1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế nông hộ các xã vùng ven lòng hồ thủy điện huyện na hang tỉnh tuyên quang

68 626 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế nông hộ các xã vùng ven lòng hồ thủy điện huyện Na Hang tỉnh Tuyên Quang
Trường học Trường Đại Học Tuyên Quang
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Tuyên Quang
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 630,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khóa Luận cực hay và bổ ích !!!!!!!

Trang 1

PHẦN I:

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài:

Sau hơn 15 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến mạnh mẽ Nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung đã được nhường chỗ cho nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự điều tiết của Nhà nước Cơ chế mới đã tạo ra động lực thúc đẩy kinh tế Việt Nam phát triển mạnh mẽ Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã được nhường chỗ ho nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự điều tiết của Nhà nước Đặc biệt là nền kinh tế nông nghiệp đã có những bước nhảy vượt bậc mà nền kinh tế hộ nông dân đóng vai trò quyết định

Kinh tế hộ nông dân nước ta đã đạt được những thành quả to lớn, góp phần quan trọng tạo nên sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế đất nước Khai thác có hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp- nông thôn, phát huy những lợi thế vốn có của đất nước, tạo công ăn việc làm, từng bước làm tăng thu nhập cho lao động làm nông nghiệp là những mục tiêu mà kinh tế hộ nông dân nước nhà về cơ bản đã làm dược trong thời gian qua Tuy nhiên, cũng từ những kết quả đạt được đó, trên con đường phát triển kinh tế hộ nông dân nước ta đã và đang đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi chúng

ta làm tốt hơn nữa trong thời gian tới như ruộng đất cho người nông dân, vốn, tín dụng cho hộ nông dân, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, thị trường cung ứng đầu tư vào, đầu ra, nâng cao trình độ tay nghề, kiến thức cho người lao động trong nông nghiệp nông thôn

Na Hang là một huyện miền núi nằm ở đầu nguồn sông Gâm phía cuối Tỉnh Tuyên Quang Cũng như các huyện miền núi khác, Na Hang là một huyện thuần nông với hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp của huyện là kinh tế hộ nông dân Nông nghiệp là ngành luôn đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế của toàn thể nhân dân và

hộ nông dân cũng luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số hộ gia đình có

Trang 2

trong toàn huyện Tuy nhiên, với dự án “ Xây dựng thủy điện Tuyên Quang” của chính phủ được xây dựng trên địa bàn huyện được khởi công

từ 22/12/2002 và hoàn thành năm 2008 với diện tích mặt mặt nước lên tới hơn 8000 ha và đã phải giải tỏa rất nhiều đất sản xuất của các hộ nông dân sinh sống ven long hồ Nền sản xuất nông nghiêp kinh tế hộ nông dân gặp nhiều khó khăn với những nguyên nhân như thiếu đất sản xuất, khó khăn trong viêc tìm ra hướng sản xuất trong hoàn cảnh mới…Từ những vấn đề bức xúc thực tế hiện nay trong phát triển kinh tế của địa phương

em đã chọn đề tài:

“ Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế nông hộ các xã vùng ven lòng hồ thủy điện huyện Na Hang- Tỉnh Tuyên Quang”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung

Thông qua quá trình thực tập tại địa phương nghiên cứu, đánh giá những thực trạng và tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân tại huyện

từ đó đưa ra những giải pháp mang tính thiết thực nhằm giải quyết các vấn đề khó khăn, thúc đẩy phát triển kinh tế nông hộ tại huyện trong thời gian tới

1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

- Thu thập, phân tích và đánh giá thực trạng kinh tế nông hộ tại vùng lòng hồ huyện Na Hang

- Tìm hiểu thuận lợi khó khăn nắm bắt được tâm tư nguyện vọng của người dân tại vùng ven vòng hồ thủy điện trong vấn đề phát triển kinh tế hộ gia đình

- Đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế cho người dân tại vùng

ven lòng hồ thủy điện Na Hang

1.3 Ý nghĩa của đề tài

Trang 3

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Giúp cho sinh viên phần nào thấy được những khó khăn cũng như tiềm năng, nguồn lực tại địa bàn nghiên cứu, từ đó có những giải pháp nhằm phát triển kinh tế nông thôn tại địa phương

- Quá trình thực hiện đề tài thực tập sẽ nâng cao năng lực cũng như rèn luyện kỹ năng, phương pháp nghiên cứu khoa học cho bản thân mỗi sinh viên

- Đề tài cũng được coi là một tài liệu tham khảo cho Trường, Khoa, các

cơ quan trong ngành và sinh viên các khóa tiếp theo

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở lý luận của đề tài

2.1.1.Một số khái niệm

2.1.1.1 Các khái niệm về hộ:

Trang 4

Trong điều 107 dự thảo ghi: “Hộ gia đình mà các thành viên cùng

đóng góp công sức, tài sản chung để hợp tác kinh tế chung trong hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc trông một số lĩnh vực kinh doanh khác do pháp luật quy định, là chủ thể trong các quan hệ dân sự đó; hộ gia đình mà đất ở được giao cho nông hộ cũng là chủ thể trong quan hệ dân sự liên quan đến đất ở đó”

Liên hiệp quốc cho rằng: “Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”

Tại cuộc thảo luận quốc tế lần thứ IV về quản lý nông trại tại Hà

Lan năm 1980 đưa ra khái niệm: “Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có

có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu dùng và hoạt động khác”

Có quan niệm lại cho rằng hộ sản xuất là một đơn vị kinh tế mà các thành viên dự trên cơ sở kinh tế chung,các nguồn thu nhập có các thành viên cùng sang tạo ra và cùng sử dụng chung.Quá trình sản xuất hộ được tiến hành một cách độc lập và các thành viên của hộ thường có cùng huyết thống,thường cùng sống chung một ngôi nhà.Hộ cũng là một đơn vị để tổ chức lao động,tồn tại như một đơn vị kinh tế cơ sở với chế độ tự cấp,tự túc,tự sản,tự tiêu

Trên góc độ ngân hàng , “ Hộ sản xuất” là một thuận ngữ được dùng trong hoạt động cung ứng vốn tín dụng cho hộ gia đình để làm kinh tế chung cho cả hộ

Hiện nay trong các văn bản Việt Nam, hộ được xem như một chủ thể trong các quan hệ dân sự do pháp luật quy định và được định nghĩa là một đơn vị mà các thành viên có hộ khẩu chung, tài sản chung và hoạt động kinh tế chung

2.1.1.2 Các khái niệm về hộ nông dân:

Tác giả Frank Ellis định nghĩa như sau: “ Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn Nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thụ trường và có xu hướng hoạt động với không hoàn hảo cao”

Trang 5

Ở Việt Nam theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993) cho

rằng: “ Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”

2.1.1.3 Các khái niệm về kinh tế hộ nông dân

Theo “Kinh tế hộ nông dân” xuất bản năm 2002 của TS.Đỗ Văn

Viện và Th.S Đặng Văn Tiến thì “Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội Trong đó các nguồn lực sản xuất như đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của

ăn chung để tiến hành sản xuất, có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà,

ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh là tùy thuộc vào chủ

hộ Được nhà nước thừa nhận và tạp điều kiện để phát triển”

Theo GS – TS Trần Đình Đằng “ Kinh tế hộ nông dân là một hình thức kinh tế cơ bản và tự chủ trong nông nghiệp, được hình thành và tồn tại khách quan lâu dài trên cơ sở sức lao động, đất đai và tư liệu dản xuất khác của gia đình là chính” Ông cũng đã nghiên cứu về thực trạng

kinh tế hộ gia đình của các nước trên thế giới và Việt Nam, định hướng

và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ, lựa chọn thị trường, tổ chức các điều kiện để tiêu thụ sản phẩm

2.1.2 Đặc trƣng hộ nông dân

Kinh tế hộ nông dân gồm có 6 đặc trưng sau:

- Có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu, quá trình quản lý

và sử dụng các yếu tố sản xuất Sở hữu trong hộ nông dân là sở hữu chung, có nghĩa là mọi thành viên trong hộ đều có quyền sở hữu chung với những tư liệu vốn có, cũng như các tài sản khác của hộ Mặt khác do dựa trên cơ sở kinh tế chung và có cùng chung một ngân quỹ nên mọi người trong hộ đều có ý thức trách nhiệm rất cao và việc bố trí sắp xếp công việc cũng rất linh hoạt, hợp lý Từ đó dẫn đến hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nông hộ rất cao

