Khóa Luận cực hay và bổ ích !!!!!!!
Trang 1Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta có hơn 75% dân số làm nghề nông nghiệp, trong đó ngành chăn nuôi chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Nghề chăn nuôi lợn có một vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp vì: nó cung cấp nguồn thực phẩm có giá trị cao cho con người (100g thịt lợn có 367 Kcal và
22 g protein); cung cấp phân bón cho trồng trọt (1kg lợn thịt có thể thải 2,5 -
4 kg phân/ngày đêm); cung cấp sản phẩm phụ cho ngành công nghiệp chế biến Với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, đàn lợn nước ta đạt 34,8 triệu con
và có thể xuất khẩu thịt lợn, nước ta đã áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất như con giống; thú y; thức ăn Tuy nhiên ngành chăn nuôi luôn phải đối mặt với tình hình dịch bệnh xảy ra ngày càng nhiều và phức tạp, trong đó có bệnh ký sinh trùng Điều kiện khí hậu nóng ẩm và mưa nhiều của nước ta là môi trường thuận lợi để bệnh ký sinh trùng phát triển Đàn lợn thường bị nhiễm ký sinh trùng với cường độ nặng, đặc biệt là bệnh giun tròn đường tiêu hóa Bệnh không diễn ra nhanh và mạnh như bệnh truyền nhiễm nhưng lại âm thầm làm cho lợn còi cọc, sinh trưởng phát triển kém, giảm sức
đề kháng từ đó làm giảm năng xuất và hiệu quả kinh tế của ngành chăn nuôi Tỉnh Bắc Kạn là một tỉnh miền núi phía Bắc với phương thức chăn nuôi lạc hậu, chủ yếu là chăn nuôi tận dụng trong các hộ gia đình Do vậy công tác
vệ sinh thú y trong chăn nuôi còn kém nên khả năng nhiễm bệnh cao, đặc biệt
là bệnh giun tròn đường tiêu hóa
Để đánh giá tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở lợn và có cơ sở khoa học đề xuất biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả, chúng tôi thực hiện đề
tài: “Tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa lợn tại một số xã thuộc huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn và sử dụng thuốc Hanmectin - 25 điều trị”
Trang 21.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở lợn tại một số xã thuộc huyện Chợ Mới - tỉnh Bắc Kạn
- Nghiên cứu một số triệu chứng lâm sàng điển hình và đặc điểm bệnh tích của giun tròn đường tiêu hóa ở lợn
- Thử nghiệm thuốc Hanmectin - 25 điều trị và đề xuất biện pháp phòng bệnh giun tròn ở đường tiêu hóa cho lợn tại huyện Chợ Mới
1.3 Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ những thông tin về bệnh giun tròn đường tiêu hóa ở lợn; từ
đó có cơ sở khoa học để đề xuất biện pháp phòng, trị bệnh giun tròn cho lợn
có hiệu quả hơn
1.4 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: đề tài là những thông tin khoa học về tình hình cảm nhiễm bệnh giun tròn đường tiêu hóa ở lợn tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
- Ý nghĩa thực hiện: đề tài là cơ sở khoa học khuyến cáo người chăn nuôi
áp dụng các biện pháp phòng trị bệnh giun tròn đường tiêu hóa cho lợn một cách hiệu quả; hạn chế sự nhiễm mầm bệnh từ môi trường vào cơ thể lợn, từ đó hạn chế những thiệt hại mà bệnh gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi
Trang 3Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của lợn
2.1.1.1 Vị trí của giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa lợn trong hệ thống phân loại động vật
Theo Nguyễn Thị Lê (1998) [16], ký sinh trùng phân bố rất rộng trong thiên nhiên gồm các đại diện của 20 lớp động vật khác nhau Có số lượng loài phong phú nhất là ở loài nguyên sinh động vật trên 3000 loài Giun sán gồm đại diện của 13 lớp: Lớp sán lá gần 3000 loài, lớp giun tròn gần 3000 loài, lớp sán dây gần 1500 loài, lớp giun đầu gai gần 500 loài
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [11], ở lợn cho đến nay đã phát hiện được 52 loài ký sinh trùng gồm giun tròn, sán dây, sán lá, đơn bào, côn trùng
ký sinh Trong đó, có một số loài ký sinh trùng phổ biến mà lợn nhiễm với tỷ
lệ và cường độ cao như bệnh giun đũa lợn do Ascaris suum, bệnh sán lá ruột lợn do Fascioloposis buski … Những bệnh này đã gây ra các tổn thương và
viêm nhiễm kế phát do vi khuẩn sống ở các nội quan của lợn, ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của lợn đặc biệt là tiêu tốn thức ăn, giảm tăng trọng từ
15 - 20% so với lợn không bệnh
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [17] cho biết: Lớp giun tròn thuộc ngành
giun tròn Nemathelminthes bao gồm hơn 500.000 loài sống ở các điều kiện
sinh thái khác nhau và phân bố rộng trên toàn cầu Phần lớn giun tròn sống tự
do, chỉ một số ít sống ký sinh ở động vật và thực vật trong khu hệ giun sán ký sinh ở gia súc Việt Nam đã thống kê được 90 loài giun tròn
Hệ thống phân loại của một số loài giun tròn ở đường tiêu hóa lợn được sắp xếp theo vị trí như sau:
Ngành Nemathelminthes
Lớp Nematoda Rudolphi, 1808
Phân lớp Enoplia Chit wood, 1933
Bộ Trichocephaliada Skrjabin et Schulz, 1928
Phân bộ Trichocephaliada Skrjabin et Schulz, 1928
Họ Trichocephalidea Bard, 1953
Trang 4Phân họ Trichocephalinae Ransom, 1911
Giống Trichocephalus Schrank, 1788
Loài Trichocephalus suis schrank, 1788
Họ Trichostrongydae Witen berg, 1925
Phân họ Oesophagostomatinae Railliet, 1916 Giống Oesophagostomum Molin, 1861
Loài Oesophagostomum dentatum
Phân bộ Rhabditia Chitwood, 1933
Họ Strongyloididae Chitwood et Mcinstsch, 1934
Giống Strongyloides Grassi, 1879
Loài Strongyloides papillosus (Wedl, 1856) Loài Strongyloides ransomi
(Schwartz et Alicata, 1930)
Bộ Ascaridida Skrjabin et Schulz, 1940
Phân bộ Ascaridida Skrjabin, 1915
Họ Ascaris Linnacus, 1758
Giống Ascaris Linnaeus, 1758
Loài Ascaris suum Goeze, 1782
Bộ Spirurida Chitwood, 1933
Phân bộ Camallaninia Chitwood, 1936
Họ Gnathostomatidae Railliet, 1895
Giống Gnathostoma Owen, 1836
Loài Gnathostoma doloresi (Tubangui, 1925) Loài Gnathostoma hispidium (Fedtschenko, 1977)
Trang 5Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6] , hiện nay đã biết hơn 5000
loài thuộc lớp giun tròn (Nematoda) trong đó có hơn 1000 loài giun sống tự
do, hơn 3000 loài giun sống ký sinh Các giun tròn ký sinh có liên quan nhiều tới thú y gồm 8 bộ phụ:
+ Bộ phụ giun đũa (Ascaridata)
+ Bộ phụ giun kim (Oxyurata)
+ Bộ phụ giun tóc (Trichocephalata)
+ Bộ phụ giun lươn (Rhabdiasata)
+ Bộ phụ giun xoắn (Strongylata)
+ Bộ phụ giun đuôi xoắn (Spirurata)
+ Bộ phụ giun chỉ (Filariata)
+ Bộ phụ Dioctophymata
Chu Thị Thơm và cs (2006) [34], Phan Lục và cs (2006) [20] cho biết:
Đến nay đã biết giun tròn thuộc lớp Nematoda có hơn 3000 loài sống ký sinh
nhưng giun tròn ký sinh ở súc vật nuôi thuộc các bộ phụ sau:
2.2.1.2 Thành phần loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hoá lợn
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [17], thành phần loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hoá lợn gồm:
Trang 6Giống Loài
Trichocephalus Schrank, 1788 Trichocephalus suis Schrank , 1788
Strongyloides Grassi, 1879 Strongyloides papillosus (Wedl, 1856)
Strongyloides ransomi Schwartz et Alicata, 1930 Ascaris Linnacus, 1758 Ascaris suum Goeze, 1782
các đại diện thuộc các bộ sau: Trichocephaliadae, Strongyloidida, Oxyurida, Ascaridida, Spirurida (Nguyễn Thị Lê, 1998) [18]
2.1.1.3 Đặc điểm hình thái, kích thước các loài giun tròn đường tiêu hóa lợn
Theo Phan Lục và cs (2006) [20] cho biết giun tròn thuộc lớp
Nematoda, ngành Nemathelminthes: Cơ thể hình ống, hình sợi nhưng hai đầu
thon nhỏ dần, hoặc hình ống phân thùy (xoăn mề gà), dài từ 0,1mm đến 1m
(có loại Placenronema gigantisima dài 8m) Giun tròn gồm nhiều loại, sống
tự do và sống ký sinh ở động vật, thực vật (cây trồng)
Đầu giun thường có môi, gai, xoang miệng Đuôi giun cái thường nhọn, thẳng, đuôi giun đực thường cong Một số loài giun tròn có túi đuôi Cơ thể giun thường bao bọc bằng lớp vỏ ngoài (cutin) dày Trên lớp vỏ này có những vân ngang, dọc, giác, móc và các cấu tạo phụ khác Thành phần của lớp vỏ gồm những chất có trọng lượng phân tử lớn, chịu đựng tốt với hóa chất, dịch tiêu hóa và chức năng như áo giáp bảo vệ đời sống ký sinh của giun Lớp vỏ ngoài gồm nhiều lớp Những giun ký sinh đường tiêu hóa gồm 7 - 10 lớp (lớp
vỏ ngoài, lớp vỏ trong, lớp phiến ngoài, lớp đồng thể, lớp phiến trong, lớp
Trang 7hình bazan, màng bazan, lớp nhiều thớ sợi, màng kép bazan) Những giun ký sinh ở hệ hô hấp gia cầm không vượt quá 5 lớp vỏ ngoài
Dưới lớp vỏ cutin là lớp biểu mô và tiếp đến là lớp cơ giúp giun di chuyển được Sau lớp cơ, có những tế bào mầm giúp quá trình trao đổi chất của giun Lớp vỏ cutin cùng với lớp cơ tạo thành túi da cơ, bên trong là xoang
cơ thể chứa các khí quan
* Đặc điểm hình thái giun dạ dày
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [11]: Bệnh gây ra do giun dạ dày Gnathostoma spp, ký sinh ở dạ dày lợn Ở Việt Nam đã phát hiện 2 loài gây bệnh giun dạ dày cho lợn:
