Khóa Luận cực hay và bổ ích !!!!!!!
Trang 1Bảng 1.1: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 16
Bảng 2.1: Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa lợn theo địa điểm 34
Bảng 2.2: Cường độ nhiễm giun đũa theo địa điểm 36
Bảng 2.3: Cường độ nhiễm giun tóc theo địa điểm 37
Bảng 2.4: Cường độ nhiễm giun kết hạt theo địa điểm 38
Bảng 2.5: Tỷ lệ nhiễm giun đũa theo lứa tuổi 40
Bảng 2.6: Cường độ nhiễm giun đũa theo lứa tuổi 40
Bảng 2.7: Tỷ lệ nhiễm giun tóc theo lứa tuổi 41
Bảng 2.8: Cường độ nhiễm giun tóc theo lứa tuổi 42
Bảng 2.9: Tỷ lệ nhiễm giun kết hạt theo lứa tuổi 43
Bảng 2.10: Cường độ nhiễm giun kết hạt theo lứa tuổi 43
Bảng 2.11: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo tính biệt 44
Bảng 2.12: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tóc theo tính biệt 44
Bảng 2.13: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun kết hạt theo tính biệt 45
Bảng 2.14: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo tình trạng vệ sinh 47
Bảng 2.15: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tóc theo tình trạng vệ sinh 47
Bảng 2.16: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun kết hạt theo tình trạng vệ sinh 48
Bảng 2.17: Hiệu lực tẩy của thuốc Fenbendazol và Mebendazol 50
Trang 2Phần 1: CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1
1.1 Điều tra cơ bản 1
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 1
1.1.1.1 Vị trí địa lý 1
1.1.1.2 Khí hậu thủy văn 1
1.1.1.3 Địa hình, đất đai 2
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 3
1.1.2.1 Cơ cấu tổ chức quản lý hành chính 3
1.1.2.2 Tình hình kinh tế xã hội 4
1.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp 5
1.1.3.1 Tình hình sản xuất của ngành trồng trọt 5
1.1.3.2 Tình hình sản xuất của ngành chăn nuôi 6
1.1.3.3 Phương hướng của huyện 5 năm tới về phát triển chăn nuôi 7
1.1.4 Đánh giá chung 8
1.1.4.1 Thuận lợi 8
1.1.4.2 Khó khăn 8
1.2 Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất 9
1.2.1 Nội dung phục vụ sản xuất 9
1.2.2 Phương pháp tiến hành 10
1.2.3 Kết quả phục vụ sản xuất 10
1.2.3.1 Công tác giống 10
1.2.3.2 Công tác vệ sinh thú y 10
1.2.3.3 Công tác thú y 10
1.2.3.4 Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh 11
1.3 Kết luận và đề nghị 16
Trang 3Phần 2: CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU 18
2.1 Đặt vấn đề 18
2.2 Tổng quan tài liệu 19
2.2.1 Cơ sở lý luận 19
2.2.1.1 Một vài đặc điểm về hình thái và vòng đời của giun tròn đường tiêu hóa ở lợn 21
2.2.1.2 Hiểu biết về thuốc Fenbendazol và Mebendazol 27
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 28
2.2.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 29
2.3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 30
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 31
2.3.2.1 Địa điểm 31
2.3.2.2 Thời gian tiến hành 31
2.3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 31
2.3.4 Phương pháp nghiên cứu 31
2.3.4.1 Phương pháp lấy mẫu 31
2.3.4.2 Phương pháp kiểm tra 31
2.3.4.3 Phương pháp đánh giá cường độ nhiễm 32
2.3.4.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 33
2.4 Kết quả nghiên cứu và phân tích kết quả 34
2.4.1 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa lợn theo địa điểm 34
2.4.2 Cường độ nhiễm giun tròn theo địa điểm 36
2.4.2.1 Cường độ nhiễm giun đũa theo địa điểm 36
2.4.2.2 Cường độ nhiễm giun tóc theo địa điểm 37
Trang 42.4.3.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa theo lứa tuổi 40
2.4.3.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tóc theo lứa tuổi 41
2.4.3.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun kết hạt theo lứa tuổi 43
2.4.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn theo tính biệt 44
2.4.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn theo tình trạng vệ sinh 46
2.4.6 Tỷ lệ nhiễm 3 loại giun đũa, giun tóc, giun kết hạt 49
2.4.7 Hiệu lực tẩy của thuốc Mebendazol và Fenbendazol 50
2.5 Kết luận, tồn tại và đề nghị 51
2.5.1 Kết luận 51
2.5.2 Tồn tại 51
2.5.3 Đề nghị 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Trang 5Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1.1 Điều tra cơ bản
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Phổ Yên là huyện trung du miền núi nằm ở phía nam của tỉnh Thái Nguyên Trung tâm huyện cách thành phố Thái Nguyên 25 km về phía nam, là cửa ngõ của thủ đô Hà Nội đi các tỉnh phía bắc và ngược lại Phổ Yên có vị trí địa lý:
- Phía Bắc giáp Thành phố Thái Nguyên, huyện Đại Từ và thị xã Sông Công
- Phía Nam giáp huyện Sóc Sơn - Hà Nội và huyện Yên Phong tỉnh
Bắc Ninh
- Phía Đông giáp huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang và huyện Phú Bình
- Phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Phúc
Huyện có nhiều thuận lợi về giao thông, có Quốc lộ 3 đi Cao Bằng là tiềm năng và cơ hội để huyện phát triển về kinh tế và xã hội