Trang 6

- Lao động quản lý và lao động trực tiếp có sự gắn bó chặt chẽ trong nông hộ, mọi người thường gắn bó với nhau theo quan hệ huyết thống, kinh tế nông hộ lại tổ chức với quy mô nhỏ hơn các loại hình kinh doanh khác nên việc điều hành quản lý cũng đơn giản hơn Trong nông

hộ chủ hộ vừa là người điều hành, người quản lý sản xuất vừa là người trực tiếp tham gia lao động sản xuất, dẫn đến tính thống nhất giữa lao động trực tiếp và lao động quản lý là rất cao

- Kinh tế hộ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh rất cao Do kinh tế hộ có quy mô nhỏ nên dẽ điều chỉnh hơn so với các doanh nghiệp nông nghiệp khác Nếu gặp điều kiện thuận lợi hộ có thể tập trung mọi nguồn lực vào sản xuất để mở rộng san xuất, khi gặp điều kiện bất lợi họ

có thể dễ dàng thu hẹp quy mô, thậm trí có thể trở về sản xuất tự cung, tự cấp

- Có sự gắn bó chặt chẽ giữa kết quả sản xuất với lợi ích người lao động Trong kinh tế hộ mọi người gắn bó với nhau trên cả cơ sở kinh tế lẫn huyết tộc và có ngân quỹ chung nên dễ dàng có được sự nhất trí, đồng tâm, hiệp lực để cùng nhau phát triển kinh tế hộ của mình Vì vậy có sự gắn bó chặt chẽ giữa kết quả sản xuất với người lao động Lợi ích kinh tế

đã thực sự trở thành động lực thúc đẩy hoạt động của mỗi cá nhân, là nhân tố nâng cao hiệu quả sản xuất của kinh tế hộ

- Kinh tế hộ là đơn vị sản xuất nhỏ nhưng lại rât hiệu quả, quy mô nhỏ nhưng lại không đồng nghĩa với sự lạc hậu, năng suất thấp Trên thực tế nông hộ vẫn có thể áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới để nâng cao năng suất lao động Trong thực tế đã chứng minh nông hộ là đơn vị sản xuất kinh doanh thích hợp nhất với đặc điểm trong sản xuất nông nghiệp

- Kinh tế hộ nông dân sử dụng các lao động và tiền vốn của chủ hộ

là chủ yếu

2.1.3 Phân loại hộ nông dân

Trang 7

2.1.3.1 Phân loại theo tính chất ngành nghề sản xuất

- Hộ thuần nông: Chỉ sản xuất thuần túy là nông nghiệp, loại hộ này đang có xu hướng giảm

- Hộ nông nghiệp ngành nghề: ngoài sản xuất nông nghiệp còn thêm một số ngành nghề như rèn, mộc, buôn bán vật tư nông nghiệp

- Hộ kiêm sản xuất nông nghiệp và dịch vụ: Ngoài sản xuất nông nghiệp họ còn buôn bán các loại hàng hóa phục vụ cho nhu cầu hàng ngày của con người và cho sản xuất nông nghiệp

2.1.3.2 Phân loại theo mục tiêu và cơ chế hoạt động của nông hộ

- Hộ nông dân hoàn toàn tự cung tự cấp không phản ứng với thị trường

bên ngoài, đây là những hộ nông dân tự làm ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu hàng ngày

- Hộ nông dân bắt đầu phản ứng với thị trường: Họ có tham gia vào thị trường nhưng ít

- Hộ nông dân sản xuất hàng hóa là chủ yếu: Họ tham gia mạnh mẽ vào những hoạt động và biến đổi cuat thị trường

2.1.3.3 Phân loại theo mức thu nhập của hộ

Vì vậy với một diện tích đất canh tác có hạn cần có kế hoạch sử dụng sao cho phù hợp để có hiệu quả kinh tế cao nhất

Trang 8

- Vốn đầu tư sản xuất: Vốn là giá trị của toàn bộ đầu tư đầu vào, bao gồm những tài sản, vật phẩm trong kinh doanh Cũng như các ngành sản xuất khác, trong nông nghiệp vốn là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa Vốn quyết định đến quy mô sản suất từ đó ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng đến khả năng khai thác các nguồn vào trong sản xuất Vốn được xếp vào các yếu tố chủ quan vì chủ hộ có quyền huy động hoặc quyết định phân bổ vốn theo chu kỳ sản xuất Vốn được tạo ra từ hai nguồn cơ bản là vốn tự có và vốn vay Việc sử dụng vốn có hiệu quả hay không nó quyết định đến sự phát triển của kinh tế hộ

- Lao động: Lao động là yếu tố cần thiết của mọi quá trình sản xuất, không có lao động thì không thể có hoạt động sản xuất, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp, cũng như đất đai lao động ảnh hưởng đến thu nhập trên

cả hai mặt lượng và chất

+ Mặt lượng của lao động: Thể hiện mức độ đầu tư lao động vào công việc cụ thể Nếu hộ càng nhiều lao động thì thu nhập của hộ càng cao + Mặt chất của lao động: Thê hiện sự hiểu biết của người lao động trong công việc sản xuất kinh doanh của mình, nắm được quá trình sinh trưởng

và phát triển của vật nuôi, cây trồng từ đó có biện pháp tác động, chăm sóc khoa học và mang lại hiệu quả cao Chất lượng lao động còn thể hiện

ở khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, am hiểu thị trường và chính sách của nhà nước thể hiện ở kinh nghiệm trong sản xuất

2.1.4.2 Các yếu tố khách quan

- Thị trường: Thị trường là nơi diễn ra trao đổi hàng hóa, thị trường có tác động rất lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh thông qua cơ chế thay đổi giá cả.Giá cả lại phụ thuộc vào quy luật cung cầu trên thị trường Có hai loại thi trường là thị trường đầu vào và thị trường đầu ra

+ Đối với thị trường đầu ra (Thị trường tiêu thụ sản phẩm, nó phản ánh cung sản phẩm) Trong nông nghiệp cung về sản phẩm thường là cung muộn, hơn nữa sản phẩm trong nông nghiệp thường khó bảo quản, vì vậy rủi ro do thị trường đem lại là rất lớn Bên cạnh đó thị trường cạnh tranh các sản phẩm trong nông nghiệp là thị trường hoàn hảo, nên người nông dân không thể kiểm soát được thị trường, vì vậy sự tác động của thị trường làm cho thu nhập của nông hộ không ổn định

+ Đối với thị trường các yếu tố đầu vào, giá cả đầu vào trên thị trường ảnh hưởng trực tiếp đên chi phí sản xuất của nông hộ, vì thế nó tác động rất lớn đến quy mô sản xuất, đến mức độ đầu tư của nông dân Nếu giá cả đầu vào trong một giai đoạn tăng bất thường sẽ làm cho chi phí đầu tư tăng lên dẫn đến hiệu quả sản xuất giảm xuống

-Điều kiện tự nhiên: Do đối tượng sản xuất nông nghiệp là sinh vật sống trong quá trình sing trưởng và phát triển phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh như khí hậu, thời tiết, môi trương… Nếu gặp điều kiện thuận lợi phù hợp với giai đoạn phát triển của cây trồng vật nuôi thì sẽ cho năng

Trang 9

suất cao và ngược lại Như vậy trong sản xuất nông nghiệp thì điều kiện

tự nhiên là yếu tố quyết định khá lớn đến kết quả sản xuất cây trồng của nông hộ

- Chính sách nhà nước: Chính sách kinh tế là công cụ đắc lực của chính phủ Trong quản lý kinh tế mỗi chính sách ban hành đều có tác động rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh dù lớn hay nhỏ Nếu chính sách đúng đắn phù hợp với điều kiện sản xuất và ngược lại Vì vậy chính sách

có ảnh hưởng tương đối lớn đến sản xuất của nông hộ Trong quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam, Nhà nước đã chứng tỏ được vai trò của mình trong quản lý kinh tế Nó thể hiện rõ nét nhất ở chính sách ruộng đất trong công cuộc đổi mới Chính sách đã làm thay đổi thu nhập của toàn bộ cư dân trong nông thôn Ngoài ra nhà nước còn có những chính sách bảo vệ lợi ích thiết thực của người nông dân như đặt giá trần, giá sàn…

- Ngoài các yếu tố trên, kinh tế nông hộ còn chịu ảnh hưởng của các phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa…