- Gnathostoma hispidum Fedtschenko, 1872: Loài này thấy ở dạ dày lợn châu Âu, châu Á, rất giống với G.spinigerum ký sinh ở chó Con cái dài
25 - 45 mm, con đực dài 12 - 25 mm, trên thân phủ nhiều gai, đoạn đầu màu hồng và phía trên màu xanh Giun trưởng thành cắm sâu vào lớp cơ của dạ dày lợn Trứng có vỏ mỏng, kích thước 0,074 x 0,042 mm, một cực có nắp
- Gnathostoma doloresi Tubangui, 1925: Sự phân bố của giun này không rộng bằng G.hispidium Con đực dài 28 - 38 mm, rộng 0,4 - 1,66 mm
Gai sinh dục dài 1,85 mm và 2,07 mm Con cái dài 27 - 52 mm, rộng 1,3 - 2,8
mm Lỗ sinh dục ở gần giữa thuộc nửa sau cơ thể Trứng có kích thước 0,056
- 0,062 x 0,031 - 0,035 mm, có nắp ở hai cực
* Đặc điểm hình thái giun đũa lợn (Ascaris suum)
Nguyễn Thị Kim Lan và cs 1999 [6] cho biết: Giun đũa ký sinh ở gia
súc, gia cầm thuộc bộ phụ Ascaridata Bệnh giun đũa lợn do loài Ascaris suum gây nên, giun ký sinh ở ruột non của lợn nhà và lợn rừng
Theo Phan Lục và cs (2006) [20], giun đũa lợn có màu trắng sữa, hình ống, hai đầu hơi nhọn Đầu giun đũa có 3 môi bao bọc quanh miệng (1 môi ở phía lưng, 2 môi ở phía bụng) Trên rìa môi có một hàng răng cưa rất rõ, cấu tạo răng này rất khác nhau giữa hai loài giun đũa, hàng răng cưa ở giun đũa người không rõ bằng giun đũa lợn Giun đực dài 12 - 15 cm, đường kính 3,2 - 4,4 mm Đoạn đuôi cong về phía bụng Trên mặt bụng ở mỗi bên có từ 69 - 75 gai thịt, có 7 gai thịt sau hậu môn, một gai thịt lẻ dưới hậu môn Con cái dài
từ 20 - 30 cm, đường kính 5 - 6 mm, đoạn sau thẳng Đuôi mang hậu môn về
Trang 8phía bụng, hậu môn có hình dạng một cái khe ngang, bọc hai môi gồ lên, âm
hộ có hình dáng một lỗ nhỏ hình bầu dục ở về phía bụng khoảng 1/3 đoạn trước thân
Phân biệt giữa giun đực và giun cái là giun đực nhỏ, đuôi cong về mặt bụng, đuôi giun cái thẳng Giun đực có hai gai giao hợp bằng nhau, khoảng cách 1,2 - 2 mm không có túi giao hợp
Theo Đào Trọng Đạt (1995) [2], trứng giun đũa hình ovan, vỏ dầy, bề mặt nhăn nheo, màu vàng, trong có nhân màu vàng thẫm Kích thước từ 45 -
85 μm x 35 - 55 μm Vỏ trứng giun có tác dụng phòng vệ cao trong vòng đời phát triển của giun
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6] mô tả: Trứng giun đũa hình bầu dục hơi ngắn, kích thước 0,056 - 0,087 x 0,046 - 0,067 mm, vỏ dày gồm 4 lớp
vỏ, lớp ngoài cùng là protit, màu vàng cánh dán, nhấp nhô làn sóng
Theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (1995) [8]: Trứng có phôi màu vàng nâu kích thước 50 - 70µ x 40 - 60µ vỏ dày (4 lớp vỏ)
Trứng không phôi: Hình bầu dục 80 - 90µ x 44µ có thể có hoặc không
có lớp vỏ abumin dày bọc bên ngoài
* Đặc điểm hình thái của giun lươn ở lợn (Strongyloides ransomi)
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6] mô tả: Giun lươn sống ký sinh ở ruột lợn, giun cái sống ký sinh dài 2,1 - 4,4 mm Đuôi ngắn, âm hộ ở vào nửa sau của thân giun, trứng uốn khúc Trứng hình bầu dục, màu trắng, kích thước 0,045 - 0,055 mm x 0,026 - 0,035 mm, trong trứng có ấu trùng
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [11] cho biết: Tác nhân gây bệnh giun lươn
ở Việt Nam là hai loài giun lươn thuộc giống Strongyloides ký sinh ở ruột
non của lợn có hình thái sau:
Loài Strongyloides ransomi (Schwartf et Alicata, 1930): Ký sinh ở ruột
non lợn Giun đực có hình sợi, dài 0,87 - 0,90 mm, lỗ huyệt cách nút đuôi 0,7
mm Giun cái dài 2,1 - 4,2 mm rộng 0,04 - 0,08 mm Lỗ sinh dục ở 1/3 phần sau cơ thể cách nút đuôi là 0,36 - 1,53 mm, hai buồng trứng là các ống mỏng xuất phát gần lỗ sinh dục,một buồng trứng hướng lên phía trên cơ thể, buồng còn lại hướng phía đuôi Tử cung chứa 1 - 10 trứng, trứng giun giống hình trứng gà, kích thước 0,037 - 0,060 x 0,025 - 0,042 mm
Trang 9Loài Strongyloides papillosusus (Wedl, 1856): Ký sinh ở ruột non bò và
lợn, con đực chưa được mô tả, con cái hình chữ S, dài 4,8 - 6,3 mm, rộng 0,042 - 0,078 mm, lỗ miệng có 4 môi (1 môi lưng, 1 môi bụng, 2 môi bên), thực quản dài 0,770 - 1,029 mm, lỗ sinh dục có rãnh ngang, cách nút đuôi 1,8
- 2,3 mm, hai bên có mấu lồi kitin, đầu hai buồng trứng rất gần lỗ sinh dục, một buồng chạy về phía trước, một buồng chạy về phía sau cơ thể Tử cung chứa 4 - 75 trứng Trứng có vỏ mỏng và phẳng, kích thước 0,048 - 0,060 x 0,025 - 0,036 mm
* Đặc điểm hình thái giun tóc (Trichocephalus suis)
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6], Phạm Sỹ Lăng và cs [8], cho biết: Giun có màu trắng đục, giống một sợi tóc, cơ thể chia làm hai phần rõ rệt: Phần đầu nhỏ thực quản có các tế bào xếp thành chuỗi hạt, có chiều dài bằng 2/3 cơ thể, phần sau ngắn và to, bên trong là ruột và cơ quan sinh sản Giun đực dài 20 - 52 mm, rộng 0,634 - 0,713 mm, đuôi hơi tù, phần đuôi cuộn tròn lại Chỉ có một gai giao hợp dài 5 - 7 mm được bao bọc trong cái màng
có nhiều gai nhỏ bao phủ, lỗ huyệt thông ra ngoài ở phần cuối của giun Giun cái dài 39 - 53 mm, đuôi thẳng, hậu môn ở vào phần cuối của thân, âm hộ ở đoạn cuối cùng của thực quản
Trứng giun tóc hình hạt chanh, màu vàng nhạt, có hai núm ở hai đầu, có kích thước 0,052 - 0,061 x 0,027 - 0,03 mm
*Đặc điểm hình thái giun kết hạt (Oesophagostomum dentatum)
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6], các loài thuộc giống
Oesphagostomum có đặc điểm hình thái chung là túi miệng hình ống rất nhỏ,
quanh miệng có một bờ gồ lên hình đĩa, có các tua ở quanh miệng, có rãnh cổ, phía trước rãnh cổ biểu bì nở ra tạo thành túi đầu, sau rãnh cổ có gai cổ, giun đực có túi đuôi và một đôi gai giao hợp dài bằng nhau, âm hộ giun cái ở gần hậu môn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (1999) [6], Phan Lục và cs (2006) [20] , thì
loài Oesophagostomum dentatum ký sinh ở ruột già của lợn, là loài giun tròn
nhỏ không có cánh đầu Có 9 tua ngoài và 18 tua trong, túi đầu to gai cổ ở hai bên chỗ phình to của thực quản Giun đực dài 8 - 9 mm, có túi đuôi, hai gai
Trang 10giao hợp dài 1 - 1,14 mm Giun cái dài 8 - 11,2 mm, âm đạo dài 0,1 - 0,15
mm, hơi xuyên vào cơ quan thải trứng
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [11] cho biết, trứng giun kết hạt hình ovan, kích thước 0,056 - 0,071 x 0,032 - 0,045 mm
Theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (1995) [8]: Oesophagostomum dentatum Ký sinh ở ruột già lợn không có cánh đầu Túi miệng nông, có 9 tua
ngoài và 18 tua trong, túi đầu to, gai cổ ở hai bên chỗ phình to của thực quản Giun đực dài 8 - 9mm x 0,14 - 0,37mm có túi đuôi Sườn bụng song song nhau, đầu mút của sườn này gắn liền với ria mép của túi đuôi Ba sườn hông bắt nguồn ở cùng một gốc, sườn hông trước tách rời 2 sườn kia, còn sườn hông giữa và sau song song nhau, sườn lưng trong lại chia thành hai nhánh,
có hai gai giao hợp dài 1,00 - 1,14mm
Giun cái dài 8 - 11,3mm, đuôi dài 0,117 - 0,374mm Âm hộ ở trước hậu môn, cách hậu môn 0,208 - 0,388mm Âm đạo rộng về phía trước dài 0,1 - 0,15mm hơi xuyên vào cơ quan thải trứng
Trứng: 70 - 74µ x 40 - 42µ, gồm 8 - 16 hạt (trong vỏ trứng)
2.1.1.4 Đặc điểm cấu tạo của giun tròn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6] : Lớp ngoài là biểu bì bằng giác chất (kitin), có vân ngang, vân dọc hoặc vân chéo Một số loài giun tròn
có những chỗ biểu bì phình to gọi là cánh (cánh thân, cánh đuôi - chỉ có một
số giun đực có cánh đuôi) Một số loài giun có gai chồi và các bộ phận phụ khác có tác dụng cảm giác, vận động và bám vào ký chủ Dưới lớp biểu bì là lớp hạ bì gồm một lớp tế bào dẹt Trong cùng là lớp tế bào cơ có hình sợi, hình bó hoặc hình vòng tròn tùy loài
+ Hệ tiêu hóa: Giun tròn có hệ tiêu hóa khá hoàn chỉnh có một ống dài
chạy dọc theo thân gồm: Môi → Miệng → Thực quản → Ruột → Trực tràng
dài tận cùng là lỗ hậu môn thường ở cuối thân Riêng giun chỉ (Filariata)
không có lỗ hậu môn
Trang 11+ Hệ bài tiết: Gồm có hai ống bắt nguồn từ phía sau và hợp lại ở hai vị
trí trước rồi đổ ra ngoài qua lỗ bài tiết ở ngang vùng thực quản
+ Hệ thần kinh: Gồm một vòng thần kinh thực quản, từ đó phân ra
nhiều nhánh thần kinh đi về phía trước và sau tới các phần của cơ thể Có nhiều nhánh nhỏ nối với các nhánh chính này Đầu mút sợi thần kinh nhỏ nằm trong các gai ở đầu, cổ, thân giun - đó là các gai cảm giác
+ Hệ sinh dục: Hầu hết giun tròn là đơn tính (đực, cái riêng biệt) Giun
đực nhỏ, đuôi cong; giun cái đuôi thẳng, kích thước lớn hơn
Cơ quan sinh dục đực gồm tinh hoàn hình ống nối với ống dẫn tinh, túi chứa tinh và gai giao cấu thò ra ngoài qua lỗ huyệt để cố định và thụ tinh cho con cái Một số loài có bánh lái để điều khiển gai giao cấu Với bộ phụ
Strongylata, giun đực thường có túi đuôi (ô giao hợp) gồm hai thùy: hai thùy
hông và một thùy lưng Thùy hông chứa sườn bụng trước, sườn bụng sau, sườn hông trước, sườn hông giữa và sườn hông sau Thùy lưng chứa sườn lưng trong và sườn lưng ngoài để đỡ thùy lưng