Địa hình của huyện có sự phân hóa rõ rệt: Phía Đông Bắc là vùng ven sông Cầu có đồi núi thấp xen kẽ với các cánh đồng khá rộng, đất đai tương đối bằng phẳng Phía Tây và Tây Bắc là vùng núi của huyện, địa hình chủ yếu
là đồi núi đất đai nghèo dinh dưỡng
1.1.1.2 Khí hậu thủy văn
Huyện Phổ Yên nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có khí hậu nóng
ẩm, mưa nhiều nhất là vào tháng 4 đến tháng 10 trong năm, mùa lạnh ít mưa,
độ ẩm thấp vào tháng 11 đến tháng 3 Khí hậu ở đây mang tính chất đặc thù của khí hậu trung du miền núi được chia thành hai mùa đông - hè rõ rệt
- Nhiệt độ trung bình khoảng 220C Cao nhất là 380C, thấp nhất 7,50
C
Trang 6- Trong năm có khoảng 1.628h nắng, lượng bức xạ đạt 115 kcal/cm3
- Lượng mưa trung bình: 2.097 mm, tháng cao nhất là 1.616 mm, lượng bốc hơi trung bình 985,5 mm
(Phòng thống kê huyện Phổ Yên năm 2011)
Lượng mưa phân bổ không đều, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 chiếm 92%, trong mùa mưa vào tháng 7, tháng 8 thường có lũ xuất hiện mức nước ở sông Cầu báo động cấp 3 lên đến 11m làm ngập úng khoảng 1.650 ha các loại cây trồng, chu kỳ lũ quét 10 năm 1 lần
Nhìn chung, khí hậu của huyện Phổ Yên chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa rất phù hợp cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp đa dạng và phong phú với nhiều ngành, kinh tế được phát triển
Phổ Yên có 2 con sông chảy qua địa phận là sông Cầu và sông Công với trữ lượng nước lớn Sông Cầu bắt nguồn từ phía Bắc của tỉnh Bắc Cạn với chiều dài 1.615 km, sông Công bắt nguồn từ phía Tây Bắc của tỉnh Thái Nguyên với chiều dài 325 km rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội của địa phương, đặc biệt là việc tưới tiêu cho nông nghiệp Riêng sông Công lượng nước chảy là do sự điều tiết của Hồ Núi Cốc nên lượng nước này được phát huy vào mùa đông khắc phục được cơ bản việc thiếu nước về mùa khô
1.1.1.3 Địa hình, đất đai
Diện tích đất tự nhiên: 25.886 ha, bình quân đầu người là 0,202 ha Riêng đất nông nghiệp bình quân đầu người là 1.145 m2
trong khi đó bình quân của các tỉnh trung du miền núi là 978 m2/ người
Diện tích các loại đất của huyện (ha):
- Đất trồng cây hàng năm: 8.384
- Trồng lúa: 6.939
- Lâm nghiệp: 6.962
- Nuôi trồng thủy sản: 284
Trang 7- Nông nghiệp khác: 69
- Phi nông nghiệp: 5.738
- Chưa sử dụng: 100
(Phòng thống kê huyện Phổ Yên 5/2011)
Về địa hình: Phổ Yên thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, độ cao
trung bình so với mặt nước biển là 13,8m, điểm cao nhất là 153m và thấp nhất
là 8m Địa hình được chia làm hai vùng rõ rệt, phía Đông Bắc có 10 xã và 2 Thị trấn là vùng ven sông Cầu có đồi núi thấp xen kẽ với các cánh đồng khá rộng, đất đai tương đối bằng phẳng có độ cao trung bình 8,2m có hệ thống thủy văn khá thuận lợi Phía Tây và Tây Bắc có 5 xã và 1 thị trấn, đây là vùng núi của huyện, địa hình chủ yếu là đồi núi đất đai nghèo dinh dưỡng, ruộng được phân tán thành nhiều cánh đồng nhỏ, cao thấp khác nhau nên thủy lợi phục vụ tưới tiêu rất khó khăn
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
1.1.2.1 Cơ cấu tổ chức quản lý hành chính
- Huyện Phổ Yên có 18 đơn vị hành chính cấp xã/phường gồm 3 thị trấn và 15 xã
- Tổ chức quản lý Nhà nước các cấp ở huyện Phổ Yên:
+ Ủy ban nhân dân huyện
+ Ủy ban nhân dân xã, thị trấn
+ Xóm và tổ dân phố
- Tổ chức phòng Nông nghiệp của huyện Phổ Yên:
+ Trạm khuyến nông huyện
+ Phòng địa chính nông nghiệp huyện
+ Trạm thú y huyện
+ Trạm bảo vệ thực vật huyện
Trang 81.1.2.2 Tình hình kinh tế xã hội
- Dân số: Theo phòng thống kê huyện, tính đến tháng 5/2011, huyện Phổ Yên có 36.729 hộ với 138.817 nhân khẩu Tỷ lệ tăng dân số trung bình năm 2011 là 1.19% (thống kê năm 2011) Từ năm 2001 - 2005 với tốc độ
giảm dần so với toàn quốc và toàn tỉnh Thái Nguyên thì tỷ lệ tăng tự nhiên của huyện thấp hơn, nhưng dân số ở đây chủ yếu là nhân khẩu nông nghiệp, thành thị chiếm 10,34% (năm 2005) Mật độ dân số 536 người/ km2
(năm 2010) và trung bình mỗi năm có 1.779 trẻ em được sinh ra, với con số này đã gây sức ép lớn về nhiều vấn đề của cuộc sống như: ăn, ở, sinh hoạt, đi lại, học tập,…
Về nguồn lao động, Phổ Yên là địa phương có nguồn lao động dồi dào, năm 2005 có 91.186 người trong độ tuổi lao động chiếm 66,36% dân số, trong
đó lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế chiếm tỷ lệ 94,3% Tuy lực lượng lao động đang làm việc chiếm tỷ lệ cao song công việc mà họ đang tham gia mang lại thu nhập thấp nên trong số này sẵn sàng di chuyển đến nơi khác lao động, biểu hiện là trong năm 2010 đã xuất khẩu đi lao động nước ngoài được 425 người, ngoài ra hết mùa vụ họ di chuyển đến những nơi đô thị như Hà Nội, Hải Phòng… để kiếm thêm việc làm
- Văn hóa - xã hội: Trong những năm gần đây đời sống của bà con có
nhiều thay đổi, thu nhập của bà con được nâng cao hơn, nhu cầu văn hóa tinh thần của nhân dân được cải thiện Theo thống kê tháng 5/2011, toàn huyện có 100% số xã và thị trấn có trạm phát sóng, 98% dân số có điện lưới quốc gia, 97% dân số được nghe đài và xem tivi, Phổ Yên đang thực hiện cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, có nhiều làng văn hóa, gia đình văn hóa ra đời
