Khóa Luận cực hay và bổ ích !!!!!!!
Trang 1Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1.1 Điều tra cơ bản của huyện Võ Nhai
1.1.1 Điều tra tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Võ Nhai là một huyện vùng cao, nằm ở phía Đông của tỉnh Thái Nguyên, cách trung tâm thành phố 37 km, có đường quốc lộ 1B chạy qua Địa giới hành chính gồm 14 xã và 01 thị trấn, trong đó có 11 xã vùng cao đặc biệt khó khăn, toàn huyện có 172 xóm bản:
- Phía Bắc giáp huyện Na Rì (Bắc Kạn)
- Phía Đông giáp huyện Bắc Sơn (Lạng Sơn)
- Phía Nam giáp huyện Yên Thế (Bắc Giang)
- Phía Tây giáp huyện Đồng Hỷ và Phú Lương (Thái Nguyên)
1.1.1.2 Điều kiện khí hậu thủy văn
Là một huyện nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm không đồng nhất do địa hình phức tạp nhiệt độ trung bình trong năm từ 22 - 27oc, nhiệt độ cao nhất vào tháng 6 lên đến 330
C và hấp nhất vào tháng 1 là 100c, lượng mưa hàng năm khá cao từ 1500 - 2000mm, song lại có sự phân bố khác nhau giữa các vùng, thời gian mưa tập trung từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm, độ ẩm không khí trung bình khoảng 85%, vào các tháng 12, tháng 1, tháng 2 năm có các hiện tượng rét đậm, rét hại, sương muối Trong năm chia thành 4 mùa rõ rệt
1.1.1.3 Cơ sở hạ tầng
- Về giao thông: Nhìn chung về giao thông của huyện Võ Nhai cũng
thuận lợi có đường Quốc lộ 1B chạy qua, các xã đã có đường ô tô đi đến trung tâm xã nhưng chủ yếu là đường cấp phối Hiện nay đang dần được nâng cấp
và dần trải nhựa, bê tông hoá Đây cũng là điều kiện thuận lợi cho giao lưu kinh tế giữa các vùng
- Về thuỷ lợi: Trong sản xuất nông nghiệp thuỷ lợi đóng vai trò rất quan trọng, vì vậy huyện luôn coi trọng công tác thuỷ lợi và coi đây là nhiệm vụ hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp, cùng với nhân dân địa phương huyện đã xây dựng được một số công trình thuỷ lợi lớn, xây dựng mới được 1 trạm bơm tại xã Cúc Đường, xây dựng đập chứa tại xã Nghinh Tường, kiên cố kênh đập suối Bùn xã Tràng Xá, sửa chữa kệnh đập hồ Quán Chẽ xã Dân Tiến, sửa chữa
Trang 2nâng cấp hồ Cây Hồng xã Lâu Thượng và 47,9km kênh mương được kiên cố hoá, 19 trạm bơm được xây dựng Đến nay đã có trên 3000ha lúa và cây màu được tưới nước chủ động
- Điện lưới, điện thoại: Trên địa bàn huyện hiện có 100% số xã, thị trấn
đã có điện lưới phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và cho đời sống, tỷ lệ số hộ dùng điện lưới quốc gia đạt trên 90% Theo số liệu thống kê của phòng thống
kê huyện trên địa bàn huyện Võ Nhai 100% các xã thị trấn đều có điện thoại
- Về giáo dục: Huyện luôn quan tâm và coi trọng phát triển công tác
giáo dục, tăng cường đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục và đào tạo củng cố vững chắc kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và THCS Tính đến năm 2008 trên toàn huyện có 46 trường với 544 lớp học với 1.264 giáo viên và 12.181học sinh Đồng thời cơ sở day nghề của huyện đang từng bước được hoàn thiện và
đa dạng hoá các hình thức đào tạo và chú trọng những nghề phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn
- Về Y tế: Hệ thống y tế của huyện hiện nay đang dần được củng cố đầu tư cơ sở vật kỹ thuật để phục vụ tốt hơn nhu cầu khám chữa bệnh của người dân Trên địa bàn huyện có 01 bệnh viện đa khoa, 100% các xã thị trấn
có trạm y tế Cơ sở y tế ngày càng được hoàn thiện nâng cấp và đảm bảo nhu cấu khám chữa bệnh của nhân dân
* Tóm lại cơ sở hạ tầng phát triển nhằm phục vụ cho toàn ngành kinh tế
của huyện nói chung, ngành nông nghiệp nói riêng và từ đó từng bước nâng cao đời sống nhân dân
1.1.2 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Võ Nhai
Đất là nhân tố không thể thiếu trong quá trình CNH-HĐH nền kinh tế của huyện, đất gắn liền với quá trình phát triển công nghiệp và dịch vụ, phát triển các khu công nghiệp và hệ thống giao thông vận tải Đất đai không chỉ là môi trường sống mà còn là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, vật nuôi Năng suất cây trồng, vật nuôi phụ thuộc rất nhiều vào nhóm nhân tố điều kiện tự nhiên bao gồm: Điều kiện đất đai, thời tiết, khi hậu, nguồn nước, rừng, khoáng sản,… Tuy nhiên, khác với các tư liệu sản xuất khác, nếu được
sử dụng hợp lý thì sức sản xuất của nó không ngừng tăng lên Do vậy, việc sử dụng và quản lý tốt yếu tố đất đai sẽ góp phần làm tăng thu nhập, ổn định kinh tế và chính trị xã hội Để nắm rõ hơn sự biến đổi đó, ta có thể nghiên cứu
trong bảng 1.1
Trang 3Bảng 1.1: Tình hình sử dụng đất đai trên địa bàn qua 3 năm 2007-2009
1 Đất trồng cây hàng năm 6.877,14 8,14 7.813,6 9,25 7.806,57 9,3 113,62 99,91 106,77
2 Đất trồng cây lâu năm 846,5 1 1.565,05 1,85 1.564,26 1,86 184,88 99,95 142,42
II Đất Lâm nghiệp
(DT đất rừng) 50.712,701 60,.1 51.003,48 60,35 51.234,12 61 100,57 100,45 100,51
III.Đất chuyên dùng 631,82 0,75 689,31 0,82 699,289 0,83 109,1 101,45 105,28
IV Đất thổ cư 615,9 0,73 619,68 0,73 619,9 0,74 100,61 100,04 100,33 V.Đất chưa sử dụng 24.826,35 29,38 22.819,29 27 22.086,30 26,29 91,92 96,79 94,36
(Nguồn: Niên giám Thống kê huyện Võ Nhai)
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Võ Nhai là: 84.010,44ha (năm 2009) Trong đó bao gồm đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất thổ cư, đất chưa sử dụng núi đá vôi
- Qua biểu ta thấy rõ diện tích đất lâm nghiệp chiếm tỉ trọng cao nhất
và tốc độ tăng bình quân 5%, một phần do các dự án hỗ trợ, một phần người dân tự trồng tiếp những diện tích rừng chưa sử dụng vì họ đã thấy hiệu quả từ kinh tế đồi rừng
- Diện tích đất nông nghiệp: Năm 2007: 7.723,64ha năm 2008: 9.378,65 ha, năm 2009: 9.370,83 ha Bình quân 3 năm tăng 10% Điều này đòi hỏi huyện cần phải cải tạo, thâm canh tăng vụ để tăng hệ số sử dụng đất Trong đó đất trồng cây hàng năm chiếm tỉ trọng cao nhất trong diện tích đất nông nghiệp Qua đây ta cũng thấy được người dân đã mạnh dạn áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ theo hướng tăng mùa sớm để mở rộng diện tích cây vụ đông Diện tích trồng cây lâu năm cũng tăng nhanh 2007: 846,5ha đến năm 2008 tăng lên 1.564ha, năm 2009 lại giảm nhẹ phần lớn diện tích này là nhân dân trồng chè và cây ăn quả nhưng do một số diện tích cây ăn quả đem lại hiệu quả kinh tế thấp nên họ đã thay đổi bằng trồng chè cành giống mới và một số cây đặc sản cho thu nhập cao hơn
Trang 4- Diện tích đất chưa sử dụng giảm đi rõ rệt bình quân mỗi năm giảm 6% nguyên nhân là do đảng và nhà nước đã dành vốn đầu tư cho các chương trình, dự án, thúc đẩy và khuyến khích các hộ chuyển đổi cơ cấu cây trồng,
4-1.1.2.1 Dân số và lao động huyện Võ Nhai
Huyện Võ nhai có diện tích đất tự nhiên là 84.010ha, dân số trung bình là:65.194 người, mật độ dân số là 77người/km2, số xóm bản là 172 Trong đó huyện có một thị trấn là thị trấn Đình Cả, diện tích: 1.015,66ha, dân số trung bình là 354người/km2, phần lớn các hộ dân trong huyện đều tham gia sản xuất nông nghiệp, dân cư sống chủ yếu là ở vùng nông thôn, theo điều tra dân số năm 2009 mật độ dân số là: 77người/km2, dân số của huyện tăng chậm, phân loại theo giới tính năm 2007, nam là:31.911, nữ là:31.898 Năm 2008: Nam là: 32.194, nữ là: 32.301, năm 2009: Nam là:32.593, nữ là:32.601 Sau khi có nhiều chương trình, dự án được triển khai ở huyện, ngoài những cơ sở thuộc quản lý của huyện thì một số nông dân mạnh dạn tham gia sản xuất và đã đạt hiệu quả cao, mở rộng khu vực sản xuất và thu hút được nhiều lao động tham gia, tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nông nghiệp đang có xu hướng giảm Vì áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nên đã giảm được sự hao phí lao động, lao động đã chuyển sang một lĩnh vực khác như công nghiệp và dịch vụ
Bảng 1.2: Tình hình dân cư và lao động của huyện qua 3 năm năm 2007 - 2009
CC (%) I.Tổng số nhân khẩu Người 63.377 63.668 63.980
Nhân khẩu NN Người 51.652 50.298 49.904
Nhân khẩu PNN Người 11.725 13.370 14.076
Trang 5Qua 3 năm, tỷ lệ lao động nông nghiệp không giảm mà có chiều hướng tăng trong tổng số lao động Số nhân khẩu nông nghiệp và số lao động nông nghiệp tuy vẫn tăng nhưng chậm Tốc độ phát triển của nhân khẩu nông nghiệp năm 2007 là 0,9% đến năm 2009 là 1,01% Tốc độ tăng dân số ở mức trung bình Lao động nông nghiệp đã có xu hướng chuyển sang các ngành khác, phù hợp với quá trình phát triển theo hướng CNH-HĐH và phát triển bền vững nông nghiệp nông thôn
1.1.2.2 Tình hình phát triển kinh tế của huyện Võ Nhai qua 3 năm
Cơ cấu các ngành của huyện Võ Nhai đã có xu hướng tăng phù hợp với mục tiêu phát triển của đất nước theo chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước là tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp
