 30,6 tỷ USD, tăng 44,1%, trong đó: xuất khẩu đạt 12,6 tỷ USD, tăng 21,1%;

nhập khẩu đạt 18,1%, tăng 66,2% Trong những năm gần đây, kim ngạch

xuất khẩu của Ấn Độ sang ASEAN luôn chiếm khoảng 10% tổng kim ngạch xuất khẩu; kim ngạch nhập khẩu từ ASEAN chiếm khoảng 7-9% tổng

nhập khẩu của Ấn Độ Kim ngạch xuất nhập khẩu của Ấn Độ với các nước

thuộc khối ASEAN năm tài khoá 2006-2007 (xem Bảng số 6 và Phụ lục 5)

Bảng số 6: Ngoại thương của Ấn Độ với một số nước ASEAN

Đơn vị: Triệu USD

2006 - 2007 Tăng trưởng so với cùng kỳ (%)

Trang 23

5 Kinh nghiệm đẩy mạnh xuất khẩu sang Ấn Độ của Trung Quốc

và một số nước ASEAN

5.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc:

Ấn Độ cùng với Trung Quốc đang là những quốc gia có tốc độ tăng

trưởng kinh tế hàng đầu khu vực và thế giới Mặc dù có những cách đi khác nhau nhưng cả hai quốc gia này đang là đối tác kinh tế lớn của bất kỳ quốc gia nào Cả Ấn Độ và Trung Quốc đều là những quốc gia đông dân nhất nhì

thế giới, do đó sức mua cũng như quy mô thị trường là mục tiêu của các quốc gia và doanh nghiệp trên toàn thế giới

Trong những năm trước, buôn bán hai chiều giữa hai quốc gia có nền kinh tế tương đồng này không lớn Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của 2 nước năm tài khoá 2000-2001 chỉ đạt 2,7 tỷ USD, trong đó Trung Quốc nhập khẩu 915 triệu USD và xuất khẩu 1,8 tỷ USD Nhưng ngay sau đó, hoạt động ngoại thương giữa hai nước đã có những biến đổi mang tính đột phá và kim

ngạch hai chiều tăng nhanh liên tục cho đến nay Trung Quốc ngày càng trở thành đối tác đặc biệt quan trọng đối với Ấn Độ Theo số liệu thống kê của Bộ

Công nghiệp và Thương mại Ấn Độ, từ năm tài khoá 2003-2004 Trung Quốc

đã vượt qua Mỹ để trở thành đối tác thương mại số 1 của Ấn Độ Tính đến

năm 2006-2007, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang thị trường Ấn Độ đạt 17,4 tỷ USD, gấp gần 10 lần năm 2000-2001, chiếm tỷ trọng 9,4% trong tổng nhập khẩu của Ấn Độ Trong giai đoạn 2001-2007, xuất khẩu của Trung Quốc sang Ấn Độ tăng 45,9%, mức tăng trưởng này cũng là cao nhất trong số các đối tác thương mại chủ yếu của Ấn Độ

Mối quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và Ấn Độ có nhiều thuận lợi

do hai nước có những điểm tương đồng và có khoảng cách gần nhau, nhưng

chiến lược phát triển kinh tế, phát triển sản xuất lại có rất nhiều khác

biệt Vì vậy, hàng hoá của hai nước có thể bổ sung cho nhau và đều phát huy

tốt các lợi thế so sánh Trong số các sản phẩm chủ yếu xuất khẩu vào thị

trường Ấn Độ, các sản phẩm máy móc, thiết bị điện tử (tivi, thiết bị âm thanh, thiết bị ghi hình…) luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất Kim ngạch các sản phẩm này năm 2006-2007 đạt 4,2 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 24,3% tổng xuất khẩu của Trung Quốc sang Ấn Độ và tăng 36,6% trong giai đoạn 2004-2007 Ngoài nhóm sản phẩm này, Trung Quốc còn có 03 nhóm sản phẩm có kim ngạch xuất khẩu sang Ấn Độ đạt trên 1 tỷ USD là: máy móc, thiết bị, phụ tùng, cấu kiện…(nhóm sản phẩm thuộc mã số 84 theo cách phân loại của SITC); hoá chất hữu cơ (nhóm sản phẩm thuộc mã số 29); xăng dầu và các sản phẩm được chế biến từ xăng dầu (nhóm sản phẩm thuộc mã số 27); các sản phẩm sắt thép (nhóm sản phẩm thuộc mã số 73) Một số sản phẩm chủ yếu Trung Quốc xuất

khẩu sang Ấn Độ (xem Bảng số 7 và Phụ lục 6)

Trang 24

Bảng số 7: Một số sản phẩm chủ yếu của Trung Quốc

xuất khẩu sang Ấn Độ

Đơn vị: Triệu USD

1 Máy móc, thiết bị điện tử (ti vi, thiết bị âm thanh, thiết bị ghi hình ) 1.664,1 27,7 4.237,9 24,3 36,6

2 Máy móc thiết bị, phụ tùng, cấu kiện… 868,8 14,5 3.247,1 18,6 55,2

4 Xăng dầu và các sản phẩm được chế biến từ xăng dầu… 639,5 10,6 1.257,2 7,2 25,3

6 Hàng hoá từ dự án, hàng hoá sử dụng cho mục đích đặc biệt 18,5 0,3 498,2 2,9 199,7

9 Hoá chất vô cơ, hợp chất kim loại, kim loại quý hiếm… 132,7 2,2 287,2 1,6 29,4

(Nguồn: - Bộ Công nghiệp và Thương mại Ấn Độ;

- Global Trade Information Services)