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

2.2.1 Khái quát sự phát triển của kinh tế hộ nông dân trên thế giới 2.2.1.1 Tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân ở các nước trong khu

vực và thế giới

- Hà Lan: là một quốc gia nhỏ, lao động nông nghiệp chiếm 5,7% dân số, hàng năm một lao động nông nghiệp làm ra khối lượng sản phẩm có thể nuôi 112 người và chỉ đứng sau Đan Mạch (160 người) Năm 1960 Hà Lan có 300.000 nông trại, bình quân đất canh tác 9 ha/hộ Những năm gần đây còn 138.000 nông trại, bình quân 16 ha/hộ Các nông trại được tổ chức gọn nhẹ, sử dụng lao động gia đình là chính, chỉ thuê 1-2 lao động trong vòng một tháng vào thời điểm thu hoạch Trong các nông trại có đủ máy móc cần thiết và đạt trình độtiên tiến trên thế giới Nguyên nhân thành công của hộ nông dân Hà Lan là: có đầu óc kinh doanh, biết tổ chức sản xuất, nắm bắt thực tế, yêu lao động, say mê với nghề nông

- Mỹ: quốc gia có nền công nghiệp hung mạnh bậc nhất thế giới, đồng thời là nước điển hình về việc hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp và nông thôn Hàng năm sản xuất nông nghiệp Mỹ tạo ra một khối lượng nông sản đạt giá trị xuất khẩu 36 tỷ USD Quyết định thành công của nền nông nghiệp Mỹ thuộc về các nông trại gia đình Nười Mỹ cho rằng: Nông trại gia đình là linh hồn của nền nông nghiệp Mỹ Năm 1978 Mỹ có khoảng 2,8 triệu nông trại với khoảng 4,4 triệu lao động, năm 1987 còn 2.178.100 nông trại với 3,308 triệu lao động chiếm gần 2% dân số Giảm dần qua các năm, đến năm 1992 còn 1.925.000 nông trại Trong tổng số 1.733.683 nông trại nhỏ thì có tới 1.721.816 là nông trại gia đình chiếm 93,3% Xu

Trang 10

hướng ở Mỹ là giảm số lượng nông trại, tăng nhanh quy mô đất canh tác/nông trại, năm 1940 là 40ha, năm 1950 là 80ha, năm 1960 là 120 ha, những năm gần đây khoảng 150-200 ha Nông trại gia đình Mỹ sở hữu 228.576.692 ha đất canh tác, đại bộ phận các nông trại là của gia đình với

vợ chồng và con cái Có khoảng 85% chủ nông trại tự canh tác trên mảnh đất của mình, còn lại 15% canh tác trên đất thuộc các tập đoàn cong nông nghiệp Hiện nay Mỹ có khoảng 1.797 nông trại là một lớn có trên 10 lao động và sở hữu 4.527.466ha đất canh tác Bên cạnh các nông trại là một

số xí nghiệp nông nghiệp tư sản, đó là những điểm sản xuất và kinh doanh những sản phẩm mà từng nông trại không đủ sức làm và là những ngành nghề có tính chuyên môn hóa cao Trình độ phát triển nông nghiệp

ở Mỹ rất cao, sản phẩm nông nghiệp dồi dào, có khả năng cạnh tranh lớn trên thị trương quốc tế

- Các nước châu Á: Nhật Bản, năm 1970 có 5,3 triệu nông trại, với quy

mô canh tác 1.06 ha/hộ Năm 1885conf 4,2 triệu hộ với quy mô đất canh tác 1,2 ha/hộ Đến năm 1993 còn 3,7 triệu nông trại chủ yếu là nông trại

hộ gia đình Hàn Quốc năm 1953 có 2.249 trang trại nông hộ, những năm gần đây còn 0,3 triệu nông hộ với quy mô trang trại 0,9 ha/hộ Thái Lan với 3,214 triệu nông hộ(1970) tăng 4,5 triệu nông hộ (1990), bình quân ruộng đất 5,6 ha/hộ Trung Quốc với số dân khoảng 1,3 tỷ người trong đó 75% số dân sống ở nông thôn, canh tác trên 93,33 triệu ha đất, bình quân 0,13 ha/người Tổng diện tích gieo trồng 146,46 triệu ha Nông hộ Trung Quốc đã và đang sở hữu 70,4% máy kéo lớn và trung bình, 96,18% máy kéo nhỏ, 74,4% ô tô vận tải dùng trong nông nghiệp, 72,53% máy bơm nước Trung Quốc là nước chủ trương thiết lập ở nông thôn cơ chế kinh doanh hai tầng: Kinh doanh phân tán của kinh tế hộ gia đình nông dân và kinh doanh thông nhất của kinh tế tập thể Năm 19978 thu nhập thuần túy bình quân mỗ nông dân là 134 nhân dân tệ/năm, năm 1990 đã đạt 630 tệ Nếu loại trừ yếu tố giá cả thu nhập tăng 2,2 lần, bình quân hàng năm tăng 10,7% Tuy vậy thu nhập của hộ còn chênh lệch giữa các vùng, dân số tăng quá nhanh, thể chế kinh tế hai tầng và hệ thống dịch vụ nông thôn chưa được kiện toàn, tỷ giá sản phẩm công nghiệp dãn ngày một rộng gây bất lợi cho người nông dân

2.2.1.2 Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ nông dân ở một số nước trên

thế giới

Hà Lan:

Tài nguyên thiên nhiên về nông nghiệp của Hà Lan thiếu hụt Đất ít lại trũng, thường xuyên bị uy hiếp của ngập lụt, nhưng Hà Lan đã tìm tòi, tự khẳng định những lợi thế so sánh của chính mình để phát triển nền nông

Trang 11

nghiệp theo chiến lược của một nền nông nghiệp hướng ra xuất khẩu, dựa vào những ý tưởng sau đây:

- Nâng cao sức cạnh tranh quốc tế:

Hà Lan thông qua chính sách lớn" nhập lớn, xuất lớn " để phát huy lợi thế so sánh tự thân, tăng sức canh tranh quốc tế Trên thị trường thế giới, Hà Lan có nhiều mặt hàng nông sản và hàng thực phẩm có sức cạnh tranh cao Chẳng hạn, ngoài mặt hàng hoa cắt tươi

và củ hoa nổi tiếng thế giới, còn xuất khẩu nhiều chồi giâm và hạt giống hoa, năm 2002 kim ngạch xuất khẩu chồi giâm và hạt hoa đã đạt 122 triệu USD, tăng 43% so với năm trước đó Xuất khẩu các mặt hàng khoai tây,

cà chua, trứng gà, pho mát, bia, đứng hàng đầu thế giới Ngành sản xuất khẩu quan trọng nhất của Hà Lan gồm 3 lĩnh vực: sản phẩm hoa- rau-cây cảnh; thịt; sữa và trứng

- Dựa vào vốn và kỹ thuật cao, trong đó nổi bật nhất là hoa và cây cảnh là những ngành sản xuất đòi hỏi nhiều vốn và kỹ thuật, đồng thời phải có một hệ thống dịch vụ cao cấp mới có thể vận chuyển những mặt hàng này ra nước ngoài Một thí dụ khác là về khoai tây, vốn là một loại

"thực phẩm bình dân" của thế giới, giá cả bình thường, nhưng do Hà Lan tạo được giống khoai tây có kích cỡ đều đặn, vỏ nhẵn bóng được coi là " lương thực thứ hai " được thế giới ưa chuộng, từ đó có thị trường xuất khẩu ổn định, nhất là cung cấp cho nhu cầu chế biến thức ăn nhanh

- Đổi mới phương thức sản xuất, để tăng sức cạnh tranh:

Hà Lan dùng vốn và công nghệ cao để thay thế có hiệu quả nguồn quỹ đất hiếm hoi, sử dụng nhà kính để sản xuất cà chua, dưa, ớt quanh năm, tiết kiệm đất, tăng hiệu suất đất Phương thức sản xuất gà đẻ trứng, lợn thịt cũng được cải tiến để bảo vệ môi trường, đảm bảo yêu cầu sức khoẻ động vật và và chất lượng quốc tế, có hiệu quả cao

- Tăng giá trị gia tăng nhờ vào chế biến sâu:

Trải qua mấy trăm năm cải tiến các công nghệ truyền thống về chế biến pho mát, bơ, sữa tạo được uy tín quốc tế Công nghệ chế biến ca cao,

ca phê từ thời kỳ thực dân vẫn còn phát huy tác dụng trong công nghiệp chế biến hiện nay Nhiều loại nguyên liệu không sản xuất được hoặc thiếu thì dựa vào nhập khẩu, thông qua chế biến sâu, đã vươn ra chiếm lĩnh thị trường thế giới với giá trị gia tăng rất lớn

- Phát triển kết cấu hạ tầng và áp dụng thành tựu cao và mới về khoa công nghệ:

học-Năm 1995, Chính phủ Hà Lan quyết định xây dựng công trình chỉnh trị dòng sông, hoàn thành vào năm 2015, vốn đầu tư 500 triệu Eurô Để phòng chóng thiên tai khắc nghiệt