Bảng 1.3: Một số chỉ tiêu kinh tế của huyện Võ Nhai qua 3 năm (2007 - 2009)
Năm
1 Giá trị SX nông, lâm, ngư nghiệp Giá hiện hành
1.1 Nông nghiệp Triệu đồng 312.705 403.352 429.569
- Trồng trọt Triệu đồng 200.380 258.548 270.628
- Chăn nuôi Triệu đồng 93.809 120.602 128.870 1.2.Thuỷ sản Triệu đồng 3.870 3.400 3.536 1.3.Lâm nghiệp Triệu đồng 15.175 16.113 17.805
2 Số trang trại, HTX hiện có trên địa
bàn tính đến thời điểm 1/10 hàng năm
2.1 HTX nông nghiệp HTX 5 5 5 2.2 Trang trại: Trong đó: Trang trại
- Trang trại nông nghiệp Trang trại 10 10 12
- Trang trại lâm nghiệp Trang trại 8 8 7
- Trang trại chăn nuôi Trang trại 9 9 6
- Trang trại tổng hợp Trang trại 11
3 Giá trị sản phẩm trồng trọt/1ha đất Triệu đồng 23,62 33 38
4 Chỉ tiêu bình quân
Sản lượng lương thực có hạt BQ/người kg/người 600 648 650
(Nguồn phòng NN và PTNT huyện Võ Nhai)
Trang 6Qua 3 năm, từ 2007 - 2009 giá trị sản phẩm nông nghiệp, dịch vụ nông nghiệp đều tăng lên Thu ngân sách năm 2008 tăng: 1,299%, năm 2009 tăng 1,065% Trong nông lâm nghiệp tỷ trọng ngành trồng trọt chiếm từ 63 - 64%, ngành chăn nuôi 29 - 30%, ngành lâm nghiệp 4 - 5%, ngành thuỷ sản chiếm 1
- 1,5%, sản lượng lương thực có hạt bình quân trên người năm 2007 là 600kg/người/năm đã tăng lên 650 năm 2009, con số này so với khác vùng khác có thể còn thấp nhưng phần nào đã thấy sự nỗ lực của các ban ngành trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện trong thời gian qua, với
đa số dân số làm nông nghiệp Nhìn chung sự tăng trưởng của huyện Võ Nhai trong thời gian qua là tương xứng với tiềm năng của huyện, cơ cấu ngành kinh tế của huyện có sự thay đổi, nhiệm vụ của huyện vừa phải đạt được những mục tiêu ngắn hạn, lâu dài mà huyện đã đạt ra, đồng thời tích cực nghiên cứu và tìm ra phương pháp đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu, dịch chuyển lao động sang các ngành công nghiệp và dịch vụ
Giá trị sản xuất nông nghiệp: Giá trị và cơ cấu các ngành có sự biến đổi, điều này thể hiện sự chuyển dịch cơ cấu giữa các ngành phù hợp với mục tiêu giảm tỷ trọng trồng trọt và tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi trong phát triển nông nghiệp
Bảng 1.4: Giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện Võ Nhai
CC (%)
GT (Triệu đ)
CC (%)
GT (Triệu đ)
CC (%)
Trang 7Tổng giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá hiện hành tăng đều qua 3 năm Năm 2007: 212.321 triệu đồng, năm 2008: 271.331 triệu đồng, đến năm
2009 tăng lên: 403.352 triệu đồng, bình quân tăng 38% /năm Ngành trồng trọt tăng bính quân trong 3 năm là 50%/năm Ngành chăn nuôi tăng bình quân 21% Dịch vụ tăng nhẹ khoảng 2%
1.1.3 Nhận xét chung
1.1.3.1.Thuận lợi
- Về vị trí: Huyện có đường quốc lộ 1B chạy qua, Trung tâm huyện cách trung tâm thành phố Thái Nguyên không xa do vậy Võ Nhai cũng có rất nhiều triển vọng về giao lưu hàng hoá nông sản trong và ngoài tỉnh
- Về chính sách: Đảng và nhà nước có nhiều chính sách hỗ trợ cho người dân, có sự chỉ đạo, sát sao của các sở, ban ngành các cấp trong việc triển khai dự án tại cơ sở
1.1.3.2 Khó khăn
- Do địa hình phức tạp nhiều đồi núi đá vôi, công tác quản lý rừng chưa được chặt chẽ nên hiện tượng chặt phá rừng, rừng đầu nguồn vẫn còn sảy ra dẫn đến hiện tượng sói mòn, rửa trôi đất ảnh hưởng đến độ phì nhiêu của đất
- Do sự khác nhau về phân bổ dân cư nên một số xã cách xa trung tâm huyện, trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán canh tác lạc hậu nên hạn chế trong việc tiếp thu tiến bộ KHKT
- Cơ sở hạ tầng còn thấp kém chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển sản xuất và phục vụ đời sống của người dân Đặc biệt là công tác thuỷ lợi gặp nhiều khó khăn do điều kiện tự nhiên bất thường gây ảnh hưởng đến sản xuất
- Cán bộ thú y và cán bộ quản lý còn thiếu một số kỹ năng và phương tiện truyền đạt thông tin đến người dân
Trang 81.2 Nội dung, phương pháp và kết quả công tác phục vụ sản xuất
1.2.1 Nội dung công tác phục vụ sản xuất
* Công tác chăn nuôi
Tham gia vệ sinh phòng bệnh như phun thuốc sát trùng,vận động bà con nông dân vệ sinh khu chuồng trại chăn nuôi sạch sẽ : phân của gia súc của ngày nào thì dọn của ngày dó tránh để mấy ngày mới dọn,…
Tham gia công tác thú y: Cùng cán bộ thú y xã đến các thôn xóm để tiêm phòng chống dịch bệnh,… khám chữa bệnh cùng thú y xã
1.2.2 Phương pháp tiến hành
Tuân thủ nội quy của nhà trường, của khoa, cơ sở và thầy cô giáo hướng dẫn Bám sát cơ sở trong thời gian thực tập, tham khảo tài liệu chuyên môn, tham gia tích cực công tác phục vụ sản xuất tại cơ sở thực tập
dịch bệnh sẽ liên tiếp xảy ra Với phương châm "phòng bệnh hơn chữa bệnh"
để giảm thiệt hại cho đàn gia súc chết hàng loạt những bệnh thường xuyên xảy ra như: lở mồm long móng, tụ huyết trùng, dịch tả lợn, mà chúng ta không thể cứu vãn được, khi đó nó sẽ gây tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, gây thiệt hại lớn đến kinh tế của người dân Nếu có dập tắt được thì mầm bệnh vẫn còn tồn tại trong đất, nó có thể phát bệnh bất cứ lúc nào, vì vậy công tác tiêm phòng là rất quan trọng Hơn nữa tiêm phòng thường xuyên và định kỳ giúp hạn chế được những dịch bệnh thường xuyên xảy ra trong năm và tăng thêm thu nhập cho người dân và sản phẩm xuất khẩu
Xuất phát từ lợi ích kinh tế lớn của việc tiêm phòng và đây cũng là yêu cầu của người dân để bảo vệ đàn gia súc, gia cầm Qua điều tra tình hình dịch bệnh, cùng với sự hướng dẫn của cán bộ thú y cơ sở, chúng tôi tham gia vào
Trang 9việc tiêm phòng đợt 2 vào năm 2011 với các loại vacxin: vacxin tụ dấu lợn, vacxin tụ huyết trùng trâu, bò, phòng bệnh dịch tả lợn, Newcastle gà
Chúng tôi đã cố gắng tuyên truyền vận động, mà kết quả đạt được vẫn chưa cao Tỷ lệ đạt được so với tổng đàn còn thấp
Kết quả tiêm phòng sau khi tiêm an toàn 100%
1.2.3.2 Công tác thú y
Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh:
Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh là một nhiệm vụ bao trùm nhất trong công tác thú y Vì vậy việc phát hiện và điều trị kịp thời những gia súc
ốm là một khâu quan trọng nhằm ngăn chặn lây lan dịch bệnh ra vùng khác, giúp con vật phục hồi sức khỏe nhanh chóng và giảm thiệt hại do bệnh gây ra Đồng thời nó có tác dụng bảo vệ môi trường sinh thái
Với kiến thức đã học được trong nhà trường và học hỏi kinh nghiệm thực tế, trong thời gian thực tập cùng với sự giúp đỡ của cán bộ thú y cơ sở tôi
đã chẩn đoán và điều trị một số bệnh sau:
* Bệnh ở lợn
- Bệnh tụ huyết trùng ở lợn
Nguyên nhân: Bệnh tụ huyết trùng là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm của lợn do loài Pasteurella multocida gây ra Vi khuẩn gram (-), loài này tồn tại trong tự nhiên ở phân, đất Bệnh này thường xảy ra ở lợn trên 3 tháng tuổi, bệnh xuất hiện đầu mùa mưa, suốt mùa hè
Trong thời gian thực tập, chúng tôi đã gặp 4 con lợn có triệu chứng bỏ
ăn đột ngột, sốt cao 41 - 420C, con vật khó thở, trên da xuất hiện vết tím đỏ ở
cổ, tai, bụng Qua các triệu chứng trên chúng tôi chẩn đoán là bệnh tụ huyết trùng và tiến hành điều trị như sau:
Tiêm dung dịch Analgin 30% để hạ sốt cho con vật
Tiêm vitamin B1 với liều 5ml/con để trợ sức, trợ lực cho con vật nhanh hồi phục, tiêm kết hợp hai loại kháng sinh streptomycin và penicillin với liều lượng sau:
Streptomycin: 50 mg/kg thể trọng
Penicillin: 10.000 UI - 20.000 UI/kg thể trọng
Trang 10Tiêm bắp ngày 2 lần, liên tục trong 3 - 4 ngày thấy con vật bắt đầu hồi phục trở lại
- Bệnh lợn con ỉa phân trắng (Conlibacillosis)
Triệu chứng của lợn khi mắc bệnh thường là: lợn yếu, chậm chạp, thân nhiệt tăng Bệnh thường hay gặp ở lợn con từ 10 - 20 ngày tuổi Lợn ốm khát nước, phân lỏng, có màu trắng vàng lẫn bọt khí, mất nước, gầy sút cân nhanh nếu không điều trị kịp thời lợn sẽ chết
Chúng tôi dùng các loại kháng sinh như Chloramophenicol 2ml/con, tiêm ngày 2 lần đồng thời tiêm vitamin B1 2,5%, Bcomplex liều 2 5ml/lần/ngày Kết quả điều trị 12 con khỏi 11 con
- Bệnh giun tròn đường tiêu hóa
Bệnh giun tròn điều tiêu hóa rất phổ biến đặc biệt là loài giun đũa
và giun lươn Chúng tôi đã gặp một số con lợn có biểu hiện, gầy còm, lông sù, gầy gộc, chậm lớn, Những con nhiễm nhẹ thì triệu chứng không biểu hiện rõ
Chúng tôi đã tiến hành kiểm tra phân bằng phương pháp phù nổi Fullerborn qua kiểm tra những con có triệu chứng trên đều nhiễm giun
Điều trị: Dùng 2 loại thuốc Levamisol hoặc Menbendazol trộn vào thức
ăn sau 2 tuần tiến hành kiểm tra phân đều đã sạch trứng, lợn trở lại bình thường, ăn uống tốt
Tiêm: Analgin - 30% để hạ sốt cho con vật