Như vậy, có thể thấy rằng xuất khẩu của Trung Quốc ra thế giới nói

chung và sang Ấn Độ nói riêng không chỉ là các mặt hàng có lợi thế cạnh

tranh về lao động như dệt may, da giầy và cả những mặt hàng có hàm lượng

khoa học, công nghệ cao

Tóm lại, trong chiến lược xuất khẩu của mình, Trung Quốc đã biết lựa

chọn những sản phẩm, hàng hóa có lợi thế so sánh, phù hợp với nhu cầu của

Ấn Độ, đặc biệt phát huy hiệu quả các hoạt động xúc tiến thương mại vào thị

trường này Hiện nay, với năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, các ngành và sản

phẩm, Trung Quốc có đủ khả năng cạnh tranh với nhiều mặt hàng ở nhiều chủng

loại của các nước khác nhau xuất khẩu vào Ấn Độ Đặc biệt, Trung Quốc và Ấn

Độ đang tăng cường hợp tác song phương và ngày càng trở thành đối tác kinh

tế, thương mại lớn của nhau

5.2 Kinh nghiệm của một số nước ASEAN:

Phân tích các số liệu thống kê thương mại giữa Ấn Độ và ASEAN có

thể thấy rằng, mặc dù có điều kiện kinh tế tương tự nhau nhưng một số nước

trong khối như Malaysia, Indonesia, Singapore đã thành công hơn Việt

Nam trong việc đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Ấn Độ

Trang 25

Cả 3 nước này đã xuất khẩu sang Ấn Độ chiếm tỷ trọng giao dịch ngoại thương tương đối lớn trong tổng kim ngạch 2 chiều của các nước Trong danh sách các bạn hàng chủ yếu, các nước này luôn nằm trong TOP 12 quốc gia, khu vực thị trường có giao dịch thương mại lớn với Ấn Độ Trong năm tài khoá 2000-2001, xuất khẩu của Malaysia, Indonesia, Singapore sang Ấn Độ lần lượt là: 1,1 tỷ USD; 950 triệu USD và 1,3 tỷ USD Đến năm tài khoá 2006-2007, chỉ số này tăng lên lần lượt là: 5,3 tỷ USD; 4,1 tỷ USD; 5,4 tỷ USD Trong giai đoạn 2001-2007, xuất khẩu của Malaysia sang Ấn Độ tăng 29,4%; xuất khẩu của Indonesia sang Ấn Độ tăng 27,9%; của Singapore tăng

26,6% Điều đặc biệt là các nước này đều xuất siêu sang Ấn Độ qua các năm

Trong năm tài khoá 2006-2007, Malaysia xuất siêu 3,9 tỷ USD sang Ấn Độ, thặng dư thương mại tăng 50,1% trong cả giai đoạn 2001-2007; Indonesia xuất siêu 2,1 tỷ USD, và tăng 28,2% trong cùng thời kỳ; chỉ có Singapore bắt đầu nhập siêu một lượng nhỏ năm 2006-2007 là 579 triệu USD

Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của Malaysia sang Ấn Độ là các sản phẩm

có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao như các loại máy móc, thiết bị, phụ tùng,… Các nhóm hàng có kim ngạch lớn nhất là: xăng dầu và các sản phẩm

từ xăng dầu; lò phản ứng hạt nhân và các thiết bị, phụ tùng liên quan; máy móc, thiết bị điện tử, các thiết bị thu âm, thu hình, máy ảnh; gỗ và các sản phẩm gỗ; hoá chất hữu cơ; động thực vật và các loại dầu từ thực vật; sắt thép; các sản phẩm nhựa; đồ dung cho gia đình như đèn, giường, Trong cơ cấu xuất khẩu của Indonesia sang Ấn Độ, mặt hàng chủ yếu bao gồm cả động thực vật, các sản phẩm và chế phẩm từ động thực vật; các loại quặng; sắt thép; hoá chất hữu cơ; các sản phẩm từ cao su,… Các nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu của Singapore sang Ấn Độ là: lò phản ứng hạt nhân và các thiết bị liên quan; xăng dầu và các chế phẩm từ xăng dầu; máy móc, thiết bị điện tử; các sản phẩm từ công nghệ in như sách báo, tranh ảnh; tàu thuỷ,… Tình hình xuất nhập khẩu

của một số nước ASEAN (xem Bảng số 8)

Bảng số 8 : Xuất nhập khẩu của một số nước ASEAN vào Ấn Độ

TM

XK sang

AD

NK

từ AD

Cán cân

TM

XK sang

AD

NK

từ AD

Cán cân

TM

Malaysia 1.127 778 349 5.290 1.303 3.987 29,4 9,0 50,1 Indonesia 950 469 481 4.165 2.026 2.139 27,9 27,6 28,2 Singapore 1.333 909 424 5.485 6.064 -579 26,6 37,2 -

(Nguồn: - Bộ Công nghiệp và Thương mại Ấn Độ;

- Global Trade Information Services)

Trang 26

CHƯƠNG II

I MỘT SỐ HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC KINH TẾ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - ẤN ĐỘ

Quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Ấn Độ là mối quan hệ mang tính truyền thống, bền vững Mặc dù có những bước thăng trầm trong lịch sử quan

hệ do tác động của bối cảnh quốc tế, song Việt Nam - Ấn Độ luôn duy trì, phát triển quan hệ song phương trên mọi lĩnh vực

Trong thế kỷ 20 vừa qua, bảy năm sau ngày Ấn Độ thu hồi nền độc lập

từ tay thực dân Anh, năm 1954, Việt Nam và Ấn Độ thiết lập quan hệ ngoại giao ở cấp lãnh sự Việc thăm viếng qua lại giữa các nhà lãnh đạo hai quốc gia

đã làm bền chặt thêm tình hữu nghị vốn có Về mặt thương mại, quan hệ giữa hai nước bắt đầu vào năm 1956, sau khi có sự thương thảo giữa phái đoàn Việt Nam tham dự Hội chợ công nghiệp tổ chức tại New Delhi với Bộ Thương mại

và Công nghiệp Ấn Độ Kết quả các buổi làm việc giữa hai bên được Bộ Thương mại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhắc lại trong Công hàm ngày 28/7/1956 gửi Bộ Thương mại và Công nghiệp Ấn Độ, theo đó, hai bên đạt đến những thỏa thuận sau:

- Cả hai nước đồng ý rằng việc xuất hàng hóa cho nhau hay nhập hàng hóa của nhau sẽ phù hợp với luật pháp mỗi nước

- Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xem hàng hoá xuất cho Ấn Độ hay nhập từ Ấn Độ trên cùng một cơ sở như với bất cứ một nước nào khác đang có quan hệ thương mại song phương với Việt Nam

- Việc thanh toán giữa hai bên được thực hiện bằng đồng rupi hay đồng bảng Anh

- Việt Nam đặt tại Ấn Độ một phái đoàn thương mại có một Trưởng Đại diện và một Phó Đại diện, được phía Ấn Độ tạo mọi điều kiện thuận lợi trong việc thi hành nhiệm vụ được giao Về phần mình, nếu muốn, Ấn Độ cũng sẽ

đề cử một Đại diện tại Việt Nam

Đây là tiền đề đầu tiên bắt đầu mối quan hệ thương mại giữa hai nước

Kể từ đó, hai nước thường xuyên thiết lập các chuyến thăm chính thức cấp cao giữa hai nước Lãnh đạo cấp cao của Ấn Độ đã sang thăm Việt Nam như chuyến thăm của Phó Tổng thống Ấn Độ S Ra-ha Krít-na vào tháng 9/1957, của Tổng thống Ấn Độ R.Pra-sát vào tháng 5/1959; Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Ấn Độ vào các năm 1954 và 1958