Nhà nước coi trọng nhiệm vụ cải tạo đất, hàng năm đầu tư 140 triệu Eurô, bình quân 4000 Eurô/ha năm Nhà nước còn tài trợ chỉnh lý đất đai, biến các thửa ruộng nhỏ liên kết thành thửa lớn liền nhau, xây dựng hệ thống

Trang 12

Động mạch lớn của nền kinh tế là mạng lưới giao thông hiện đại được hoàn chỉnh Hà Lan có 2800 km đường sắt, 110.000 km đường bộ, trong

đó có 2400 km đường cao tốc Đường hàng không đứng thứ 9 thế giới, với 80 hãng hàng không có 230 tuyến bay đến khắp các nước Quỹ đất ít, "tấc đất, tấc vàng", Hà Lan đã áp dụng công nghệ "dùng vốn thay đất" Để tạo ra hiệu suất cao của đất, ở Hà Lan, đã hình thành hệ thống nhà kính với công nghệ hiện đại bậc nhất thế giới Nhà kính đã tiết kiệm đất ( thậm chí có nơi không dùng đất ), lại có thể khống chế hoàn toàn điều kiện tự nhiên Trong nhà kính đã lắp đặt các thiết bị hiện đại, tự động hoá, thông qua máy tính và hệ thống máy móc khác để điều chỉnh nhiệt độ, độ ẩm, chiếu sáng, nước, thức ăn trong nhà kính, tạo ra một môi trường ưu việt, loại trừ hoàn toàn các yếu tố bất lợi của điều kiện tự nhiên (Hà Lan vốn là một nước không sản xuất được phong lan, nhưng nhờ nhà kính khắc phục được những trở ngại đến sự sinh trưởng phát triển của hoa lan nhiệt đới, á nhiệt đới, nên những năm gần đây Hà Lan đã sản xuất được 200 triệu hoa lan, đứng thứ 9 thế giới ) Tốc độ phát triển khoa học công nghệ trong nông nghiệp Hà Lan được xếp vào những nước hàng đầu thế giới, đặc biệt là thành tựu tạo giống và nhà kính, với phương thức đầu tư tập trung vốn và chất xám, theo hướng đầu tư cao, thu nhập cao, hiệu suất cao Với quỹ đất ít, Hà Lan áp dụng công nghệ "tăng diện tích đất", tập trung

áp dụng các biện pháp thâm canh cao, nâng cao năng suất trên đơn vị

diện tích, tạo ra năng suất cao gấp nhiều lần năng suất bình quân thế giới

Thái Lan:

Trong những năm gần đây Thái Lan là nước đứng đầu trong xuất khẩu gạo trên thế giới Là một nước có nền nông nghiệp phát triển ổn định Ở Thái Lan kinh tế nông hộ phát triển mạnh và hầu hết là các nông trại sản xuất hàng hóa Để thúc đẩy kinh tế nông hộ phát triển Chính phủ Thái Lan đã có những điều tiết vĩ mô như sau:

- Năm 1977 chính phủ Thái Lan đã đưa ra chính sách đa dạng hóa nền kinh tế theo hướng sản xuất sản phẩm xuất khẩu khuyến khích hộ gia đình vừa chuyển dịch cơ cấu kinh tế vừa nâng cao giá trị nông sản và hàng hóa có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới

- Chính sách giá cả thị trường: Khi giá cả nông sản thấp, chính phủ thường dùng quỹ bình ổn giá bằng cách đặt mức giá tối thiểu, tạo nhu cầu

dự trữ và điều tiết hạn ngạch xuất khẩu gạo, đặc biệt để hạn chế tối đa sự bóc lột của tầng lớp trung gian, thương nhân Chính phủ hạ thấp giá mua vật tư, nâng giá bán buôn nông sản

+ Về mặt thị trường Chính phủ không ngừng nâng cấp và hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải, phát triển hệ thống đại lý tạo nên kênh phân phối hệ thống liên tục từ nông thôn lên thành thị, các thành

Trang 13

phố lớn Tăng cường thông tin thị trường, quảng cáo và tổ chức các khóa đào tạo để nâng cao kiến thức cho người sản xuất

- Chính sách đầu tư cho nông nghiệp: Đầu tư cho nông nghiệp chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng đầu tư của chính phủ và tập chung vào 3 lĩnh vực lớn đó là : đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn đối với các trung tâm kinh tế để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm tươi sống Khoản đầu tư thứ hai mà chính phủ Thái Lan hết sức coi trọng đó là xây dựng hệ thống thủy lợi Bên cạnh đó Chính phủ còn quan tâm cung ứng phân bón cho các nông trại phát triển sản xuất

- Chính sách tín dụng nông nghiệp: Thái Lan là nước khá thành công trong lĩnh vực cung cấp tín dụng nông nghiệp thông qua các tổ chức tín dụng như ngân hàng quốc gia, ngân hàng thương mại, ngân hàng nông nghiệp và các hợp tác xã nông nghiệp Ngoài ra các tổ chức phi Chính phủ khác tham gia cung cấp tín dụng cho nông nghiệp với lãi xuất phù hợp với điều kiện người sản xuất

- Chính sách giải quyết việc làm: Họ giải quyết việc làm trên cơ sở phát triển đa dạng hóa kinh tế nông thôn, quan tâm đến phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề truyền thống

Trung quốc

Thu nhập và phân phối thu nhập tại các khu vực nông thôn:

Tổng thu nhập: Tổng thu nhập của kinh tế nông thôn trong năm 2005 chiếm tới 17.528,9 tỷ nhân dân tệ, tăng 16% so với năm trước đó ( dựa trên giá của năm được quy định

2.2.2 Khái quát sự phát triển kinh tế hộ nông dân ở nước ta

- Trong thời kỳ Pháp thuộc: Ở thời kỳ này, tuyệt đại bộ phận nông dân đi làm thuê cho địa chủ, một bộ phận rất ít nông dân sản xuất hàng hóa nhỏ theo kiểu cổ truyền với kinh nghiệm và kỹ thuật thô sơ Trong thời kỳ này chính phủ đưa ra chính sách giảm tô, giảm tức cho nông dân, động viên tăng gia sản xuất thực hiện tiết kiệm nhờ vậy mà sản lượng quy thóc năm

1954 đạt 3 triệu tấn, tăng 13,7% so với năm 1946

- Từ năm 1955- 1959: Sau khi miền bắc hoàn toàn giải phóng, Đảng và Chính phủ đã thực hiện chính sách cải cách với mục đích “ người cày có ruộng” Năm 1957 cải cách ruộng đất cơ bản đã được hoàn thành Cải cách ruộng đất đã chia 81 vạn hecta ruộng, 74 nghìn con trâu bò cho 2,1 triệu hộ nông dân Kết quả là hộ nông dân có đất canh tác, trâu bò để sản xuất đời sống kinh tế có phần cải thiện

Trang 14

- Từ 1960- 1980: Đây là giai đoạn chúng ta tiến hành cải cách ruộng đất, thực hiện tập thể hóa một cách ồ ạt, xong đây cũng chính là lúc tập thể bộc lộ rõ tính yếu kém của mình, thời kỳ này kinh tế nông hộ không được coi trọng Đây là thời kỳ xuống dốc của nền nông nghiệp nước ta

- Từ 1981- 1987: Chỉ thị 100CT/TW được ban bí thư trung ương Đảng ban hành, quyết định thực hiện chế độ khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động, đây là việc làm có ý nghĩa trong việc thực hiên quyền tự chủ trong sản xuất của hộ nông dân, đời sống nhân dân phần nào được cải thiện, nhờ vậy mà sản lượng lương thực tăng lên liên tiếp ( mỗi năm tăng gần 1 triệu tấn năm 1985 đạt 15.875 triệu tấn)

- Từ 1988 đến nay: Ngày 05/05/1988 Bộ chính trị và Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng đã ban hành Nghị quyết 10 về “ Đổi mới quản lý kinh

tế trong nông nghiệp nông thôn” Thừa nhận kinh tế hộ là đơn vị kinh tế

cơ bản trong sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn đổi mới Hộ gia đình được giao quyền sử dụng đất lâu dài, hộ trở thành đơn vị kinh tế độc lập Từ một nước thiếu lương thực đã trở thành nước xuất khẩu lương thực, năm 1989 xuất khẩu được 1,4 triệu tấn gạo, năm 1990 được 1,6 triệu tấn gạo, đến năm 2003 Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan Kinh tế hộ gia đình đã có những đóng góp lớn cho nền kinh tế nông nghiệp, sản xuất hàng hóa khoảng trên 50%, cà phê 45%, cao su 85%, chè trên 60%, điều trên 90% Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận không nhỏ hộ gia đình đang loay hoay trong cảnh sản xuất tự cấp, tự túc, thậm chí còn nhiều hộ sản xuất tự nhiên, nhất là ở vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Nền kinh tế hàng hóa phát triển cũng đồng thời dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo Về lương thực, thực phẩm tỷ lệ hộ nghèo cả nước là 28,9%, trong đó nông thôn là 35,7% (thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ 22%, cao nhất là vùng Tây Bắc 68,7%)