Tiêm Gentamycin liều 6 - 8 ml/100kg thể trọng/lần Phối hợp tiêm Penicilin liều 10.000 - 20.000 UI/kg thể trọng tiêm bắp ngày 2 lần và tiêm thuốc trợ sức trợ lực cho con vật như: vitamin B1 2,5%, vitamin C 5 - 10 ml/lần/ngày Sau 3 - 5 ngày điều trị thấy con vật hồi phục trở lại
Trang 11Hướng dẫn bà con tiêm phòng vacxin lasota vào lúc gà được 7 - 28 ngày tuổi Nếu nuôi quá 2 tháng tuổi tiêm vacxin Newcastle, gà bệnh phải hủy xác chôn sâu, sát trùng chuồng trại sạch sẽ
Trong thực tế chăn nuôi gia cầm thường hay mắc bệnh trên, do đó chúng tôi đã hướng dẫn bà con khắc phục những vấn đề như: xây dựng và
vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, chuồng nuôi phải thoáng về mùa hè và ấm về mùa đông
Trang 12Điều trị: tiêm atropin giảm nôn, liều lượng 0,15 - 0,6ml/10kg thể trọng Dùng kết hợp với Lincomycin tiêm bắp liều 1ml/4 - 8kg thể trọng và kết hợp dùng các loại thuốc trợ sức, trợ lực như vitamin B1 1 - 3ml Điều trị 2 - 3 ngày con vật tiến triển tốt
Ngoài công tác tiêm phòng chẩn đoán và điều trị bệnh cho gia súc, gia cầm, tôi và các cán bộ thú y của trạm còn tham gia công tác kiểm soát giết mổ tại chợ và giúp đỡ bà con đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất như: tiêm Dextran - Fe cho lợn con ở 3 - 7 ngày tuổi, thiến lợn đực, thiến lợn cái, phối giống cho lợn cái, kết quả đạt được ở bảng sau:
Bảng 2.5 Kết quả công tác phục vụ sản xuất
STT Nội dung công việc Số lượng
Trang 13Phần 2 CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tên đề tài:
“Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh giun tròn ký sinh đường tiêu hóa lợn tại một số xã thuộc huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên và sử dụng thuốc Mebendazol điều trị”
2.1 Đặt vấn đề
Trong số các loài gia súc nuôi ở Việt Nam hiện nay, con lợn giữ vai trò
rất quan trọng Nó cung cấp một khối lượng lớn thịt, mỡ đáp ứng nhu cầu thực phẩm trong nước và xuất khẩu Ngoài ra chăn nuôi lợn còn mang lại lượng phân chuồng khá lớn, góp phần nâng cao năng xuất cây trồng và là nguồn cung cấp các sản phẩm phụ như da, mỡ cho ngành công nghiệp chế biến
Trong những năm gần đây chăn nuôi lợn của Việt Nam đang có tốc độ tăng trưởng rất nhanh, số lượng đầu lợn năm 2002 là 23.17 triệu con đứng thứ
7 trên thế giới, đến năm 2004 tổng đàn lợn cả nước là 26.14 triệu con Thịt và
mỡ lợn chiếm tỷ lệ cao trong tổng lượng thịt được sản xuất tiêu thụ ở nước ta cũng như toàn thế giới Theo tài liệu của FAO số lượng thịt lợn trên toàn thế giới năm 2005 la 100.3 triệu tấn Ở Việt Nam tỷ lệ thịt lợn hơi tính theo đầu người chiếm trên 72% trên tổng số các loại thịt được tiêu thụ Với giá cả phải chăng, chất lượng đảm bảo, là loại thịt an toàn nên nhu cầu tiêu thụ thịt lợn của người dân rất lớn Vì vậy ngành chăn nuôi lợn đã khẳng định rất rõ đặc tính ưu việt của mình trong cuộc sống hiện nay
Trong những năm gần đây do sự phát triển của nền kinh tế thị trường, việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất ngày càng được nâng cao, lai tạo được nhiều loại giống khác nhau, từ đó quy mô phát triển của ngành chăn nuôi cũng rất đa dạng và phong phú Nhưng cũng chính vì vậy mà bệnh dịch ngày càng trở nên phức tạp hơn, đặc biệt là bệnh giun tròn ký sinh
ở đường tiêu hoá của lợn, nó không gây chết lợn ngay mà làm cho lợn còi cọc, sinh trưởng phát triển kém và làm giảm sức đề kháng của lợn từ đó làm
Trang 14ảnh hưởng đến số lượng, chất lượng thịt, làm giảm hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi
Để đánh giá tình hình nhiễm bệnh giun tròn ở lợn và có cơ sở khoa học
đề xuất biện pháp phòng trị bệnh hiệu quả, chúng tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh giun tròn đường tiêu hoá lợn tại
một số xã huyện Võ Nhai, tỉnh Thái nguyên và sử dụng thuốc Mebendazol điều trị”
2.1.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định những loài giun tròn đường tiêu hóa lợn tại một số xã thuộc huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên
- Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn ở đường tiêu hóa lợn tại 4
xã Cúc Đường, Vũ Chấn, Nghinh Tường, Sảng Mộc thuộc huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên
- Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh tích đại thể điển hình của bệnh giun tròn đường tiêu hoá lợn
- Thử nghiệm thuốc Mebendazol điều trị bệnh giun tròn ở đường tiêu hóa cho lợn tại huyện Võ Nhai
2.1.2 Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ những thông tin về bệnh giun tròn ở lợn, có cơ sở khoa học để đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun tròn cho lợn
2.1.3 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ của bệnh giun tròn đường tiêu hóa lợn ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên; về một số đặc điểm bệnh tích điển hình của bệnh giun tròn ở lợn
- Ý nghĩa thực tiễn: Đề ra những biện pháp phòng và điều trị bệnh một cách hiệu quả, hạn chế sự ô nhiễm trứng giun tròn từ môi trường ngoại cảnh vào cơ thể lợn, từ đó hạn chế những thiệt hại do bệnh gây ra
2.2.Tổng quan tài liệu
2.2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá thường là những bệnh tiến triển ở thể mãn tính, triệu chứng không rõ, thường bị triệu chứng của các bệnh khác
Trang 15che lấp Do đó, chính những con vật bị nhiễm đã trở thành nguồn gieo rắc mầm bệnh ra bên ngoài và lây ra các con khác làm cho bệnh càng có điều kiện phát sinh mạnh ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của vật nuôi
Theo Nguyễn Thị Lê (1998) [11], ký sinh trùng phân bố rất rộng trong thiên nhiên gồm các đại diện của 20 lớp động vật khác nhau Có số lượng loài phong phú nhất là ở loài nguyên sinh động vật trên 3000 loài Giun sán gồm đại diện của 13 lớp: Lớp sán lá gần 3000 loài, lớp giun tròn gần 3000 loài, lớp sán dây gần 1500 loài, lớp giun đầu gai 500 loài
2.2.1.1 Giun tròn ký sinh ở đường tiêu hoá lợn
2.2.1.2 Vị trí của giun tròn ký sinh ở đường tiêu hoá lợn trong hệ thống phân loại động vật
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [7], ở lợn cho đến nay đã phát hiện được 52 loài ký sinh trùng gồm giun tròn, sán dây, sán lá, đơn bào, côn trùng
ký sinh Trong đó, có một số loài ký sinh trùng phổ biến mà lợn nhiễm với tỷ
lệ và cường độ cao như bệnh giun đũa lợn do Ascaris suum, bệnh sán lá ruột lợn do Fascioloposis buski,… Những bệnh này đã gây ra các tổn thương và
viêm nhiễm kế phát do vi khuẩn các nội quan của lợn, ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của lợn đặc biệt là tiêu tốn thức ăn tăng, giảm tăng trọng từ
15 - 20% so với lợn không bệnh
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [9] cho biết: lớp giun tròn thuộc ngành
giun tròn Nemathelminthes bao gồm hơn 500.000 loài sống ở các điều kiện
sinh thái khác nhau và phân bố rộng trên toàn cầu Phần lớn giun tròn sống tự
do, chỉ một số ít sống ký sinh ở động vật và thực vật trong khu hệ giun sán ký sinh ở gia súc Việt Nam đã thống kê được 90 loài giun tròn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [3], hiện nay đã biết hơn 5.000
loài thuộc lớp giun tròn (Nematoda) trong đó có hơn 1.000 loài giun sống tự
do, hơn 3.000 loài giun sống ký sinh Các giun tròn ký sinh có liên quan nhiều tới thú y gồm 8 bộ phụ:
+ Bộ phụ giun đũa (Ascaridata)
+ Bộ phụ giun kim (Oxyurata)
+ Bộ phụ giun tóc (Trichocephalata)
Trang 16+ Bộ phụ giun lươn (Rhabdiasata)
+ Bộ phụ giun xoắn (Stronggylata)
+ Bộ phụ giun đuôi xoắn (Spirurata)
Phân lớp Enoplia Chit wood, 1933
Bộ Trichocephaliada Skrjabin et Schulz, 1928
Phân bộ Trichocephalata Skrjabin et Schulz, 1928
Họ Trichocephalidea Bard, 1953
Phân họ Trichocephalinae Ransom, 1911
Giống Trichocephalus Schrank, 1788
Loài Trichocepphalus suis schrank, 1788
Họ Trichostrongydae Witen berg, 1925
Phân họ Oesophagostomatinae Railliet, 1916
Giống Oesophagostomum Molin, 1861
Loài Oesophagostomum dentatum
Phân bộ Rhabditina Chitwood, 1933
Họ Strongyloididae Chitwood et Mcinstosch, 1934
Giống Strongyloides Grassi, 1879
Loài Strongyloides papillosus (Wedl, 1856)
Loài Trongyloides ransomi
Trang 17(Schwartz et Alicata, 1930)
Bộ Ascaridida Skrjabin et Schulz, 1940
Phân bộ Ascaridina Skrjabin, 1915
Họ Ascaris Linacus, 1758
Giống Ascaris Linnaeus, 1758
Loài Acaris suum Goeze, 1782
Chu Thị Thơm và cs (2006) [19], Phan Lục và cs (2006) [12] cho biết:
giun tròn thuộc lớp Nematoda có hơn 3.000 loài sống ký sinh nhưng giun tròn
ký sinh ở súc vật nuôi thuộc các bộ phụ sau:
2.2.1.3 Thành phần loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hoá lợn
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [9], thành phần loài giun tròn ký sinh
ở đường tiêu hoá lợn gồm:
Trichocephalus Schrank, 1788 Trichocephalus suis Schrank , 1788