Trang 27

Ngày 7/1/1972, Việt Nam và Ấn Độ chính thức nâng quan hệ ngoại giao lên cấp Đại sứ sau 16 năm thiết lập quan hệ Lãnh sự quán (năm 1956) Mối quan hệ hữu nghị, hợp tác truyền thống Việt Nam - Ấn Độ do Chủ tịch

Hồ Chí Minh và Cố Thủ tướng J.Nê-ru đặt nền móng đã không ngừng được vun đắp, phát triển

Những năm sau đó, quan hệ Việt Nam - Ấn Độ ngày càng khởi sắc, thể hiện qua chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng R.Gan-đi vào năm 1985 và năm 1988, của Thủ tướng P.V Na-ra-sim-ha Rao vào năm 1994 và Thủ tướng A.B Va-giơ-pai-ơ vào năm 2001

Lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta cũng đã có các chuyến thăm Ấn Độ như: Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm Ấn Độ vào năm 1978 và 1980, Tổng Bí thư Lê Duẩn thăm vào năm 1984, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh thăm năm

1989, Tổng Bí thư Đỗ Mười thăm năm 1992, Thủ tướng Võ Văn Kiệt thăm năm 1997, Chủ tịch nước Trần Đức Lương thăm năm 1999

Trong các chuyến thăm qua lại của các vị lãnh đạo hai nước, các vấn đề hợp tác về kinh tế, chính trị, văn hoá đã được đặt ra và đưa quan hệ giữa hai nước lên một tầm cao mới

Trong thời gian qua, Việt Nam và Ấn Độ đã ký các Hiệp định sau:

(1) Hiệp định Tránh đánh thuế hai lần ký ngày 07/9/1994: Nhằm loại

bỏ việc đánh thuế trùng bằng cách: (a) miễn, giảm số thuế phải nộp tại Việt Nam cho các đối tượng cư trú của nước ký kết hiệp định; hoặc (b) khấu trừ số thuế mà đối tượng cư trú Việt Nam đã nộp tại nước ký kết hiệp định vào số thuế phải nộp tại Việt Nam Ngoài ra, Hiệp định còn tạo khuôn khổ pháp lý cho việc hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau giữa các cơ quan thuế Việt Nam với cơ quan thuế các nước ký kết trong công tác quản lý thuế quốc tế nhằm ngăn

ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và vào tài sản

(2) Hiệp định Thương mại và Hợp tác Kinh tế tháng 1/1978 và ký lại vào ngày 8/3/1997 với quan điểm trong khuôn khổ pháp luật của nước mình,

hai bên sẽ xúc tiến và tạo thuận lợi cho việc hợp tác kinh tế và thương mại giữa hai nước trên cơ sở lâu dài và ổn định Nội dung cơ bản của Hiệp định bao gồm:

- Hai bên sẽ dành cho nhau chế độ ưu đãi tối huệ quốc về giấy phép xuất nhập khẩu, thuế hải quan và tất cả các loại chi phí và thuế khác áp dụng cho việc nhập khẩu, xuất khẩu hoặc quá cảnh hàng hoá/sản phẩm

- Các bên ký kết sẽ giành cho nhau sự ưu đãi không thấp hơn mức dành cho bất cứ nước nào khác trong việc cấp giấy phép xuất nhập khẩu nếu các loại giấy phép đó buộc phải có theo quy định

Trang 28

- Mọi ưu đãi, đặc quyền hay miễn trừ mà một trong các bên ký kết dành cho bất cứ sản phẩm nào xuất xứ từ lãnh thổ của một nước thứ ba hoặc có nơi đến là lãnh thổ của nước đó sẽ ngay lập tức và không điều kiện được dành cho sản phẩm cùng loại xuất xứ từ lãnh thổ của một trong các bên ký kết hoặc là

để nhập khẩu vào lãnh thổ của bên ký kết ấy

- Hai bên sẽ khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc tiếp xúc giữa các cá nhân và pháp nhân của hai bên bằng cách trao đổi các đoàn thương mại và kinh doanh, tham gia các cuộc hội chợ, triển lãm và trao đổi thông tin

- Trong khuôn khổ pháp luật của mỗi nước và theo tập quán thương mại quốc tế, các cá nhân và pháp nhân của hai nước sẽ ký kết các hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ theo giá cả thị trường thế giới

- Hai bên sẽ khuyến khích việc hợp tác đầu tư và hợp tác kỹ thuật giữa hai nước phù hợp với pháp luật của mỗi nước để sản xuất ra sản phẩm tiêu thụ tại thị trường nội địa của mỗi nước hoặc xuất khẩu sang các nước thứ ba

(3) Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và Ấn

Độ đã được ký kết tại New Đê li ngày 8/3/1997 với mục tiêu tạo điều kiện

thuận lợi cho việc thúc đẩy hơn nữa đầu tư của quốc gia này trên lãnh thổ của quốc gia kia và thúc đẩy sáng kiến kinh doanh cá nhân cũng như đẩy mạnh sự phồn thịnh của hai quốc gia Hiệp định này quy định các vấn đề về:

- Khuyến khích và bảo hộ đầu tư;

- Đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc;

- Tước đoạt quyền sở hữu;

- Đền bù tổn thất;

- Việc chuyển đầu tư và lợi nhuận;

- Thế quyền;

- Giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và một bên ký kết;

- Giải quyết tranh chấp giữa các bên ký kết;

- Nhập cảnh và cư trú của nhân viên

Đặc biệt, trong chuyến thăm chính thức Ấn Độ của Tổng Bí thư Nông

Đức Mạnh (tháng 5/2003), hai bên đã ra Tuyên bố chung về Khuôn khổ hợp

tác toàn diện giữa Việt Nam và Ấn Độ bước vào thế kỷ XXI với mục tiêu phát triển hợp tác chiến lược cả về bề rộng lẫn chiều sâu Trong đó, quan hệ

hợp tác kinh tế đã được nhấn mạnh sẽ tiếp tục được nâng cao, cụ thể trong các lĩnh vực sau:

Trang 29

- Trong lĩnh vực thương mại, hai bên cam kết đa dạng hóa cơ cấu mặt hàng xuất - nhập khẩu, thúc đẩy các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm đạt kim ngạch thương mại 1 tỷ USD vào năm 2015 Hai bên cũng nhất trí thực hiện các biện pháp ưu đãi thuế quan cho nhau phù hợp với các nghĩa vụ quốc

tế của mình, nhằm thúc đẩy cân bằng thương mại giữa hai nước;