Hiện nay nước ta có trên 13 triệu hộ nông dân, lực lượng này là nền tảng của nền kinh tế, góp phần đảm bảo an ninh lương thực, giữ vững

Trang 15

an ninh chính trị- xã hội Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc xây dựng mô hình kinh tế hộ sản xuất nông nghiệp hàng hóa là rất cần thiết

2.2.3 Một số mô hình phát triển của kinh tế hộ nông dân

2.2.3.1 Mô hình sản xuất chuyên canh trong nông nghiệp

Chuyên chăn nuôi: Bò sữa; cá, tôm, cua; hươu, trăn, rắn mô hình này đang phát triển mạnh ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH), ven biển miền Trung

Chuyên trồng trọt: Chè, cà phê, cao su mô hình này chủ yếu ở Trung du miền Núi phía Bắc, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ Đây là mô hình các hộ kinh tế làm vệ tinh nguyên liệu cho các doanh nghiệp chế biến

Mô hình hộ gia đình chuyên canh nông nghiệp phù hợp và phổ biến ở gần các đô thị, doanh nghiệp (cao su, chè, cà phê, bông, mía đường hoặc xí nghiệp chế biến giấy) Mô hình kinh tế hộ loại này thường có quy mô lớn, khối lượng hàng hóa nhiều, cho thu nhập ổn định, đời sống người dân được cải thiện Tuy nhiên, dễ gặp rủi ro do giá cả biến động theo thị trường, ảnh hưởng nhiều bởi thời tiết, khí hậu

2.2.3.2 Mô hình sản xuất lúa nước – nuôi cá nước ngọt – chăn nuôi gia cầm

Phát triển chủ yếu ở vùng ĐBSH và ĐBSCL, các tỉnh vùng trũng trồng một vụ lúa không chắc ăn Mô hình này thực sự có hiệu quả Doanh thu nhiều hộ hàng năm đạt hàng trăm triệu đồng, thu nhập đạt hàng chục triệu đồng Đây là những nông hộ cung cấp lượng nông sản hàng hóa lớn cho xuất khẩu, tuy nhiên những vấn đề như dịch bệnh, giá cả bấp bênh và thiếu thông tin về thị trường có ảnh hưởng lớn đến sự bền vững của mô hình

2.2.3.3 Mô hình hộ liên kết chăn nuôi lợn theo phương thức bán công nghiệp – thâm canh lúa, màu

Mô hình này đã và đang phát triển có hiệu quả ở ĐBSH… Loại mô hình này cần có sự liên kết chặt chẽ giữa các hộ, giữa hộ với các chủ thể thu gom, chế biến, xuất khẩu Để mô hình phát triển cần đảm bảo quy trình

kỹ thuật chăn nuôi, phòng trừ dịch bệnh, chuồng trại hiện đại; có giống

Trang 16

lợn và giống lúa tốt Bên cạnh đó các chủ hộ cũng cần xác định quy mô hợp lý, chủ động nguồn thức ăn và nắm chắc thông tin thị trường tiêu thụ

2.2.3.4 Mô hình sản xuất cây giống (cây trồng nông, lâm nghiệp), vật nuôi (lợn giống, gia cầm giống và các giống vật nuôi thủy đặc sản)

Đây là mô hình phát triển sản xuất giống cây trồng ở trung du miền núi (giống cà phê, cao su, chè, cây ăn quả các loại); giống vật nuôi ở ĐBSCL, ĐBSH, ven biển (giống tôm, cua, cá ba ba) Mô hình này rất hấp dẫn về các loại giống mới, đặc sản, giống sạch, có chất lượng và sản lượng cao,

có giá trị trên thị trường trong nước và xuất khẩu Mô hình này cho lãi cao nhưng chủ hộ phải có vốn lớn, nắm vững khoa học và công nghệ (KH&CN), việc nhân rộng không dễ

2.2.3.5 Mô hình nuôi bò sữa – chế biến – tiêu thụ tại chỗ

Mô hình này được phát triển ở ngoại thành Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh hoặc các vùng có khí hậu thuận lợi như Mộc Châu (Sơn La), Vĩnh Phúc, Lâm Đồng Nếu chế biến và marketing tốt, có trang thiết bị hiện đại, tổ chức quản lý tốt, đảm bảo vệ sinh an toàn thì mô hình này sẽ đạt hiệu quả và phát triển bền vững Tuy nhiên, hiện nay mô hình này đang gặp khó khăn do giá cả biến động theo chiều không có lợi cho nông dân

2.2.3.6 Mô hình chuyên canh rau, hoa, quả xuất khẩu dịch vụ thương mại tại nhà

Mô hình này đang phát triển mạnh tại vùng ven thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng), vùng có khí hậu á nhiệt đới: Sa pa (Lao Cai), Lạng Sơn, Cao Bằng, Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Lục Ngạn (Bắc Giang ) Để mô hình này phát triển, các hộ cần nâng cao hơn nữa chất lượng, hình thức, khả năng bảo quản và uy tín trên thị trường

2.2.3.7 Mô hình nông – lâm kết hợp

Loại mô hình này được phát triển rộng rãi ở vùng trung du và miền núi Cây trồng gồm: Cây rừng, đỗ đậu, cây ăn quả, cây dược liệu, cây công nghiệp, cây đặc sản Vật nuôi gồm trâu, bò, lợn, dê, gia cầm, chim, thú rừng… Hoạt động lâm nghiệp gồm: Bảo vệ, khai thác, trồng, sơ chế, chăm sóc, cải tạo rừng… Phương thức canh tác đặc trưng là canh tác trên đất dốc

Hiện nay, một số nơi đã xuất hiện các nghề như dịch vụ du lịch sinh thái, sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu Mô hình này còn khó khăn về vốn, khả năng ứng dụng KH&CN, hạ tầng cơ sở…

Trang 17

2.2.3 8 Mô hình sản xuất nông nghiệp kiêm ngành nghề tiểu thủ công nghiệp

Mô hình này thường hoạt động thành làng, gần đây có nơi đã phát triển thành quy mô nhiều làng, xã Dù hoạt động tiểu thủ công nghiệp có phát triển, nhưng đa phần các hộ gia đình đều không quên giữ đất để sản xuất

và chăn nuôi nhằm tự túc lương thực, thực phẩm Mô hình này đang có những tồn tại về mặt bằng sản xuất, gây ô nhiễm môi trường, rất cần có quy hoạch lại

2.2.3.9 Mô hình sản xuất – kinh doanh tổng hợp

Mô hình này hình thành ở các thị tam, thị tứ hoặc các trung tâm cụm xã theo đầu mối giao thông Sản xuất nông lâm nghiệp – kinh doanh tổng hợp là mô hình kinh tế hộ ngày càng có hiệu quả ở nhiều địa phương, nhất là ở các tỉnh trung du, miền núi

Xu hướng phát triển các hộ gia đình này sẽ thành các trang trại gia đình hoặc doanh nghiệp tư nhân Đồng thời với quy mô và có vốn lớn, các hộ này còn kinh doanh phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, vật liệu xây dựng hoặc thu gom, chế biến sản phẩm

PHẦN III

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các hộ dân thuộc các xã vùng ven lòng hồ thủy điện huyện Na Hang- tỉnh Tuyên Quang

3.2 Phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Phạm vi nội dung

Trang 18

- Tình hình sản xuất kinh doanh của nông hộ

- Tình hình sử dụng các nguồn lực của nông hộ

- Tìm hiểu các giải yếu tố tác động đến kinh tế hộ nông dân để đưa

ra giải pháp phát triển cho tương lai

3.2.2 Thời gian nghiên cứu

- Số liệu về tình hình sản xuất được thu thập trong giai đoạn

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

3.3.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

- Các thông tin, số liệu thứ cấp được thu thập từ các bài báo, bài viết, các báo cáo, các văn bản đã được công bố Trong quá trình xử lý tài liệu em

có chọn lọc và loại bỏ những thông tin, số liệu không cần thiết trên cơ sở tôn trọng tài liệu gốc