Strongyloides Grassi, 1879 Strongyloides papillosus (Wedl, 1856)
Strongyloides ransomi Schwartz et Alicata, 1930 Ascaris Linnacus, 1758 Ascaris suum Goeze, 1782
Oesophagostomum Molin, 1861
Oesophagostomum dentatum (Rudolphi, 1803)
Loài Oesophagostomum brevicaudatum
(Shwartz et Alicata, 1930)
Loài Oesophagostomum longicaudum
(Goodey, 1925)
Trang 18Giun tròn ký sinh gây bệnh nguy hiểm cho người, động vật chủ yếu gồm
các đại diện thuộc các bộ sau: Trichocephaliadae, Strongyloidida, Oxyurida,
Ascaridida, Spirurida (Nguyễn Thị Lê, 1998) [11]
2.1.2 Đặc điểm hình thái, kích thước các loài giun tròn đường tiêu hóa lợn
*Đặc điểm hình thái
Theo Chu Thị Thơm và cs (2006) [17], Phan Lục và cs (2006) [12],
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [4], giun tròn thuộc lớp Nematoda, ngành
Nemathelminthes, cơ thể hình ống, hình sợi nhưng hai đầu thon nhỏ dần hoặc
hình ống phân thuỳ có thể hình thoi, hình tròn, hai bên đối xứng có mặt lưng
và mặt bụng không phân đốt Đầu tù, đuôi nhọn, có giun đực và giun cái Giun cái lớn hơn giun đực, giun đực đuôi cong, giun cái đuôi thẳng Kích thước giun thay đổi tuỳ loài Giun tròn gồm nhiều loài sống ký sinh ở động vật
và thực vật
* Đặc điểm hình thái giun đũa lợn (Ascaris suum)
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [4] cho biết: Giun đũa ký sinh ở gia
súc, gia cầm thuộc bộ phụ Ascaridata Bệnh giun đũa lợn do loài Ascaris
suum gây nên, giun ký sinh ở ruột non của lợn nhà và lợn rừng
Theo Phan Lục và cs (2006) [12], giun đũa lợn có màu trắng sữa, hình ống, hai đầu hơi nhọn Đầu giun đũa có 3 môi bao bọc quanh miệng (1 môi ở phía lưng, 2 môi ở phía bụng) Trên rìa môi có một hàng răng cưa rất rõ, cấu tạo của răng này rất khác nhau giữa hai loài giun đũa, hàng răng cưa ở giun đũa người không rõ bằng giun đũa lợn Giun đực dài 12 - 15 cm, đường kính 3,2 - 4,4 mm Đoạn đuôi cong về phía bụng Trên mặt bụng ở mỗi bên có từ
69 - 75 gai thịt, có 7 gai thịt sau hậu môn, những gai thịt khác xếp trên một rồi trên hai hàng, một gai thịt lẻ ở trước hậu môn Con cái dài từ 20 - 30 cm, đường kính 5 - 6 mm, đoạn sau thẳng Đuôi mang hậu môn về phía bụng, hậu môn có hình dạng một cái khe ngang, bọc hai môi gồ lên, âm hộ có hình dáng một lỗ nhỏ hình bầu dục ở về phía bụng khoảng 1/3 đoạn trước thân
Phân biệt giữa giun đực và giun cái là giun đực nhỏ, đuôi cong về mặt bụng, đuôi giun cái thẳng Giun đực có hai gai giao hợp dài bằng nhau, khoảng cách 1,2 - 2 mm không có túi giao hợp
Trang 19Theo Đào Trọng Đạt (1995) [1], trứng giun đũa hình ovan, vỏ dầy, bề mặt nhăn nheo, màu vàng, trong có nhân màu vàng thẫm Kích thước từ 45 -
85 m x 35 - 55 m Vỏ trứng giun có tác dụng phòng vệ cao trong vòng đời phát triển của giun
* Đặc điểm hình thái giun lươn ở lợn (Strongyloides ransomi)
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [4] mô tả: giun lươn sống ký sinh ở ruột lợn, giun cái sống ký sinh dài 2,1 - 4,4 mm Đuôi ngắn, âm hộ ở vào nửa sau của thân giun, trứng uốn khúc Trứng hình bầu dục, màu trắng, kích thước 0,045 - 0,055 mm x 0,026 - 0,035 mm, trong trứng có ấu trùng
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [7] cho biết: Tác nhân gây bệnh giun lươn
ở Việt Nam là hai loài giun lươn thuộc giống Strongyloides ký sinh ở ruột non
của lợn có hình thái sau:
Loài Strongyloides ransomi (Schwartf et Alicata, 1930): Ký sinh ở ruột
non lợn Giun đực có hình sợi, dài 0,87 - 0,90 mm, lỗ huyệt cách nút đuôi 0,07mm Giun cái dài 2,1 - 4,2 mm, rộng 0,04 - 0,08 mm Lỗ sinh dục ở 1/3 phần sau cơ thể cách mút đuôi là 0,36 - 1,53 mm, hai buồng trứng là các ống mỏng xuất phát gần lỗ sinh dục, một buồng trứng hướng lên phía trên cơ thể, buồng còn lại hướng phía đuôi Tử cung chứa 1 - 10 trứng, trứng giun giống hình trứng gà, kích thước 0,037- 0,060 mm x 0,025 - 0,042 mm
Loài Strongyloides papillosusus (Wedl, 1856): Ký sinh ở ruột non của
bò và lợn, con đực chưa được mô tả, con cái hình chữ S, dài 4,8 - 6,3 mm, rộng 0,042 - 0,078 mm, lỗ miệng có 4 môi (1 môi lưng, 1 môi bụng, 2 môi bên), thực quản dài 0,770 - 1,029 mm, lỗ sinh dục có rãnh ngang, cách mút đuôi 1,8 - 2,3 mm, hai bên có mấu lồi kitin, đầu 2 buồng trứng rất gần lỗ sinh dục, một buồng chạy về phía trước, một buồng chạy về phía sau cơ thể
Tử cung chứa 4 - 75 trứng Trứng có vỏ mỏng và phẳng, kích thước 0,048 - 0,060 mm x 0,025 - 0,036 mm
* Đặc điểm hình thái giun kết hạt (Oesophagostomum dentatum)
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [4], các loài thuộc giống
Oesophagostomum có đặc điểm hình thái chung là túi miệng hình ống rất nhỏ,
quanh miệng có một bờ gồ lên hình đĩa, có các tua ở quanh miệng, có rãnh cổ,
Trang 20phía trước rãnh cổ biểu bì nở ra tạo thành túi đầu, sau rãnh cổ có gai cổ, giun đực có túi đuôi và một đôi gai giao hợp dài bằng nhau, âm hộ giun cái ở gần hậu môn
Loài Oesophagostomum dentatum ký sinh ở ruột già của lợn, là loài giun
tròn nhỏ, không có cánh đầu Có 9 rua ngoài và 18 rua trong, túi đầu to gai cổ ở hai bên chỗ phình to của thực quản Giun đực dài 8 - 9 mm, rộng 0,14 - 0,37
mm, có túi đuôi, hai gai giao hợp dài 1 - 1,14 mm Giun cái dài 8 - 11,2 mm,
âm đạo dài 0,1- 0,15 mm, hơi xuyên vào cơ quan thải trứng
* Đặc điểm hình thái giun tóc (Trichocephalus suis)
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [7] cho biết, giun có màu trắng đục, giống một sợi tóc, cơ thể chia làm hai phần rõ rệt: Phần đầu nhỏ thực quản có các tế bào xếp thành chuỗi hạt, có chiều dài bằng 2/3 cơ thể phần sau ngắn và to, bên trong là ruột và cơ quan sinh sản Giun đực dài 20 - 52 mm, rộng 0,634 - 0,713 mm, đuôi hơi tù, phần đuôi cuộn tròn lại Chỉ có gai giao hợp dài 5 - 7
mm được bao bọc trong cái màng có nhiều gai nhỏ bao phủ, lỗ huyệt thông ra ngoài ở phần cuối của giun Giun cái dài 39 - 53 mm, đuôi thẳng, hậu môn ở vào phần cuối của thân, âm hộ ở đoạn cuối cùng của thực quản
Trứng giun tóc hình hạt chanh, màu vàng nhạt, có 2 núm ở 2 đầu, có kích thước 0,052 - 0,061 x 0,027 - 0,03 mm
2.1.3 Cấu tạo của giun tròn
Lớp ngoài là biểu bì bằng giác chất (kitin), có vân ngang, vân dọc hoặc vân chéo Một số loài giun tròn có những chỗ biểu bì phình to gọi là cánh (cánh thân, cánh đuôi - chỉ có một số giun đực có cánh đuôi) Một số loài giun
có gai chồi và các bộ phận phụ khác có tác dụng cảm giác, vận động và bám vào ký chủ Dưới lớp biểu bì là lớp hạ bì gồm một lớp tế bào dẹt Trong cùng
là lớp tế bào cơ có hình sợi, hình bó hoặc hình vòng tuỳ loài
Giun tròn thường có môi, gai, xoang miệng Một số loài giun tròn có túi đuôi, cơ thể giun thường được bao bọc bằng lớp vỏ ngoài dày Trên lớp vỏ này có những vân ngang, dọc, giác, móc và các cấu tạo phụ khác Thành phần của lớp vỏ gồm những chất có trọng lượng phân tử lớn chịu đựng khoẻ với hoá chất, dịch tiêu hoá và chức năng như áo giáp bảo vệ đời sống ký sinh của
Trang 21giun Lớp vỏ ngoài gồm nhiều lớp, những giun ký sinh đường tiêu hoá có từ 7
- 10 lớp (lớp vỏ ngoài, lớp vỏ trong, lớp phiến ngoài, lớp đồng thể, lớp phiến trong, lớp hình băng dải, lớp bazan, lớp màng bazan, lớp nhiều thớ sợi, màng kép bazan)
Dưới lớp vỏ cutin là lớp biểu mô và tiếp đến là lớp cơ giúp giun di chuyển được Sau lớp cơ có những tế bào mầm giúp quá trình trao đổi chất của giun Lớp vỏ cutin cùng với lớp cơ tạo thành túi da cơ, bên trong là xoang
cơ thể có chứa các khí quan:
+ Hệ tiêu hoá: Giun tròn có hệ tiêu hoá khá hoàn chỉnh Có một ống dài
chạy dọc theo thân gồm: Môi Miệng Thực quản Ruột Trực tràng
Hậu môn
Môi (có thể có 3 lá môi quanh miệng hoặc không có, hoặc không rõ) Miệng (thường ở đỉnh đầu), xung quanh miệng là môi, mào Một số loài có xoang miệng, đôi khi có răng bên trong Sau miệng là thực quản hình viên trụ hoặc củ hành, cuối thực quản có tuyến tiết ra dịch tiêu hoá Ruột có
ống dài, tận cùng là lỗ hậu môn thường ở cuối thân Riêng giun chỉ (Filariata)
không có lỗ hậu môn
+ Hệ bài tiết: Gồm có hai ống bắt nguồn từ phía sau và hợp lại ở phía
trước rồi đổ ra ngoài qua lỗ bài tiết ở ngang vùng thực quản
+ Hệ thần kinh: Gồm có một vòng thần kinh thực quản, từ đó phân ra
nhiều nhánh thần kinh đi về phía trước và sau tới các phần của cơ thể Có nhiều nhánh nhỏ nối với các nhánh chính này Đầu mút sợi thần kinh nhỏ nằm trong các gai ở đầu, cổ, thân giun - đó là các gai cảm giác
+ Hệ sinh dục: Hầu hết giun tròn là đơn tính (đực, cái riêng biệt) Bộ
phận sinh dục đực gồm có hai ống nhỏ uốn khúc, có các bộ phận tinh hoàn, ống dẫn tinh, túi bắn tinh thông với lỗ sinh tiết ở cùng chỗ với trực tràng Gần