- Trong lĩnh vực đầu tư và tư vấn quản lý, hai bên cam kết tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư và tư vấn của hai nước, kể cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ, mở rộng đầu tư và quản lý kinh doanh cũng như các hoạt động tư vấn sang các lĩnh vực như dầu khí, hóa chất, hóa dầu, phân bón, điện lực, dược phẩm, công nghệ thông tin, chế biến nông sản, các ngành công nghiệp nhẹ, viễn thông, đóng tầu và cảng biển, đường sắt, thép và khai khoáng;

- Nhằm hỗ trợ cho sự hợp tác về thương mại và đầu tư giữa hai nước, trên tinh thần anh em, nước Cộng hòa Ấn Độ cam kết tiếp tục cung cấp, ở mức cao nhất có thể được, tín dụng ưu đãi và viện trợ không hoàn lại cho nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để nhập các thiết bị của nước Cộng hòa

Ấn Độ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cam kết sử dụng có hiệu quả các khoản tín dụng và viện trợ này ưu tiên nhập của Ấn Độ các thiết bị tương tự trên cơ sở giá cạnh tranh đối với những khoản không phải là tín dụng cho vay hoặc viện trợ không hoàn lại

Trong chuyến thăm Ấn Độ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (4 - 6/7/2007), doanh nghiệp hai nước đã ký nhiều hợp đồng và thỏa thuận hợp tác

kinh doanh với tổng trị giá gần 4,5 tỷ USD Tuyên bố chung về Quan hệ đối

tác chiến lược Việt Nam - Ấn Độ cũng đã được ký kết trong chuyến thăm này

của Thủ tướng với những nội dung công việc cần thực hiện để xây dựng và triển khai mối quan hệ đối tác chiến lược như sau:

- Tăng cường quan hệ hợp tác chính trị theo hướng ngày càng gắn bó và tin cậy thông qua việc tăng cường trao đổi các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao, của các Bộ, ngành và địa phương hai nước;

- Nâng cao hơn nữa hiệu quả của cơ chế hợp tác hiện có, đồng thời thiết lập Cơ chế đối thoại chiến lược cấp Thứ trưởng Ngoại giao giữa hai nước;

- Tiếp tục tăng cường hợp tác trong lĩnh vực an ninh quốc phòng, đặc biệt trong đào tạo, trao đổi, chia sẻ thông tin về chống khủng bố, cướp biển và các loại tội phạm xuyên quốc gia;

- Đẩy mạnh và nâng cấp quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư tương xứng với quan hệ chính trị tốt đẹp giữa hai nước Trong hợp tác thương mại, tiếp tục khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hai nước hợp tác kinh doanh, phấn đấu đưa kim ngạch hai chiều lên mức 2 tỷ USD năm 2010 và 5 tỷ USD năm 2015

Trang 30

- Xúc tiến việc trao đổi để đi đến ký kết Hiệp định tự do thương mại song phương (FTA) để tăng cường quan hệ mậu dịch giữa hai nước

Về việc thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế thương mại giữa Ấn Độ với các nước ASEAN: Như đã phân tích tại mục II-4 của Chương I (Quan hệ hợp

tác kinh tế thương mại Ấn Độ - ASEAN), Ấn Độ đã đề ra chính sách “Hướng

Đông” và với chính sách đó, Ấn Độ đã xác định ASEAN là một trong những trọng tâm cần đẩy mạnh quan hệ, bởi ASEAN hiện đang là một cộng đồng có vai trò quan trọng về chính trị, có tiềm năng vô cùng to lớn về kinh tế trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương Hiện nay, ASEAN là đối tác quan trọng

của Ấn Độ về thương mại và đầu tư

Việt Nam, với vai trò là thành viên của ASEAN, ASEM và Hợp tác Đông Á, lại nằm trong vị trí chiến lược, sẽ là cầu nối quan trọng trong việc mở

rộng quan hệ của Ấn Độ với các nước trong khu vực, giúp đẩy nhanh quá trình ký kết Hiệp định thương mại tự do Ấn Độ - ASEAN (AIFTA) Trong quá

trình hợp tác phát triển, Việt Nam rất ủng hộ chính sách hướng Đông của Ấn

Độ - chính sách đối ngoại mà Ấn Độ theo đuổi từ lâu nhằm củng cố vị thế trong một môi trường quốc tế có nhiều biến động từ sau chiến tranh lạnh, đặc biệt từ sau "sự trỗi dậy" của Trung Quốc và sự phát triển vượt bậc của ASEAN

Nền kinh tế trong nước phát triển cùng với hội nhập kinh tế quốc tế trở thành xu thế khách quan đã thúc đẩy cả Việt Nam và Ấn Độ tiếp tục mở cửa, hội nhập mạnh mẽ hơn nữa với nền kinh tế khu vực và thế giới Trong quá trình đó, cả hai nước đều tìm thấy ở nhau những điều kiện, những yếu tố giúp mình tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và hội nhập có hiệu quả hơn nữa với khu vực Tuy nhiên trong thực tế, khi xúc tiến xuất khẩu hàng vào thị trường Ấn Độ, những điều kiện nêu trên mới chỉ thực hiện ở cấp Vĩ mô, trong thực tế khi hàng hoá xuất vào thị trường này còn bị nhiều thủ tục thông quan của Hải quan Ấn Độ gây khó khăn, việc cử đại diện của Ấn Độ tại Việt Nam về công tác xuất khẩu chưa được thực hiện, trong tương lai còn rất nhiều rào cản chưa thông thoáng như giải quyết thông quan chậm, còn nhiều thủ thuật làm chậm chễ và mất cơ hội xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam

II TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA ẤN ĐỘ VÀO VIỆT NAM

1 Tình hình thu hút FDI ở Việt Nam thời gian qua

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là sự đầu tư của các công ty nhằm xây dựng các cơ sở kinh doanh của mình ở nước ngoài và làm chủ toàn bộ hay từng phần cơ sở đó Đây là hình thức đầu tư mà chủ đầu tư nước ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ, cho phép họ trực

Trang 31

tiếp tham gia điều hành cơ sở mà họ đã bỏ vốn đầu tư và hoàn toàn chịu trách nhiệm về đồng vốn cũng như kết quả kinh doanh của mình