- Y tế: Mạng lưới y tế phất triển, 100% số xã có trạm y tế, công tác y tế
dự phòng được triển khai về tận thôn bản, nhiều chương trình tư vấn sức khỏe cho người cao tuổi, phụ nữ được tổ chức thu hút sự quan tâm của nhiều bà
Trang 9con, công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em và kế hoạch hóa gia đình được
xã hội hóa cao Tuy nhiên tỷ lệ sinh con thứ 3 vẫn còn cao và tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng khá nhiều
- Giáo dục: Năm 2011 toàn huyện đã hoàn thành phổ cập giáo dục Tiểu
học, sắp hoàn thành phổ cập trung học cơ sở, trong huyện có 28 trường tiểu học thì có 20 trường đạt chuẩn quốc gia Toàn huyện có 17 trường trung học
cơ sở, 3 trường phổ thông trung học và 1 trung tâm giáo dục thường xuyên
- Kinh tế: Là huyện có 70% dân số sống bằng nông nghiệp, tốc độ tăng
trưởng kinh tế của huyện giai đoạn 2005 - 2010 là 9,2% (thống kê huyện năm 2010), tăng trưởng kinh tế của huyện còn thấp so với phát triển chung của cả tỉnh Trong công cuộc phát triển kinh tế, huyện đang đưa ra chính sách khuyến khích đầu tư từ bên ngoài, để phát triển công nghiệp chế biến, công nghiệp nặng phục vụ cho tiêu thụ trong nước và xuất khẩu
1.1.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp
1.1.3.1 Tình hình sản xuất của ngành trồng trọt
Thực hiện chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển sản xuất nông nghiệp nhằm tạo ra sản phẩm hàng hóa đa dạng Trong thời gian qua huyện Phổ Yên đã có những bước tiến nhất định, bên cạnh việc đa dạng hóa cây trồng huyện đã đẩy mạnh công tác khuyến nông, đưa các giống cây trồng mới vào sản xuất, công tác cung ứng vật tư được triển khai về tất cả các
xã Nhờ vậy, diện tích trồng cây ăn quả, cây đặc sản được mở rộng, đưa các giống cây có năng xuất cao vào trồng mới
Cây thế mạnh của huyện là cây chè, cây ăn quả, cây lương thực và cây rừng:
- Cây chè: Là cây trồng truyền thống có từ lâu đời, hiện nay trên toàn
huyện có tổng diện tích trồng chè là 1.347 ha, trong đó trồng mới là 40 ha, nhiều giống chè cho năng xuất cao và chất lượng tốt Mỗi năm toàn huyện thu được khoảng 12.150 tấn chè khô (theo thống kê tháng 5/2011 của huyện) Nhìn chung, đây là cây trồng góp phần nâng cao thu nhập của người dân địa phương
Trang 10- Cây ăn quả: chủ yếu là vải, nhãn, xoài, cam quýt… nhưng nhìn chung
sản lượng thấp, sản xuất mang tính phân tán, nhỏ lẻ và chưa được đầu tư thỏa đáng, chưa được coi như một nguồn thu của người dân
- Cây lương thực: lúa, ngô, sắn Năm 2011, sản lượng lúa toàn huyện là
50.759 tấn, tăng 4,70%, sản lượng ngô là 8.497 tấn, tăng 3,57% (theo phòng thống kê huyện năm 2011) Tuy năng suất chưa cao nhưng cũng đáp ứng được 85% nhu cầu lương thực của huyện Sản lượng quy ra thóc bình quân đầu người là 365,7 kg/ người
- Cây rừng: Diện tích đất trồng rừng của Phổ Yên tăng nhanh do tận
dụng đất đồi thấp không canh tác được cây lương thực và cây công nghiệp, và
do ý thức người dân đã được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây, tình trạng chặt phá rừng không còn phổ biến nữa Trồng rừng đã mang lại nguồn thu đáng kể cho nông dân
1.1.3.2 Tình hình sản xuất của ngành chăn nuôi
Hiện nay, để thay thế chăn nuôi theo phương thức hộ gia đình, năng suất và sản lượng thấp, nhiều hộ dân đã mạnh dạn đầu tư, mở rộng quy mô chăn nuôi theo các mô hình trang trại
* Chăn nuôi trâu bò:
Đàn bò của huyện trước đây nuôi theo hộ gia đình, chăn thả tự do Nguồn thức ăn dựa vào tự nhiên và tận dụng phế, phụ phẩm nông nghiệp Hiện nay nhờ triển khai dự án phát triển đàn bò và đưa các tiến bộ khoa học vào trong chăn nuôi, khuyến khích trồng cỏ, mở các lớp tập huấn kỹ thuật mà đàn bò của huyện cũng tăng nhanh cả về số lượng cũng như chất lượng Huyện đã đưa các giống bò mới vào lai tạo với các đàn bò địa phương tạo ra đàn bò có chất lượng tốt Ngoài ra, nguồn thức ăn không còn phụ thuộc vào tự nhiên Bà con nông dân đã chuyển từ phương thức chăn thả tự do sang phương thức bán chăn thả hoặc nuôi nhốt
Trang 11Đặc biệt dự án phát triển đàn bò sữa và bò lai Sind của huyện Phổ Yên
đã thu hút được sự quan tâm của bà con nông dân, khẳng định bước đi đúng hướng trong chăn nuôi của huyện Hiện nay toàn huyện có khoảng 11.574 con, có 2 trại bò sữa và 6 trại bò lai Sind
Đàn trâu của huyện chủ yếu được nuôi theo phương thức chăn thả tự
do, phục vụ cày kéo Bên cạnh đó có 8 trại chăn nuôi trâu thịt và 2 trại chăn nuôi trâu nái Theo thống kê của huyện tháng 5/2011 đàn trâu có 14.137 con,
tỷ lệ tăng đàn là 5,46%
* Chăn nuôi lợn: Với chủ trương của huyện là phát triển đàn lợn bằng
cách đưa các giống mới vào sản xuất, khuyến khích chăn nuôi tập trung và đưa các tiến bộ khoa học vào sản xuất Tăng cường công tác giống, công tác thú y qua sự giúp đỡ của của công ty cổ phần C.P nhằm tạo ra đàn lợn có năng suất cao, chất lượng tốt phục vụ nhu cầu của nhân dân và xuất khẩu Hiện nay toàn huyện có 12 trại lợn, tổng đàn lợn của huyện 109.306 con, tỷ lệ tăng đàn là 7,20% Chăn nuôi lợn đang dần trở thành thế mạnh của huyện Phổ Yên