lỗ sinh tiết có các bộ phận phụ: gai giao hợp (có hoặc không có), bánh lái giao hợp (điều tiết sự vận động), một số giun tròn có bánh lái phụ ở phía bụng của gai giao hợp, lỗ sinh dục giun đực thông ra mặt bụng ở phía đuôi Có nhiều giun đực ở đuôi có cánh đuôi hình thành túi giao hợp, túi đuôi giống hình cái quạt giấy, đối xứng nhau Có các gai chồi sinh dục hình thành những sườn
Trang 22nâng đỡ túi giao hợp (sườn bụng, sườn lưng, sườn hông) Bộ phận sinh dục cái: Gồm hai ống nhỏ uốn khúc hợp với nhau gồm buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo thông ra ngoài qua lỗ sinh dục gọi là âm hộ ở mặt bụng giun Vị trí âm hộ có thể ở phía trước, phía sau, ở gần hậu môn hoặc ở đoạn giữa giun, một số loài có nắp âm hộ
+ Bộ phận hô hấp và tuần hoàn: không có (hô hấp yếm khí), vì sống
trong môi trường yếm khí
2.1.4 Vòng đời của giun tròn
Giun tròn có thể đẻ trứng (giun đũa, giun tóc) hoặc đẻ ra ấu trĩ (giun xoắn, giun chỉ) Ở ngoại cảnh, trứng và ấu trùng này phải có thời gian phát triển thành trứng hoặc ấu trùng gây nhiễm Ấu trùng phải trải qua hai lần lột xác thì thành ấu trùng gây nhiễm Quá trình lột xác như sau: dưới lớp biểu bì
cũ sinh ra một lớp biểu bì mới, rồi lớp biểu bì cũ thay thế lớp biểu bì mới (có loài vẫn giữ lớp biểu bì cũ tạo thành màng bọc ấu trùng, giúp nó chống đỡ với điều kiện ngoại cảnh bất lợi) Trứng sau khi được thụ tinh, trong trứng tiếp tục phát triển từ một phôi bào thành nhiều phôi bào, hình quả dâu, hình ấu trùng giun và hình thành ấu trùng giai đoạn I, sau đó lột xác lần 1 thành ấu trùng giai đoạn II, sau lột xác lần 2 thành ấu trùng giai đoạn III, sau lột xác lần 3 thì
ấu trùng giai đoạn IV được hình thành, sau lột xác lần 4, ấu trùng biến thành giun tròn dạng trưởng thành, ký sinh trong vật chủ Lần lột xác 3, 4 thường xảy ra trong vật chủ cuối cùng
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [9], đa số giun tròn đẻ trứng, một số loài đẻ ấu trùng Trứng được bao bọc trong nhiều lớp vỏ, vỏ ngoài phẳng hoặc lồi lõm, ở một số loài trứng có nắp ở hai cực Trứng hoặc ấu trùng của giun tròn được thải ra môi trường ngoài cùng với phân, đờm, nước tiểu và nước mắt của gia súc
Chu kỳ sống của giun tròn rất đa dạng, một số phát triển trực tiếp nghĩa
là không có thay đổi vật chủ gọi là giun tròn ký sinh sinh học
Căn cứ vào đặc điểm quá trình phát triển, giun tròn được chia làm hai dạng:
+ Giun tròn phát triển trực tiếp (giun tròn địa ốc): Vòng đời phát triển
của những loài giun này không cần vật chủ trung gian Trứng hoặc ấu trùng
Trang 23sau khi được thải trừ từ vật chủ ra môi trường ngoài, tiếp tục phát triển, lột xác đến giai đoạn gây nhiễm (ấu trùng giai đoạn III), và nhiễm trực tiếp cho vật chủ Giun tròn phát triển trực tiếp gồm hai kiểu:
Kiểu thứ nhất: Thường gặp ở giun đũa, giun tóc, giun kim Quá trình phát triển theo sơ đồ sau:
Dạng trưởng thành -> trứng -> trứng gây nhiễm (vật chủ cuối cùng) (chứa ấu trùng A3)
Kiểu thứ hai: Thường gặp ở giun xoắn (strongylidae), giun thận (stephanurus), giun móc (ancylostoma)… và diễn ra như sau:
+ Giun tròn phát triển gián tiếp (giun tròn sinh học): Vòng đời phát
triển của những loài giun này cần có vật chủ trung gian Ấu trùng phát triển đến giai đoạn gây nhiễm ở trong vật chủ trung gian Giun tròn phát triển gián tiếp gồm hai kiểu:
Kiểu thứ nhất: Thường gặp ở giun đuôi xoắn (spirurata), giun phổi (metastrongylus)… Giun trưởng thành trong vật chủ cuối cùng sau khi thụ
tinh đẻ trứng Khi ra khỏi vật chủ, trong trứng đã có ấu trùng A1 Vật chủ trung gian (côn trùng, giáp xác, giun đất…) nuốt phải những trứng này, ấu trùng thoát khỏi vỏ trứng, lột xác và phát triển thành ấu trùng A2, lại lột xác thành ấu trùng A3 (gây nhiễm) Khi xâm nhập vào vật chủ cuối cùng, ấu trùng gây nhiễm tiếp tục phát triển thành giun trưởng thành
thành
(ở vật chủ cuối
vỏ trứng
Xâm nhập vào vật chủ cuối cùng lột xác
Trang 24Kiểu thứ hai: Thường gặp ở giun chỉ (Filariata) Giun trưởng thành thụ
tinh, đẻ ấu trùng A1 trong cơ thể vật chủ Ấu trùng A1 vào hệ tuần hoàn, vào máu Khi vật chủ trung gian (côn trùng) hút máu, ấu trùng A1 xâm nhập vào vật chủ trung gian và phát triển thành ấu trùng A2, A3 (ấu trùng gây nhiễm) Khi côn trùng là vật chủ trung gian hút máu, ấu trùng A3 xâm nhập vào vật chủ cuối cùng và phát triển thành giun trưởng thành
Ngoài các dạng trên, giun xoắn (Trichinella spiralis) có vòng đời phát
triển rất đặc biệt Giun cái đẻ ấu trùng ở niêm mạc ruột vật chủ Ấu trùng xâm nhập vào hệ tuần hoàn và di hành về các cơ, tạo thành ấu trùng gây nhiễm Vì thế, vật chủ cuối cùng và vật chủ trung gian là cùng một động vật nhiễm
Trichinella spiralis
* Vòng đời của giun đũa lợn
Theo Phan Lục (2006) [12], giun đũa ký sinh ở ruột non Sau khi thụ tinh, giun cái đẻ trứng số lượng trứng từ 10.000 - 150.000 trứng/ngày Trứng theo phân ra môi trường ngoài, sau 2 - 3 tuần trong trứng phát triển thành ấu trùng gây nhiễm Nếu lợn nuốt phải trứng gây nhiễm ở đường tiêu hoá, ấu trùng được giải phóng ra xuyên qua niêm mạc ruột, vào tĩnh mạch màng treo, theo tuần hoàn về tim phổi Ấu trùng được ho lên miệng, cùng niêm dịch viêm phổi trở lại đường tiêu hoá, lột xác thành giun trưởng thành, ký sinh ở ruột non và tiếp tục đẻ trứng sau 2 - 2,5 tháng
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [3] cho biết: vòng di chuyển của giun đũa là vòng di chuyển từ gan - phổi - ruột
Trang 25Giun đũa hình thành vòng đời là 54 - 62 ngày, tuổi thọ của giun đũa là không quá 7 - 10 tháng, giun đũa lợn phát triển không cần ký chủ trung gian
Giun cái đẻ mỗi ngày 200.000 trứng, trung bình một giun cái đẻ 27 triệu trứng (Cram, 1923) Trứng theo phân ra ngoài, ở nhiệt độ khoảng 240
C
và ẩm độ thích hợp, trong 2 tuần trong trứng có phôi thai, sau một tuần nữa thì phôi thai lột xác thành trứng có sức gây bệnh Lợn nuốt phải trứng này thì
ấu trùng nở ở ruột, chui qua niêm mạc vào mạch máu, theo máu về gan Một
số ít chui vào ống lâm ba và màng treo ruột, vào tĩnh mạch màng treo ruột vào gan Sau khi nhiễm 4 - 5 ngày thì hầu hết ấu trùng di hành tới phổi, sớm nhất
là sau 18 giờ muộn nhất là sau 12 ngày vẫn có ấu trùng vào phổi Khi tới phổi, ấu trùng lột xác thành ấu trùng kỳ III, ấu trùng này từ mạch máu phổi chui vào tế bào, qua khí quản và cùng với niêm dịch lên hầu, rồi được nuốt xuống ruột non, lột xác lần nữa và phát triển thành giun trưởng thành Thời gian ấu trùng di hành là 2 - 3 tuần, trong khi di hành một số ấu trùng có thể vào lách, tuyến giáp trạng, não,…
Giun đũa sống bằng chất dinh dưỡng của ký chủ, bằng cách tiết dịch tiêu hoá, phân giải tổ chức ở niêm mạc ruột và lấy tổ chức đó nuôi bản thân
* Vòng đời của giun lươn lợn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [3], giun lươn cái đẻ trứng ở ruột non, trứng theo phân ra ngoài đã có ấu trùng ở bên trong Trứng ra ngoài
sẽ phát triển theo hai hướng:
+ Trực tiếp: Vào mùa hè (ấm áp) trứng phát triển nhanh, sau 5 - 6 giờ nở
ra ấu trùng giun lươn, 1 - 2 ngày sau phát triển thành ấu trùng có sức gây nhiễm
+ Gián tiếp: Ấu trùng phát triển thành giun đực và giun cái Sau giao phối, giun cái đẻ ra trứng có ấu trùng, ấu trùng có sức gây nhiễm ở hướng phát triển trực tiếp hay gián tiếp hoàn toàn giống nhau (dài 0,6 - 0,7 mm, thực quản hình ống dài, không có chỗ phình to) Ấu trùng này vào cơ thể ký chủ theo hai đường:
Chui qua da vào tổ chức liên kết, tới cơ, theo máu hệ lâm ba về phổi, ấu trùng chui qua mạch máu vào chi nhánh khí quản, theo đờm lên hầu rồi được nuốt xuống ruột non, sau 6 - 8 ngày thì thành giun lươn ký sinh
Trang 26Qua đường tiêu hoá, ấu trùng lẫn vào thức ăn, nước uống, vào đường tiêu hoá thì chui qua niêm mạc dạ dày vào mạch máu, vào phổi cũng giống như trên
Tuổi thọ của giun lươn ở gia súc non khoảng 5 - 9 tháng
Phạm Sỹ Lăng (2006) [7] cho biết, giun sống trong hoặc dưới lớp niêm mạc ruột non Giun cái sống ký sinh và sinh sản đơn tính Giun đực và giun cái sống tự do và thực hiện giao cấu ngoài ký chủ Sự cảm nhiễm của vật chủ
do nuốt phải ấu trùng cảm nhiễm giai đoạn III và ấu trùng này chui qua da Sau khi vào cơ thể gia súc mang thai ấu trùng có thể di hành trong máu, qua nhau thai gây nhiễm cho bào thai trước khi sinh Ký sinh trùng còn có thể xâm nhập vào cơ thể vật nuôi sơ sinh qua bú sữa đầu
Ấu trùng sau khi xâm nhập vào máu về phổi, đi vào các phế nang, gây
ho và tiết dịch Chúng phát triển trong cơ thể vật chủ đến trưởng thành mất khoảng 9 ngày Sự phát triển của chúng theo hai con đường:
Một là vòng đời đơn tính do giun cái trưởng thành đẻ trứng trong cơ thể vật chủ mà không cần thụ tinh Trứng thải qua phân ra ngoài rồi phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm giai đoạn III