Đầu tư nước ngoài (FDI) là nguồn vốn quan trọng thứ ba hiện nay của Việt Nam Tính đến hết năm 2007, có 81 quốc gia, vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, góp phần giải quyết việc làm cho khoảng hơn 1 triệu lao động Trong giai đoạn 2001-2005, tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký cấp mới và tăng vốn ở Việt Nam tăng trung bình 22,36%/năm, riêng hai năm 2006-2007 tăng trung bình 72,27%/năm Năm 2007 là năm thu hút được lượng vốn FDI lớn nhất kể từ năm 1988 đến nay, với tổng số vốn đăng ký cấp mới

và tăng vốn đạt 20,3 tỷ USD, trong đó, vốn đăng ký cấp mới đạt 18,7 tỷUSD

Trong 5 tháng đầu năm 2008, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vẫn tiếp tục đổ vào Việt Nam mạnh mẽ Cả nước đã thu hút thêm 14,7

tỷ USD vốn đầu tư FDI đăng ký, tăng 260,8% so với cùng kỳ năm 2007 với tổng số dự án cấp mới trong 5 tháng đầu năm 2008 là 324 dự án, bằng 70,4%

số dự án so với cùng kỳ năm trước

Bên cạnh đó, cũng trong 5 tháng đầu năm 2008 có 132 lượt dự án FDI tăng vốn đầu tư với tổng vốn đầu tư đăng ký tăng thêm là 604,7 triệu USD, bằng 77,2% số lượt dự án tăng vốn và 67,1% tổng vốn tăng thêm so với cùng

kỳ năm trước Như vậy, tổng số vốn FDI đăng ký mới và đăng ký tăng thêm lên tới 15,3 tỷ USD trong 5 tháng qua Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, vốn đầu tư trong 5 tháng đầu năm 2008 tăng khá cao so với cùng kỳ năm 2007 do có nhiều dự án lớn

Tốc độ tăng trưởng của FDI trong giai đoạn này cho thấy sự hồi phục của dòng vốn FDI sau thời kỳ bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế các nước Đông Á năm 1997 Bên cạnh đó cũng ghi nhận những nỗ lực của Việt Nam trong việc cải thiện môi trường đầu tư Giai đoạn 2006-2007, tổng vốn đầu tư FDI vào Việt Nam tăng mạnh cho thấy những kỳ vọng của các nhà đầu

tư nước ngoài vào phát triển kinh tế của Việt Nam sau khi gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO)

Trang 32

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 2001 - 2007

3.265 2.980 3.145 4.548

6.840 12.002 21.347

0 5.000 10.000 15.000 20.000 25.000 Triệu USD

Năm 2001

Năm 2002

Năm 2003

Năm 2004

Năm 2005

Năm 2006

Năm

(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

Tuy nhiên, tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện so với vốn đăng ký giai đoạn

2001-2007 (xem Bảng số 9) có xu hướng ngày càng giảm đi và chỉ tăng nhẹ

trở lại trong năm 2007 Trở ngại lớn đối với các dự án đầu tư chính là năng lực

cơ sở hạ tầng của Việt Nam vẫn còn rất thấp Các nhà đầu tư lo lắng về tình trạng hệ thống giao thông vận tải hiện nay, sự thiếu hụt điện năng cũng như quá trình giải phóng mặt bằng, thu hồi đất còn chậm Cơ sở hạ tầng về mặt thông tin cũng chưa được giải quyết đầy đủ Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc giải ngân chậm các nguồn vốn đầu tư nước ngoài Bên cạnh việc tăng cường cải cách các thủ tục hành chính, nếu điều kiện hạ tầng kỹ thuật không sớm được cải thiện trong vòng 2-3 năm tới thì chắc chắn nguồn vốn FDI đã cấp và sắp được cấp phép sẽ chỉ tăng trên giấy mà khó trở thành hiện thực, khó có khả năng đóng góp cho tăng trưởng kinh tế của đất nước

Bảng số 9: Tỷ lệ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện

so với vốn đăng ký giai đoạn 2001 - 2007 Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007

(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

Đầu tư nước ngoài có vai trò hết sức quan trọng trong phát triển công nghiệp ở Việt Nam Năm 2001, tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực FDI vẫn thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng của cả nước Tuy nhiên,

kể từ năm 2002 đến nay, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp của

Trang 33

khu vực FDI luôn cao hơn so với tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công

nghiệp của cả nước (xem Bảng số 10)

Bảng số 10: Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp

khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài

(Nguồn: Bộ Công Thương)

Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp của khối đầu tư nước ngoài so với tổng giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước tăng từ 35,3% năm 2001 lên 43,8% năm 2007

Khối các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng đóng góp lớn vào kết quả kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn vừa qua Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của khối các doanh nghiệp này trung bình 2001-

2005 đạt 22,1%/năm, tăng từ 6,8 tỷ USD năm 2001 lên 18,5 tỷ USD năm 2005; trong hai năm 2006-2007 đạt trung bình 21%/năm và dự kiến năm 2008 tăng 20,3%, đạt 33,5 tỷ USD Tổng kim ngạch xuất khẩu của khối FDI trung bình chiếm hơn 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước và thường xuyên xuất siêu trong giai đoạn 2001-2007

Về cơ cấu đầu tư phân theo lĩnh vực:

Trong cơ cấu đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng luôn chiếm tỷ trọng cao nhất

Tính đến 22/5/2008, đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng chiếm 66,74% về số dự án và 54,03% tổng vốn đầu tư đăng ký và 68,7% vốn thực hiện Tiếp theo là lĩnh vực dịch vụ, chiếm 22,8% về số dự án và 41,5% về số vốn đầu tư đăng ký và 24,5% vốn thực hiện Số còn lại thuộc lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp Từ đây có thể thấy rằng, tỷ lệ các dự án đã triển khai thực hiện trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng cao hơn so với các lĩnh vực khác Cụ thể:

Trang 34

CƠ CẤU VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI PHÂN THEO LĨNH VỰC

ĐẦU TƯGIAI ĐOẠN 1998 - 2008

(Tính tới ngày 22/5/2008 - Chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

Về cơ cấu nguồn vốn theo đối tác :

Các nước Châu Á vẫn là đối tác đầu tư chính vào Việt Nam, trong đó Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore (3 nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam) chiếm 39% tổng vốn đăng ký vào Việt Nam Tính đến nay, Hàn Quốc hiện đang đứng thứ nhất trong số các nước, vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với tổng

số vốn lên tới 14,8 tỷ USD và 1.931 dự án (giai đoạn 1988-tháng 5/2008) (xem Bảng số 11)