Cơ quan sinh dục cái gồm hai buồng trứng là ống dẫn ngoằn ngoèo thông với ống dẫn trứng, đến tử cung, cuối cùng là lỗ sinh sản cái ở mặt bụng (vị trí tùy loại khác nhau) Sau khi giao phối xong, giun cái đẻ trứng hay ấu trùng theo phân hoặc bằng đường khác ra ngoài Trong trứng chứa phôi bào hình quả dâu hoặc chứa ấu trùng
+ Bộ phận hô hấp và tuần hoàn: Bị tiêu giảm vì sống trong môi trường
yếm khí
2.1.1.5 Vòng đời của giun tròn
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [17], đa số giun tròn đẻ trứng, một số loài đẻ ấu trùng Trứng được bao bọc trong nhiều lớp vỏ, vỏ ngoài phẳng hoặc lồi lõm, ở một số loài trứng có nắp ở hai cực Trứng hoặc ấu trùng của giun tròn được thải ra môi trường ngoài cùng với phân, đờm, nước tiểu và nước mắt của gia súc
Theo Phan Lục và cs (2006) [20], trứng sau khi được thụ tinh, trong trứng tiếp tục phát triển từ một phôi bào thành nhiều phôi bào, hình quả dâu, hình ấu trùng giun và hình thành ấu trùng giai đoạn I, sau đó lột xác lần 1 thành ấu trùng giai đoạn II, sau đó lột xác 2 lần thành ấu trùng giai đoạn III,
Trang 12sau lột xác giai đoạn 3 thì ấu trùng giai đoạn IV được hình thành, sau lột xác lần 4, ấu trùng biến thành giun tròn dạng trưởng thành, ký sinh trong vật chủ Lần lột xác 3,4 thường xảy ra trong vật chủ cuối cùng
Căn cứ vào đặc điểm quá trình phát triển, giun tròn được chia làm hai dạng:
+ Giun tròn phát triển trực tiếp (Giun tròn địa ốc): Vòng đời phát triển
của những loài giun này không cần vật chủ trung gian Trứng hoặc ấu trùng sau khi được thải trừ từ vật chủ ra môi trường ngoài, tiếp tục phát triển, lột xác đến giai đoạn gây nhiễm (ấu trùng giai đoạn III), và nhiễm trực tiếp cho vât chủ Giun tròn phát triển trực tiếp gồm hai kiểu:
Kiểu thứ nhất: Thường gặp ở giun đũa, giun tóc, giun kim Quá trình phát triển theo sơ đồ sau:
Dạng trưởng thành→ trứng→ trứng gây nhiễm
(vật chủ cuối cùng) (chứa ấu trùng A3)
Kiểu thứ hai: Thường gặp ở giun xoắn (Strongylidae), giun thận (Stephanurus), giun móc (Ancylostoma) … và diễn ra như sau:
+ Giun tròn phát triển gián tiếp (giun tròn sinh học): Vòng đời phát
triển của những loài giun này cần có vật chủ trung gian Ấu trùng phát triển đến giai đoạn gây nhiễm ở trong vật chủ trung gian Giun tròn gián tiếp gồm hai kiểu:
Kiểu thứ nhất: Thường gặp ở giun đuôi xoắn (Spirurata), giun phổi (Metastrongylus) … Giun trưởng thành trong vật chủ cuối cùng, ấu trùng gây
nhiễm tiếp tục phát triển thành giun trưởng thành
Kiểu thứ hai: Thường gặp ở giun chỉ (Filariata) Giun trưởng thành thụ
tinh, đẻ ấu trùng A1 trong cơ thể vật chủ Ấu trùng A1 vào hệ tuần hoàn, vào
trùng A1
A2 A3
Xâm nhập vào vật chủ cuối cùng lột xác
Trang 13máu Khi vật chủ trung gian (côn trùng) hút máu, ấu trùng A1 xâm nhập vào vật chủ trung gian và phát triển thành ấu trùng A2, A3 (ấu trùng gây nhiễm) Khi côn trùng là vật chủ trung gian hát máu, ấu trùng A3 xâm nhập vào vật chủ cuối cùng và phát triển thành giun trưởng thành
Ngoài các dạng trên, giun xoắn (Trichinella spiralis) có vòng đời phát
triển rất đặc biệt Giun cái đẻ ấu trùng ở niêm mạc ruột vật chủ Ấu trùng xâm nhập vào hệ tuần hoàn và di hành về các cơ, tạo thành ấu trùng gây nhiễm Vì thế, vật chủ cuối cùng và vật chủ trung gian là cùng một động vật nhiễm
Trichinella spiralis
* Vòng đời của giun dạ dày lợn
Theo Bùi Lập và cs (1979) [38], thì trứng Gnathostoma theo phân ra
ngoài sau 9 - 10 ngày đã nở ra ấu trùng, ấu trùng này có thể sống trong nước
20 - 30 ngày Để tiếp tục phát triển thì ấu trùng này phải được bọ nước ăn
phải Sau khi vào cơ thể bọ nước, ấu trùng Gnathostoma chủ động chui vào
xoang cơ thể, sau 5 ngày lột xác và vào ngày thứ 10 - 12 thì đạt đến giai đoạn trưởng thành Trong vòng phát triển của G.hispidium có thể có ký chủ dự trữ
là cá và ếch nhái Như vậy lợn nhiễm bệnh bằng hai con đường: Khi uống nước chứa bọ nước bị cảm nhiễm hay ăn phải ký chủ dự trữ (cá, ếch) có chứa
ấu trùng cảm nhiễm
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [11] thì ký chủ trung gian là loài giáp
xác thuộc họ Cyclopidae Trứng theo phân ra ngoài tùy theo điều kiện nhiệt
độ khoảng 10 - 15 ngày trở thành ấu trùng Ấu trùng có thể sống ở nước 22ºC
được 2 - 3 ngày Cyclops ăn ấu trùng, tùy điều kiện nhiệt độ sau khi vào Cyclops từ ngày thứ 7 đến ngày thứ 12 thì ấu trùng phát triển đến giai đoạn
gây nhiễm cho lợn Ấu trùng giai đoạn cảm nhiễm này dài 0,49 - 0,52 mm cũng có gai biểu bì như giun trưởng thành Ấu trùng có thể xâm nhập vào ký chủ trung gian dự trữ thứ hai như cá, ếch tạo thành kén
Lợn bị nhiễm giun do:
- Uống nước có Cyclops đã chứa ấu trùng cảm nhiễm
- Ăn phải ký chủ trung gian thứ hai (ếch, cá … ) có chứa ấu trùng trong kén
Trang 14Vào lợn, ấu trùng Gnathostoma di hành trực tiếp đến dạ dày lợn, cũng
thấy một số giun non vào các cơ quan khác là gan và động mạch gan
*Vòng đời của giun đũa lợn
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6] cho biết: Giun cái đẻ mỗi ngày
200000 trứng, trung bình giun cái đẻ 27 triệu trứng (Cram, 1923) Trứng theo phân ra ngoài , ở nhiệt độ 24ºC và độ ẩm thích hợp, trong hai tuần trứng có phôi thai, sau một tuần nữa thì phôi thai lột xác thành trứng có sức gây bệnh Lợn nuốt phải trứng này thì ấu trùng nở ở ruột, chui vào mạch máu niêm mạc, theo máu về gan Một số ít chui vào ống lâm ba và màng treo ruột, vào tĩnh mạch màng treo ruột vào gan Sau khi nhiễm 4 - 5 ngày thì hầu hết ấu trùng di hành tới phổi, sớm nhất là sau 18 giờ muộn nhất là sau 12 ngày vẫn có ấu trùng vào phổi Khi tới phổi, ấu trùng lột xác thành ấu trùng kỳ III, ấu trùng này từ mạch máu phổi chui vào tế bào, qua khí quản và cùng với niêm dịch lên hầu, rồi được nuốt xuống ruột non, lột xác lần nữa và phát triển thành giun trưởng thành Thời gian ấu trùng di hành là 2 - 3 tuần, trong khi di hành một
số ấu trùng có thể vào lách, tuyến giáp trạng, não …
Vòng di chuyển của giun đũa lợn là vòng di chuyển từ gan - phổi - ruột Giun đũa hình thành vòng đời là 54 - 62 ngày, tuổi thọ của giun đũa không quá 7 - 10 tháng, giun đũa lợn phát triển không cần ký chủ trung gian
Giun đũa sống bằng chất dinh dưỡng của ký chủ, bằng cách tiết dịch tiêu hóa, phân giải tổ chức ở niêm mạc ruột và lấy tổ chức đó nuôi bản thân Tuổi thọ của giun đũa không quá 7 - 10 tháng Nhưng nếu điều kiện sống bất lợi (ký chủ sốt cao) thì tuổi thọ giun ngắn hơn
Theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (1995) [8] cho biết: Trứng theo phân lợn ra ngoài (trứng có phôi) gặp điều kiện độ ẩm và nhiệt độ thích hợp
Ascaris suum
(Ký sinh ở ruột non lợn) Trứng
Ấu trùng (có sức gây nhiễm)
Ấu trùng
Niêm mạc ruột
Phổi<-Gan<-Máu<-Phân
t0, A0, pH
Trang 15khoảng hai tuần tế bào trứng phát dục thành ấu trùng (điều kiện nhiệt độ thích hợp nhất: 30 - 35ºC và trứng có thể phát dục ở nhiệt độ 15 - 35ºC ẩm độ thích hợp 80 - 95%) Ấu trùng I qua 1 tuần lễ nữa lột xác thành trứng có ấu trùng gây nhiễm Trứng này bị lợn nuốt phải vào ruột non sẽ thành giun trưởng thành Trứng giun đũa lợn có thể sống rất lâu từ 11 tháng đến 5 năm Trứng có sức đề kháng rất mạnh với tất cả các loại hóa chất (bazơ, axit), chống đỡ kém với khô ráo, và ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp
Tuổi thọ của giun đũa khoảng 7 - 10 tháng Hết tuổi thọ giun đũa theo phân lợn ra ngoài Asen (1958) cho rằng tuổi thọ của giun đũa 55 tuần Tuổi thọ của giun phụ thuộc vào lão hóa của giun và tình trạng thay đổi sinh lý và sức đề kháng của lợn Gặp điều kiện không có lợi (con vật bị bệnh truyền nhiễm, sốt cao … ) thì tuổi thọ của giun ngắn lại, số lượng giun có thể vài con tới 1000 giun trên một cơ thể lợn
* Vòng đời của giun lươn lợn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6], giun lươn cái đẻ trứng ở ruột non, trứng theo phân ra ngoài đã có ấu trùng bên trong Trứng ra ngoài sẽ phát triển theo hai hướng:
Trực tiếp: Vào mùa hè (ấm áp) trứng phát triển nhanh, sau 5 - 6 giờ nở ra ấu trùng giun lươn, 1 - 2 ngày sau phát triển thành ấu trùng có sức gây nhiễm
Gián tiếp: Ấu trùng có sức gây nhiễm thành giun đực và giun cái sống
tự do Sau giao phối, giun cái đẻ ra trứng có ấu trùng
Ấu trùng có sức gây nhiễm ở hướng phát triển trực tiếp hay gián tiếp hoàn toàn giống nhau (dài 0,6 - 0,7 mm, thực quản hình ống dài, không có chỗ phình to) Ấu trùng này vào cơ thể ký chủ theo hai đường:
Chui qua da vào tổ chức liên kết, tới cơ, theo máu hệ lâm ba về phổi, ấu trùng chui qua mạch máu vào chi nhánh khí quản, theo đờm lên hầu rồi được nuốt xuống ruột non, sau 6 - 8 ngày thì thành giun lươn ký sinh
Qua đường tiêu hóa, ấu trùng lẫn vào thức ăn, nước uống, vào đường tiêu hóa thì chui qua niêm mạc dạ dày vào mạch máu, vào phổi cũng giống như trên
Tuổi thọ của giun lươn ở gia súc non khoảng 5 - 9 tháng
Trang 16Phạm Sỹ Lăng (2006) và cs [11] cho biết, giun sống trong hoặc dưới lớp niêm mạc ruột non Giun cái sống ký sinh và sinh sản đơn tính Giun đực