Hai là vòng đời hữu tính, giun trưởng thành đẻ trứng ở ruột non, trứng phát triển thành ấu trùng các giai đoạn, các ấu trùng này phát triển thành giun đực và giun cái trưởng thành Chúng có thể sống ngoài cơ thể vật chủ Trứng được thụ tinh, nhóm này sẽ phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm và được vật chủ nuốt vào cơ thể, giai đoạn này thực hiện trong vòng 10 ngày
* Vòng đời của giun kết hạt lợn
Vòng đời của giun kết hạt không cần vật chủ trung gian Trứng có kích thước 70 - 74 m x 40 - 42 m gồm 8 - 16 hạt (trong vỏ trứng khi mới nở gặp
ở nhiệt độ 25 - 270
C), sau 7 - 10 giờ trứng nở thành ấu trùng, ấu trùng I sau 24 giờ ở nhiệt độ 22 - 240C phát dục thành ấu trùng II, sau 2 ngày thì thành ấu trùng gây nhiễm III Trứng nở thành ấu trùng ở ngoại cảnh Ấu trùng trải qua hai lần biến thái để trở thành ấu trùng có sức gây bệnh Ấu trùng chui vào niêm mạc ruột và tạo thành hạt trên thành ruột
Trang 27Trứng Ấu trùng
(có sức gây nhiễm) nhggggagggggggâygggnhnhinhinhiễm) Phân t0, A0, pH
Gia súc nuốt
Thọc sâu đầu vào niêm mạc ruột
Trichocephalus suis
(manh tràng)
Thời gian hoàn thành vòng đời 24 - 43 ngày
Trứng theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ 25 - 270
C, sau 10 - 17 giờ nở thành ấu trùng, qua 2 lần lột xác, sau 7 - 8 ngày thành ấu trùng gây nhiễm Khi ký chủ nuốt phải, ấu trùng này tới ruột thì chui vào niêm mạc ruột tạo thành những u kén, lột xác lần thứ 3, tới ngày 6 - 8 thì thành ấu trùng kì IV, sau đó rời khỏi niêm mạc ruột vào xoang ruột và lột xác lần nữa thành giun trưởng thành (Phạm Sỹ Lăng, 1997) [6]
* Vòng đời của giun tóc lợn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [3], vòng đời phát triển của giun tóc diễn ra theo sơ đồ sau:
Ấu trùng kì V
(phát triển trong xoang ruột)
Trang 28Thời gian hoàn thành vòng đời là 30 - 52 ngày
Giun cái đẻ trứng trong ruột già của ký chủ Trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi qua 15 - 28 ngày trứng phát triển thành trứng có sức gây bệnh Trứng này theo thức ăn, nước uống vào đường tiêu hoá của ký chủ,
ấu trùng được nở ra, chui sâu vào niêm mạc ruột già, tiếp tục phát triển thành giun trưởng thành
Thời gian hoàn thành vòng đời trong cơ thể tuỳ loài giun tóc nhưng đối
với Trichocephalus suis cần 30 ngày
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [7], giun tóc phát triển vòng đời không cần vật chủ trung gian Giun cái đẻ trứng trong ruột già của vật chủ Trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi (nhiệt độ 18 - 300C, ẩm độ
80 - 85%) sẽ phát triển thành trứng cảm nhiễm sau 15 - 28 ngày
Lợn nuốt phải trứng cảm nhiễm qua thức ăn, nước uống sẽ bị nhiễm giun, Trứng cảm nhiễm vào ruột lợn phát triển thành giun trưởng thành cần 30 ngày
Trang 29Nuôi trong phòng thí nghiệm trứng phát triển thành phôi thai bình thường trong dung dịch foocmol 2% Theo Soulsby (1965), dưới ánh sáng mặt trời trực tiếp trứng bị diệt trong một vài tuần Theo Phạm Chức (1980), trứng giun đũa phát triển bình thường trong axit axetic và axit lactic 20% nhưng axit picric đặc có thể dung giải vỏ kitin Trứng bị phá huỷ trong NaOH 10% ở 700
C trong vòng 15 - 20 phút Formalin 10% làm cho trứng không nở
và ấu trùng trở nên không gây nhiễm
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [4], trứng giun đũa có sức đề kháng rất cao do có 4 lớp vỏ dày, trong điều kiện tự nhiên sống được 1- 2 năm, có sức đề kháng mạnh với một số chất hoá học như Formol 2%, Creolin 3%, H2SO4 1%, NaOH 2%
Ở nhiệt độ 45 - 500C chết trong nửa giờ, nước nóng 600C diệt trứng trong 5 phút, nước 700C chỉ cần 1 - 10 giây Vì vậy ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh học sẽ diệt được trứng giun đũa
Trứng giun lươn có sức đề kháng yếu ở nhiệt độ thấp trứng ngừng phát triển Ở trên 500
C và - 90C trứng bị chết Ấu trùng gây nhiễm sống ở nơi ẩm ướt được 2 tháng, không sống được ở nơi khô hạn
Sức đề kháng của giun kết hạt là 5 - 90C trứng ngừng phát triển, ở nhiệt
độ 350
C trứng bị chết Gặp điều kiện thích hợp trứng phát triển thành ấu trùng gây nhiễm trên dưới một tuần
2.1.6 Bệnh giun tròn ở đường tiêu hoá lợn
2.1.6.1 Đặc điểm dịch tễ học của một số bệnh giun tròn đường tiêu hoá lợn
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (1997) [6], giun đũa phân bố rộng khắp thế giới nguyên nhân chính là do vòng đời của giun đũa rất đơn giản, truyền trực tiếp và sức đề kháng của trứng giun rất cao
Theo Phan Lục và cs (2006) [12], lợn thường nhiễm giun đũa với tỷ lệ cao, cường độ lớn ở lứa tuổi 3 - 5 tháng Lợn nuôi thả có tỷ lệ nhiễm giun cao hơn nuôi nhốt Lợn thiếu dinh dưỡng, thiếu vitamin thường bị nhiễm giun cao hơn so với lợn đầy đủ dinh dưỡng Trứng giun ở giai đoạn gây nhiễm có sức
đề kháng tốt với điều kiện bất lợi của môi trường
Trang 30Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [8], điều tra mổ khám lợn ở 7 tỉnh miền Bắc và miền Trung kết quả như sau: Tỷ lệ lợn nhiễm giun đũa từ 13,2 - 43,55% với cường độ nhiễm trung bình từ 3,0 - 21,5 con/lợn Tỷ lệ nhiễm giun tóc từ 12,5 - 40,3% với cường độ nhiễm cao có trường hợp thấy 1219 con giun tóc ở ruột già của 1 lợn
Về biến động nhiễm giun tròn theo lứa tuổi, tác giả Phan Địch Lân và
cs (2005) [8] cho biết: tỷ lệ lợn nhiễm giun đũa cao ở lứa tuổi dưới 2 tháng đến 7 tháng tuổi, sau đó tỷ lệ giảm dần theo tuổi Lợn con dưới 2 tháng tuổi tỷ
lệ nhiễm 39,2%, lợn 3 - 4 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 48,0%, lợn 5 - 7 tháng tuổi tỷ
lệ nhiễm 48,3%, trên 8 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 24,9% Do vậy, nắm được sự biến động nhiễm giun tròn theo tuổi để làm cơ sở cho kế hoạch tẩy trừ giun tròn và phòng bệnh
Đường truyền bệnh: Chủ yếu qua đường tiêu hóa, lợn liếm dụng cụ, máng ăn và đất ở bãi chăn nên trứng dễ theo vào đường tiêu hoá Khi bón phân tươi cho ruộng trồng cây thức ăn thì trứng giun đũa sống được vài tháng
ở thức ăn xanh Lợn con nhiễm bệnh do lúc bú nuốt phải trứng giun ở đầu vú
mẹ (Nguyễn Văn Thưởng và cs, 2004) [20]
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [4], thì tỷ lệ nhiễm giun kết hạt theo tuổi lợn như sau: lợn dưới 2 tháng tuổi nhiễm 46,9%, lợn dưới 3 - 4 tháng tuổi nhiễm 67,4%, lợn dưới 5 - 6 tháng tuổi nhiễm 72,1%, lợn trên 8 tháng tuổi nhiễm 73,3%, tỷ lệ nhiễm giun kết hạt ở các loài gia súc khác nhau thì khác nhau
Phan Địch Lân và cs (2005) [8] cho biết: tỷ lệ nhiễm giun kết hạt ở lợn tăng dần theo tuổi do lợn con có sức đề kháng tốt đối với giun kết hạt nên tỷ
lệ nhiễm thấp Tuy ấu trùng gây nhiễm vào lợn con nhưng không gây ra những u kén ở ruột, ngược lại đối với lợn lớn sau khi ấu trùng gây nhiễm vào thì gây bệnh rất nặng và trên ruột có rất nhiều u kén Ngoài ra do thời gian
sống của Oesophagostomum dentatum ở trong cơ thể lợn tương đối dài từ 8 -
10 tháng Quá trình truyền lây giun này còn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng…) Ở mỗi vùng, khi gặp điều kiện thích hợp trứng phát triển thành ấu trùng gây nhiễm phải trên dưới một tuần, khi nhiệt độ 90
C
Trang 31thì trứng ngừng phát triển, khi nhiệt độ 350C thì trứng bị chết Ngoài ra, truyền lây bệnh này còn liên quan đến tình hình chăn thả Nếu thường xuyên chăn thả trên bãi chăn đã bị ô nhiễm mầm bệnh thì gia súc rất dễ nhiễm phải giun này
Theo Trịnh Văn Thịnh (1963) [17]: tỷ lệ nhiễm giun tóc lợn (ở Hà Nội) theo tuổi lợn như sau: lợn từ 2 - 6 tháng tuổi nhiễm 4,3 - 30%, lợn trên 6 tháng tuổi nhiễm 0,56 - 7,8%, không thấy giun tóc ở lợn dưới 2 tháng tuổi Điều kiện chăn nuôi tốt, vệ sinh và dinh dưỡng đầy đủ tỷ lệ nhiễm thấp 2,5% Ngược lại điều kiện chăn nuôi kém thì tỷ lệ tăng 23% Tỷ lệ nhiễm giun tóc qua mổ khám ở 1 số vùng như sau: Nghĩa Lộ 40,3%, Quảng Ninh 33,7%, Hà Bắc 27,3%, Thanh Hóa 12,5%, Hải Hưng 15,1%, Nam Hà 33,3%, với cường
độ nhiễm cao có trường hợp thấy 1219 con giun tóc ở ruột già của 1 lợn
Đối với giun lươn thì bệnh giun lươn thấy nhiều ở súc vật nuôi, gia súc lớn có nhiễm ấu trùng gây nhiễm nhưng giun không phát triển thành giun trưởng thành, gia súc già yếu cũng có thể mắc bệnh Bệnh thấy quanh năm nhưng mắc nhiều hơn ở mùa ấm (Xuân - Hè - Thu)
2.1.6.2 Cơ chế sinh bệnh của giun tròn ở đường tiêu hoá lợn
Bệnh ký sinh trùng ở đường tiêu hoá của lợn thường tiến triển ở thể mãn tính Vì vậy, các triệu chứng biểu hiện thường không rõ ràng và thường
bị các triệu chứng khác che lấp, nên người ta thường ít quan tâm, để ý tới nó
Vì vậy, con vật nhiễm bệnh thường gieo rắt ra bên ngoài, lây lan từ con này sang con khác, làm cho mầm bệnh có điều kiện phát sinh Những con mắc bệnh thì cơ thể gầy còm, thiếu máu, giảm sức đề kháng Sở dĩ, có tác hại này
là do bốn tác động sau của ký sinh trùng đến cơ thể vật chủ