* Chăn nuôi gia cầm: Đàn gia cầm của huyện không chỉ dừng lại ở
mức tăng gia phục vụ cho gia đình, chăn nuôi theo phương thức quảng canh, nhỏ lẻ, toàn huyện có 12 trại chăn nuôi gà, 7 trại chăn nuôi ngan, vịt nhiều giống gia cầm mới có năng suất cao và chất lượng tốt đã đưa vào chăn nuôi trong dân Toàn huyện đang có khoảng 874.000 gia cầm, tỷ lệ tăng đàn 5,0%; mang lại hiểu quả kinh tế cao, làm giàu cho nhiều gia đình
1.1.3.3 Phương hướng của huyện 5 năm tới về phát triển chăn nuôi
- Chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ đàn gia súc hiện có
- Đưa các giống mới vào sản xuất
- Tiêm phòng định kỳ cho đàn gia súc, gia cầm
- Xây dựng mạng lưới thú y cơ sở hoàn thiện và có trình độ
- Tăng cường đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất chăn nuôi
Trang 12- Đa dạng hóa vật nuôi theo nhu cầu của thị trường (nhím, thỏ, dê )
1.1.4 Đánh giá chung
1.1.4.1 Thuận lợi
Phổ Yên là một huyện trung du miền núi, toàn huyện hiện nay có 1.347 ha chè, 2.948 ha cây ăn quả bao gồm nhãn, vải, xoài, cam quýt và
nhiều cây trồng khác Địa hình có nhiều đồi núi thấp thích hợp cho trồng
cây công nghiệp, cây ăn quả, cây thức ăn chăn nuôi Điều kiện khí hậu tự nhiên thích hợp cho phép trồng nhiều loại cây trong năm, tạo ra hoa quả bốn mùa
Phổ Yên có vị trí giao thông thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa và giao lưu kinh tế với các vùng khác
Hệ thống thủy lợi tương đối hoàn thiện đảm bảo cung cấp đủ nước tưới tiêu cho trồng trọt và chăn nuôi
Hệ thống thú y cơ sở với những cán bộ thú y nhiệt tình, năng nổ có chuyên môn, yêu nghề
Cơ cấu quản lý, chỉ đạo của ngành nông nghiệp, đội ngũ cán bộ kỹ thuật có mặt ở tất cả các xã trong huyện chỉ đạo sản xuất nông nghiệp nói chung và ngành chăn nuôi thú y nói riêng Sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, của Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn đã thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển
1.1.4.2 Khó khăn
- Diện tích đất bạc màu, đã qua canh tác chiếm tỷ lệ lớn
- Khí hậu thay đổi thất thường
- Trình độ dân trí thấp, do vậy nhận thức của người dân về chăn nuôi và công tác thú y còn hạn chế, việc tuyên truyền trong việc ngăn chặn, phát hiện, điều trị dịch bệnh chưa triệt để
Trang 13- Công tác kiểm dịch chưa thường xuyên, công tác tiêm phòng còn hạn chế, vẫn còn những khu vực vật nuôi chưa được tiêm phòng định kỳ, vì vậy bệnh dịch vẫn lây lan từ nơi này sang nơi khác
- Điều kiện kinh tế của các gia đình còn khó khăn nên việc đưa các tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất gặp nhiều trở ngại
- Các thiết bị phục vụ cho công tác chuyên môn của Trạm thú y còn thiếu thốn nên việc chẩn đoán và điều trị gặp nhiều khó khăn
1.2 Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất
1.2.1 Nội dung phục vụ sản xuất
Để hoàn thành tốt công việc trong thời gian thực tập em đã căn cứ vào kết quả điều tra cơ bản, dựa vào những phân tích thuận lợi và khó khăn của cơ
sở, em đã áp dụng những kiến thức đã học trong nhà trường vào thực tế sản xuất, học hỏi kinh nghiệm của những cán bộ đi trước và đề ra một số nội dung công việc như sau:
+ Tiêm vacxin cho đàn lợn của trại
+ Chẩn đoán và điều trị các bệnh mà đàn lợn, trâu bò của trại mắc + Phun thuốc diệt trùng chuồng trại, thường xuyên vệ sinh chuồng trại + Tham gia tiêm phòng cho đàn lợn, trâu, bò tại các xã trong huyện cùng cán bộ thú y xã
- Tiến hành nghiên cứu trên đàn lợn của trại Trực Mười và 2 xã vùng phụ cận
- Tham gia các công tác khác: Hội thảo chuyển giao công nghệ với bà con nông dân…
Trang 141.2.2 Phương pháp tiến hành
Để thực hiện tốt nội dung nghiên cứu, trong thời gian thực tập em đã đề
ra kế hoạch cho bản thân, sắp xếp thời gian biểu cho phù hợp để thu được kết quả tốt nhất, xác định cho mình động cơ làm việc đúng đắn, chịu khó học hỏi kinh nghiệm của người đi trước, không ngại khó, không ngại khổ, trực tiếp bám sát cơ sở sản xuất phát huy những thuận lợi, khắc phục những khó khăn,
để hoàn thành tốt công việc Em mạnh dạn đưa những kiến thức đã học trong trường vào sản xuất, không ngừng học tập nâng cao tay nghề
1.2.3 Kết quả phục vụ sản xuất
1.2.3.1 Công tác giống
Trong chăn nuôi giống là tiền đề, nó đóng vai trò hết sức quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến quả sản xuất Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác giống cho nên trong thời gian thực tập em đã cùng các cán bộ kỹ thuật tham gia vào việc bình tuyển giống, ghép đôi giao phối, tránh giao phối cận huyết; đồng thời cùng cán bộ kỹ thuật chọn lọc, loại thải đàn lợn, đàn bò của trại
Kết quả: Em cùng các cán bộ kỹ thuật của trại đã tiến hành ghép đôi cho 8 con lợn, chọn lọc được 5 con bò, phân loại 40 con lợn nái hậu bị