Bảng số 11: Mười nước có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất

vào Việt Nam giai đoạn 1988 - 2008

(Tính tới ngày 22/5/2008 - Chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

Đơn vị: Triệu USD

TT Nước, vùng lãnh thổ Số dự án Tổng vốn đầu tư Vốn điều lệ thực hiện Đầu tư

Trang 35

(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

Những địa phương thu hút được nhiều nguồn vốn FDI nhất trong cả nước gồm: TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương, Hà

Nội, Hải Dương, (xem Bảng số 12)

Bảng số 12: Mười địa phương thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

lớn nhất giai đoạn 1988 - 2008

(Tính tới ngày 22/5/2008 - chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

Đơn vị: Triệu USD

TT Địa phương Số dự án Tổng vốn đầu tư Vốn điều lệ thực hiện Đầu tư

(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

Về hình thức đầu tư, các dự án chủ yếu thực hiện dưới hình thức đầu tư

là 100% vốn nước ngoài (chiếm 81,9% tổng số dự án), liên doanh (chiếm 15,3% tổng số dự án) và hợp đồng hợp tác kinh doanh (chiếm 2,3% tổng số dự

án) (xem Bảng số 13)

Trang 36

Bảng số 13: Đầu tư trực tiếp nước ngoài phân theo hình thức đầu tư

giai đoạn 1988 - 2008

(Tính tới ngày 22/5/2008 - chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

Đơn vị tính: Triệu USD

Hình thức đầu tư Số dự án Tổng vốn đầu tư Vốn điều lệ thực hiện Đầu tư

(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

2 Tình hình đầu tư của Ấn Độ vào Việt Nam

Đầu tư trực tiếp (FDI) của Ấn Độ bắt đầu vào Việt Nam khá sớm, từ

năm 1988 với dự án thăm dò khai thác dầu khí của Tập đoàn ONGC với vốn

đăng ký là 17 triệu USD Tính đến cuối năm 2007, số vốn thực hiện của dự án

đã lên tới hơn 500 triệu USD Đây là công ty đầu tiên ký hợp đồng hợp tác sản

xuất với Petro Việt Nam khai thác bể Nam Côn Sơn vào năm 1988 và hai lô

xa bờ năm 2006 Viện Công nghệ thông tin quốc gia (NIIT) và APTECH là

hai đại diện lớn của Ấn Độ đầu tư vào lĩnh vực đào tạo công nghệ thông tin tại

Việt Nam

Nhìn chung đầu tư FDI của Ấn Độ vào Việt Nam chủ yếu tập trung vào

lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, với số vốn đăng ký là 691,5 triệu USD

(tính đến tháng 5/2008), chiếm 96% tổng vốn đăng ký, trong khi đầu tư vào

lĩnh vực nông-lâm nghiệp chỉ đạt 3%, tương ứng với số vốn đăng ký là 23

triệu USD và dịch vụ là 1%, tương ứng với 6,9 triệu USD

Riêng trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, nguồn vốn đầu tư tập

trung chủ yếu vào công nghiệp dầu khí vào công nghiệp nặng (sản phẩm từ

kim loại, sản phẩm hoá chất…), chiếm đến 96% tổng vốn đầu tư với 11 dự án

Ngoài ra còn có các dự án khác đầu tư vào các lĩnh vực như nhựa, dầu ăn, chế

biến cà phê, hương trầm, hạt tiêu, phần mềm, chế biến và khai thác đá và

phẩm màu thực phẩm, nhưng với số vốn đầu tư khá khiêm tốn

Trang 37

CƠ CẤU VỐN ĐẦU TƯ CỦA ẤN ĐỘ VÀO VIỆT NAM

của Ấn Độ vào Việt Nam (xem Bảng số 14): Dự án lớn về sản xuất thép cán

nóng công suất 2 triệu tấn/năm với tổng vốn đầu tư trị giá 527,26 triệu USD của Tập đoàn Essar Global đã được cấp phép1 Ngoài dự án thép của Essar Global, còn có một số dự án lớn như: dự án chế biến hạt tiêu của VKL với tổng vốn đầu tư 4,4 triệu USD ở tỉnh Bình Dương Trong tháng 4 năm 2007, Tập đoàn Hoa Sen, đơn vị sản xuất thép tư nhân ở Việt Nam đã khánh thành một nhà máy sản xuất thép cán nguội với tổng mức đầu tư 30 triệu USD ở Bình Dương, trong đó, công ty Flat Products Equipments của Ấn Độ là nhà cung cấp thiết bị trị giá 8 triệu USD Đây là công ty lớn nhất của Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực sản xuất thép cán nguội và cũng là công ty tư nhân đầu tiên sử dụng nguồn vốn tài trợ của Ấn Độ cho Việt Nam

Bảng số 14: Một số dự án đầu tư lớn của Ấn Độ vào Việt Nam

Đơn vị: Triệu USD

TT Tên công ty Ngành nghề kinh doanh Vốn đăng ký

1 ONGC - Videsh Limited Hợp tác với Petro Vietnam khai thác khí ở bể Nam Côn Sơn ở Bà Rịa - Vũng Tàu 17

2 NIVL Joint Stock Company

Công ty 100% vốn nước ngoài, sản xuất đường, cồn, CO2 và các hoạt động xuất

3 The K.C.P (Vietnam) Công ty 100% vốn nước ngoài, sản xuất 30

Trang 38

Limited đường, nhà máy ở tỉnh Phú Yên

4 Ranbaxy Vietnam Company Limited Công ty 100% vốn nước ngoài, sản xuất và kinh doanh dược phẩm 10

5 Godrej (Vietnam) Company Limited Công ty 100% vốn nước ngoài, sản xuất thép, nhà máy ở tỉnh Bình Dương 5,2

6 Essar Global Công ty sản xuất thép cán nóng, công suất 2 triệu tấn ở Phú Mỹ, Bà Rịa-Vũng Tàu 527,3

8 Công ty liên doanh đường Bình Định Nhà máy sản xuất đường ở Bình Định 2,2

9 R.K Vietnam Marble Company Công ty khai thác và chế biến đá cẩm thạch 10

10 United Photphorus Vietnam Công ty sản xuất thuốc trừ sâu 3

11 Alliance Minerals Vietnam Nhà máy sản xuất Cacbon Canxi 9,85

12 Gold Success Industries Ltd Liên doanh khai thác, cắt, đánh bóng gạch và đá lát 20

13 Jindal - Nong Cong Ferro - Chorome Co Ltd Liên doanh sản xuất Ferro Chrome 18

(Nguồn: Phòng Thương mại Ấn Độ tại Việt Nam)