và giun cái sống tự do và thực hiện giao cấu ngoài ký chủ Sự cảm nhiễm của vật chủ do nuốt phải ấu trùng cảm nhiễm giai đoạn III và ấu trùng chui qua
da Sau khi vào cơ thể gia súc mang thai gây nhiễm cho bào thai trước khi sinh Ký sinh trùng còn có thể xâm nhập vào cơ thể vật nuôi sơ sinh qua bú sữa đầu
Ấu trùng sau khi xâm nhập vào máu về phổi, đi vào các phế nang, gây
ho và tiết dịch Chúng phát triển trong cơ thể vật chủ đến trưởng thành mất khoảng 9 ngày Sự phát triển của chúng theo hai con đường:
Một là vòng đời đơn tính do giun cái trưởng thành đẻ trứng trong cơ thể vật chủ mà không cần thụ tinh Trứng thải qua phân ra ngoài rồi phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm giai đoạn III
Hai là vòng đời hữu tính, giun trưởng thành đẻ trứng ở ruột non, trứng phát triển thành ấu trùng các giai đoạn, các ấu trùng này phát triển thành giun đực và giun cái trưởng thành Chúng có thể sống ngoài cơ thể vật chủ Trứng được thụ tinh, nhóm này sẽ phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm và được vật chủ nuốt vào cơ thể, giai đoạn này thực hiện trong vòng 10 ngày
Theo tác giả Trịnh Văn Thịnh (1985) [33] cho biết: Trong cơ thể lợn, giun cái ký sinh đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài Giun lươn phát triển theo hai cách: Trực tiếp và gián tiếp Trong điều kiện, độ ẩm và nhiệt độ như nước
ta, từ trứng phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm, thời gian cần khoảng 24 - 36 giờ (phát triển trực tiếp) hoặc từ 2 - 4 ngày (phát triển gián tiếp) Ấu trùng cảm nhiễm xâm nhập vào cơ thể lợn hoặc qua da, hoặc qua đường tiêu hóa Trong cơ thể lợn, ấu trùng di hành theo hệ tuần hoàn và lâm ba về phổi; ở đấy, một số ấu trùng lên mồm trở về ruột non, số khác theo hệ tuần hoàn mà đi khắp cơ thể, cuối cùng cũng về ruột non Ở ruột non lợn, ấu trùng phát triển thành giun trưởng thành và đẻ trứng Thời gian phát triển trong cơ thể lợn từ 5 đến 9 ngày
Trang 17* Vòng đời của giun tóc lợn
Vòng đời phát triển của giun tóc phát triển theo sơ đồ sau:
Thời gian hoàn thành vòng đời là 30 - 52 ngày
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6] : Giun cái đẻ trứng trong ruột già của ký chủ Trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi qua 15
- 28 ngày trứng phát triển thành trứng có sức gây bệnh Trứng này theo thức
ăn, nước uống vào đường tiêu hóa của ký chủ, ấu trùng được nở ra, chui sâu vào niêm mạc ruột già, tiếp tục phát triển thành giun trưởng thành
Thời gian hoàn thành vòng đời trong cơ thể tùy loài giun tóc nhưng đối
với Trichocephalus suis cần 30 ngày
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [11], giun tóc phát triển vòng đời không cần vật chủ trung gian Giun cái đẻ trứng trong ruột già của vật Trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi (nhiệt độ 18 - 30ºC, ẩm độ 80 - 85%) sẽ phát triển thành trứng cảm nhiễm sau 15 - 28 ngày
Lợn nuốt phải trứng cảm nhiễm qua thức ăn, nước uống sẽ bị nhiễm giun Trứng cảm nhiễm vào ruột lợn phát triển thành giun trưởng thành cần 30 ngày
Theo tác giả Trịnh Văn Thịnh (1985) [33] cho biết: Chu kỳ sinh học gồm hai giai đoạn: một giai đoạn ở ngoại cảnh, phát triển từ trứng đến ấu trùng cảm nhiễm; giai đoạn thứ hai ở ký chủ, ấu trùng cảm nhiễm phát triển thành giun trưởng thành Không có thời kỳ di hành trong cơ thể ký chủ
(có sức gây nhiễm) nhggggagggggggâygggn hnhinhinhiễm)
Ấu trùng
Phân t0, A0, pH
Gia súc nuốt
Thọc sâu đầu vào niêm mạc ruột
Trichocephalus suis
(manh tràng)
Trang 18* Vòng đời của giun kết hạt lợn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6], thì trứng theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ 25 - 27ºC, sau 10 - 17 giờ nở thành ấu trùng, qua 2 lần lột xác, sau 7 - 8 ngày thì ấu trùng gây nhiễm Khi ký chủ nuốt phải, ấu trùng này tới ruột thì chui vào niêm mạc ruột tạo những u kén, lột xác lần thứ 3, tới ngày 6 - 8 thì ấu trùng kì IV, sau đó rời khỏi niêm mạc ruột và lột xác lần nữa thành giun trưởng thành
Theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (1995) [8] cho biết: Vòng đời giun kết hạt không cần vật chủ trung gian Trứng: 70 - 74µ x 40 - 42µ, gồm 8 - 16 hạt (trong vỏ trứng) khi mới nở gặp nhiệt độ 25 - 27ºC sau 10 - 17 giờ trứng
nở thành ấu trùng (Theo Chonesby cần 24 giờ) Ấu trùng một đo được 304 - 307µ lúc mới nở, sau phát triển đo được: 425 - 433 micron Ấu trùng I sau 24
- 48 giờ ở nhiệt độ 22 - 24ºC phát dục thành ấu trùng II dài 440 - 645 micron
Ấu trùng phát triển được 2 ngày thì thành ấu trùng gây nhiễm III, dài 515 - 532µ, kể cả vỏ dài 660 - 720µ Ấu trùng này lẫn vào thức ăn nước uống và ký chủ Khi tới ruột chui vào niêm mạc ruột tạo thành những u kén
Thời gian hoàn thành vòng đời 24 - 43 ngày
Ấu trùng kì V
(phát triển trong xoang ruột)
Trang 192.1.1.6.Sức đề kháng của ấu trùng giun tròn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6], trứng giun đũa có sức đề kháng rất cao do có 4 lớp vỏ dày trong điều kiện tự nhiên sống được 1- 2 năm, có sức đề kháng mạnh với một số chất hóa học như Formol 2%, Creolin 3%, H2SO4, NaOH 2%
Ở nhiệt độ 45 - 50ºC chết trong nửa giờ, nước nóng 60ºC diệt trứng trong 5 phút, nước 70ºC chỉ cần 1 - 10 giây Vì vậy ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh học sẽ diệt được trứng giun đũa
Nguyễn Phước Tương (2002) [36] cho biết: Trứng giun đũa khi thải qua phân đã có phôi Trứng tiếp tục phát triển phụ thuộc vào áp lực oxy, nhiệt độ,
độ ẩm, môi trường Ở vùng khô lạnh trứng có thể sống trên 6 năm
Nuôi trong phòng thí nghiệm trứng phát triển thành phôi thai bình thường trong dung dịch foocmol 2% Theo Soulsby (1965), dưới ánh sáng mặt trời trực tiếp trứng bị diệt trong một vài tuần Theo Phạm Chức (1980), trứng giun đũa phát triển bình thường trong axit axetic và axit lactic 20% nhưng axit picric đặc có thể dung giải vỏ kitin Trứng bị phá hủy trong NaOH 10% ở 70ºC trong vòng 15 - 20 phút Formalin 10% làm cho trứng không nở
và ấu trùng không gây nhiễm
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6] : Trứng giun lươn có sức
đề kháng yếu ở nhiệt độ thấp trứng ngừng phát triển Ở trên 50ºC và - 9ºC trứng bị chết Ấu trùng gây nhiễm sống ở nơi ẩm ướt được 2 tháng, không sống được nơi khô hạn
Sức đề kháng của giun kết hạt là 5 - 9ºC trứng ngừng phát triển, ở nhiệt
độ 35ºC trứng bị chết Gặp điều kiện thích hợp trứng phát triển thành ấu trùng gây nhiễm trên dưới một tuần
Theo Đoàn Thị Phương và cs (2010) [25]: Thời gian trứng giun lươn nở
và phát triển thành ấu trùng có sức gây bệnh trong mùa đông là 3 - 5 ngày, trong mùa hè là 2 - 4 ngày Thời gian sống của ấu trùng giun lươn có sức gây bệnh trong màu đông là 15 - 25 ngày, trong mùa hè là 20 - 35 ngày
Ấu trùng O.dentatum có sức đề kháng tốt với nhiệt độ, để ở - 19ºC đến
- 29ºC qua 10 ngày vẫn sống và chết cũng để ở - 19ºC đến - 29ºC đến 31 ngày, để ở nhiệt độ phòng bình thường ấu trùng có thể sống 1 năm Ấu trùng rất nhạy cảm với khô ráo
Trang 202.1.2 Bệnh giun tròn ở đường tiêu hoá lợn
2.1.2.1 Đặc điểm dịch tễ học của một số bệnh giun tròn đường tiêu hoá lợn
Theo Trương Lăng và cs (2002) [14], cho biết tỷ lệ nhiễm G.hispidium
là khá phổ biến, lên đến 30 - 40% Mức độ cảm nhiễm nặng đã thấy 42 giun trưởng thành bám vào niêm mạc dạ dày và khoảng 100 ấu trùng nằm trong lớp cơ của thành dạ dày
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (1997) [9], giun đũa phân bố rộng khắp thế giới nguyên nhân chính là do vòng đời của giun đũa rất đơn giản, truyền trực tiếp và sức đề kháng của trứng giun rất cao
Theo Phan Lục và cs (2006) [21], lợn thường nhiễm giun đũa với tỷ lệ cao, cường độ lớn ở lứa tuổi 3 - 5 tháng Lợn nuôi thả có tỷ lệ nhiễm giun cao hơn nuôi nhốt Lợn thiếu dinh dưỡng, thiếu vitamin thường bị nhiễm giun cao hơn so với lợn đầy đủ dinh dưỡng Trứng giun ở giai đoạn gây nhiễm có sức
đề kháng tốt với điều kiện bất lợi của môi trường
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12] cho biết: Tỷ lệ nhiễm giun theo lứa tuổi của lợn như sau: Lợn dưới 2 tháng tuổi, tỷ lệ nhiễm 46,9%; Lợn 3 - 7 tháng tuổi, tỷ lệ nhiễm 72,4%; Lợn trên 8 tháng tuổi, tỷ lệ nhiễm 73,3% Lợn con có tỷ lệ nhiễm giun thấp; ngược lại, đối với lợn lớn, khi ấu trùng nhiễm vào thì gây ra bệnh rất nặng và trên ruột có rất nhiều u kén Thời gian sống
của Oesophagostomum dentatum ở cơ thể lợn từ 8 - 10 tháng
Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [16], điều tra mổ khám lợn ở 7 tỉnh miền Bắc và miền Trung kết quả như sau: Tỷ lệ lợn nhiễm giun đũa từ 13,2 - 43,55% với cường độ nhiễm trung bình từ 3,0 - 21,5 con/lợn Tỷ lệ nhiễm giun tóc từ 12,5 - 40,3% với cường độ nhiễm cao có trường hợp thấy 1219 con giun tóc ở ruột già của 1 lợn