1.2.3.2 Công tác vệ sinh thú y
Công tác vệ sinh thú y là một trong những khâu quan trọng, nó quyết định tới thành quả chăn nuôi Việc này bao gồm nhiều yếu tố như: Không khí, nước, chuồng trại, đất… Hiểu được tầm quan trọng của vấn đề này, trong suốt thời gian thực tập em đã cùng các công nhân của trại thực hiện tốt quy trình vệ sinh thú y, quét dọn chuồng trại, khơi thông cống rãnh, phun thuốc diệt trùng…
1.2.3.3 Công tác thú y
Phòng bệnh: Với phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, việc tiêm phòng, phòng bệnh cho đàn gia súc là bắt buộc
Trang 15Tiêm vacxin cho đàn gia súc tạo ra trong cơ thể sức miễn dịch để chống lại sự xâm nhập của mầm bệnh tăng sức đề kháng cho cơ thể
Trại chăn nuôi Trực Mười là một cơ sở chăn nuôi tập trung nên việc phòng bệnh được tiến hành một cách thường xuyên, nghiêm ngặt Em đã cùng các cán bộ kỹ thuật tiêm phòng cho đàn lợn của trại theo đúng quy định
Ngoài ra, trong thời gian thực tập tại huyện Phổ Yên, em đã cùng cán
bộ thú y các xã tiến hành tiêm phòng cho đàn trâu, bò và lợn đợt II năm 2011
1.2.3.4 Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh
Để chẩn đoán kịp thời và chính xác, giảm tỷ lệ tử vong, giảm thiệt hại kinh tế, em đã cùng các cán bộ kỹ thuật hàng ngày theo dõi đàn lợn xem con nào
ốm, bỏ ăn Đối với lợn khi ốm thường quan sát thấy mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống kém, thân nhiệt cao, sản lượng sữa giảm đột ngột có thể từ 20 - 80%, có con mất hẳn sữa Trong thời gian thực tập, chúng em đã điều trị được một số bệnh sau:
a Bệnh viêm nội mạc tử cung
Do kế phát từ bệnh sảy thai truyền nhiễm
* Triệu chứng: Thân nhiệt tăng, ăn uống giảm, lượng sữa giảm, con vật
đau đớn, có khi cong lưng rặn, cơ quan sinh dục thải ra nhiều dịch viêm màu trắng đục hoặc phớt hồng, có mùi hôi tanh
* Phương pháp điều trị:
- Sáng:
+ Thụt rửa bằng dung dịch Bioxit 0,1%: liều 2 - 3 ml/1 lít, nước muối ngày từ 1 - 1,5 lít
+ Tiêm Oxytocin: liều 4 ml/con
+ Tiêm Tylosin: liều 1 - 2 ml/10 kg, tiêm bắp
Trang 16- Chiều:
+ Penicillin: 3.000.000 UI/con
+ Streptomycin: 3g/con
Hòa nước cất thụt rửa tử cung, tiến hành điều trị trong 3 - 4 ngày
* Kết quả: Điều trị 8 con, khỏi 7 con, tỷ lệ khỏi 87,5%
b Bệnh lợn con phân trắng
* Nguyên nhân:
Do trực khuẩn E.coli có hại thuộc họ trực khuẩn đường ruột
Enterobacteriaceae Bệnh do E.coli gây ra là bệnh truyền nhiễm cấp tính Đặc
trưng là lợn đi phân tháo chảy nhiễm trùng và nhiễm độc huyết
Bệnh xảy ra chủ yếu ở lợn con theo mẹ Ngoài ra bệnh còn có một số nguyên nhân khác như: vệ sinh chăm sóc kém, bầu vú của lợn mẹ bẩn, thức
ăn cho lợn mẹ không đảm bảo vệ sinh, lợn con không được bú sữa đầu, uống nước bẩn, liếm láp nhiễm trùng; do thành phần dinh dưỡng và phẩm chất sữa
mẹ kém; do thời tiết lạnh, mưa phùn và ẩm ướt,…
* Triệu chứng: Bệnh thường gặp ở lợn con 10 - 21 ngày tuổi, lợn ỉa
chảy phân lỏng có màu trắng sữa, trắng xám hoặc màu vàng, tanh khắm Hậu môn
có phân dính bết Do ỉa chảy nhiều nên lợn mất nước, kiệt sức, da nhăn nheo, đi
đứng xiêu vẹo, gầy còm, có khi nôn ọe, có đàn ỉa ra sữa mẹ chưa tiêu hóa
* Phương pháp điều trị: Bệnh phân trắng ở lợn con có nhiều cách chữa
khác nhau, nhưng tôi sử dụng một số loại thuốc sau:
- Genta - Tylo: 1ml/5kg TT, dùng liên tục trong 3 ngày
- Dùng kháng sinh Kanamycin: 400 mg/ kg thể trọng
- Kết hợp uống Oresol, đường gluco
* Kết quả: Điều trị 73 con, khỏi 65 con, tỷ lệ khỏi 89,04%
Trang 17c Bệnh tiêu chảy ở lợn con
* Nguyên nhân: Bệnh do thức ăn kém chất chất lượng, nuôi dưỡng
quản lý chưa thích hợp, khí hậu thay đổi đột ngột, trời lạnh và ẩm độ cao
* Triệu chứng: Lợn ỉa chảy liên tục, kém ăn, mệt mỏi, có con đau bụng,
bụng chướng to Lợn ỉa chảy phân lỏng mùi thối khắm, phân dính quanh hậu môn, ỉa chảy kéo dài khiến lợn gầy còm, kiệt sức và chết sau 1 tuần nếu không được chữa trị
* Điều trị:
- Tiêm bắp Tylosin 50: 1ml/5kg TT
- Uống vitamin C: 5 ml/con/ngày
Điều trị liên tục trong 4 - 5 ngày
* Kết quả: Điều trị 47 con, khỏi 38 con, tỷ lệ khỏi 80,85%
d Bệnh sát nhau ở bò
*Nguyên nhân: Do sau khi đẻ, tử cung co bóp yếu, sức dặn của con mẹ
giảm dần, do đẻ khó, thai quá to phải can thiệp, do nhau mẹ dính chặt vào nhau con nên khi tử cung co bóp bình thường nhưng nhau vẫn chưa ra hết, mép âm hộ chảy ra nhiều dịch nhờn màu hồng, con vật bắt đầu sốt nhẹ, sản lượng sữa giảm mạnh, nếu không can thiệp kịp thời thì con vật sẽ sốt cao và mất sữa
* Điều trị: Sát nhau thường gặp ở bò nhất là bò sữa Tại các trại chăn
nuôi hầu như tất cả bò sau khi đẻ đều sát nhau do thai quá to nên phải can thiệp Em cùng cán bộ trại điều trị theo phương pháp bảo tồn, sau 3 ngày thì thụt rửa
- Tiêm oxytocin vào hõm hông sâu 60 UI/con, tương đương 6ml/con
- Nếu tử cung co bóp yếu tiêm thêm Oestradiol 15ml/con Tránh nhiễm trùng toàn thân tiêm thêm Hanoxylin LA: 30ml/con, tiêm liên tục trong 2 ngày bắt đầu từ ngày thứ 3 thì 2 ngày thụt rửa 1 lần
* Kết quả: Điều trị 9 con, khỏi 9 con, tỷ lệ khỏi 100%