Hiện nay, Ấn Độ đang đứng thứ 20 trong tổng số 81 nước có vốn đầu tư vào Việt Nam với tổng số vốn đầu tư tính đến 22/5/2008 đạt 721 triệu USD2

và 28 dự án (xem Bảng số 15) Tuy nhiên, nếu tính theo vốn thực hiện thì Ấn

Độ đứng ở vị trí thứ 14/81 với tổng vốn thực hiện đạt 578 triệu USD Tỷ lệ vốn thực hiện so với vốn đăng ký khá cao, đạt 80,2% Điều này cho thấy, hầu hết các dự án của Ấn Độ đầu tư vào Việt Nam có tiến độ giải ngân tốt và nhanh chóng đi vào hoạt động, có đóng góp lớn vào kết quả tăng trưởng kinh

tế của Việt Nam trong thời gian qua, đặc biệt là dự án khai thác dầu khí của Tập đoàn ONGC, liên doanh với Petro Việt Nam Năm 2006, Ấn Độ có bước nhảy ấn tượng từ thứ 35 lên 28 trong danh sách các quốc gia đầu tư trực tiếp vào Việt Nam Trong năm 2007, Ấn Độ xếp thứ 7 trong số 10 nước và lãnh thổ có vốn đầu tư trực tiếp ở Việt Nam chủ yếu nhờ dự án thép cán nóng của Tập đoàn Essar Global với tổng vốn đầu tư là 527,26 triệu USD Kết quả này cũng đã đưa Việt Nam trở thành nước tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp lớn nhất

từ Ấn Độ trong khu vực Đông Nam Á Phân bố của các dự án đầu tư hầu như đều khắp cả nước

2 Tính cả dự án thép cán nóng của Tập đoàn Essar Global của Ấn Độ với tổng số vốn đầu tư là 527,26 triệu USD, mặc dù Tập đoàn này đầu tư vào Việt Nam thông qua công ty có quốc tịch Singapore

Trang 39

Bảng số 15: Vốn đầu tư của Ấn Độ vào Việt Nam

(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

Trong thời gian tới còn rất nhiều doanh nghiệp Ấn Độ lập kế hoạch đầu

tư vào Việt Nam Những dự án đã được nghiên cứu và có khả năng thực hiện bao gồm:

- Các dự án lớn đang trong quá trình nghiên cứu xây dựng báo cáo khả thi bao gồm dự án tổ hợp thép liên hợp ở Thạch Khê, Hà Tĩnh với tổng số vốn đầu tư hơn 3,5 tỷ USD do Tập đoàn TATA ký với Tổng Công ty Thép Việt Nam và dự án cán thép nguội cũng của tập đoàn này tại Hà Tĩnh

- Công ty AVT đang lập kế hoạch đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp

- TATA Group lập kế hoạch đầu tư dự án thủy điện

- Ngân hàng Ấn Độ cũng đang tiến hành lập chi nhánh ở thành phố Hồ Chí Minh

- Ngân hàng Indian Overseas đang tiến hành lập văn phòng đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh

- Sudima International đang nghiên cứu xây dựng một nhà máy sản xuất

đồ nội thất

Trong chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (7/2007), ông Syamal Gupta-Chủ tịch Liên đoàn Công nghiệp Ấn Độ đã đánh giá Việt Nam

Trang 40

là một trong những thị trường có sức hấp dẫn nhất đối với các doanh nghiệp

và nhà đầu tư nước ngoài nói chung và doanh nghiệp Ấn Độ nói riêng

Đánh giá về môi trường đầu tư tại Việt Nam, ông S.K.Gupta-Chủ tịch Tập đoàn TATA, kiêm Chủ tịch Liên đoàn Công nghiệp Ấn Độ (CII) cho rằng, hiện tại thế giới đang hướng về Việt Nam Ông khẳng định rằng chỉ trong vòng vài năm tới, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam sẽ lên đến con số 25 tỷ USD bởi Việt Nam cung cấp những cơ hội kinh doanh đa dạng Đồng tình với quan điểm trên, ông Mukhejee-Phó Giám đốc điều hành TATA đồng thời là Chủ tịch Liên đoàn công nghiệp Ấn Độ tại New Deli cho rằng, bây giờ là thời điểm mà cả doanh nghiệp Ấn Độ và Việt Nam cùng phải tận dụng những cơ hội đầu tư

Thời gian tới, có nhiều công ty trong lĩnh vực chế tác đá quý sẽ có mặt

ở Việt Nam để thiết lập nhà máy như cắt kim cương, lắp và đánh bóng kim cương Trong lĩnh vực thép, có rất nhiều công ty thép của Ấn Độ tiến hành xây dựng nhà máy để sản xuất thép cán nóng và cán nguội tại Việt Nam Ngày càng nhiều công ty Ấn Độ sẽ phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu như chè, đường, hạt tiêu của Việt Nam

Ông Amit Kumar Saxena, Chủ tịch Phòng Thương mại Ấn Độ (Incham) tại Việt Nam cho biết, Việt Nam đáp ứng rất nhiều tiêu chí mở rộng đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Ấn Độ Nhiều tập đoàn và cả ngân hàng Ấn

Độ đã bắt đầu tìm hiểu đầu tư vào Việt Nam, trong đó có AVT Plantations, Taj Group of Hotels, Ngân hàng Ấn Độ, Ngân hàng Indian Oversea Bank Nhận xét về cơ sở hạ tầng ở Việt Nam, ông cho biết các nhà đầu tư Ấn Độ không lo ngại mặc dù vấn đề này bị nhiều nhà đầu tư nước ngoài cho là hạn chế, thay vào đó ông cho rằng các nhà đầu tư Ấn Độ quan tâm đến đội ngũ

nhân công thiếu tay nghề của Việt Nam Theo ông, "nếu người lao động được đào tạo tốt, Việt Nam sẽ thu hút nhiều hơn các nhà đầu tư từ Ấn Độ"

Mặc dù đạt được nhiều kết quả khả quan như trên nhưng so sánh với nhiều quốc gia Châu Á khác, đầu tư của Ấn Độ vào Việt Nam chưa thật sự nhiều Số dự án của Ấn Độ đầu tư vào Việt Nam vẫn còn quá ít và lĩnh vực đầu tư còn hạn chế Qua trao đổi trong các cuộc thăm viếng giữa lãnh đạo hai nước, cả Việt Nam và Ấn Độ đều nhận thấy rằng hai bên còn chưa chú trọng đúng mức đến việc tìm hiểu và phổ biến thông tin thị trường của nhau Việt Nam chưa đánh giá hết về tiềm năng và sự phát triển thị trường của Ấn Độ và ngược lại, Ấn Độ cũng chưa thực sự đi sâu tìm hiểu thị trường tiêu thụ của Việt Nam nên chưa mạnh dạn đầu tư