Theo Bùi Quý Huy (2006) [3], cho biết bệnh giun đũa, giun tóc ở lợn đều có khả năng lây sang người và mọi lứa tuổi đều bị cảm nhiễm
Theo Phạm Sỹ Lăng (2009) [12] cho biết: Ở Hà Nội, tỷ lệ nhiễm giun theo tuổi lợn như sau: lợn từ 2 - 6 tháng tuổi nhiễm 4,3 - 30%, lợn trên 6 tháng tuổi nhiễm 0,56 - 7,8%, không thấy giun tóc ở lợn dưới 2 tháng tuổi Điều kiện chăn nuôi tốt, vệ sinh và dinh dưỡng đầy đủ tỷ lệ nhiễm thấp 2,5% Ngược lại điều kiện chăn nuôi kém thì tỷ lệ tăng 23% Kết quả điều tra ở các
Trang 21lò mổ các tỉnh (Trinh Văn Thịnh, 1958) cho biết tỷ lệ nhiễm như sau: Nghĩa
Lộ 40,3%, Quảng Ninh 33,7%, Hà Bắc 27,3%, Thanh Hóa 12,5%, Hải Hưng 15,1%, Nam Hà 33,3%
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6], thì tỷ lệ nhiễm giun kết hạt theo tuổi lợn như sau: lợn dưới 2 tháng tuổi nhiễm 46,9%, lợn dưới 3 - 4 tháng tuổi nhiễm 67,4%, lợn dưới 5 - 6 tháng tuổi nhiễm 72,1%, lợn trên 8 tháng tuổi nhiễm 73,3%, tỷ lệ nhiễm giun kết hạt ở các loài gia súc khác nhau thì khác nhau
Theo Nguyễn Thiện và cs (1996) [29] qua điều tra mổ khám, tình hình nhiễm giun đũa ở các tỉnh như sau: Nghĩa Lộ 40,3%, Quảng Ninh 33,7%, Hà Bắc 27,3%, Thanh Hóa 12,5%, Hải Hưng 40,5%; Nam Hà 33,3%; Hà Tĩnh: 43,5%
Phan Địch Lân và cs (2005) [16] cho biết: tỷ lệ nhiễm giun kết hạt ở lợn tăng dần theo tuổi do lợn con có sức đề kháng tốt đối với giun kết hạt nên
tỷ lệ nhiễm thấp Tuy ấu trùng gây nhiễm vào lợn con nhưng không gây ra những u kén ở ruột, ngược lại đối với lợn lớn sau khi ấu trùng gây nhiễm vào thì gây bệnh rất nặng và trên ruột có rất nhiều u kén Ngoài ra do thời gian
sống của Oesophagostomum dentatum ở trong cơ thể lợn tương đối dài từ 8 -
10 tháng Quá trình truyền lây giun này còn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng…) Ở mỗi vùng, khi gặp điều kiện thích hợp trứng phát triển thành ấu trùng gây nhiễm phải trên dưới một tuần, khi nhiệt độ 90C thì trứng ngừng phát triển, khi nhiệt độ 350C thì trứng bị chết Ngoài ra, truyền lây bệnh này còn liên quan đến tình hình chăn thả Nếu thường xuyên chăn thả trên bãi chăn đã bị ô nhiễm mầm bệnh thì gia súc rất dễ nhiễm phải giun này
Theo Bùi Lập (1979) [38], ở miền bắc Việt Nam tỷ lệ nhiễm giun dạ dày ở lợn rất cao: 63,9%
Theo Đoàn Thị Phương và cs (2010) [25] : Trứng và ấu trùng giun lươn phát tán cả khu vực nền chuồng, xung quanh chuồng nuôi; vườn, bãi trồng cây thức ăn cho lợn do hoạt động tưới phân tươi cho cây
Theo Chu Thị Thơm và cs (2006) [34], thì lợn ngày càng lớn tỷ lệ nhiễm giun kết hạt ngày càng cao (lợn dưới 2 tháng tuổi nhiễm 46,9%, lợn
Trang 22trên 8 tháng tuổi nhiễm 73,7%) Bệnh thấy ở nhiều nơi chăn nuôi không đảm bảo vệ sinh
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12]: Điều tra các lò sát sinh TP Hồ Chí Minh và Đà Lạt, Lương Văn Huấn (1994) đã thấy bệnh giun dạ dày do G.hispidium là một bệnh khá phổ biến ở lợn, tỷ lệ nhiễm 30 - 40% Khí hậu
ấm áp thuận tiện cho sự sống và phát triển của trứng và ấu trùng; mưa nhiều
và kéo dài, nhiệt đọ môi trường trung bình 25ºC Các ấu trùng khu trú trong lớp cơ của dạ dày nên khi khám thịt không thấy được
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12], cho biết: Lợn con mắc bệnh giun đũa sinh trưởn và phát dục không đầy đủ, sản phẩm (thịt) giảm đến 30%
Ở Việt Nam, bệnh giun đũa lợn thấy ở tất cả các vùng sinh thái, trong các cơ sở nuôi lợn tập trung và gia đình Bệnh thường ở thể mãn tính, không làm cho lợn chết như các bệnh truyền nhiễm cấp tính nhưng làm cho lợn giảm tăng trọng, gây nhiều thiệt hại về kinh tế
Động vật cảm nhiễm là lợn nhà và lợn rừng ở các lứa tuổi, nhưng lợn con từ 1 - 3 tháng tuổi nhiễm giun đũa với tỷ lệ cao nhất và bị bệnh nặng hơn lợn trưởng thành
Qua kiểm tra mổ khám 1000 lợn ở 7 tỉnh phía Bắc (1962 - 1963) Nguyễn Hữu Bình và cs cho thấy: tỷ lệ nhiễm giun đũa từ 13,2 - 43,5% và cường độ nhiễm từ 3 - 21 giun/lợn Điều kiện khí hậu nóng và ẩm thuận lợi cho trứng giun phát triển, mặt khác vệ sinh thú y ở các cơ sở chăn nuôi chưa được thực hiện tốt, chưa ủ phân, còn bón phân tươi vào ruộng trồng thức ăn của lợn (Phạm Văn Khuê, 1963), nên lợn bị nhiễm giun đũa rất phổ biến
Tỷ lệ nhiễm giun đũa của lợn cao ở lứa tuổi từ 1 tháng đến 7 tháng tuổi, sau đó tỷ lệ giảm theo lứa tuổi tăng lên Lợn con dưới 2 tháng tuổi, tỷ lệ nhiễm giun 39,2%; 3 - 4 tháng tuổi, tỷ lệ nhiễm 48,0% Trên 8 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 24,9%
Theo Nguyễn Xuân Bình (2005) [1], cho rằng bệnh giun đũa lợn chủ yếu lây qua đường thức ăn, nước uống Khi trứng giun đi vào trong ruột lợn
sẽ phát triển thành ấu trùng, chúng sẽ chui qua niêm mạc ruột đến tim, gan và phổi Ấu trùng đến phổi gây viêm phổi, từ phổi ấu trùng theo đờm, nước bọt
đi xuống ruột non phát triển thành giun trưởng thành
Trang 23Theo Phan Lục và cs (2006) [20] cho rằng lợn thường nhiễm giun đũa với tỷ lệ cao, cường độ lớn ở lứa tuổi 3 -5 tháng Lợn nuôi thả có tỷ lệ nhiễm giun cao hơn nuôi nhốt Lợn thiếu dinh dưỡng, thiếu vitamin thường bị nhiễm giun Trứng giun ở giai đoạn gây nhiễm có sức đề kháng tốt với điều kiện bất lợi của môi trường
2.1.2.2 Cơ chế sinh bệnh của giun tròn ở đường tiêu hoá lợn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6] cho biết: Bệnh ký sinh trùng ở đường tiêu hoá của lợn thường tiến triển ở thể mãn tính Vì vậy, các triệu chứng biểu hiện thường không rõ ràng và thường bị các triệu chứng khác che lấp, nên người ta thường ít quan tâm Vì vậy, con vật nhiễm bệnh thường gieo rắt ra bên ngoài, lây lan từ con này sang con khác, làm cho mầm bệnh có điều kiện phát sinh Những con mắc bệnh thì cơ thể gầy còm, thiếu máu, giảm sức đề kháng Sở dĩ, có tác hại này là do bốn tác động sau của ký sinh trùng đến cơ thể vật chủ
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [11] cho biết:
* Tác động cơ giới:
Phần nhiều ký sinh trùng đều gây những biến loạn cơ giới ở những cơ quan
mà ký sinh trùng ký sinh, biểu hiện: Gây sung huyết, xuất huyết, rách loét Những ký sinh trùng có kích thước lớn, ký sinh với số lượng nhiều thường gây tắc, thủng và vỡ các khí quan hình ống như: ruột, ống mật, mạch máu Nhiều ký sinh trùng còn có giác bám, móc làm rách, thủng, tróc niêm mạc, xuất huyết, phá hoại các tổ chức, gây xuất huyết
Phần lớn ấu trùng của ký sinh trùng khi xâm nhập vào vật chủ đều có quá trình di hành qua nhiều khí quan và gây tổn thương cho các khí quan này
* Tác động chiếm đoạt: Ký sinh trùng nuôi dưỡng bản thân bằng cách
chiếm đoạt một phần dinh dưỡng của vật chủ, hút máu vật chủ Tác động này diễn ra liên tục bởi nhiều ký sinh trùng nên làm vật chủ gầy, yếu, thiếu máu
* Tác động đầu độc: Một số ký sinh trùng tiết độc tố, mặt khác còn đào
thải ra các sản vật của quá trình trao đổi chất làm cho vật chủ bị trúng độc Tác hại của các chất độc này tùy pha phát triển của ký sinh trùng, ở giai đoạn
ấu trùng gây tác hại nhiều hơn ở giai đoạn ở giai đoạn trưởng thành
Trang 24* Tác động truyền bệnh: Một số ngoại ký sinh trùng hút máu vật chủ,
đồng thời còn truyền những bệnh có thể gây thành dịch làm chết súc vật
Ấu trùng ký sinh trùng di hành trong vật chủ còn mang theo nhiều vi khuẩn và vius vào các khí quan, gây ra các bệnh kế phát
Sau đây là cơ chế sinh bệnh của giun tròn đường tiêu hóa lợn:
+ Bệnh giun đũa lợn:
Thời kỳ ấu trùng hay trưởng thành đều gây bệnh Ấu trùng di hành gây tổn thương các khí quan mở đường cho vi khuẩn vào cơ thể Ấu trùng di hành qua phổi làm cho bệnh suyễn lợn càng nặng hơn và tỷ lệ phát bệnh có thể tăng gấp 10 lần
Theo Anderdahl (1957) [37], nếu cho lợn khỏe nuốt trứng giun đũa, sau 5 ngày cho nhiễm bệnh suyễn thì bệnh tích ở phổi rộng gấp 10 lần so với lợn chỉ bị bệnh suyễn Khi ấu trùng theo máu vào gan gây lấm tấm xuất huyết, đồng thời gây huỷ hoại tế bào gan Khi ấu trùng từ mạch máu phổi di chuyển tới phế bào gây ra vỡ mạch máu, ở phổi có nhiều điểm xuất huyết, phổi bị viêm, triệu chứng viêm phổi có thể kéo dài 5 - 14 ngày, có khi làm con vật chết Khi là giun trưởng thành thì làm loét niêm mạc ruột non, gây đau bụng, nếu nhiều thì làm tắc ruột, khi chui vào ống dẫn mật làm tắc gây hoàng đản
Giun đũa tiết độc tố gây nhiễm độc thần kinh trung ương và mạch máu, con vật có triệu chứng thần kinh như tê liệt hoặc hưng phấn, co giật
Giun lấy chất dinh dưỡng của ký chủ, thải cặn bã gây độc cho ký chủ Kết quả là làm cho ký chủ gầy còm, chậm lớn Giun đũa nhiều làm tắc ruột có khi thành búi, ruột có thể rách hay thủng
Lợn bị giun đũa thường yếu ớt, mệt mỏi, lông xù, dần dần gầy còm Nếu làm rách ruột thì lợn chết đột ngột Giun có thể chui lên dạ dày, thực quản, ra, mồm hoặc qua yết hầu vào phổi gây ngạt thở
Trang 25+ Bệnh giun tóc ở lợn:
Giun tóc có phần đầu nhỏ, dài, phần này cắm sâu vào niêm mạc ruột gây tổn thương, mở đường cho vi khuẩn gây bệnh vào cơ thể ký chủ Trong quá trình sống, giun tóc tiết độc tố và thải cặn bã làm con vật trúng độc