* Tác động cơ giới: Hầu hết các ký sinh trùng đều gây nên những biến
loạn cơ giới, ngăn trở ít hay nhiều khí quan mà nó xâm nhập, làm tắc, chèn
ép, phá vỡ các tổ chức hoặc làm thủng, rách, do khí quan bám hút của ký sinh trùng mà làm tróc niêm mạc, gây xuất huyết và viêm thường gặp ở thể cấp tính, thứ cấp tính, mãn tính
* Tác động chiếm đoạt: Ký sinh trùng tự nuôi dưỡng cơ thể bằng cách
ăn tổ chức của ký chủ, cướp một phần thức ăn của ký chủ đã tiêu hóa, hút
Trang 32máu ký chủ Tác động này tiếp diễn liên tục bởi rất nhiều ký sinh trùng, gây nên tổn hại rất lớn cho ký chủ như thiếu máu, gầy còm, niêm mạc nhợt nhạt, lông xù, tiêu chảy…
* Tác động đầu độc: Ký sinh trùng bài tiết các chất độc hàng ngày, ký
chủ hấp thụ chất độc, sinh ra những biến loạn khác nhau nhưng thường thấy nhất là biến loạn thần kinh và tuần hoàn Nói chung, chất độc do ấu trùng bài tiết mạnh hơn thành trùng
* Tác động truyền bệnh: Một số loài tiết túc đốt súc vật, làm cho con
vật khó chịu có thể bị viêm ngoài da nhưng không nguy hiểm mà cái nguy hiểm là chúng truyền bệnh truyền nhiễm có thể thành dịch lưu hành giết hại nhiều súc vật Ngoài ra, giun tròn cắn các niêm mạc gây thương tích cũng phá
vỡ phòng tuyến thượng bì, mở đường cho các vi khuẩn trong môi trường chúng xâm nhập cơ thể, vi khuẩn gây bệnh ghép với bệnh ký sinh trùng Ký sinh trùng và vi trùng thường kết hợp làm tổn hại thêm cho ký chủ
Sau đây là cơ chế sinh bệnh của giun tròn đường tiêu hóa lợn:
+ Bệnh giun đũa lợn:
Thời kỳ ấu trùng hay trưởng thành đều gây bệnh Ấu trùng di hành gây tổn thương các khí quan mở đường cho vi khuẩn vào cơ thể Ấu trùng di hành qua phổi làm cho bệnh suyễn lợn càng nặng hơn và tỷ lệ phát bệnh có thể tăng gấp 10 lần
Theo Anderdahl (1957) [23], nếu cho lợn khỏe nuốt trứng giun đũa, sau 5 ngày cho nhiễm bệnh suyễn thì bệnh tích ở phổi rộng gấp 10 lần so với lợn chỉ bị bệnh suyễn Khi ấu trùng theo máu vào gan gây lấm tấm xuất huyết, đồng thời gây huỷ hoại tế bào gan Khi ấu trùng từ mạch máu phổi di chuyển tới phế bào gây ra vỡ mạch máu, ở phổi có nhiều điểm xuất huyết, phổi bị viêm, triệu chứng viêm phổi có thể kéo dài 5 - 14 ngày, có khi làm con vật chết Khi là giun trưởng thành thì làm loét niêm mạc ruột non, gây đau bụng, nếu nhiều thì làm tắc ruột, khi chui vào ống dẫn mật làm tắc gây hoàng đản
Giun đũa tiết độc tố gây nhiễm độc thần kinh trung ương và mạch máu, con vật có triệu chứng thần kinh như tê liệt hoặc hưng phấn, co giật
Trang 33Giun lấy chất dinh dưỡng của ký chủ, thải cặn bã gây độc cho ký chủ Kết quả là làm cho ký chủ gầy còm, chậm lớn Giun đũa nhiều làm tắc ruột có khi thành búi, ruột có thể rách hay thủng
Lợn bị giun đũa thường yếu ớt, mệt mỏi, lông xù, dần dần gầy còm Nếu làm rách ruột thì lợn chết đột ngột Giun có thể chui lên dạ dày, thực quản, ra, mồm hoặc qua yết hầu vào phổi gây ngạt thở
Giun tóc lấy dịch tổ chức niêm mạc ruột để sống gây ra hiện tượng xuất huyết, viêm ruột và dẫn đến ỉa chảy
2.1.6.3 Triệu chứng và bệnh tích của bệnh giun tròn đường tiêu hoá lợn
* Đối với bệnh giun đũa lợn:
+ Triệu chứng: Lợn 3 - 6 tháng tuổi có triệu chứng rõ như gầy còm, chậm lớn, lông xù, niêm mạc nhợt nhạt Khi ấu trùng ở phổi gây viêm phổi (thân nhiệt tăng cao, ăn kém, hô hấp nhanh và ho) Khi giun trưởng thành thì triệu chứng không rõ như chậm lớn, gầy, sút cân, rối loạn tiêu hoá, nhiều khi
Trang 34làm tắc ruột, thủng ruột, đau bụng, một số con có triệu chứng thần kinh, nổi mẩn Ở lợn to thì triệu chứng không rõ
+ Bệnh tích: Khi viêm phổi thấy trên mặt phổi có đám xuất huyết màu
đỏ sẫm, có nhiều ấu trùng giun đũa ở phổi Khi giun trưởng thành thấy ruột non viêm cata, có nhiều giun ký sinh ở ruột non Nếu tắc và vỡ ruột thì có bệnh tích viêm phúc mạc
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (1997) [5], những triệu chứng chính của bệnh là: viêm ruột, bần huyết và gầy dần, có triệu chứng thần kinh Ấu trùng
di hành qua phổi có thể gây tụ huyết hay viêm phổi, có khi thấy nổi mụn nước hay mụn ngoài da về sau đóng vẩy Khi ấu trùng theo máu về gan, dừng lại ở mạch máu gây ra lấm tấm xuất huyết, đồng thời gây huỷ hoại tế bào gan, ấu trùng từ mạch máu phổi di chuyển tới phế bào nên mạch máu bị vỡ, ở phổi có nhiều điểm xuất huyết Khi ấu trùng di hành tới phổi gây ra viêm phổi Triệu chứng viêm còn phụ thuộc mức độ nhiễm, có thể kéo dài 51 - 114 ngày, có khi làm con vật bị chết
* Đối với bệnh giun kết hạt lợn:
+ Triệu chứng: Thường thấy ở hai giai đoạn:
Giai đoạn ấu trùng chui vào niêm mạc ruột gây triệu chứng cấp tính như ỉa chảy, phân có chất nhày, đôi khi có máu tươi, có một số ít con nhiệt độ lên cao, bỏ ăn, gầy còm, khi ấn vào bụng thấy đau, thiếu máu, niêm mạc nhợt nhạt, ỉa chảy kéo dài làm con vật gầy dần và chết
Giai đoạn giun trưởng thành thường gây triệu chứng mãn tính: Có từng thời kỳ con vật kiết lị, chậm lớn, gầy còm, các triệu chứng khác không rõ lắm
+ Bệnh tích: Sau khi nhiễm 5 ngày thì thấy những u kén nhỏ ở trên niêm mạc ruột, ở giữa u kén có màu vàng, trong có ấu trùng giun, có khi bọc này bị hoại tử, bên trong có mủ và bị loét, tới ngày thứ 7 - 8 thì kết tràng bị viêm có mủ
Có khi tới vài nghìn u kén trên một đoạn ruột, u kén to bằng đầu đinh ghim, các
u này có khi bị vôi hoá, chỉ thấy ấu trùng ở những hạt chưa bị vôi hoá
* Đối với bệnh giun lươn lợn:
+ Súc vật non nhiễm bệnh thể hiện triệu chứng rõ rệt Lợn con sau đẻ 3 -
4 tuần bệnh nhiễm rất nặng, chết tới 50% con vật gầy còm, có mụn trên da (do
Trang 35ấu trùng giun lươn chui qua da gây viêm da), viêm kết mạc mắt, ỉa chảy, phân
có lẫn máu, thân nhiệt tăng, có triệu chứng viêm phổi (con vật ho), triệu chứng kéo dài 15 - 30 ngày Nếu nặng có thể chết do bị mất nước, rối loạn chất điện giải trong trạng thái viêm ruột cấp, khi nhiễm nhẹ triệu chứng không rõ rệt
+ Bệnh tích: Dưới da có những điểm tụ huyết, tổ chức cơ và phổi cũng
có nhiều điểm hoặc đám tụ huyết, viêm khí quản, viêm cata dạ dày - ruột, niêm mạc ruột có những điểm tụ huyết, niêm mạc dạ dày có nhiều mụn loét nhỏ
* Đối với bệnh giun tóc lợn:
+ Triệu chứng: Khi nhiễm nhẹ thì triệu chứng không rõ, khi nặng thì con vật gầy yếu, thiếu máu, trong phân có lẫn máu và niêm mạc ruột, con vật có khi
bị kiết lị Bệnh thường thấy ở lợn con, lợn mẹ còn lợn vỗ béo rất ít bị bệnh
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [7], lợn trưởng thành nhiễm giun thường không thể hiện rõ các triệu chứng lâm sàng Lợn con ở 2 - 4 tháng tuổi
bị nhiễm xuất hiện các triệu chứng như ỉa chảy lúc đầu phân lỏng sau phân sệt
có nhiều dịch nhầy như mũi, lẫn máu Mỗi lần thải phân lợn bệnh phải cong lưng để rặn nhưng phân ra rất ít Các triệu chứng trên giống như lợn bị bệnh
lị Nếu lợn không được điều trị, lợn con sẽ kiệt sức và chết sau 6 - 10 ngày Lợn bị bệnh mãn tính thì còi cọc, thiếu máu, tăng trọng giảm
+ Bệnh tích: Niêm mạc ruột già bị viêm, xuất huyết, trên niêm mạc có nhiều giun tóc trưởng thành cắm sâu vào thành ruột, xác chết gầy, có nhiều giun ở ruột già (nhất là manh tràng)
Một số giun vẫn cắm sâu vào niêm mạc ruột phải kéo mạnh mới lấy được Trên niêm mạc ruột có nốt loét to bằng hạt đậu xanh Khi nhiễm nặng, toàn bộ manh tràng xuất huyết màu hồng sẫm, niêm mạc ruột bị bong ra
2.1.6.4 Chẩn đoán bệnh giun tròn ở đường tiêu hóa lợn
Phương pháp chẩn đoán bệnh giun tròn ở vật nuôi gồm có các phương
pháp như: Phương pháp Fulleborn, phương pháp Darling, phương pháp
Cherbovich, phương pháp chẩn đoán bằng kháng nguyên, phương pháp mổ
khám tìm giun tròn
* Chẩn đoán bệnh giun đũa lợn:
Đối với con vật sống: Kiểm tra phân bằng phương pháp phù nổi tìm trứng giun Có thể dùng phản ứng biến thái nội bì (dùng kháng nguyên pha
Trang 36loãng 1:200 tiêm nội bì vành ngoài tai hoặc nhỏ vào xoang kết mạc mắt) phương pháp này rất tốt không gây phản ứng chéo với các giun khác, có kết quả dương tính sau khi nhiễm giun đũa 8 - 11 ngày
Đối với súc vật chết: Mổ khám tìm giun trưởng thành, ấu trùng và kiểm tra bệnh tích
* Chẩn đoán bệnh giun lươn ở lợn:
Vì kích thước giun nhỏ nên phải có kỹ thuật mổ khám và thu thập giun sán tốt mới thấy được giun lươn Do đó, phương pháp chẩn đoán chủ yếu là xét nghiệm phân bằng phương pháp phù nổi để tìm trứng giun lươn
* Chẩn đoán bệnh giun kết hạt ở ruột lợn:
Xét nghiệm phân tìm trứng giun kết hạt, nhưng phương pháp này ít có
ý nghĩa vì trứng Oesophagostomum giống trứng các loại giun xoăn khác
Nuôi trứng nở thành ấu trùng và kiểm tra trên kính hiển vi hình thái và cấu tạo của ấu trùng Mổ khám kiểm tra bệnh tích (các u kén ở ruột), tìm giun trưởng thành
* Chẩn đoán bệnh giun tóc ở lợn:
Xét nghiệm phân bằng phương pháp phù nổi để tìm trứng giun Có thể