Để thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế-thương mại, các chuyên gia kinh tế của hai nước đều cho rằng cần tiến hành lập cơ quan chuyên trách về xúc tiến thương mại, đầu tư và hợp tác khoa học-kỹ thuật giữa hai nước; tiến tới việc dành quy chế tối huệ quốc cho nhau; lập Khu vực mậu dịch tự do thương mại

Ngày đăng: 14/05/2014, 22:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Niên giám Thống kê Xuất nhập khẩu hàng hoá Việt Nam các năm 2000- 2006 (Tổng cục Thống kê) - Nhà xuất bản Thống kê Khác
2. Kế hoạch 5 năm Ngành Công nghiệp 2006-2010 (Bộ Công nghiệp - 2005) Khác
3. Số liệu xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Ấn Độ giai đoạn 2001-2007 (Tổng cục Hải quan) Khác
4. Indian Investments in Vietnam (Mohan Kumar - 2007) 5. Incharm (2007) Khác
6. Đề án Phát triển Xuất khẩu giai đoạn 2006-2010 (Bộ Thương mại) Khác
7. Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2006-2010 (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) Khác
8. Danh mục các ngành hàng công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn giai đoạn 2006-2010 Khác
9. Báo cáo đánh giá tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam (Bộ Thương mại - Dự án VIE/61/94) Khác
10. Niên giám thống kê 2006 (Tổng cục Thống kê) - Nhà xuất bản Thống kê Khác
11. Biến động kinh tế Đông Á và con đường công nghiệp hóa Việt Nam - Trần Văn Thọ - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Khác
12. Trung Quốc gia nhập WTO - Kinh nghiệm với Việt Nam - Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Khác
13. Các văn kiện gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) của Việt Nam (Ủy ban Quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế) Khác
14. ASEAN in Figures 2003 - United Nations Khác
15. ASEAN Regional Forum - Documents Series 1994-2004 16. ASEAN + 3 - Document Series 1999-2004 Khác
17. Improving Industrial Policy Formulation (Kenichi Ohno, Nguyen Van Thuong - The Publisf House Of Political Theory) Khác
18. Website Bộ Công nghiệp và Thương mại Ấn Độ Khác
19. Công ty Global Trade Information Services - Pháp Khác
20. Thương mại Việt Nam - 20 năm đổi mới (GS.TS. Lê Hữu Nghĩa - TS. Lê Danh Vĩnh) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số 2: Xuất khẩu của Ấn Độ sang một số thị trường chính - Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng công nghiệp việt nam vào thị trường ấn độ
Bảng s ố 2: Xuất khẩu của Ấn Độ sang một số thị trường chính (Trang 13)
Bảng số 3: Một số mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Ấn Độ - Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng công nghiệp việt nam vào thị trường ấn độ
Bảng s ố 3: Một số mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Ấn Độ (Trang 14)
Bảng số 4: Nhập khẩu của Ấn Độ từ một số thị trường chính - Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng công nghiệp việt nam vào thị trường ấn độ
Bảng s ố 4: Nhập khẩu của Ấn Độ từ một số thị trường chính (Trang 15)
Bảng số 5: Cán cân thương mại của Ấn Độ từ năm 2000 đến năm 2007 - Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng công nghiệp việt nam vào thị trường ấn độ
Bảng s ố 5: Cán cân thương mại của Ấn Độ từ năm 2000 đến năm 2007 (Trang 16)
Bảng số 6: Ngoại thương của Ấn Độ với một số nước ASEAN - Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng công nghiệp việt nam vào thị trường ấn độ
Bảng s ố 6: Ngoại thương của Ấn Độ với một số nước ASEAN (Trang 22)
Bảng số 7: Một số sản phẩm chủ yếu của Trung Quốc  xuất khẩu sang Ấn Độ - Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng công nghiệp việt nam vào thị trường ấn độ
Bảng s ố 7: Một số sản phẩm chủ yếu của Trung Quốc xuất khẩu sang Ấn Độ (Trang 24)
Bảng số 9: Tỷ lệ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện   so với vốn đăng ký giai đoạn 2001 - 2007 - Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng công nghiệp việt nam vào thị trường ấn độ
Bảng s ố 9: Tỷ lệ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện so với vốn đăng ký giai đoạn 2001 - 2007 (Trang 32)
Bảng số 10: Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp   khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài - Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng công nghiệp việt nam vào thị trường ấn độ
Bảng s ố 10: Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (Trang 33)
Bảng số 11: Mười nước có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất   vào Việt Nam giai đoạn 1988 - 2008 - Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng công nghiệp việt nam vào thị trường ấn độ
Bảng s ố 11: Mười nước có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất vào Việt Nam giai đoạn 1988 - 2008 (Trang 34)
Bảng số 12: Mười địa phương thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài   lớn nhất giai đoạn 1988 - 2008 - Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng công nghiệp việt nam vào thị trường ấn độ
Bảng s ố 12: Mười địa phương thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất giai đoạn 1988 - 2008 (Trang 35)
Bảng số 13: Đầu tư trực tiếp nước ngoài phân theo hình thức đầu tư   giai đoạn 1988 - 2008 - Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng công nghiệp việt nam vào thị trường ấn độ
Bảng s ố 13: Đầu tư trực tiếp nước ngoài phân theo hình thức đầu tư giai đoạn 1988 - 2008 (Trang 36)
Bảng số 14: Một số dự án đầu tư lớn của Ấn Độ vào Việt Nam - Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng công nghiệp việt nam vào thị trường ấn độ
Bảng s ố 14: Một số dự án đầu tư lớn của Ấn Độ vào Việt Nam (Trang 37)
Bảng số 15: Vốn đầu tư của Ấn Độ vào Việt Nam - Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng công nghiệp việt nam vào thị trường ấn độ
Bảng s ố 15: Vốn đầu tư của Ấn Độ vào Việt Nam (Trang 39)
Bảng số 16: Tổng mức lưu chuyển ngoại thương của Việt Nam  từ năm 2001 đến năm 2008 - Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng công nghiệp việt nam vào thị trường ấn độ
Bảng s ố 16: Tổng mức lưu chuyển ngoại thương của Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2008 (Trang 41)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w