Giun tóc lấy dịch tổ chức niêm mạc ruột để sống gây ra hiện tượng xuất huyết, viêm ruột và dẫn đến ỉa chảy
Theo Bùi Lập và cs (1979) [38], giun Gnathostoma bám chắc và bám
rất sâu vào thành dạ dày hay thực quản lợn Vì thế trên bề mặt tương mạc của thực quản hay dạ dày thường có thể thấy những chỗ u Giun dựa vào những cấu tạo kitin của đầu và cutin ở thân phá hủy niêm mạc dạ dày, dẫn đến viêm cấp sau thành viêm dạ dày mãn tính
2.1.2.3 Triệu chứng và bệnh tích của bệnh giun tròn đường tiêu hoá lợn
* Đối với bệnh giun đũa lợn:
+ Triệu chứng: Bệnh giun đũa có triệu chứng rõ rệt và tác hại nhiều ở lợn con từ 2 - 4 tháng tuổi Giun đũa gây bệnh do tác động cơ giới, độc tố tác hại đến cơ thể lợn và chiếm đoạt chất dinh dưỡng, Triệu chứng chính của bệnh là viêm ruột, bần huyết và gầy dần, có triệu chứng thần kinh ở lợn con (co giật) Ấu trùng, khi đi qua phổi có thể gây tụ huyết hay viêm phổi Lợn con có thể bị tắc ruột và thủng ruột khi nhiễm với cường độ cao
+ Bệnh tích: Khi viêm phổi thấy trên mặt phổi có đám xuất huyết màu
đỏ sẫm, có nhiều ấu trùng giun đũa ở phổi Khi giun trưởng thành thấy ruột non viêm cata, có nhiều giun ký sinh ở ruột non Nếu tắc và vỡ ruột thì có bệnh tích viêm phúc mạc
Trang 26Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12], cho biết: Ấu trùng chui vào thành ruột gây tổn thương mở đường cho vi khuẩn vào cơ thể Khi ấu trùng giun đũa di hành qua phổi gây tổn thương phế nang làm cho bệnh suyễn lợn thêm nặng hơn Khi ấu trùng theo máu về gan, gây ra lấm tấm xuất huyết, đồng thời gây hủy hoại tổ chức trên bề mặt, ấu trùng di hành độ 2 - 3 tuần lễ rồi về ruột phát triển thành giun trưởng thành thì tác dụng gây viêm giảm dần Giun trưởng thành gây viêm niêm mạc ruột Khi lượng giun lớn làm tắc ruột
và thủng ruột, có khi giun chui vào ống mật gây ra tắc ống dẫn mật dẫn đến hoàng đản Giun đũa còn tiết độc tố tác hại đến thần kinh trung ương gây trúng độc, con vật có triệu chứng thần kinh như tê liệt chân hoặc hưng phấn
* Đối với bệnh giun kết hạt lợn:
+ Triệu chứng: Thường thấy ở hai giai đoạn:
Giai đoạn ấu trùng chui vào niêm mạc ruột gây triệu chứng cấp tính như ỉa chảy, phân có chất nhày, đôi khi có máu tươi, có một số ít con nhiệt độ lên cao, bỏ ăn, gầy còm, khi ấn vào bụng thấy đau, thiếu máu, niêm mạc nhợt nhạt, ỉa chảy kéo dài làm con vật gầy dần và chết
Giai đoạn giun trưởng thành thường gây triệu chứng mãn tính: Có từng thời kỳ con vật kiết lị, chậm lớn, gầy còm, các triệu chứng khác không rõ lắm
Theo Phan Lục (2006) [21] cho biết: Giai đoạn đầu khi ấu trùng xuyên vào niêm mạc ruột, gây ỉa chảy, phân có chất nhầy, đôi khi có máu Một số gia súc có thân nhiệt cao, bỏ ăn, gầy còm, thiếu máu, niêm mạc nhợt nhạt Giai đoạn sau: Khi giun trưởng thành ký sinh, thường có triệu chứng mãn tính, con vật bị kiết lị, gầy còm, chậm lớn
Bệnh tích: Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12] cho biết: Sau khi nhiễm
5 ngày, ở niêm mạc ruột già lợn thấy những u kén nhỏ Ở giữa những u kén này
có điểm màu vàng do niêm mạc xung huyết bao bọc, bên trong có ấu trùng giun nên bọc này bị hoại tử, bị loét tới ngày thứ 7 - 8 thì kết tràng bị viêm có mủ Có khi tới vài nghìn u kén ở trong một đoạn ruột to bằng hạt đậu côve chỉ dài 0,1cm
Ấu trùng chui vào niêm mạc ruột tạo thành những hạt nên người ta cho rằng gây tác hại chủ yếu ở giai đoạn ấu trùng Những hạt này thường bị mưng
mủ, do ấu trùng giun mang vi khuẩn vào Gia súc non bị bệnh chậm lớn; gia súc trưởng thành thì khả năng sinh sản giảm sút
Trang 27Theo Phan Lục (2006 ) [21] cho biết: Giun kết hạt gây ra những u kén ở ruột, ở giữa có màu vàng, trắng đục và có ấu trùng giun Kết tràng thường bị viêm và đôi khi thấy vài nghìn u kén ở ruột Hạt to bằng hạt đậu, chứa mủ hoặc canxi hóa
* Đối với bệnh giun lươn lợn:
+ Súc vật non nhiễm bệnh thể hiện triệu chứng rõ rệt Lợn con sau đẻ 3 -
4 tuần bệnh nhiễm rất nặng, chết tới 50% con vật gầy còm, có mụn trên da (do
ấu trùng giun lươn chui qua da gây viêm da), viêm kết mạc mắt, ỉa chảy, phân
có lẫn máu, thân nhiệt tăng, có triệu chứng viêm phổi (con vật ho), triệu chứng kéo dài 15 - 30 ngày Nếu nặng có thể chết do bị mất nước, rối loạn chất điện giải trong trạng thái viêm ruột cấp, khi nhiễm nhẹ triệu chứng không rõ rệt
+ Bệnh tích: Dưới da có những điểm tụ huyết, tổ chức cơ và phổi cũng
có nhiều điểm hoặc đám tụ huyết, viêm khí quản, viêm cata dạ dày - ruột, niêm mạc ruột có những điểm tụ huyết, niêm mạc dạ dày có nhiều mụn loét nhỏ
* Đối với bệnh giun tóc lợn:
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12] cho biết triệu chứng của bệnh giun tóc: Phần đầu của giun cắm sâu vào thành ruột để hút chất dinh dưỡng, gây tổn thương, tạo điều kiện cho viêm ruột già nhiễm khuẩn Các tổn thương cũng có thể gây xuất huyết ruột già, làm cho lợn có hội chứng lỵ
Lợn trưởng thành nhiễm giun thường không thể hiện rõ các triệu chứng lâm sàng Lợn con ở lứa tuổi 2 - 4 tháng bị nhiễm giun xuất hiện các dấu hiệu: ỉa chảy, lúc đầu phân lỏng, sau phân sệt có nhiều nhày như mũi, lẫn máu Mỗi lần thải phân, lợn bệnh phải cong lưng để rặn, nhưng phân chỉ ra rất ít Các triệu chứng trên giống như lợn bị bệnh lỵ Nếu không được điều trị, lợn con bị bệnh
sẽ kiệt sức và chết sau 6 - 10 ngày
Lợn bị bệnh mãn tính còi cọc, thiếu máu, tăng trọng giảm
+ Bệnh tích: Niêm mạc ruột già bị viêm, xuất huyết, trên niêm mạc có nhiều giun tóc trưởng thành cắm sâu vào thành ruột, xác chết gầy, có nhiều giun ở ruột già (nhất là manh tràng)
Một số giun vẫn cắm sâu vào niêm mạc ruột phải kéo mạnh mới lấy được Trên niêm mạc ruột có nốt loét to bằng hạt đậu xanh Khi nhiễm nặng, toàn bộ manh tràng xuất huyết màu hồng sẫm, niêm mạc ruột bị bong ra
Trang 282.1.2.4 Chẩn đoán bệnh giun tròn ở đường tiêu hóa lợn
Phương pháp chẩn đoán bệnh giun tròn ở vật nuôi gồm có các phương
pháp như: Phương pháp Fulleborn, phương pháp Darling, phương pháp Cherbovich, phương pháp chẩn đoán bằng kháng nguyên, phương pháp mổ
khám tìm giun tròn
* Chẩn đoán bệnh giun đũa lợn:
Đối với con vật sống: Kiểm tra phân bằng phương pháp phù nổi Fulleborn để tìm trứng giun Có thể dùng phản ứng biến thái nội bì (dùng kháng nguyên pha loãng 1:200 tiêm nội bì vành ngoài tai hoặc nhỏ vào xoang kết mạc mắt) phương pháp này rất tốt không gây phản ứng chéo với các giun khác, có kết quả dương tính sau khi nhiễm giun đũa 8 - 11 ngày Phản ứng này duy trì được 110 - 140 ngày Thời gian phản ứng biến thái xuất hiện phù hợp với thời gian kháng thể tập trung trong máu sau khi nhiễm giun và không phụ thuộc vào giun trưởng thành ở ruột
Đối với súc vật chết: Mổ khám tìm giun trưởng thành, ấu trùng và kiểm tra bệnh tích
* Chẩn đoán bệnh giun lươn ở lợn:
Vì kích thước giun nhỏ nên phải có kỹ thuật mổ khám và thu thập giun sán tốt mới thấy được giun lươn Do đó, phương pháp chẩn đoán chủ yếu là xét nghiệm phân bằng phương pháp phù nổi để tìm trứng giun lươn
* Chẩn đoán bệnh giun kết hạt ở ruột lợn:
Kiểm tra phân để tìm trứng giun theo phương pháp phù nổi (Fulleborn) Tuy nhiên, rất khó phân biệt trứng giun này với trứng các loài giun xoăn khác
(họ Strongylidae) Nuôi ấu trùng để so sánh với ấu trùng giai đoạn IV của
giun xoắn
Mổ khám lợn bệnh để tìm giun và ấu trùng giun ở niêm mạc ruột(các hạt già)
* Chẩn đoán bệnh giun tóc ở lợn:
Xét nghiệm phân bằng phương pháp phù nổi để tìm trứng giun Có thể
mổ khám tìm giun và kiểm tra bệnh tích ở niêm mạc ruột già (manh tràng)
Trang 292.1.2.5 Biện pháp phòng trị bệnh giun tròn đường tiêu hoá lợn
* Biện pháp phòng bệnh giun tròn
Phòng bệnh ký sinh trùng có nhiều biện pháp nhưng đều nhằm mục đích không cho mầm bệnh ký sinh trùng phát triển, thực hiện tốt các chu trình tiến hoá của nó, để nó không thể sinh ra ký sinh trùng trưởng thành mới được
Theo Phan Lục (2006) [21],cho biết:
Muốn phòng trừ bệnh ký sinh trùng cần áp dụng các biện pháp tổng hợp Để phòng trừ bệnh ký sinh trùng, phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
Diệt ký sinh trùng ở các giai đoạn phát triển của chúng
Mỗi loại ký sinh trùng đều trải qua nhiều giai đoạn sinh trưởng liên tiếp nhau trong mỗi chu kỳ phát triển
Để diệt ký sinh trùng một cách triệt để, cần diệt chúng ở các gian đoạn Tuy nhiên, tùy khả năng, điều kiện, có thể chọn giai đoạn thích hợp trong vòng đời của ký sinh trùng để tập trung cắt đứt một khâu trong chu kỳ phát triển của chúng mà vẫn cho kết quả cao
Diệt ký sinh trùng có thể dùng các phương pháp sau:
- Phương pháp hóa học: Dùng các hóa dược diệt ký sinh trùng trong cơ thể gia súc, dùng các chất diệt ký sinh trùng ở phân, đồng cỏ, môi trường ngoài
- Phương pháp vật lý: Dùng ánh sáng, nhiệt độ để diệt mầm bệnh, tháo khô nước, cày lật đất phơi nắng để diệt ký chủ trung gian