3.3.1.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

- Tiến hành điều tra thu thập số liệu về tình hình sản xuất kinh doanh của

các hộ nông dân tại địa bàn trong phạm vi nghiên cứu

Trang 19

- Số liệu, thông tin thứ cấp: Được phân tích, tổng hợp sao cho phù hợp

với các mục tiêu của đề tài

- Số liệu, thông tin sơ cấp: Được xử lý trên bảng tính Excel, phần mềm SPSS

3.3.3 Phương pháp phân tích số liệu

3.3.3.1 Phương pháp phân tích so sánh

- Các số liệu phân tích được so sánh qua các năm, các chỉ tiêu để thấy

được những thực trạng liên quan đến vấn đề nghiên cứu

3.3.3.2 Phương pháp phân tích thống kê

- Từ các chỉ tiêu đã tính, tiến hành phân tích sự biến động về tình hình

kinh tế- xã hội qua các năm trong phạm vi nghiên cứu

3.4 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích của đề tài

3.4.1 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất kinh doanh của nông hộ

- Diện tích đất nông nghiệp bình quân/hộ

- Diện tích đất nông nghiệp bình quân trên/khẩu

- Số nhân khẩu bình quân/hộ

- Số lao động bình quân/hộ

- Trình độ văn hóa của chủ hộ hay của lao động chính

3.4.2 Các chỉ tiêu phản ánh mức thu nhập của nông hộ

- Tổng thu nhập của hộ

- Thu nhập tính trên nhân khẩu

3.4.3 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất và các công thức tính

- GO ( giá trị sản xuất): Là toàn bộ giá trị của tài sản vật chất và dịch vụ lao động nông nghiệp tạo ra trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm Đối với GO nông nghiệp gồm có:

+ Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp

+ Giá trị sản xuất ngành nghề

+ Giá trị sản xuất buôn bán- dịch vụ

Trang 20

Công thức: IC=Ci

Ci là khoản chi phí thứ i trong một quá trình sản xuất

- VA ( Giá trị gia tăng) : Là kết quả cuối cùng thu được sau khi trừ đi chi phí trung gian của một hoạt động sản xuất kinh doanh nao đó

Công thức: VA= GO – IC

GO là giá trị sản xuất

IC là chi phí trung gian

Trang 21

PHẦN IV

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Điều kiện tự nhiên chung của huyện Na Hang

4.1.1 Vị trí địa lý:

Vùng ven lòng hồ huyện Na Hang- tỉnh Tuyên Quang bao gồm 10 đơn vị hành chính là các xã miền núi thuộc huyện Na Hang, là một huyện vùng cao của tỉnh Tuyên Quang Huyện nằm cách thành phố Tuyên Quang 110 km về phía Bắc, tiếp giáp với các huyện của 3 tỉnh: Bắc Cạn- Cao Bằng- Hà Giang, cụ thể:

- Phía Bắc giáp các huyện Bắc Mê- Hà Giang và huyện Bảo Lạc- Cao Bằng

- Phía nam giáp huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang;

- Phía đông giáp huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Cạn;

- Phía Tây giáp huyện Lâm Bình, huyện Chiêm Hóa của tỉnh Tuyên Quang

- Địa hình núi cao: Chủ yếu là các đồi núi có độ dốc lớn, phân làm hai loại: Đồi núi đất và đồi núi đá vôi Đặc điểm của địa hình này là độ dốc lớn, địa hình chia cắt, đi lại và canh tác khó khăn Xã có thôn Bản Bung nằm trong rừng đặc dụng có độ cao trên 370 m so với mựa nước biển, địa hình bằng phẳng tạo nên một vùng sinh thái đặc trưng

Quá trình hình thành đất tại vùng chủ yếu là quá trình Ferarit hoá, đất có thành phần cơ giới tự nhiên nhẹ đến trung bình, tầng dầy nhiều mùn, hơi

Trang 22

chua, độ pH từ 4,5 - 6, độ ẩm tương đối cao, thích hợp với nhiều loại cây

trồng và thuận lợi cho phát triển nghề rừng Do địa hình của vùng chủ

yếu là đồi núi và sông ngòi chính vì vậy diện tích đất sử dụng trong nông

nghiệp còn hạn chế chưa thực sự đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất của người

nông dân, địa hình đồi núi dốc nên thường xảy ra lũ quét vào mùa mưa

gây khó khăn trong sản xuất nông nghiệp

4.1.3 Khí hậu thủy văn

Về khí hậu: Vùng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm

2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô, mùa mưa thường từ tháng 4 đến tháng

9 hàng năm, khí hậu nóng ẩm, lượng mưa cả năm thường tập trung vào mùa

này (Chiếm khoảng 75% đến 80% lượng mưa cả năm) Mùa khô khí hậu

khô hanh và kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, lượng mưa thấp, nhiệt

nguồn nước chủ yếu để dùng cho sinh hoạt và tưới nước cho cây trồng,

tuy nhiên về mùa khô một số suối, khe thường khô cạn không đủ nước

cho sản xuất nông nghiệp

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

Trang 24

( Nguồn: Phòng NN & PTNT huyện Na Hang )

Như ta đa biết,đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt trong sản xuất nông

nghiệp, nó vừa là tư liệu lao động vừa là tư liệu sản xuất, vừa là đối

tượng lao động Do đó đất đai là một trong những yếu tố ảnh hưởng

đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây trồng và từ đó quyết

định đế năng xuất cây trồng Na Hang là một huyện miền núi do đó đất

đai vẫn chưa thực sự đáp ứng được về chất lượng và diện tích phục vụ

cho sản xuất nông nghiệp

Qua bảng 4.1: Ta thấy tổng diện tích đất tự nhiên của huyện năm

2009 là 146481,97ha, tuy nhiên do năm 2010 với quyết định cắt một phần

diện tích của huyện Na Hang thành lập huyện mới Lâm Bình vì thế diện

tích huyện năm 2010 giảm xuống còn 86353,73 ha không có biến động so

với năm 2011 Trong đó đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất 79850,89,

chiếm 92,47% tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện giảm 3,08ha so với

năm 2010 nguyên nhân là do kinh tế huyện ngày càng phát triển, dân số

tăng làm cho diện tích đất bị trưng dụng ngày càng tăng Trong diện tích

Trang 25

đất nông nghiệp thì diện tích đất trồng cây hàng năm chiếm 4,78 % chủ yếu là cây lúa Đất trồng cây lâu năm chiếm 1,06 % Chiếm tỷ lệ cao nhất

là đất lâm nghiệp chiếm 94,11% Ngoài ra còn có đất nuôi trồng thủy sản, đất nông nghiệp khác chiếm tỷ lệ không đáng kể

Nhóm đất phi nông nghiệp năm 2011 có diện tích 5.467,22 ha chiếm 6,33 diện tích đất tự nhiên tăng 0,1% so với năm 2010 Ngoài ra còn có nhóm đất chưa sử dụng có diện tích 1035,62 chiếm 1,20 tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện giảm 2,71ha so với năm 2010

Như vậy qua bảng 3.1 cho thấy tình hình sử dụng đất của huyện tương đối ổn định Diện tích đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất Trên địa bàn nuyện chưa có sự chuyển dịch về cơ cấu cây trồng, đất canh tác vãn chủ yếu là trồng lúa

4.2 Điều kiện kinh tế xã hội

4.2.1 Dân số và lao động

Huyện Na Hang có 13 đơn vị hành chính gồm 1 thị trấn và 12 xã tất cả đều được xếp vào diện miền núi Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 86353.73 ha, dân số của huyện tính đến năm 2011 là 42.567 người, trong đó có hơn 28000 lao động

Huyện Na Hang là nơi tập chung sinh sống của chủ yếu các dân tộc thiểu số, đa số là dân tộc tày Nguồn thu nhập chủ yếu của người dân trong huyện chủ yếu là từ sản xuất nông nghiệp Trình độ lao động còn thấp, đa số là lao động phổ thông chưa qua đào tạo nghề Cùng với đất đai, lao động là yếu tố đặc biệt quan trọng trong mọi quá trình sản xuất nông nghiệp nhất là trong hoàn cảnh trình độ cơ giới hóa của nước ta còn thấp

Tình hình dân số và lao động của các xã thuộc ven lòng hồ qua 3 năm 2009- 2011 được thể hiện ở bảng 4.2

Trang 26

Bảng 4.2: Dân số và lao động của các xã thuộc ven lòng hồ huyện Na

hang qua 3 năm (2009-2011)

Trang 27

Cơ cấu (%)

Số lượng

Cơ cấu (%)