mổ khám tìm giun và kiểm tra bệnh tích ở ruột già (manh tràng)
2.1.6.5 Biện pháp phòng trị bệnh giun tròn đường tiêu hoá lợn
* Biện pháp phòng bệnh giun tròn
Phòng bệnh ký sinh trùng có nhiều biện pháp nhưng đều nhằm mục đích không cho mầm bệnh ký sinh trùng phát triển, thực hiện tốt các chu trình tiến hoá của nó, để nó không thể sinh ra ký sinh trùng trưởng thành mới được
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [4], các phương pháp tấn công
ký sinh trùng ở từng giai đoạn như sau:
Chống giai đoạn thứ nhất: Ký sinh trùng trưởng thành đẻ trứng ở ký chủ cuối cùng Có thể tiêu diệt nó bằng hai phương pháp: Dùng thuốc đặc hiệu diệt ký sinh trùng (việc tẩy ký sinh trùng này có tính chất dự phòng, tức
là thực hiện trước khi súc vật phát hành triệu chứng bệnh và trước khi súc vật gieo rắc mầm bệnh ra bên ngoài môi trường), tiêu diệt ký sinh trùng bằng cách giết tất cả những vật mắc bệnh (phương pháp này triệt để nhưng tốn kém mặc dù thịt súc vật vẫn sử dụng được)
Trang 37Chống giai đoạn thứ hai: Trứng
Có thể dùng hai phương pháp: Tiêu diệt hầu hết trứng bằng cách thu nhặt hết phân của gia súc ốm trong chuồng và đem chôn (biện pháp này phải làm đi làm lại nhiều lần để trứng không có thời gian phát triển thành phôi thai) hoặc có thể ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh vật học Đối với súc vật chăn thả, phải ngăn không cho trứng trên đồng cỏ phát triển bằng cách làm cho đồng cỏ khô ráo
Chống giai đoạn thứ ba và thứ tư: Phôi thai và ấu trùng tự do ngoài thiên nhiên có hai cách:
Diệt toàn bộ phôi thai và ấu trùng ngoài đồng cỏ và ao tù bằng vôi bột, sunfat sắt, sunfat đồng với lượng dùng 400 kg cho 1ha đồng cỏ, 5 kg cho 100m3 nước ao
Không cho phôi thai hay ấu trùng xâm nhập vào cơ thể ký chủ (cách ly súc vật ốm, tiêu độc dụng cụ và chuồng nuôi, vệ sinh thức ăn, nước uống, diệt
ký chủ trung gian)
Quan điểm của Skrjabin KI (1977) [22] đã đề ra học thuyết tiêu diệt tận gốc bệnh giun sán Học thuyết này có thể áp dụng cho các bệnh ký sinh trùng khác Nội dung của học thuyết là dự phòng có tính chất chủ động như dùng tất
cả các biện pháp cơ giới, vật lý, hoá học, sinh vật học nhằm tiêu diệt ký sinh trùng trên cơ thể ký chủ, tiêu diệt ký sinh trùng ngoại giới, tiêu diệt ký sinh trùng
ở tất cả các giai đoạn phát dục, tiêu diệt ký sinh trùng ở cả người và gia súc
Về mặt điều trị gia súc bệnh, nội dung của nó cũng là dự phòng: Chữa cho một súc vật khỏi bệnh, diệt được ký sinh trùng trong cơ thể nó là trừ được một con vật mang ký sinh trùng, trừ được một nguồn gieo mầm bệnh
Như vậy, đối với con vật mắc bệnh là điều trị nhưng đối với các con khác là tích cực đề phòng Vì vậy, việc phòng và trị bệnh giun sán tuy là hai vấn đề khác nhau nhưng chúng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau để tiêu diệt giun sán tận gốc, tránh lây lan mầm bệnh
Mỗi hộ gia đình, mỗi trại chăn nuôi cần phải thực hiện các biện pháp phòng trừ tổng hợp như sau:
+ Định kỳ cho thuốc tẩy giun sán
Trang 38+ Dùng thuốc đặc hiệu để tẩy giun sán, chống tái nhiễm, bội nhiễm + Nuôi dưỡng chăm sóc tốt
+ Xử lý phân để diệt các mầm bệnh giun sán
+ Điều trị trên quy mô lớn
+ Đảm bảo vệ sinh chuồng trại và môi trường hạn chế việc lây nhiễm mầm bệnh
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (1997) [6], căn cứ vào kết quả nghiên cứu sinh thái, chu trình sinh học của giun đũa lợn, kết quả nghiên cứu thuốc điều trị giun đũa cần thực hiện các biện pháp phòng trừ tổng hợp và các khâu sau:
Diệt căn bệnh ở cơ thể lợn
Tẩy giun 3 tháng một lần Sau khi tẩy vệ sinh tốt, cho ăn chín thì một đời lợn bột chỉ cần tẩy một lần vào lúc tách mẹ
Đối với lợn có chửa và đang nuôi con và lợn con theo mẹ thì không tẩy Đối với lợn nuôi tập chung thì 3 - 4 tháng tẩy một lần cho tất cả lợn ở diện tẩy
Phải giữ vệ sinh, không cho lợn uống nước và ăn thức ăn bẩn, nếu cho ăn rau bèo sống thì phải rửa sạch Không thả rông lợn, làm hố xí cho người, làm chuồng nuôi và hố ủ phân cho lợn (Trịnh Văn Thịnh, 1977) [20]
Dùng thuốc tẩy giun sán thì phải dùng thuốc hướng ký sinh trùng, tức
là độc với giun sán mà không độc với ký chủ, nên chọn thuốc có hiệu lực nhất đối với ký sinh trùng, đồng thời ít nguy hiểm nhất đối với ký chủ, rẻ tiền và
dễ dùng nhất
Trang 39Ngăn chặn không cho con vật ốm tái nhiễm, chăm sóc nuôi dưỡng tốt,
bổ sung đầy đủ dinh dưỡng, đưa con vật ra khỏi nơi có bệnh, tiêu độc chỗ đó trước khi cho vật nuôi vào lại
Hướng mới trong việc chữa bệnh ký sinh trùng là tìm những thuốc có
hiệu lực chống được nhiều loài ký sinh trùng như: Mebendazole có tác dụng
tẩy nhiều loài giun tròn Sau đây là một số loại thuốc dùng điều trị giun tròn đường tiêu hoá lợn
Levamisol: Là thuốc chống giun tròn phổ tác dụng rộng trên nhiều loài
vật chủ (dê, cừu, lợn, gà…) Ưu điểm của thuốc chủ yếu là có tác dụng tốt để điều trị các bệnh giun tròn đường tiêu hoá, nó có thể ở dạng viên, cho uống hay bổ sung vào thức ăn hoặc dùng để tiêm dưới da Thuốc có tác dụng đối với cả ấu trùng và giun trưởng thành Hiệu lực từ 90 - 100%
Mebendazol: Là thuốc chủ yếu tẩy giun tròn nhưng có thể tẩy được một
số sán dây ký sinh ở đường ruột Thuốc có tác dụng rộng diệt cả ấu trùng và
giun trưởng thành thông qua sự ức chế, sự hấp thu Glucoza, Glucozen, giảm
ATP và gây liệt các hệ cơ của ký sinh trùng và từ đó chúng bị tống ra ngoài
Thành phần: Trong 100gr bột chứa (10gr Mebendazol) tá dược và chất bảo
quản vừa đủ 100gr Liều dùng cho lợn là 2 gr/10kg thể trọng (Nguyễn Đức Lưu và cs, 2004) [13]
Ivermectin 0,25%, tên khác Uvomec, Ecomectin, Doramectin… thành
phần trong 100 ml dung dịch vô trùng Ivermectin 250 mg, dung môi và chất
bảo quản vừa đủ 100 ml, tác dụng diệt cả nội ngoại ký sinh trùng trên tất cả các loại gia súc, nó gây tê liệt các loại giun tròn ký sinh trong đường ruột, dạ dày Liều dùng: Tiêm dưới da, liều cơ bản chung cho các loại gia súc là
0,2mg Ivermectin/ kg thể trọng Đối với lợn 1 ml/7-8 kg thể trọng
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Phạm Sỹ Lăng và cs (1997) [6], lợn ở nước ta chủ yếu bị nhiễm giun đũa và sán lá ruột, do vậy cần chọn những thuốc đồng thời tẩy được cả 2 loại
giun trên, tác giả cũng đưa ra khuyến cáo nên sử dụng Dipterex đáp ứng yêu
cầu vừa tẩy giun đũa vừa tẩy sán lá ruột là hai loại giun sán nguy hiểm nhất cần phòng trị đầu tiên trong hệ thống giun sán ở nước ta
Trang 40Phạm Văn Khuê và cs (1975) [2], nghiên cứu về khu hệ quy luật phân
bố và biến động nhiễm giun sán theo lứa tuổi ở lợn tại một số tỉnh như Quảng Ninh, Hà Bắc, Thanh Hoá, Hải Dương, Hà Nam, Hà Tĩnh, Yên Bái đã xác định được lợn nhiễm 4 lớp giun sán với tổng số 17 loài
Năm 1975 - 1979 điều tra bằng xét nghiệm phân ở 10 địa điểm thuộc 10 vùng địa lý khác nhau trong những điều kiện chăn nuôi khác nhau trên khoảng 2000 con lợn cho thấy tỷ lệ nhiễm giun đầu gai
(Macracanthoruynobis hirudinageus) là 0,18%, giun tóc (Trichocefalictae) là 2,3%, giun đũa là 56%, các loại giun xoăn (Strongilata) là 3,25% Tuổi lợn
nhiễm các loại giun tròn nặng nhất là từ 2 - 4 tháng tuổi trên một tỷ lệ nhiễm chung là 49 - 65,9% Qua mổ khám thấy các loại giun sán chính ở lợn là:
Ascaris suum, Metastrongylus enlongatus, Trichoris suis, Oesophagostomum dentatum… (Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh, 1978) [15]
Trịnh Văn Thịnh (1977) [18], giun đũa gây thiệt hại nặng ở lợn con, làm cho lợn con chậm lớn, trọng lượng giảm 30 - 50% nếu bị nhiễm nhiều giun và không được nuôi dưỡng tốt thì lợn con chết nhiều Lợn từ 2 - 6 tháng tuổi thường bị nhiễm giun đũa nhiều nhất Lợn nhiễm giun lươn với tỷ lệ khá cao
từ 18 - 45% tuỳ vùng, nhất là những cơ sở nuôi lợn tập chung, nếu nuôi phân tán (chăn nuôi gia đình) tỷ lệ nhiễm thấp hơn khoảng từ 3 - 5%, tỷ lệ nhiễm giun lươn theo tuổi như sau: ≤2 tháng tuổi: 63,5%; > 3 - 4 tháng tuổi: 21,4%; > 5 - 6 tháng tuổi: 5%; > 7 - 8 tháng tuổi: 6,9%; > 8 tháng tuổi: 7,5%
Điều tra tình hình nhiễm giun tóc lợn ở Hà Nội thấy, tỷ lệ nhiễm là: 4,3
- 30% từ 2 - 6 tháng tuổi, 0,56 - 7,8% đối với lợn trên 6 tháng tuổi, lợn nhỏ hơn 2 tháng tuổi không có giun tóc, vệ sinh tốt tỷ lệ nhiễm thấp 2,5%, chăn nuôi kém tỷ lệ nhiễm 23%
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [4], tỷ lệ và mức độ nhiễm giun đũa
Ascaris suum ở lợn bình thường và lợn tiêu chảy của huyện Đồng Hỷ là: Ở lợn
có trạng thái phân bình thường có 34/94 lợn nhiễm chiếm 36,17%, trong đó nhiễm ở mức nhẹ có 24/38 lợn nhiễm, chiếm 70,59%, nhiễm ở mức trung bình
có 10/34 lợn nhiễm, chiếm 29,41%, không có lợn nào nhiễm ở mức nặng Ở lợn
bị tiêu chảy có 42/101 lợn nhiễm, chiếm 41,58%, trong đó nhiễm ở mức nhẹ có