Trang 18e Bệnh Gumboro
* Nguyên nhân: Do virut Gumboro gây ra
* Triệu chứng: Gà ỉa chảy phân màu vàng, có bọt khí, lông xù, mỏ cắm
xuống đất, hậu môn co bóp,… gà khát nước, uống nhiều nước
* Điều trị: Dùng kháng thể Gumboro tiêm bắp với liều 0,5 đến 1ml trên
gà từ 0,3 - 0,5 kg, 1 - 2 ml trên gà từ 0,5 kg trở lên, kết hợp dùng điện giải,
vitamin hòa vào nước cho gà uống với liều 100g hòa với 50 - 100 lít nước, dùng cho 100 - 500 kg thể trọng/ngày
* Kết quả: Điều trị 100 con, khỏi 70 con, tỷ lệ khỏi 70%
f Bệnh viêm bao khớp
* Nguyên nhân: Có nhiều nguyên nhân dẫn đến bệnh viêm bao khớp,
nhưng trong sản xuất nguyên nhân chủ yếu dẫn tới bệnh viêm bao khớp là do tác động cơ giới, gia súc bị đánh đập, thường xuyên đứng lên nằm xuống trên nền chuồng quá cứng làm cho khớp bị cọ sát gây tổn thương đến bao niêm dịch và gây viêm
* Triệu chứng: Viêm bao khớp thường bị ở khớp cườm và khớp khuỷu
Ở thể cấp tính, vùng khớp sưng có hiện tượng ba động, nhiệt độ vùng bị viêm tăng cao, con vật đau đớn và bị què nặng Viêm tương dịch ở thể sợi giai đoạn đầu khớp bị sưng, sau đó dịch thẩm xuất ra nhiều, vùng sưng có hiện tượng ba động rất rõ, sờ nắn có tiếng lạo xạo, chân bị què không rõ Trường hợp viêm bao niêm dịch hóa mủ, cục bộ hay sưng lan tràn con vật đi lại khó khăn
* Điều trị: Loại trừ nguyên nhân gây bệnh, bao niêm dịch tích tụ nhiều
dịch thẩm xuất, ta tiến hành vô trùng, chườm lạnh và băng ép, nếu bao sưng
to thì chọc dò và hút dịch, rồi bơm vào đó dung dịch Penicillin + Novocain 0,5% đúng bằng lượng hút ra, chú ý làm trong điều kiện vô trùng
* Kết quả: Điều trị 5 con, khỏi 5 con, tỷ lệ khỏi 100%
Trang 19g Bệnh viêm vú ở bò sữa
* Nguyên nhân: Có nhiều nguyên nhân dẫn đến bệnh viêm vú ở bò sữa
nhưng trong sản xuất thường do tổn thương cơ giới như: vắt sữa không đúng
kỹ thuật, chuồng trại quá mấp mô… Do cấu tạo của bầu vú như dây chằng của bầu vú không chắc, lỗ mở của núm vú quá to và đẩy vào trong Do chuồng trại không vệ sinh; do vắt sót sữa…
* Triệu chứng: Thay đổi nhiệt độ, màu da của bầu vú, thay đổi hình
dạng của núm vú, khoang, cấu tạo và trạng thái của bầu vú Con vật có cảm giác đau khi sờ vào phần vú bị viêm Trong sữa vắt ra có những hạt lổn nhổn
có các vết máu đôi khi thấy cả mủ, con vật sốt, bỏ ăn
*Chẩn đoán: Chẩn đoán bằng cồn 750 theo tỷ lệ 1: 1 (lượng sữa bằng với dung dịch cồn) nếu có kết tủa đông vón thì chứng tỏ mẫu sữa đó là sữa của con bò viêm vú
*Điều trị: Vắt thải hết sữa, bơm thuốc Mastijet Fort 1 tuýp/ngày, xoa
bóp bầu vú, điều trị 7 con khỏi 5 con, tỷ lệ khỏi 71,43%
h Một số công tác khác
- Chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng bệnh cho đàn trâu, bò, lợn
- Tiến hành nghiên cứu khoa học trên đàn lợn
- Tiêm Dextran - Fe cho lợn con từ 3 đến 7 ngày tuổi
- Trực đỡ đẻ đàn lợn
Tổng hợp về kết quả công tác phụ vụ sản xuất thể hiện bằng bảng sau
Trang 20Bảng 1.1: Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Nội dung công việc Số lượng
(con)
Kết quả
Số lượng (con)
Tỷ lệ (%)
Qua thời gian thực tập tại Trạm thú y huyện Phổ Yên - tỉnh Thái Nguyên,
được sự giúp đỡ của các cán bộ Trạm, cùng sự hướng dẫn tận tình của thầy
giáo TS Đỗ Quốc Tuấn đã giúp em có điều kiện tiếp xúc với thực tế sản xuất, củng cố và nâng cao kiến thức, hiểu biết thêm về nghề nghiệp, vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế sản xuất
Trang 21Sau 6 tháng thực tập, em đã rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu sau:
- Biết cách dùng vacxin và các loại thuốc để phòng, điều trị bệnh
- Biết cách chẩn đoán và điều trị một số bệnh thường gặp
- Qua thực tế sản xuất, giúp em tự tin, mạnh dạn, củng cố thêm lòng yêu nghề Em thấy rằng thực tập tốt nghiệp nâng cao kiến thức thực tế và trình độ chuyên môn của mình Em phải cố gắng nhiều trong việc học hỏi thầy cô, đồng nghiệp và bạn bè, thường xuyên nghiên cứu lý thuyết, tham khảo các tài liệu
Việc đi thực tập tốt nghiệp là thực sự cần thiết đối với bản thân em và các sinh viên khác trước khi tốt nghiệp ra trường
1.3.2 Đề nghị
- Cần thực hiện tốt và triệt để công tác tiêm phòng của huyện
- Đẩy mạnh đưa tiến bộ khoa học vào sản xuất
- Thay đổi phương thức chăn nuôi lạc hậu
- Tăng cường nhập các giống mới có năng suất cao nhằm cải tạo đàn vật nuôi của địa phương
Trang 22Phần 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Đặt vấn đề
Trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta hiện nay, chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tế xã hội Ngành chăn nuôi cung cấp phần lớn thực phẩm cho con người Vì vậy chăn nuôi lợn khá được chú trọng phát triển Để chăn nuôi lợn phát triển thì ngoài công tác giống, thức ăn, chăm sóc, nuôi dưỡng thích hợp thì công tác thú y là hết sức cần thiết
Hàng năm dịch bệnh vẫn xảy ra thường xuyên, gây thiệt hại không nhỏ cho đàn lợn nuôi tập trung cũng như ở nông hộ, trong đó bệnh ký sinh trùng đường ruột mà đặc biệt là bệnh giun sán là những bệnh phổ biến ở lợn mặc