10/09 11/10 BQ

1 Tổng số nhân khẩu

Khẩu

38181 100 28791 100 31387 100 75,45 109,02 92,23

- Lao động nông nghiệp 23667 83,5 14541 80,66 15878 78,52 61,44 109,19 85,31

- Lao động phi nông nghiệp 4677 16,5 3486 19,34 4344 21,48 74,53 124,61 99,57

Trang 28

Qua bảng 4.2 ta thấy, qua 3 năm (2009-2011) nhân khẩu của vùng

đã có sự biến động lớn từ năm 2009- 2010, nguyên nhân là do năm 2010 Chính phủ đã có quyết định tách năm xã của huyện Na Hang và thành lập huyện mới Lâm Bình chính vì thế tổng dân số của các xã thuộc ven lòng

hồ đã giảm mạnh từ 38181 người( năm 2009) xuống còn 28791 ( năm 2010) Năm 2011 dân số của vùng là 31.387 người, tăng 0,902% Tổng số

hộ từ năm 2010 đến năm 2011 cũng tăng lên 0,656% Trong đó tỷ lệ hộ thuần nông chiếm cao nhất và đang có xu hướng giảm dần, các hộ nông nghiệp kiêm ngành nghề, dịch vụ dần tăng lên Đây là tín hiệu đáng mừng đối với sự phát triển kinh tế nông hộ của huyện cũng như của các xã thuộc ven lòng hồ

Về lao động: lao động trong trong vùng được chia làm 2 loại chính

là lao động nông nghiệp và lao động phi nông nghiệp Trong 3 năm tỷ lệ lao động trong nông nghiệp ngày càng có xu hướng giảm và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ngày càng tăng Qua bảng 4.2 cho thấy khẩu nông nghiệp và lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng tương đối cao Điều này chứng tỏ nông nghiệp vẫn là ngành cần chú trọng trong phát triển kinh tế của huyện nói chung và kinh tế nông hộ của vùng lòng hồ nói riêng Song bên cạnh đó, huyện cũng cần đẩy mạnh phát triển ngành nghề- dịch vụ, đa dạng hóa ngành nghề, tăng thu nhập cho nông hộ, giảm bớt sự dư thừa lao động trong nông nghiệp vào lúc nông nhàn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp, du lịch và dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp trong

tổng giá trị sản xuất của huyện nói chung và các xã ven lòng hồ nói riêng

4.2.2 Cơ sở hạ tầng

- Hệ thống giao thông: Đến nay,toàn huyện đã có 98,6% các xã, thị trấn, 96,3% thôn, bản có đường ô tô đến trung tâm kết cấu mặt đường bao gồm các loại: cấp phối, thâm nhập nhựa và bê tông Huyện đã có một bến thủy phục vụ cho nhu cầu du lịch lòng hồ và đảm bảo nhu cầu đi lại cho một số xã vùng ven lòng hồ cách xa trung tâm huyện Huyện đã cơ bản

Trang 29

hoàn thành quy hoạch tổng thể mạng lưới giao thông đến năm 2010

và định hướng phát triển đến năm 2020

- Hệ thống điện: Tính đến hết năm 2005 đã có 99,7% số xã có điện lưới quốc gia, tỷ lệ số hộ được dùng điện lưới quốc gia đạt 84,5% Đặc biệt có thủy điện Tuyên Quang được xây dựng trên địa bàn huyện đã bắt đầu phát điện ở tổ máy thứ nhất từ năm 2008 và hòa vào hệ thống điện quốc gia

- Thông tin liên lạc: Đến nay mạng lưới thông tin liên lạc tiếp tục phát triển, 100% trung tâm huyện, thị phủ sóng điện thoại di động, 100 % xã, phường, thị trấn có điện thoại, đạt mật độ 5,8 máy điện thoại/100 dân; 114/140 xã, phường, thị trấn có nhà bưu điện văn hoá xã; 100% số xã có thư báo trong ngày; huyện đã có trạm thu phát truyền hình phục vụ 80% dân số được nghe đài phát thanh; 75% dân số được xem truyền hình

- Hệ thống cấp nước sinh hoạt: huyện Na Hang đã và đang tổ chức đầu tư xây dựng nhằm tăng số người được sử dụng nước sạch Những năm qua tỉnh đã chú trọng đầu tư xây dựng các công trình cấp nước tập trung và cấp nước nhỏ để cho nhân dân miền núi cao và nông thôn được sử dụng nước sạch Hiện nay đã có tổng số 70% dân số của huyện đã được sử dụng nước sạch Bên cạnh đó vẫn còn một số xã ven lòng hồ do điều kiện kinh tế, địa hình và giao thông vẫn chưa xây dựng được các công trình cung cấp nước sạch cho người dân Nước sinh hoạt của các hộ gia đình vẫn được lấy từ các khe,suối, nước giếng, nước mưa chưa thực sự đảm bảo an toàn sức khỏe cho người dân

- Toàn huyện đã có 100% số xã có trường mầm non, tỷ lệ thôn có lớp mẫu giáo đạt 29%, tỷ lệ thôn có nhà trẻ đạt 11,4%.Tỷ lệ xã có trường tiểu học năm 2011 đạt 100% Tỷ lệ xã có trường trung học cơ sở năm 2011 đạt 99%, toàn huyện có 2 trường trung học phổ thông Nhìn chung cơ sở trường lớp cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh, nhưng

hệ thống nhà trẻ mẫu giáo phát triển chưa ngang tầm, hầu hết các xã đã

có đủ trường học cho học sinh tuy nhiên vẫn còn một số trường cơ sở vật chất đã và đang xuống cấp cần sự đầu tư của nhà nước và các tổ chức xã hội Đặc biệt học sinh của một số thôn thuộc các xã ven lòng hồ do cách

xa đường giao thông nên việc đi lại gặp rất nhiều khó khăn

- Mạng lưới y tế: Kết quả tổng điều tra nông thôn nông nghiệp năm 2011 cho thấy 100% số xã có trạm y tế, trong đó có 70,4% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, tỷ lệ thôn có cán bộ y tế thôn là 98,9% Do mạng lưới y

tê cơ sở được chú trọng và mở rộng nên việc khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người dân ngày càng được cải thiện

Trang 30

- Văn hóa- thể thao: Hệ thống thông tin liên lạc phát triển khá nhanh, tỷ lệ

xã có điểm phục vụ bưu chính viễn thông năm đến năm 2011 đạt 98,1%, tăng 17,7% so với năm 2006 Đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc của người dân Bằng sự đóng góp của nhân dân cùng với sự hỗ trợ của nhà nước, nhà văn hóa xã thôn đã tăng lên đáng kể Tỷ lệ xã có nhà văn hóa năm 2011 là 40,6%, tỷ lệ thôn có nhà văn hóa là 73,9% Tỷ lệ xã có sân thể thao là 64,8%, tỷ lệ xã có tủ sách pháp luật là 98,3%

4.2.3 Chính sách an sinh xã hội

Với sự quan tâm của Nhà nước, các tổ chức xã hội,các doanh nghiệp…đối với hộ đang gặp khó khăn về nhà ở được chú trọng, kết quả tổng hợp sơ bộ cho thấy toàn huyện đã có 1,9 số hộ được hỗ trợ, xây dựng nhà ở Tỷ lệ khu vực nông thôn được vay vốn ưu đãi theo chương trình, dự án năm 2010 là 30%

Tóm lại: từ kết quả trên cho thấy bộ mặt nông thôn của huyện đã có nhiều thay đổi, hệ thống kết cấu hạ tầng được cải tạo và xây dựng mới đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và phục vụ nhân dân tốt hơn: cơ cấu kinh tế nông thôn, nông nghiệp chuyển dịch đúng hướng, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt

4.3.Những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên kinh tế văn hóa xã hội ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông hộ tại vùng ven lòng hồ thủy điện huyện Na Hang

4.3.1 Thuận lợi

- Được sự quan tâm của Đảng và nhà nước về các chính sách phát triển

nông nghiệp như trợ giá nông sản, vay vốn sản xuất nông nghiệp với lãi xuất thấp, cung cấp vật tư nông nghiệp, hỗ trợ hộ nghèo…

- Có sự quan tâm của huyện ủy, HĐND, UBND cấp huyện và sự

nỗ lực của nhân dân trong huyện cộng với sự đoàn kết của các tổ chức chính trị xã hội và đoàn thể từ cấp huyện xuống cấp xã

Trang 31

- Cơ sở hạ tầng ngày càng được đầu tư hoàn thiện nâng cấp, các tuyến đường liên xã đã được rải nhựa, phục vụ cho nhu cầu đi lại của người dân