- Phương pháp sinh vật: Dùng gia cầm để diệt các loại ốc trung gian Tránh không cho ký sinh trùng cảm nhiễm vào gia súc
Việc tiêu diệt ký sinh trùng ở các giai đoạn, nếu làm tốt sẽ hạn chế sự cảm nhiễm vào gia súc, gia cầm Cần có biện pháp phòng bệnh, không để ký sinh trùng xâm nhập vào cơ thể bằng những con đường thích hợp
Muốn vậy cần:
+ Thanh toán nguồn gieo rắc bệnh
+ Diệt vật chủ trung gian, vật gieo mầm truyền bệnh
+ Ngăn ngừa mầm bệnh xâm nhiễm vào vật nuôi
+ Thức ăn và nước uống cần sạch sẽ, không nhiễm mầm bệnh (trứng và
ấu trùng) của ký sinh trùng
Trang 30+ Không để vật nuôi môi giới hay ký chủ trung gian đưa mầm bệnh vào gia súc
+ Trước khi đưa gia súc mới nhập đàn, phải nhốt riêng và kiểm tra ký sinh trùng, phải chữa cho con vật sạch ký sinh trùng mới đưa vào nhập đàn
Điều trị bệnh ký sinh trùng cần đạt được các yêu cầu sau:
- Diệt ký sinh trùng ở cơ thể gia súc:
+ Phải điều trị những con vật bị bệnh và mang ký sinh trùng Yêu cầu
về điều trị là: Vật nuôi phải khỏi bệnh và không còn mang ký sinh trùng, để thanh toán nguồn khuếch tán bệnh
+ Khi dùng thuốc để diệt ký sinh trùng ở cơ thể gia súc, đối với các loại thuốc diệt ký sinh trùng nhưng độc hại cho gia súc, liều chữa bệnh phải ít hơn 1/3 liều gây trúng độc cho ký chủ
+ Khi chữa bệnh không được để mầm bệnh gieo rắc ra bên ngoài làm ô nhiễm môi trường, lây lan bệnh sang gia súc khác
- Không để con vật tái nhiễm: Nếu không chú ý biện pháp ngăn ngừa tái nhiễm thì việc chưa đạt yêu cầu Sau khi được chữa khỏi bệnh, cần dùng các biện pháp vệ sinh phòng bệnh để con vật không bị tái nhiễm
- Bồi dưỡng cho con vật phục hồi sức:
Sau khi chữa bệnh phải chú ý bồi dưỡng gia súc, vì ngoài tác hại của bệnh, có thể gia súc còn chịu nhiều tác dụng độc của thuốc
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (1997) [9], căn cứ vào kết quả nghiên cứu sinh thái, chu trình sinh học của giun đũa lợn, kết quả nghiên cứu thuốc điều trị giun đũa cần thực hiện các biện pháp phòng trừ tổng hợp và các khâu sau:
Diệt căn bệnh ở cơ thể lợn
Tẩy giun 3 tháng một lần Sau khi tẩy vệ sinh tốt, cho ăn chín thì một đời lợn bột chỉ cần tẩy một lần vào lúc tách mẹ
Đối với lợn có chửa và đang nuôi con và lợn con theo mẹ thì không tẩy Đối với lợn nuôi tập chung thì 3 - 4 tháng tẩy một lần cho tất cả lợn ở diện tẩy
Phải giữ vệ sinh, không cho lợn uống nước và ăn thức ăn bẩn, nếu cho ăn rau bèo sống thì phải rửa sạch Không thả rông lợn, làm hố xí cho người, làm chuồng nuôi và hố ủ phân cho lợn (Trịnh Văn Thịnh, 1977) [32]
Trang 31Ngăn chặn không cho con vật ốm tái nhiễm, chăm sóc nuôi dưỡng tốt,
bổ sung đầy đủ dinh dưỡng, đưa con vật ra khỏi nơi có bệnh, tiêu độc chỗ đó trước khi cho vật nuôi vào lại
Hướng mới trong việc chữa bệnh ký sinh trùng là tìm những thuốc có
hiệu lực chống được nhiều loài ký sinh trùng như: Mebendazole có tác dụng
tẩy nhiều loài giun tròn Sau đây là một số loại thuốc dùng điều trị giun tròn đường tiêu hoá lợn:
Hanmectin - 25: Dung dịch tiêm Ivermectin 0,25%, tên khác Uvomec, Ecomectin, Doramectin Thành phần trong 100ml dung dịch vô trùng Ivermectin 250mg, dung môi và chất bảo quản vừa đủ 100ml, tác dụng diệt cả
nội ngoại ký sinh trùng trên tất cả các loại gia súc, nó gây tê liệt các loại giun tròn ký sinh trong đường ruột, dạ dày Liều dùng: Tiêm dưới da, liều cơ bản chung cho các loại gia súc là 0,2mg Ivermectin/kg thể trọng Đối với lợn 1,2ml/10kg thể trọng
Levamisol: Là thuốc chống giun tròn phổ tác dụng rộng trên nhiều loài
vật chủ (dê, cừu, lợn, gà…) Ưu điểm của thuốc chủ yếu là có tác dụng tốt để điều trị các bệnh giun tròn đường tiêu hoá, nó có thể ở dạng viên, cho uống hay bổ sung vào thức ăn hoặc dùng để tiêm dưới da Thuốc có tác dụng đối với cả ấu trùng và giun trưởng thành Hiệu lực từ 90 - 100%
Mebendazol: Là thuốc chủ yếu tẩy giun tròn nhưng có thể tẩy được một
số sán dây ký sinh ở đường ruột Thuốc có tác dụng rộng diệt cả ấu trùng và
Trang 32giun trưởng thành thông qua sự ức chế, sự hấp thu Glucoza, Glucozen, giảm
ATP và gây liệt các hệ cơ của ký sinh trùng và từ đó chúng bị tống ra ngoài
Thành phần: Trong 100gr bột chứa (10gr Mebendazol) tá dược và chất bảo
quản vừa đủ 100gr Liều dùng cho lợn là 2 gr/10kg thể trọng (Nguyễn Đức Lưu và cs, 2004) [23]
Ivermectin 0,25%, tên khác Uvomec, Ecomectin, Doramectin… thành phần trong 100 ml dung dịch vô trùng Ivermectin 250 mg, dung môi và chất
bảo quản vừa đủ 100 ml, tác dụng diệt cả nội ngoại ký sinh trùng trên tất cả các loại gia súc, nó gây tê liệt các loại giun tròn ký sinh trong đường ruột, dạ dày Liều dùng: Tiêm dưới da, liều cơ bản chung cho các loại gia súc là 0,2mg
Ivermectin/ kg thể trọng Đối với lợn 1 ml/7-8 kg thể trọng
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Phạm Sỹ Lăng và cs (1995) [8], lợn ở nước ta chủ yếu bị nhiễm giun đũa và sán lá ruột, do vậy cần chọn những thuốc đồng thời tẩy được cả 2 loại
giun trên, tác giả cũng đưa ra khuyến cáo nên sử dụng Dipterex đáp ứng yêu
cầu vừa tẩy giun đũa vừa tẩy sán lá ruột là hai loại giun sán nguy hiểm nhất cần phòng trị đầu tiên trong hệ thống giun sán ở nước ta
Phạm Văn Khuê và cs (1975) [4], nghiên cứu về khu hệ quy luật phân
bố và biến động nhiễm giun sán theo lứa tuổi ở lợn tại một số tỉnh như Quảng Ninh, Hà Bắc, Thanh Hoá, Hải Dương, Hà Nam, Hà Tĩnh, Yên Bái đã xác định được lợn nhiễm 4 lớp giun sán với tổng số 17 loài
Năm 1975 - 1979 điều tra bằng xét nghiệm phân ở 10 địa điểm thuộc 10 vùng địa lý khác nhau trong những điều kiện chăn nuôi khác nhau trên khoảng 2000 con lợn cho thấy tỷ lệ nhiễm giun đầu gai
(Macracanthoruynobis hirudinageus) là 0,18%, giun tóc (Trichocefalictae) là 2,3%, giun đũa là 56%, các loại giun xoăn (Strongilata) là 3,25% Tuổi lợn
nhiễm các loại giun tròn nặng nhất là từ 2 - 4 tháng tuổi trên một tỷ lệ nhiễm chung là 49 - 65,9% Qua mổ khám thấy các loại giun sán chính ở lợn là:
Ascaris suum, Metastrongylus enlongatus, Trichoris suis, Oesophagostomum dentatum… (Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh, 1978) [28]
Trang 33Trịnh Văn Thịnh (1977) [32], giun đũa gây thiệt hại nặng ở lợn con, làm cho lợn con chậm lớn, trọng lượng giảm 30 - 50% nếu bị nhiễm nhiều giun và không được nuôi dưỡng tốt thì lợn con chết nhiều Lợn từ 2 - 6 tháng tuổi thường bị nhiễm giun đũa nhiều nhất Lợn nhiễm giun lươn với tỷ lệ khá cao
từ 18 - 45% tuỳ vùng, nhất là những cơ sở nuôi lợn tập chung, nếu nuôi phân tán (chăn nuôi gia đình) tỷ lệ nhiễm thấp hơn khoảng từ 3 - 5%, tỷ lệ nhiễm giun lươn theo tuổi như sau: ≤2 tháng tuổi: 63,5%; > 3 - 4 tháng tuổi: 21,4%; > 5 - 6 tháng tuổi: 5%; > 7 - 8 tháng tuổi: 6,9%; > 8 tháng tuổi: 7,5%
Điều tra tình hình nhiễm giun tóc lợn ở Hà Nội thấy, tỷ lệ nhiễm là: 4,3
- 30% từ 2 - 6 tháng tuổi, 0,56 - 7,8% đối với lợn trên 6 tháng tuổi, lợn nhỏ hơn 2 tháng tuổi không có giun tóc, vệ sinh tốt tỷ lệ nhiễm thấp 2,5%, chăn nuôi kém tỷ lệ nhiễm 23%
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [7], tỷ lệ và mức độ nhiễm giun đũa
Ascaris suum ở lợn bình thường và lợn tiêu chảy của huyện Đồng Hỷ là: Ở lợn
có trạng thái phân bình thường có 34/94 lợn nhiễm chiếm 36,17%, trong đó nhiễm ở mức nhẹ có 24/38 lợn nhiễm, chiếm 70,59%, nhiễm ở mức trung bình
có 10/34 lợn nhiễm, chiếm 29,41%, không có lợn nào nhiễm ở mức nặng Ở lợn
bị tiêu chảy có 42/101 lợn nhiễm, chiếm 41,58%, trong đó nhiễm ở mức nhẹ có 26/42 lợn nhiễm, chiếm 61,90%, lợn nhiễm ở mức trung bình có 11/42 lợn, chiếm 26,19%, lợn nhiễm ở mức nặng có 5/42 lợn, chiếm 11,90%
Tỷ lệ và mức độ nhiễm giun lươn Strangyloides ransomi ở lợn bình
thường và lợn tiêu chảy của huyện Đồng Hỷ là: Ở lợn có trạng thái phân bình thường có 47/94 lợn nhiễm chiếm 50%, trong đó nhiễm ở mức nhẹ có 28/47 lợn nhiễm, chiếm 59,57%, nhiễm ở mức trung bình có 19/47 lợn nhiễm, chiếm 40,43%, không có lợn nào nhiễm ở mức nặng Ở lợn bị tiêu chảy có 82/101 lợn nhiễm, chiếm 81,19%, trong đó nhiễm ở mức nhẹ có 45/82 lợn nhiễm, chiếm 54,88%, lợn nhiễm ở mức trung bình có 34/82 lợn, chiếm 41,46%, lợn nhiễm ở mức nặng có 3/82 lợn, chiếm 3,66%
Lợn bình thường nhiễm giun tóc 23,01%, giun kết hạt 20,86%, tỷ lệ nhiễm tương ứng ở lợn tiêu chảy là 27,02% và 23,85% Mức độ nhiễm giun tóc và giun kết hạt ở lợn tiêu chảy nặng hợn so với lợn bình thường
Trang 34Từ kết quả nghiên cứu trên tác giả kết luận: lợn bình thường và lợn tiêu chảy đều có ký sinh trùng đường tiêu hóa ký sinh, song nhìn chung tỷ lệ và mức độ nhiễm của lợn tiêu chảy cao hơn rõ rệt so với lợn bình thường Lợn bình thường nhiễm giun đũa (31,90%), giun lươn (39,26%), giun tóc (23,01%), giun kết hạt (20,86%) Ở lợn tiêu chảy, các tỷ lệ nhiễm tương ứng là: 34,19%; 55,46%; 27,01% và 23,85%