dù bệnh giun sán ký sinh ở lợn ít làm cho lợn chết nhưng gây tổn thất lớn đến ngành chăn nuôi Khi lợn bị nhiễm giun sán với số lượng lớn sẽ làm cho lợn gầy còm, giảm tăng trưởng, kém năng xuất
Để góp phần làm giảm thiệt hại do bệnh giun sán gây ra, đưa kinh tế còn nhiều khó khăn của người chăn nuôi tại một số xã thuộc huyện Phổ Yên được cải thiện, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa, sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo, TS Đỗ Quốc Tuấn, em tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở lợn tại một số xã thuộc huyện Phổ Yên - tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị”
Mục đích của đề tài:
- Xác định tỉ lệ và cường độ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở lợn nuôi
tại một số nông hộ và trại chăn nuôi thuộc huyện Phổ Yên - tỉnh Thái Nguyên
- Xác định một số đặc điểm dịch tễ học về giun tròn đường tiêu hóa ở lợn tại một số địa điểm thuộc huyện Phổ Yên - tỉnh Thái Nguyên
- So sánh sự khác nhau về tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm giun tròn ở khu vực nuôi tập trung và nông hộ
Trang 232.2 Tổng quan tài liệu
2.2.1 Cơ sở lý luận
Ký sinh trùng là những cá thể sống nhờ vào sinh vật khác, nó chiếm đoạt chất dinh dưỡng của ký chủ để tồn tại và phát triển Bệnh giun sán ký sinh đường tiêu hóa thường là những bệnh phổ biến tiến triển ở thể mãn tính, triệu chứng không rõ ràng, bị triệu chứng của các bệnh khác che lấp nên người chăn nuôi ít để ý đến Do đó, chính những con vật bị nhiễm trở thành nguồn gieo rắc mầm bệnh ra bên ngoài và truyền bệnh sang con khác làm cho bệnh càng lây lan mạnh Lợn bị bệnh giun, sán thường dẫn đến hậu quả sau:
- Giảm sinh trưởng và phát triển khiến cơ thể vật nuôi gầy còm, thiếu máu, niêm mạc nhợt nhạt dễ mắc các bệnh khác
- Giảm sức đề kháng và khả năng hoạt động
- Làm thiệt hại đến số lượng và chất lượng của sản phẩm chăn nuôi
- Làm tổn thương các tổ chức và hoạt động sinh lý của cơ thể
Sở dĩ có các tác hại trên là do 4 tác động sau đây của ký sinh trùng đến
cơ thể gia súc, gia cầm:
- Tác động cơ giới: Hầu hết các ký sinh trùng đều gây nên các biến loạn
cơ giới, ngăn cản ít nhiều khí quan mà nó xâm nhập, có thể làm tắc, chèn ép
và phá hoại các tổ chức, làm thủng hoặc làm rách các tổ chức hoặc khí quan
Ký sinh trùng có thể dùng khí quan bám hút của chúng làm tróc niêm mạc, gây xuất huyết, thường gây viêm cấp tính hoặc thứ cấp tính, mãn tính Viêm dẫn tới sản sinh vỏ bọc ngoài bằng tổ chức liên kết bao bọc lấy ký sinh trùng Cái vỏ và ký sinh trùng bên trong chết đi thành một cái hạt, thành vôi
- Tác động chiếm đoạt: Do đời sống của ký sinh trùng là sống nhờ vào
ký chủ nên ký sinh trùng tự nuôi dưỡng bằng cách ăn tổ chức của ký chủ, cướp một phần chất dinh dưỡng của ký chủ, hút máu ký chủ, tác dụng này tiếp diễn liên tục trong đời sống của ký sinh trùng Trong một ký chủ có rất
Trang 24nhiều ký sinh trùng ký sinh gây tổn hại rất lớn, làm ký chủ chậm lớn, còi cọc, thiếu máu, xù lông, và có thể chết
- Tác động đầu độc: Trong quá trình ký sinh ở ký chủ chúng thường xuyên bài tiết chất độc Các chất này ngấm vào máu của ký chủ, sinh ra những biến loạn khác nhau, nhưng thường thấy là những biến loạn thần kinh như co giật, bại liệt Tác động đến tuần hoàn gây thiếu máu, băng huyết, nói chung chất độc do ký sinh trùng tiết ra tác động đầu độc không rõ ràng, thường ở thể mãn tính
- Tác động truyền bệnh: Giun sán ký sinh trong đường tiêu hóa lợn, sau khi hoàn thành vòng đời bắt đầu sinh sản Trứng giun, sán theo phân ra ngoài môi trường bám vào cỏ cây, đất, dụng cụ, thức ăn, nước uống Trứng giun sán
có thể tồn tại ngoài môi trường khá lâu mà vẫn có sức gây bệnh, trứng giun đũa lợn xâm nhập vào cơ thể ký chủ qua đường miệng và tiếp tục gây bệnh Trứng giun, sán lá ruột phải trải qua giai đoạn phát triển bên ngoài trong ký chủ trung giun là ốc nước ngọt để trở thành nang ấu bám vào cỏ thủy sinh Nếu lợn ăn phải nang ấu thì nang ấu sán giải phóng ấu trùng tiếp tục phát triển trong đường tiêu hóa lợn để trở thành sán trưởng thành và lại tiếp tục sinh sản Cứ như vậy, bệnh được lây lan từ động vật này sang động vật khác, từ vùng này sang vùng khác
Ngoài ra, giun sán còn gây tổn thương cho các niêm mạc, phá vỡ tuyến phòng bị, mở đường cho các vi khuẩn xâm nhập gây bệnh, thường vi khuẩn gây bệnh ghép với bệnh ký sinh trùng, làm cho bệnh của ký chủ càng trầm trọng
Qua những nghiên cứu xác định thì lợn nhiễm 4 lớp giun, sán Trong lớp giun, sán lại có rất nhiều loài:
- Lớp sán lá (Trematoda) gồm nhiều loài sán trong đó có sán lá ruột
lợn(Fasciolopsis buski)
- Lớp giun tròn (Nematoda) gồm giun đũa, giun tóc, giun kim, giun kết hạt
Trang 25Với những nghiên cứu xác định cho thấy lợn nuôi tại một số xã của huyện Phổ Yên - tỉnh Thái Nguyên nhiễm các loại giun sau: giun đũa, giun tóc, giun kết hạt
2.2.1.1 Một vài đặc điểm về hình thái và vòng đời của giun tròn đường tiêu hóa ở lợn
a Bệnh giun đũa lợn (Ascariosis)