- Tài nguyên thiên nhiên đa dạng, khí hậu phù hợp cho trồng trọt

và chăn nuôi

4.3.2 Khó khăn

+ Về điều kiện tự nhiên: Dân cư sống phân tán Địa hình hiểm trở

đi lại khó khăn Đất sản xuất nông nghiệp bị chia cắt bởi địa hình, diện tích đất manh mún khó áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất Về nguồn nước cung cấp cho sản xuất nông nghiệp chủ yếu từ các suối ngắn, có độ dốc lớn, việc xây dựng các công trình thủy lợi gặp khó khăn

+ Về kinh tế và xã hội: Xuất phát điểm của nền kinh tế huyện và các xã thuộc ven lòng hồ còn thấp so với cả nước nói chung và của tỉnh Tuyên Quang nói riêng Trong sản xuất chưa có quy hoạch vùng sản xuất hàng hoá, năng suất sản xuất còn thấp Cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt văn hoá, tinh thần của nhân dân còn thiếu nhiều + Lao động: Đa số nông dân trong vùng chủ yếu sống bằng nghề nông trong khi đó sản xuất nông nghiệp vẫn mang tính thủ công, việc áp dụng chuyển giao khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn gặp nhiều khó khăn, năng xuất lao động thấp Việc phát triển ngành nghề vẫn còn hạn chế

4.4 Thực trạng tình hình sản xuất nông nghiệp – các ngành nghề phụ, dịch vụ của kinh tế hộ nông dân vùng ven lòng hồ huyện Na

Hang

4.4.1 Khái quát chung về nhóm hộ điều tra

Trang 32

Bảng 4.3: Thông tin cơ bản về nhóm hộ điều tra

Diễn giải ĐVT Hộ

khá

Cơ cấu (%)

HTB Cơ

cấu (%)

Hộ nghèo

Cơ cấu (%)

Tỷ lệ bình quân

Trang 33

Về phân loại hộ nông dân:

Qua bảng 4.3 ta thấy tỷ lệ số hộ trong nhóm hộ thuần nông chiếm cao nhất 80%, còn lại là nhóm hộ kiêm ngành nghề và dịch vụ Qua đó có thể thấy ngành sản xuất chính của các hộ nông dân trong vùng chính là nông nghiệp Số hộ kiêm ngành nghề và kiêm dịch vụ chỉ xuất hiện trong nhóm hộ khá, trong nhóm này tỷ lệ số hộ kiêm ngành nghề và kiêm dịch

vụ chiếm khá cao chứng tỏ nhóm hộ này đang dần có xu hướng tách khỏi sản xuất nông nghiệp và đi theo hướng sản xuất có hiệu quả kinh tế cao hơn Còn về nhóm hộ trung bình và nhóm hộ nghèo thì chủ yếu là nhóm

hộ thuần nông do ngành sản xuất nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất chủ yếu và là nguồn thu nhập chính của các hộ nông dân

Về trình độ văn hóa:

Qua bảng 4.3 có thể thấy, trình độ văn hóa bình quân của các hộ còn tương đối thấp, tỷ lệ số hộ có trình độ văn hóa dưới cấp II trong 60 hộ điều tra chiếm hơn 70%, chủ yếu tập trung ở nhóm hộ nghèo

Hầu hết các hộ khá đều có trình độ văn hóa trung bình cao hơn các nhóm hộ khác, tỷ lệ số hộ có trình độ văn hóa trên cấp III chiếm hơn 80%, trong khi đó tỷ lệ hộ trung bình có trình độ trên cấp 3 là 12,12% trong tổng số hộ điều tra, ở nhóm hộ nghèo tỷ lệ này bằng 0 Việc có trình

độ cao hơn sẽ giúp các chủ hộ tính toán và đưa ra nhũng quyết định sản xuất, kinh doanh hợp lý, họ nắm bắt được cơ hội của thị trường,biết áp dụng những kỹ thuật mới và tiến bộ khoa học kỹ thuật, có những đầu tư đúng hướng dẫn đến cơ hội tăng thu nhập của nhóm hộ này sẽ nhiều hơn Còn ở các nhóm hộ nghèo và một số hộ trung bình do trình độ văn hóa còn thấp nên thường tiếp thu chậm các tiến bộ khoa học kỹ thuật, không mạnh dạn đầu tư vào sản xuất, chủ yếu là lao động thủ công nên năng suất chưa cao dẫn đến thu nhập của các hộ còn thấp

Về nhà ở và tiện nghi sinh hoạt:

Tỷ lệ số hộ có nhà kiên cố chỉ chiếm hơn 10%, còn lại chủ yếu là nhà bán kiên cố và nhà tạm, chiếm hơn 80% Nhà kiên cố chủ yếu tập trung ở các nhóm hộ khá do có thu nhập cao hơn và tích lũy thường xuyên hơn vì thế các hộ gia đình có khả năng xây dựng được nhà ở tốt hơn, tỷ lệ hộ khá có nhà kiên cố là 100% Tỷ lệ số hộ có nhà kiên cố trong nhóm hộ trung bình và nhóm hộ nghèo là rất thấp, chủ yếu là nhà bán kiên cố và nhà tạm

Về tiện nghi sinh hoạt:

Thông tin và số liệu được em thu thập đánh giá một cách tương đối Có thể thấy những hộ có thu nhập cao hơn thường có điều kiện mua sắm được những tiện nghi sinh hoạt phục vụ văn hóa, giải trí ăn uống tốt hơn Ở các hộ nghèo do thu nhập còn thấp nên việc mua sắm các tiện nghi sinh hoạt còn ít

Trang 34

4.4.2 Điều kiện sản xuất kinh doanh của nông hộ

4.4.2.1 Điều kiện về đất đai

Ngày đăng: 14/05/2014, 22:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Đề tài tốt nghiệp “Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế nông hộ huyện Phú Bình” – Phạm Văn Quảng lớp K38PTNT, khoa KT&PTNT, trường ĐHNL Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế nông hộ huyện Phú Bình”
6. Đào Thế Tuấn- “ Kinh tế hộ nông dân” được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia in năm 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Kinh tế hộ nông dân”" được Nhà xuất bản "Chính trị quốc gia
Nhà XB: Nhà xuất bản "Chính trị quốc gia" in năm 1997
1. Báo cáo tổng kết tình hình phát triển kinh tế xã hội năm 2011 của UBND Huyện Na Hang Khác
2. Báo cáo kết quả thống kê đất đai huyện Na Hang năm 2011 Khác
3. Điều 107 dự thảo quy định về hộ gia đình trong bộ luật dân sự (1995) 4. Bài viết của nguyên Phó thủ tướng Nguyễn Công Tạn: Một số kinh nghiệm phát triển nông nghiệp của Hà Lan Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.3: Thông tin cơ bản về nhóm hộ điều tra - Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế nông hộ các xã vùng ven lòng hồ thủy điện huyện na hang  tỉnh tuyên quang
Bảng 4.3 Thông tin cơ bản về nhóm hộ điều tra (Trang 32)
Bảng 4.4: Tình hình sử dụng đất đai của nhóm hộ điều tra - Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế nông hộ các xã vùng ven lòng hồ thủy điện huyện na hang  tỉnh tuyên quang
Bảng 4.4 Tình hình sử dụng đất đai của nhóm hộ điều tra (Trang 35)
Bảng 4.6: Điều kiện về tư liệu sản xuất của nhóm hộ điều tra - Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế nông hộ các xã vùng ven lòng hồ thủy điện huyện na hang  tỉnh tuyên quang
Bảng 4.6 Điều kiện về tư liệu sản xuất của nhóm hộ điều tra (Trang 37)
Bảng 4.7: Tổng hợp kết quả sản xuất ngành trồng trọt - Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế nông hộ các xã vùng ven lòng hồ thủy điện huyện na hang  tỉnh tuyên quang
Bảng 4.7 Tổng hợp kết quả sản xuất ngành trồng trọt (Trang 39)
Bảng 4.8: Tổng hợp kết quả sản xuất ngành chăn nuôi - Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế nông hộ các xã vùng ven lòng hồ thủy điện huyện na hang  tỉnh tuyên quang
Bảng 4.8 Tổng hợp kết quả sản xuất ngành chăn nuôi (Trang 42)
Bảng 4.9: Tổng hợp thu nhập từ nghề phụ - Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế nông hộ các xã vùng ven lòng hồ thủy điện huyện na hang  tỉnh tuyên quang
Bảng 4.9 Tổng hợp thu nhập từ nghề phụ (Trang 43)
Bảng 4.11. Trình độ văn hóa của nhóm hộ điều tra - Thực trạng và một số giải pháp phát triển kinh tế nông hộ các xã vùng ven lòng hồ thủy điện huyện na hang  tỉnh tuyên quang
Bảng 4.11. Trình độ văn hóa của nhóm hộ điều tra (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w