Theo Nguyễn Thị Lê (1998) [18], đặc tính thức ăn của vật chủ ảnh hưởng rất lớn đến ký sinh trùng đường ruột và nội ký sinh trùng khác theo 2 hướng như thức ăn được động vật nuốt phải từ đất hoặc cây cỏ đã bị nhiễm bẩn với các dạng ấu trùng cảm nhiễm, mà các dạng ấu trùng này có thể thích nghi với đời sống ký sinh ở ruột Mặt khác, có thể thấy rằng thức ăn có thành phần hoá học giống với môi trường đường ruột tạo điều kiện thuận lợi cho sự dinh dưỡng của vật chủ với vật ký sinh
Phạm Sỹ Lăng và cs (1997) [9] cho thấy: Tình hình nhiễm giun kết hạt tăng dần theo tuổi do lợn con có sức đề kháng tốt đối với giun kết hạt: < 2 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 39,2%; 5 - 7 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 72,1%; > 8 tháng tuổi tỷ
lệ nhiễm 73,3%
Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [16], điều tra mổ khám lợn ở 7 tỉnh miền Bắc và miền Trung kết quả như sau: Tỷ lệ lợn nhiễm giun đũa từ 13 - 43% với cường độ nhiễm trung bình từ 3,0 - 21,5 con/lợn Tỷ lệ nhiễm giun tóc từ 12,5 - 40,3% với cường độ nhiễm cao có trường hợp thấy 1219 con giun tóc ở ruột già của 1 lợn
Tác giả còn cho biết: Do giun tóc lợn và loài giun tóc gây bệnh cho người có rất nhiều điểm giống nhau về mặt hình thái Do vậy, bệnh này ở lợn
có thể lây sang người, người nhiễm bệnh một cách tự nhiên do nuốt trứng giun tóc của lợn chứa ấu trùng Sau khi vào ruột người, ấu trùng phát triển thành giun tóc trưởng thành cư trú ở ruột già và gây ra bệnh giun tóc ở người Sau khi trứng giun tóc lợn được bài xuất ra ngoài qua phân người lại có khả năng gây nhiễm lại cho lợn (tỷ lệ trứng phát triển chỉ có 11% so với trứng của lợn có tỷ lệ phát triển là 86%)
Phạm Sỹ Lăng và cs (1997) [9], thức ăn thiếu sinh tố A làm cho lợn con dễ bị viêm phổi do giun đũa gây ra
Trang 35Theo Nguyễn Văn Nội và cs (1978) [24], đã thí nghiệm trên 7 con lợn, qua 66 ngày theo dõi các tác giả thấy với liều 10000 trứng giun đũa người gây nhiễm nhân tạo cho lợn, không thấy lợn có biểu hiện triệu chứng khác thường, vẫn khỏe mạnh, tăng trọng nhanh Kết quả mổ khám 2 lợn và xét nghiệm phân của 5 lợn không thấy giun đũa và trứng giun đũa, chứng tỏ lợn không nhiễm giun đũa người
2.2.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài
Miaxinkova E.A và Agrinzonxki P.A (1993) chứng minh, lợn con 3 tháng tuổi mắc bệnh giun đũa tăng trọng không bằng 1/3 lợn khỏe Takate (1951) đã thí nghiệm: Lấy trứng giun đũa lợn gây nhiễm cho 19 người lớn thì
có 7 người bị nhiễm Mozgovoi (1953), ngoài người ra còn có 10 loài động vật khác nhau như lợn, chó,… cũng nhiễm trứng giun đũa người Vì vậy tác giả thừa nhận, giun đũa lợn và giun đũa người không cùng một loài Xét về mặt dịch tễ, ở một khu vực lợn nhiễm giun đũa với tỷ lệ rất cao nhưng người nhiễm không cao Điều đó chứng tỏ, giun đũa lợn và giun đũa người là hai loài khác nhau, không có liên quan trực tiếp
Theo Anderdanl (1957) [37], nếu cho lợn nhiễm trứng giun đũa sau 5 ngày lại cho nhiễm mầm bệnh suyễn thì bệnh tích gây ra ở phổi gấp 10 lần so với lợn bị suyễn đơn thuần
Skarjabin K.I (1977) [38] nhấn mạnh: trứng giun lươn phát triển thành
ấu trùng rất nhanh, vì vậy phân thải quá 6 giờ thì không những soi phân tìm được trứng giun mà còn có thể tìm được cả ấu trùng theo phương pháp Baerman
Theo Bowman D.D (1999) [39] những tổn thương do giun lươn gây ra
ở ruột non cũng như tác động của độc tố đã dẫn đến quá trình viêm và rối loạn chức năng tiêu hóa Triệu chứng phụ thuộc vào cường độ nhiễm Nếu bệnh nhẹ có thể triệu chứng không thể hiện rõ, khi lợn bị nhiễm nặng thì thấy ỉa chảy, mệt mỏi, thiếu máu, niêm mạc nhợt nhạt, con vật chậm lớn, có thể dẫn đến kiệt sức và chết
Moncol D.J và cs (1978) cho rằng: tỷ lệ lợn trong vòng 1 năm tuổi mắc bệnh giun lươn là khá cao Lợn tuổi cao hơn vẫn nhiễm nhưng thường nhiễm
ở mức độ nhẹ, biểu hiện lâm sàng lợn mắc bệnh mệt mỏi, ỉa chảy và kiệt sức
Trang 36Lợn con bị bệnh rất chậm lớn so với lợn không bị mắc bệnh Đôi khi còn thấy
có triệu chứng khó thở, ho và chết ở lứa tuổi từ 4 - 6 tuần tuổi
Trianta Phyllou A.C (1977) cho biết: ở những lợn con bú sữa đầu của lợn nái mang giun lươn, đến ngày thứ tư sau khi để trong phân đã có trứng giun lươn, mổ khám đã thấy trong ruột non có giun trưởng thành, cho nên phương pháp phòng bệnh phải được áp dụng cho cả lợn nái trước khi đẻ
Klexov N.D và Xkulikoe N (1931) đã chữa bệnh giun kết hạt lợn và cho rằng, phương pháp hiệu lực hơn cả là dùng dung dịch pha loãng 0,8 - 1 g iod trong 100 ml nước
Theo Miax E.A - Nikova (1937), có thể tẩy giun kết hạt cho lợn bằng cách thụt 0,5% foramlin với liều 2000 ml cho 1 lợn nặng 124 - 140 kg Chữa bằng foramlin nên tiến hành ở nền chuồng nghiêng 30 - 400C để đầu thấp hơn phía sau, làm như vậy thì thuốc ngấm nhiều nhất trong ruột già tức là ngấm nhiều ở chỗ giun ký sinh
Kyobekga MB (1979) đã dùng piferazin cho 86 lợn con ở lứa tuổi 2
tuần tuổi, trộn với thức ăn liều 26 mg/kg thể trọng bằng cách chia nhóm mỗi ngày, trong 45 ngày liền Trong lô đối chứng, tác giả đã dùng 103 lợn có độ tuổi và khối lượng tương đương ở các điều kiện chăm sóc tương tự Kiểm tra giun sán trong phân của lợn con tuổi 2,5 - 3 tháng tuổi, những con non ở trên sân chơi mà đất bị nhiễm trứng giun đũa, giun kết hạt, giun tóc và các loại
giun khác Tác giả xác định, hiệu lực phòng bệnh của thuốc piferazin đối với
giun đũa là 67,2%, với giun tóc là 16,4% và đối với giun kết hạt là 30% Mức
độ an toàn của những lợn con ở nhóm thí nghiệm ở độ tuổi 4 tháng là 74,7%
Johanes Kafuman (1996) [40] cho biết: Sự lây nhiễm giun tròn cho lợn con có thể được ngăn chặn bằng cách điều trị cho lợn mẹ trước khi đẻ
Bezimidazole, Febatel và Levamisol có tác dụng hữu hiệu để chống lại sự lây nhiễm Ivermectin (300 μg/kg thể trọng) dùng cho lợn trưởng thành,
dùng trước khi đẻ 1 - 2 tuần có thể kiểm soát được sự lây nhiễm cho lợn con sau khi sinh
Urquahart và cs (1996) [41] cho thấy, thời gian nở của trứng giun lươn
có liên quan đến nhiệt độ: Ở nhiệt độ 20 - 300C, mất 5 - 6 giờ trứng nở thành
ấu trùng Ở nhiệt độ 10 - 120
C, mất 15 giờ, nhiệt độ thấp làm cho trứng ngừng phát triển Ở nhiệt độ - 90C và trên 500C làm cho trứng bị chết
Trang 37Theo Alicata (1935): Ấu trùng Oesphagostomum dentatum có sức đề
kháng tốt với nhiệt độ, để ở -19 đến -29 qua 10 ngày ăn uống
Theo R.X.Chebotarev, V.V.arkhipor và V.R.koloxkocva (1945), I.A.Serbovits(1948) và A.F.Noxk(1949) đã chứng minh PHENOHIAZIN có hiệu lực chữa Oesophagostomum Dentatum cho lợn
Theo K.M.Miaxinikova (1946) : Khi nghiên cứu cảm nhiễm cứu cảm
nhiễm thực nghiệm cho lợn con bằng ấu trùng Oesophagostomum dentatum
đã chỉ rõ: Sự tạo thành các hạt ký sinh trong thành ruột xảy ra vào hai ngày sau khi cảm nhiễm Đến ngày thứ 20 những ấu trùng này ra khỏi các hạt và vào ruột, ở đây chúng phát triển thành giun trưởng thành vào thứ 43
Theo K.M.Miaxinikova (1937): Chứng minh hiệu quả thụt 0,5% Focmalin với liều 2000ml cho một lợn nặng 124 - 140kg Chữa bằng focmalin nên tiến hành ở chỗ nhốt đặc biệt, nền chuồng nghiêng 30- 40, để đầu lợn thấp hơn phần thân sau Như vậy thuốc ngấm được nhiều nhất trong ruột già, tức là ngấm nhiều nhất vào chỗ giun ký sinh
M.D.Klexov và N.X.Kulikov (1931) cho rằng phương pháp có hiệu lực hơn cả là dùng dung dịch Iot pha loãng (0,8-1gr Iot trong 100ml nước)
Hiraishi (1928), Bore (1935) đã gây nhiễm giun đũa người cho lợn khi lợn ăn thiếu vitamin A
Soulsby (1926) đã gây nhiễm cho lợn mới đẻ không bú sữa đầu đối với trứng giun đũa người
Takate (1951) lấy trứng giun đũa lợn gây nhiễm cho 19 người lớn thì có
7 người bị nhiễm Theo Mozogovoi (1953) thì ngoài người ra còn 10 loài động vật khác như lợn, chó, cũng nhiễm giun đũa người
D.J Mohcol (1966) ở những con lợn cho bú sữa đầu của lợn nái, ngày thứ 4 sau đẻ thấy trong phân đã có trứng Strongyloides Ransomi, và khi mổ khám thì tìm thấy giun trưởng thành
Theo viện sỹ Zavadovxki M.M, lớp vỏ trong của giun đũa có cấu trúc lipoit và lớp vỏ ngoài - protein Lớp vỏ lipoit bên trong không thẩm thấu đối với các muối và phần lớn các chất hữu cơ Vì vậy, trứng giun đũa không chết trong các dung dịch thủy ngân , sulphat đồng, sunphat kẽm, natri nitrat … Lớp vỏ này chỉ thẩm thấu với các chất hòa tan lipoit, do đó trứng giun đũa
Trang 38diệt trong các axit béo, axetol … Vỏ protein bên ngoài bảo vệ trứng giun đũa khỏi ảnh hưởng nhiệt độ cao và thấp Nhờ khả năng bảo vệ như thế của các lớp vỏ trong và ngoài mà trứng giun đũa có thể sống ở ngoài tự nhiên trong vòng mấy năm Một số loài thực vật có tác dụng làm giảm khả năng cảm nhiễm của giun đũa Nếu cho lợn ăn liền 3 - 4 tuần, mỗi ngày 1 - 2 kg các thứ cây sau đây:cỏ ba lá trắng (Trifolium Renpens), cỏ ba lá đỏ (Lupinus) thì có thể giảm số lượng lợn con cảm nhiễm giun từ 30- 40%
Theo Hall (1977) [42], gia súc bị chết là những độc tố gây rối loạn về bệnh lý cho thể ký chủ