Theo tác giả Nguyễn Thị Kim Lan và cộng sự (1997) [4], bệnh giun đũa là bệnh phổ biến ở nước ta, bệnh do loài giun Ascaris sum gây ra Giun
ký sinh ở ruột non của lợn nhà và lợn rừng
- Hình thái: Giun đũa lợn màu trắng đục, trắng sữa, hình ống, hai đầu
hơi nhọn Đầu có ba môi bao quanh miệng (một môi ở phía lưng và hai môi ở phía bụng) Trên rìa môi có một hàm răng cưa rất rõ
Giun đực dài 12 - 15 cm, đường kính 3mm
Giun cái dài 30 - 35 cm, đường kính 5 - 6 mm
Giun đực đuôi cong về phía bụng, giun cái đuôi thẳng Giun đực có hai gai giao hợp dài bằng nhau và không có túi giao hợp
Trứng giun hình bầu dục hơi ngắn, kích thước: 0,056 - 0,087 x 0,046 - 0,067 mm, vỏ dày gồm 4 lớp vỏ, lớp ngoài cùng là protit, màu vàng cánh dán,
vỏ ngoài nhấp nhô như làn song
- Vòng đời: Giun đũa lợn phát triển không cần ký chủ trung gian, giun
cái đẻ mỗi ngày 200.000 trứng, trung bình một giun cái đẻ 27 triệu trứng (Cram, 1925) Trứng theo phân ra ngoài, ở nhiệt độ khoảng 240C và ẩm độ thích hợp, sau 2 tuần trong trứng có phôi thai, sau 1 tuần nữa thì phôi thai lột xác thành trứng có sức gây bệnh Lợn nuốt phải trứng này thì ấu trùng nở ở ruột, qua niêm mạc vào mạch máu, theo máu về gan, một số ít chui vào ống lâm ba màng treo ruột, theo tĩnh mạch màng treo ruột vào gan Sau khi nhiễm
4 - 5 ngày thì hầu hết ấu trùng đã di hành tới phổi, khi vào phổi, ấu trùng lột
Trang 26xác thành ấu trùng kỳ III Thời gian di hành tới phổi sớm nhất là sau 18 giờ và muộn nhất là sau 12 ngày vẫn thấy ấu trùng di hành vào phổi Ấu trùng kỳ III
từ mạch máu phổi chui vào phế bào qua khí quản và phế quản, cùng với niêm dịch, ấu trùng lên hầu, rồi được nuốt xuống ruột non, lột xác lần nữa và phát triển thành giun trưởng thành Thời gian di hành của ấu trùng là 2 - 3 tuần Trong thời gian di hành, một số ấu trùng có thể chui vào lách, tuyến giáp trạng, não… Thời gian hoàn thành vòng đời của giun đũa cần 54 - 62 ngày
Giun đũa sống bằng chất dinh dưỡng của ký chủ, đồng thời tiết dịch tiêu hóa, phân giải tổ chức niêm mạc ruột và lấy tổ chức đó nuôi bản thân Tuổi thọ của giun đũa khoảng 7 - 10 tháng, nhưng gặp điều kiện bất lợi thì tuổi thọ giun đũa sẽ ngắn hơn (Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Quang Tuyên) [4]
- Dịch tễ học: Trứng giun đũa có sức dề kháng cao do có bốn lớp vỏ
dày, trong điều kiện tự nhiên trứng giun đũa lợn sống được 1 - 2 năm Trứng
có sức đề kháng mạnh với một số loại hóa chất như Foocmon 2%, Creolin 3%, H2SO4 10%, NaOH 2%
Ở nhiệt độ 450
C - 500C thì trứng chết trong nửa giờ, ở nhiệt độ 600
C thì trứng bị diệt sau 5 phút, ở nhiệt độ 700C chỉ trong 1 đến 10 giây là trứng chết
Vì vậy, ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh học sẽ diệt được phần lớn trứng giun đũa
Nhiệt độ thuận lợi để trứng giun đũa phát triển là 240
C - 250C Ở nhiệt
độ này, trong vòng 12 - 15 ngày trứng đã phát triển thành ấu trùng Dưới 120
C trứng không phát triển
- Đường truyền bệnh: trứng giun đũa vào cơ thể qua đường miệng, lợn
liếm phải dụng cụ, máng ăn và đất ở bãi chăn, sân chơi nên trứng dễ theo vào đường tiêu hóa Khi bón phân tươi cho ruộng trồng cây thức ăn thì trứng giun đũa sống được rất lâu ở thức ăn xanh Lợn con theo mẹ dễ bị nhiễm bệnh do lúc bú nuốt phải trứng giun dính ở bầu vú mẹ
Trang 27- Tuổi mắc bệnh giun đũa: lợn nhiễm giun đũa với tỷ lệ cao từ 13,2% -
43,6% (Kết quả điều tra mổ khám lợn ở các tỉnh Thanh Hóa, Quảng Ninh, Hải Hưng, Hà Bắc, Nam Hà, Nghĩa Lộ - Yên Bái, ) Bệnh phân bố ở tất cả các vùng: vùng núi, trung du và đồng bằng
- Động vật cảm nhiễm: lợn từ 1 - 4 tháng tuổi nhiễm giun đũa với tỷ lệ
và cường độ cao hơn lợn 6 tháng tuổi trở lên Lợn rừng cũng bị nhiễm giun đũa, lợn trên 1 năm ít thấy nhiễm
* Triệu chứng: lợn con từ 1 - 4 tháng tuổi thường nhiễm nặng, thể hiện
triệu chứng như đau bụng, viêm ruột, ỉa chảy kéo dài Đặc biệt lợn gầy yếu, suy nhược, còi cọc, thiếu máu và thường ở thể mãn tính
- Lợn từ 3 - 6 tháng tuổi có triệu chứng rõ: da khô, lông xù, chậm lớn
Niêm mạc mắt nhợt nhật, trắng bệch
- Triệu chứng hưng phấn thần kinh: ăn kém, đi lại loạng choạng quanh chuồng, ngủ kém nên con vật gầy yếu, lông xù, niêm mạc nhợt nhạt
- Khi bị nhiễm nặng gia súc có biểu hiện hô hấp nhanh, ho
- Khi bị nhiễm nhiều giun làm tắc hoặc thủng ruột gây viêm phúc mạc
- Gan có những nốt hoại tử màu trắng
- Ruột non có nhiều giun ký sinh, có thể tạo thành búi gây tắc ruột Niêm mạc ruột viêm cata, loét Đôi khi ruột thủng gây viêm phúc mạc
Trang 28Bệnh ở lợn do loài Oesophagostomum detatum gây ra
Vị trí ký sinh: ruột già (thấy nhiều ở kết tràng)
- Hình thái:
- Không có cánh đầu, có 9 rua ngoài và 18 rua trong Túi đầu to, gai cổ
ở hai bên chỗ phình to của thực quản
- Giun đực dài 8 - 9 mm, rộng 0,14 - 0,37 mm Có túi đuôi, 2 gai giao
hợp dài bằng nhau
- Giun cái dài 8 - 11,2 mm; âm đạo dài 0,1 - 0,15 mm; hơi xuyên vào
cơ quan thải trứng
- Vòng đời: Không cần ký chủ trung gian
Thời gian hoàn thành vòng đời là 24 - 43 ngày